Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội văn giang (hưng yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa 1999 2008 luận văn ths lịch s

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.98 MB, 123 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------

NGUYỄN THỊ THANH MỸ

BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI
HUYỆN VĂN GIANG (HƯNG YÊN) SAU QUÁ TRÌNH
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA (1999 - 2008)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2009

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------

NGUYỄN THỊ THANH MỸ

BIẾN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ - XÃ HỘI VĂN
GIANG (HƯNG YÊN) SAU QUÁ TRÌNH DỒN ĐIỀN
ĐỔI THỬA 1999 - 2008
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ



Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Đình Lê

HÀ NỘI 2009

2


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT................................................................................ 5
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................................... 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................... 8
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ .......................................................................... 11
4. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................. 12
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 13
6. Bố cục của luận văn .................................................................................................. 13
CHƯƠNG 1:QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở HUYỆN
VĂN GIANG (HƯNG YÊN) 1999 – 2008. ...................................................... 14
1.1 Một số vấn đề về chủ trương dồn điền đổi thửa .................................................. 14
1.1.1 Quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai ở Việt Nam trước khi có chủ trương DĐĐT
................................................................................................................................ 14
1.1.2. Tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam: nguyên nhân, thực trạng và hệ
quả. .......................................................................................................................... 16
1.1.3. Chủ trương DĐĐT của nhà nước: quá trình thực hiện và những kết quả ban
đầu ........................................................................................................................... 19
1.2. Quá trình thực hiện DĐĐT ở tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang ................. 24
1.2.1 Q trình triển khai cơng tác DĐĐT ở Hưng Yên......................................... 24
1.2.2. Tình hình thực hiện DĐĐT ở huyện Văn Giang .......................................... 32
CHƯƠNG 2:BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI VĂN GIANG KHI THỰC HIỆN

DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA (1998 – 2008) ........................................................... 45
2.1. Chuyển biến trong quy hoạch, sử dụng đất......................................................... 45
2.1.1. Chuyển biến trong quy hoạch, sử dụng đất tự nhiên và đất nông nghiệp của
huyện. ...................................................................................................................... 45
2.1.2. Những chuyển biến trong cơ cấu đất và cây trồng nông nghiệp. ................. 50
2.2 Những biến đổi về kinh tế ...................................................................................... 54
2.2.1 Biến đổi cơ cấu kinh tế chung. ...................................................................... 54
2.2.2. Chuyển dịch nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hố ............................ 61
2.2.3. Sự xuất hiện những mơ hình kinh tế hiệu quả cao ........................................ 67
2.3. Những biến đổi về xã hội ....................................................................................... 74
2.3.1. Biến đổi trong lực lượng lao động ................................................................ 74
2.3.2. Thu nhập và đời sống của nhân dân ............................................................. 79
3


2.3.3. Việc làm cho lao động ở nông thôn .............................................................. 81
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI KINH TẾ
- XÃ HỘI Ở VĂN GIANG 1999 - 2008. .......................................................... 85
3.1. Về công tác DĐĐT ................................................................................................. 85
3.1.1. Tiến độ thực hiện còn chậm và chưa triệt để ................................................ 85
3.1.2. Những vướng mắc từ cơ chế. ........................................................................ 87
3.1.3. DĐĐT chưa gắn liền với q trình tích tụ ruộng đất .................................... 89
3.1.4. Về mặt xã hội ................................................................................................ 90
3.2. Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình DĐĐT của Văn Giang ....................... 92
3.3. Một số kiến nghị ..................................................................................................... 94
3.3.1 Với công tác DĐĐT ở Văn Giang. ................................................................ 94
3.3.2. DĐĐT và vấn đề tích tụ ruộng đất ở Việt Nam. ........................................... 96
3.3.3. Vấn đề cơng nghiệp hố - hiện đại hố nơng nghiệp nơng thơn. .................. 98
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 103
PHỤ LỤC..................................................................................................................... 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 114

4


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DĐĐT: Dồn điền đổi thửa
ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng
HTX: Hợp tác xã
HU: Huyện uỷ
UBND: Uỷ ban nhân dân huyện
TU: Tỉnh uỷ
TƯ: Trung ương

5


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất đai là một nguồn lực quan trọng của Việt Nam. Sự phát triển của
nông nghiệp Việt Nam trong thời gian dài phụ thuộc vào việc sử dụng có
hiệu quả hay khơng nguồn lực đất đai và những chính sách có liên quan đến
đất đai, thị trường đất, các đầu tư và nguồn lực tương ứng. Cũng như nhiều
nơi trên thế giới, đất đai và sử dụng đất đai luôn là vấn đề cơ bản trong lịch
sử cũng như trong sự phát triển của Việt Nam hiện tại và tương lai. Với
khoảng 75% dân số vẫn cịn sinh sống ở khu vực nơng thơn, thì các vấn đề
liên quan đến tập trung đất đai, tính linh hoạt trong sử dụng đất, vai trị của
thay đổi kĩ thuật, công nghệ hay ảnh hưởng của các chính sách về thuế, tín
dụng… ln ln là vấn đề có tính thời sự.
Là một nước nơng nghiệp, mọi chủ trương, chính sách về đất đai của

Việt Nam đều có tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, đến toàn bộ
nền kinh tế và đời sống xã hội. Nửa cuối thế kỉ XX, Việt Nam đã chứng
kiến nhiều nỗ lực cải cách đất đai của chính quyền ở cả hai miền Nam, Bắc.
Đặc biệt là từ sau năm 1986, những chính sách về nơng nghiệp nói chung,
đất đai nói riêng đã tác động trực tiếp đến đặc điểm của nền nông nghiệp
Việt Nam.
Đặc điểm của đất nông nghiệp Việt Nam từ sau đổi mới là tình trạng
manh mún, phân tán. Tình trạng này bắt nguồn từ việc Nhà nước ln đảm
bảo tính cơng bằng trong chính sách giao quyền sử dụng đất cho nông dân.
Nhưng mặt trái của sự cơng bằng lại là tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, thủ cơng,
năng suất thấp, khó áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp,
nhiều cơ hội để công nghiệp hố - hiện đại hố nền nơng nghiệp đã bị bỏ
qua. Từ năm 1993, Chính phủ đã có chủ trương khuyến khích các địa
phương cho các hộ tiến hành đổi ruộng để tránh tình trạng một hộ phải
6


canh tác trên hai mảnh ruộng. Chủ trương này đã được áp dụng ở một số
địa phương và cho kết quả khả quan. Những năm 1999 – 2000, chủ trương
dồn điền đổi thửa (DĐĐT) - hay còn gọi là dồn thửa đổi ruộng - đã trở
thành một chủ trương lớn trong cả nước, trong đó chú trọng ở đồng bằng
sơng Hồng (ĐBSH), nơi có tình trạng ruộng đất manh mún nhất nước,
nhằm tập trung ruộng đất thành những mảnh có diện tích tương đối lớn, để
từng bước phát triển sản xuất nơng nghiệp theo hướng hàng hố, hiện đại,
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Hưng Yên là một trong những tỉnh đi đầu thực hiện công tác này. Từ
năm 1998, Hưng Yên đã có chủ trương thực hiện DĐĐT đối với diện tích
đất sản xuất nơng nghiệp trong tỉnh, nhằm đưa nền nông nghiệp của tỉnh
phát triển mạnh, tận dụng được lợi thế của một tỉnh nằm ở trung tâm Đồng
bằng sơng Hồng có địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu. Chủ trương này

của Hưng n đã nhanh chóng được triển khai đến từng thôn, xã và mang
lại những hiệu quả kinh tế khả quan.
Là một trong những huyện có nền kinh tế - xã hội phát triển hàng
đầu của Hưng Yên, lại nằm ở vị trí địa lý tương đối thuận lợi, huyện Văn
Giang đã sớm triển khai và hồn thành tốt cơng tác DĐĐT. Sau một thời
gian tiến hành, công cuộc DĐĐT ở Văn Giang không những khắc phục tình
trạng ruộng đất phân tán, manh mún mà còn mở ra một hướng đi mới cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Trong những năm từ 1999 đến
2008, chủ trương DĐĐT đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển theo
hướng sản xuất tập trung, cung cấp hàng hoá cho thị trường, tạo đà để các
ngành kinh tế khác phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân, tạo nên
những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế, xã hội của địa phương.
Với mong muốn tìm hiểu những biến đổi về kinh tế - xã hội của
huyện Văn Giang sau 10 năm triển khai công tác DĐĐT tôi chọn đề tài:

7


Biến đổi kinh tế - xã hội Văn Giang (Hưng Yên) sau quá trình DĐĐT
1999 - 2008 làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
DĐĐT là một chủ trương lớn của nhà nước nhằm làm thay đổi cung
cách sử dụng đất nơng nghiệp, thói quen, tập qn làm ăn của người nông
dân, đưa người nông dân đến gần hơn nữa với nền nơng nghiệp hàng hố,
một trong những bước quan trọng trong q trình cơng nghiệp hố - hiện
đại hố nơng nghiệp, nơng thơn.
Từ trước đến nay đã có nhiều cơng trình nghiên cứu, tổng kết, đánh
giá về tình hình đất nông nghiệp và vấn đề sử dụng, sở hữu đất nông nghiệp
ở Việt Nam, đặc biệt là sau công cuộc đổi mới.

Năm 1996, hai tác giả Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang có cơng
trình nghiên cứu “Chính sách kinh tế và vai trị của nó đối với phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”, NXB CTQG, Hà Nội 1996, đã
đưa ra những nhìn nhận, đánh giá, phân tích về đặc điểm nền nơng nghiệp
Việt Nam, tác động của những chính sách kinh tế đối với sự phát triển của
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam qua các giai đoạn từ 1981 đến 1996. Tuy
nhiên, vấn đề tập trung ruộng đất mới chỉ được nhắc đến như một giải pháp
cho nền nông nghiệp Việt Nam trong thời gian tiếp theo.
Năm 2001, Khoa Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn
trường Đại học Kinh tế quốc dân, xuất bản cuốn sách “Nông nghiệp nông
thôn Việt Nam bước vào thế kỉ XXI”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 2001, đã
đánh giá tình hình nơng nghiệp Việt Nam cho đến hết năm 2000, trong đó
đề cập đến thực trạng nơng nghiệp Việt Nam và những và những chính
sách phát triển nơng nghiệp trước năm 2000. Sách lược DĐĐT ở đây được
đánh giá là một chính sách tích cực nhưng tiến trình thực hiện và hiệu quả
chưa cao.
8


Năm 2006, tác giả Đặng Kim Sơn có cơng trình nghiên cứu: Nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm sau đổi mới, NXB CTQG, Hà Nội
2006, đã có những nhìn nhận, phân tích và đánh giá về nơng nghiệp Việt
Nam những năm trước và sau đổi mới. Tác giả có đề cập đến những Nghị
quyết của TƯ về vấn đề DĐĐT và tác động của chủ trương này đến nông
nghiệp Việt Nam cho tới năm 2005. Những phân tích của Đặng Kim Sơn
về tính chất manh mún của ruộng đất, đặc biệt ở khu vực ĐBSH và kết quả
trước mắt của công tác DĐĐT đã khẳng định đây là một chủ trương đúng
đắn và phù hợp với xu thế phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam và thế
giới.
Năm 2008, tác giả Nguyễn Hữu Tiến trong cuốn “Phát triển kinh tế

nông nghiệp nông thôn Việt Nam”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 2008, đã
dành một phần tập trung đánh giá tình hình “tích tụ và tập trung đất nơng
nghiệp” ở Việt Nam. Trong đó tác giả đã có những phân tích cụ thể về thực
trạng manh mún đất đai của ĐBSH, chỉ ra những nguyên nhân của thực
trạng này và phân tích những hình thức tập trung và tích tụ ruộng đất, trong
đó có chủ trương DĐĐT. Tuy nhiên tác giả cũng chỉ mới đề cập đến kết
quả sơ bộ của chính sách này mà chưa đi sâu phân tích những tác động đến
sản xuất nơng nghiệp nói riêng và kinh tế xã hội nói chung.
Trong số những cơng trình nghiên cứu của các tác giả nước ngồi, có
thể kể đến hai cơng trình nghiên cứu khá trực tiếp và sâu sắc đến tình trạng
manh mún, những chính sách nhằm giảm thiểu tình trạng manh mún về
ruộng đất và tác động của nó đến nơng nghiệp Việt Nam. Đó là cuốn “Phát
triển nơng nghiệp và những chính sách đất đai ở Việt Nam” của các tác
giả Sally P.Marsh, T. Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng – Trung tâm
nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế của Ơx-trây-lia và Đại học Nơng nghiệp
1 Hà Nội năm 2007 và “Đất đai trong thời kì đổi mới, cải cách và nghèo
đói của nơng thơn Việt Nam” của Martin Ravallion và Dominique van de
9


Walle – Nhà xuất bản văn hóa thơng tin 2008. Dưới góc nhìn của những
nhà nghiên cứu nước ngồi, chủ trương DĐĐT được xem như một giải
pháp hữu hiệu cho q trình giảm thiểu manh mún, tập trung diện tích đất
nơng nghiệp lớn, khắc phục đói nghèo và kích thích nông nghiệp Việt Nam
phát triển. Các tác giả này đã có những đánh giá khá thuyết phục về tác
động của chính sách DĐĐT đến tập quán sản xuất của người nông dân Việt
Nam và những biến đổi trong sản xuất nơng nghiệp ở Việt Nam.
Hiện vẫn chưa có một cơng trình riêng nào tập hợp, nghiên cứu, đánh
giá về quá trình DĐĐT, cũng như tác động của nó đến nền nông nghiệp và
đời sống kinh tế xã hội Việt Nam kể từ khi nó được triển khai tới nay.

Nhiều nhất vẫn là các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành của
ngành nông nghiệp, kinh tế về kết quả DĐĐT ở một số địa phương và
những thay đổi của nông thôn ở các cùng miền sau DĐĐT. Đáng chú ý có
bài viết “Quan hệ họ hàng với việc DĐĐT và sử dụng ruộng đất với góc
nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh
và Thomése Fluer trên Tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới, số 4/2007. Bài
viết nghiên cứu về quan hệ họ hàng dưới góc nhìn dịng họ và góc nhìn
mạng lưới họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm trong việc DĐĐT và sử dụng
ruộng đất. Với cách tiếp cận xã hội học, hai tác giả đã chỉ ra rằng người
nông dân đã khai thác hiệu quả nguồn vốn xã hội - với biểu hiện cụ thể là
tinh thần trách nhiệm và sự tin cậy lẫn nhau giữa những người có quan hệ
họ hàng, để nhận chung ruộng cùng nhau khi DĐĐT ở làng Quỳnh Đôi, xã
Quỳnh Lưu, Nghệ An.
Tác giả Mai Thị Thanh Xuân trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 297
(2/2003) có bài viết: “Chuyển đổi ruộng đất ở 3 tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh”
đã tổng kết quá trình DĐĐT và chuyển đổi diện tích đất nơng nghiệp của 3
tỉnh Thanh Hố, Nghệ An, Hà Tĩnh, qua đó phân tích những hiệu quả của

10


chủ trương này và những hạn chế cần được xem xét, những kinh nghiệm
rút ra cho công tác chuyển đổi ruộng đất.
Gần đây có khố luận “Q trình thực hiện chủ trương DĐĐT ở
tỉnh Thái Bình” của sinh viên Phạm Thị Thuý, khoa Lịch sử, trường Đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Khố luận đã
tìm hiểu tương đối chi tiết q trình thực hiện chủ trương DĐĐT trên địa
bàn tỉnh Thái Bình, kết quả đạt được và sơ lược về những tác động của nó
đến sản xuất nơng nghiệp và đời sống của nhân dân.
Riêng về quá trình DĐĐT ở Hưng Yên và ở huyện Văn Giang, tác

động của chủ trương này đến kinh tế xã hội của huyện sau khoảng 10 năm
thực hiện thì chưa có một nghiên cứu, tổng kết đánh giá nào cụ thể. Kết quả
của quá trình DĐĐT mới chỉ được tổng kết trong các báo cáo của UBND
huyện, phịng Nơng nghiệp và phịng Tài ngun mơi trường, những thay
đổi về kinh tế xã hội cũng được tổng kết sơ lược trong báo cáo phát triển
kinh tế xã hội của huyện, tỉnh hàng năm.
Sau những tổng kết, báo cáo về kết quả công tác DĐĐT của các địa
phương trong cả nước, của tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang, đã cho
thấy đây là một chủ trương đúng đắn và kịp thời không chỉ đối với ngành
nông nghiệp. Việc đi sâu, tìm hiểu, đánh giá những thay đổi trong hoạt
động kinh tế, xã hội của địa phương từ một chính sách đất đai là một việc
làm cần thiết. Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn vấn đề này để nghiên cứu trong
luận văn của mình.

3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ
Mục đích nghiên cứu của đề tài “Biến đổi kinh tế - xã hội Văn
Giang (Hưng Yên) sau quá trình DĐĐT 1999 – 2008” tìm hiểu những
tác động của chủ trương DĐĐT đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế và đời sống
xã hội trong phạm vi của một huyện thuộc vùng ĐBSH - huyện Văn Giang,
11


tỉnh Hưng Yên. Từ đó thấy được những thay đổi cơ bản của kinh tế - xã hội
của địa phương này sau khoảng 10 năm từ một chủ trương về đất nông
nghiệp; đồng thời đánh giá sự phù hợp của chủ trương này đối với điều
kiện và thực trạng nền nông nghiệp của huyện và tỉnh, chỉ ra những hạn chế
và đề xuất một số kiến nghị cho công tác DĐĐT và phát triển kinh tế - xã
hội cho địa phương trong thời gian tới.
Với một huyện thuộc ĐBSH như Văn Giang, một chủ trương về đất
đai có thể tác động lớn đến nhiều ngành kinh tế và đời sống xã hội của

nhân dân. Vì thế, nhiệm vụ của Luận văn là: trên cơ sở tìm hiểu về việc
thực hiện chủ trương DĐĐT, đặc biệt là việc thực hiện DĐĐT của Văn
Giang, từ đó tìm ra những tác động của chủ trương này tới kinh tế, xã hội
của huyện. Đó là những thay đổi về kinh tế, về quản lí, sử dụng đất đai, cơ
cấu lao động, chất lượng cuộc sống của nhân dân trong đó tập trung vào
những biến đổi trong sử dụng đất nông nghiệp, tổ chức sản xuất nông
nghiệp và đời sống xã hội của người dân.

4. Phạm vi nghiên cứu
Những thay đổi về kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn trong cả
nước sau quá trình thực hiện DĐĐT đã được phản ánh nhiều trên các tạp
chí chun ngành của Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn, trong một
số cơng trình nghiên cứu của các tác giả. Tuy nhiên, chưa có một nghiên
cứu nào về những biến đổi kinh tế - xã hội cụ thể ở những địa phương trong
cả nước trong và sau quá trình DĐĐT. Vì thế, trong Luận văn của mình tơi
tập trung tìm hiểu những thay đổi về kinh tế - xã hội của một huyện ở
ĐBSH là huyện Văn Giang của tỉnh Hưng Yên, từ đó đánh giá bước đầu về
những hiệu quả của chủ trương này đối với đời sống kinh tế - xã hội của
nông dân và nơng thơn một cách sâu sắc hơn và tìm ra những bước đi thích
hợp cho thời gian tới.
12


5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng mang tính xuyên suốt là phương pháp
nghiên cứu lịch sử, kết hợp thống kê, so sánh, giải quyết các vấn đề trong
mối quan hệ biện chứng, trong trạng thái vận động, phát triển.
Ngồi ra, tác giả cịn sử dụng các biện pháp thu thập thơng tin, số
liệu, điền dã, từ đó phân tích, đánh giá, so sánh để đưa ra những kết luận
chính xác, mang tính khách quan nhất. Đặc biệt trong nghiên cứu về biến

đổi kinh tế - xã hội liên quan tới rất nhiều bảng biểu và số liệu nên phương
pháp thống kê, điều tra chọn mẫu luôn là phương pháp được ưu tiên.

6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Văn
Giang (Hưng Yên)
1.1.

Một số vấn đề về chủ trương DĐĐT

1.2.

Quá trình DĐĐT ở Văn Giang - Hưng Yên.

Chương 2: Biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội ở huyện Văn Giang
(Hưng Yên) sau quá trình DĐĐT 1999-2008
2.1 Chuyển biến trong quy hoạch, sử dụng đất
2.2 Những biến đổi về kinh tế
2.3 Những biến đổi về xã hội
Chương 3: Những vấn đề cần nhìn lại và một số hướng đi cho
thời gian tới
3.1. Những hạn chế trong công tác DĐĐT ở Văn Giang
3.2. Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình DĐĐT ở Văn Giang
3.3. Một số kiến nghị
13


CHƯƠNG 1

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở
HUYỆN VĂN GIANG (HƯNG YÊN) 1999 – 2008.
1.1 Một số vấn đề về chủ trương dồn điền đổi thửa
1.1.1 Quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai ở Việt Nam trước khi có
chủ trương DĐĐT
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế
Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai.
Trước năm 1945, đất nông nghiệp Việt Nam được chia làm hai loại chính:
đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu. Sau năm 1945, Chính phủ đã thực hiện
phân chia lại ruộng đất bằng một loạt những chính sách của chính quyền
mới. Trải qua các giai đoạn của hai cuộc kháng chiến ở cả hai miền Nam,
Bắc, hình thức sở hữu, sử dụng đất nơng nghiệp của Việt Nam đã có nhiều
thay đổi. Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nơng nghiệp
nói riêng phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh để
lại và những hậu quả từ những chính sách trong thời kì kế hoạch hố tập
trung và thời kì kinh tế tập thể trong nơng nghiệp. Cùng thời điểm này dân
số lại tăng rất nhanh, điều đó dẫn đến một bộ phận lớn dân số sống trong
tình trạng nghèo và đói. Nền kinh tế Việt Nam tụt hậu nhanh chóng và
đứng trước nguy cơ sụp đổ.
Cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam bắt đầu từ Chỉ thị
100CT của Ban Bí thư TƯ Đảng (ngày 13/1/1981) - Khốn 100, với nội
dung chính là các HTX giao đất nơng nghiệp đến nhóm và người lao động.
Mặc dù cịn có giới hạn, nhưng Khốn 100 đã là bước đột phá trong quá
trình chuyển đổi từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Sự ra đời của
Khốn 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể, tích cực đến sản xuất nông
14


nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo. Tuy nhiên sau một thời gian, nơng dân
vẫn tiếp tục thiếu đói. Ở Miền Nam, các mâu thuẫn vẫn tiếp tục gia tăng ở

khu vực nông thôn, đặc biệt trong mối quan hệ đất đai bởi sự cào bằng và
phân chia đất. Khoán 100 từng được coi là cứu cánh cho hộ nơng dân, thì
nay trở thành một gánh nặng. Một số hộ trả lại bớt ruộng cho HTX để tập
trung thâm canh, hy vọng đạt năng suất cao hơn để thu nhập vượt khoán.
Động lực sản xuất nhờ vượt khoán mất tác dụng.
Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp
đã được thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (41988) – Khốn 10 về “Đổi mới quản lí kinh tế nông nghiệp”. Với sự ra đời
của Nghị quyết 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ
10 đến 15 năm, và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị
kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Từ nay hộ trở thành chủ thể độc lập,
được hưởng quyền quản lí và sử dụng đất đai và tư liệu sản xuất chính,
được phân phối sản phẩm trực tiếp từ kết quả sản xuất, tự quyết định về sản
xuất.
Từ khi thực hiện Nghị quyết 10, tỉ lệ sản phẩm làm ra mà nông dân
được hưởng đã tăng từ 10 đến 20% năm 1987 lên hơn 40 đến 50% trong
những năm 90 của thế kỷ XX [31, tr 53]. Đây là động lực để nông dân đầu
tư tiền của, sức lao động nhiều hơn vào đồng ruộng.
Trong suốt thời kì đổi mới, một loạt các chính sách, văn bản luật
trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến việc sử
dụng và sở hữu đất đai đã ra đời. Sau Nghị quyết 10, Luật đất đai năm 1993
đã giao đất cho hộ nông dân với 5 quyền cơ bản: chuyển nhượng, chuyển
đổi, thừa kế, cho thuê quyền sử dụng đất, và thế chấp, bảo lãnh và góp vốn
bằng giá trị quyền sử dụng đất trong thời hạn nhất định. Sau đó là Luật đất
đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001, Luật đất đai mới năm 2003; Nghị
định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định trong
15


phân bổ đất rừng và đất nông nghiệp. Những thay đổi trong chính sách đất
đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc

tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn. Tổng
sản lượng nông nghiệp tăng 6,7% năm (1994-1999) và khoảng 4,6% năm
(2000-2003) [31, tr 72]. An toàn lương thực quốc gia khơng cịn là vấn đề
nghiêm trọng, nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi. Tuy nhiên, rất nhiều
thách thức mới cũng được đặt ra đối với nông nghiệp Việt Nam. Một trong
những thách thức lớn là tình trạng manh mún và quy mô nhỏ lẻ về ruộng
đất.
1.1.2. Tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam: nguyên nhân,
thực trạng và hệ quả.
Manh mún đất đai nghĩa là một hộ nông dân canh tác từ 2 thửa ruộng
riêng lẻ trở lên [22, Tr 69]. Đây là một trong những vấn đề của nông nghiệp
Việt Nam, đặc biệt là ở Miền Bắc. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên & Mơi
trường, đến năm 2000, cả nước có khoảng 75 triệu thửa đất nơng nghiệp,
bình qn mỗi hộ có 6 đến 7 thửa ruộng, hộ ít nhất 3 thửa, hộ nhiều từ 10
đến 20 thửa, cá biệt có hộ 30 đến 50 thửa [37, Tr 216].
Bảng 1.1: Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh thuộc ĐBSH
Tỉnh
Hà Tây
Hải Phịng
Hải Dương
Vĩnh Phúc
Nam Định
Hà Nam
Ninh Bình

Tổng số thửa/hộ
Diện tích bình qn/ thửa (m2)
Ít nhất Nhiều
Trung
Nhỏ nhất Lớn nhất

Trung
nhất
bình
bình
9.5
20
700
216.8
5
18
6
20
9
17
11
10
7
47
9
10
5868
228
3.1
19
5.7
10
1000
288
7
37

8.2
14
1265
3.3
24
8
5
4224
[Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, năm 2002]

Quy mô diện tích đất sản xuất của các nơng hộ sau khi được giao đất
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là rất nhỏ, nhất là đối với các

16


tỉnh Miền Bắc. Bình quân 1 hộ là 5747m2, đối với ĐBSH chỉ có
1993m2/hộ[37, Tr 217].
Những ngun nhân chính dẫn đến tình trạnh manh mún đất đai
trong nơng nghiệp là:
Khi chia đất theo Nghị định số 64/CP ngày 27-9-1993 của Chính phủ
đã thực hiện với phương châm chủ yếu dựa vào hiện trạng đất nơng nghiệp
mà các hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng khi thực hiện Chỉ thị 100/CTTƯ theo nguyên tắc cơ bản là: mỗi hộ được nhận ruộng có tốt, có xấu, có
gần, có xa. Nói cách khác, nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là
duy trì sự cơng bằng, thơng thường là chia bình qn theo định xuất. Để
duy trì sự cơng bằng, mỗi hộ thường được giao nhiều mảnh ruộng với
nhiều hạng đất khác nhau, ở nhiều cánh đồng khác nhau với chất lượng đất
khác nhau. Ngồi ra có thể từ những nguyên nhân khác như:
Công cụ lao động của người nơng dân cịn thủ cơng, sản xuất dựa
vào sức kéo trâu bị, quy mơ hộ nhỏ và sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu,

không cho phép thực hiện mùa vụ đồng thời trên một diện tích lớn, tập
trung.
Do đặc điểm điều kiện địa hình, đặc biệt là những nơi có nhiều đồi
núi hoặc ruộng bậc thang. Sự chênh lệch về độ cao buộc người nông dân
phải đắp bờ để giữ nước, mà diện tích tạo nên sự chênh lệch lại quá nhỏ.
Các nguyên nhân về lịch sử và địa hình rất khó giải quyết và địi hỏi nhiều
thời gian mới tập trung được loại đất này.
Manh mún cũng có thể được giải thích từ áp lực bởi tăng trưởng dân
số, từ sự thừa kế đất đai, khi các gia đình nơng dân cần phải phân chia
ruộng đất một cách công bằng cho các thế hệ sau. Kết quả là, từ những
mảnh ruộng to lại trở thành những mảnh nhỏ thuộc sở hữu của nhiều hộ gia
đình cá thể. Nhất là đối với những vùng nơng dân khơng có việc làm phi
nông nghiệp.
17


Ở Việt Nam nói riêng, ngồi ngun nhân chủ yếu là do q trình
giao đất, sự manh mún cịn có khả năng do sự trục trặc của thị trường đất
đai, quy định của nhà nước về mức hạn điền trong sở hữu, sử dụng và trao
đổi đất. Thị trường trao đổi quyền sử dụng đất ở Việt Nam rất phức tạp.
Nông dân nếu muốn sử dụng đất của họ để thế chấp vay ngân hàng cần có
sự chấp nhận của chính quyền địa phương. Những nơng dân có điều kiện
tích tụ ruộng đất lớn thì lại vấp phải chính sách hạn điền của Nhà nước.
Thậm chí manh mún ruộng đất có thể do chính người nơng dân muốn
duy trì khi họ cho rằng manh mún có thể có lợi ích nào đó. Với những
mảnh ruộng ở những vùng khác nhau, nơng dân có thể giảm thời điểm căng
thẳng bằng cách đa dạng hoá cây trồng.
Hệ quả của sự manh mún về ruộng đất có thể nhìn thấy rõ rệt là sự
cản trở việc cơ giới hố sản xuất nơng nghiệp, ứng dụng cơng nghệ và địi
hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và lao động hơn cho các hoạt động bởi

khoảng cách quá xa giữa các mảnh ruộng, tăng chi phí, giảm diện tích sử
dụng do ảnh hưởng của các bờ vùng bờ thửa, tăng các tác động xấu. Quá
nhiều hộ sản xuất với quy mô các thửa đất quá nhỏ đã tạo ra cản trở lớn đến
việc tổ chức sản xuất theo hướng hàng hố và hiệu quả, khơng huy động
được tiềm năng về vốn và lao động tại chỗ có thể đầu tư vào cải tạo đồng
ruộng vì người sử dụng đất sợ rủi ro.
Sự manh mún có thể cịn gây khó khăn cho việc quy hoạch đồng
ruộng, chi phí sản xuất lớn, giá thành tăng cao trong khi chất lượng sản
phẩm thấp, dẫn đến thiếu khả năng cạnh tranh.
Nhưng ở một góc độ khác, manh mún có ảnh hưởng rất lớn đến đa
dạng cây trồng. Nếu mức độ manh mún càng cao thì mức độ đa dạng hoá
cây trồng cũng càng cao. Trong bối cảnh sản xuất nơng nghiệp vẫn cịn
mang nhiều tính tự cung tự cấp thì điều này dẫn đến mức độ an tồn khơng
những về lương thực mà còn về thu nhập cho hộ nơng dân. Điều đó lí giải
18


tại sao ở một số tỉnh nông dân vẫn muốn duy trì manh mún ở một mức độ
nào đó. Như vậy sự cân bằng giữa mức độ đa dạng cây trồng và manh mún
đất đai cũng như phát triển sản xuất hàng hoá là vấn đề cần được chú ý và
nghiên cứu.
Manh mún và phân tán ruộng đất, xong lại đảm bảo tâm lí sản xuất
cho nơng dân, bởi sự công bằng giữa các nông hộ, không chỉ là vấn đề
ruộng đất, mà còn là vấn đề chênh lệch thu nhập và mức sống trong phạm
vi xã hội nông thôn thu nhỏ ở các làng xã.
Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải tập trung lại đất nông nghiệp đối
với mỗi hộ sản xuất, giảm số thửa và tăng quy mơ mỗi thửa ở từng hộ để
tạo ra diện tích đất tập trung cùng loại sản phẩm ở từng địa phương. Nhưng
tập trung như thế nào để tăng hiệu quả sản xuất mà vẫn đảm bảo tính cơng
bằng cho nơng dân, đặc biệt là khi chuyển sang sản xuất theo hướng cung

cấp hàng hố, người sản xuất nơng nghiệp phải tính đến việc giảm các chi
phí sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế.
1.1.3. Chủ trương DĐĐT của nhà nước: quá trình thực hiện và
những kết quả ban đầu
Trên cơ sở phân tích những tác động của manh mún ruộng đất, bài
học từ DĐĐT và tích tụ ruộng đất của các nước khác, Chính phủ đã có
những chủ trương, biện pháp khuyến khích việc chuyển đổi đất đai đề giảm
bớt sự manh mún. Trước khi có chủ trương DĐĐT, việc tập trung ruộng đất
nơng nghiệp đã diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú.
Hình thức thứ nhất là chuyển đổi đất đai có hướng dẫn của địa
phương ngay trong quá trình chia ruộng. Hình thức này được thực hiện theo
tinh thần Nghị định 64/CP ngày 27-9-1993. Một số địa phương sớm nhận
thức được yêu cầu phải sử dụng đất tập trung để phát triển sản xuất hàng
hoá nên ngay trong khi chia đất nông nghiệp cho hộ nông dân theo Nghị
định 64/CP đã chủ động bàn với các hộ tiến hành đổi ruộng cho nhau sau
19


khi đã xác định rõ từng mảnh đất cho mỗi hộ trên bản đồ. Đi đầu trong
công tác này là huyện Ứng Hoà của tỉnh Hà Tây cũ. Ngay từ năm 1993,
chính quyền xã Trầm Lộng (Ứng Hồ) đã khuyến khích các hộ tự chuyển
đổi đất cho nhau để tránh tình trạng quá nhiều mảnh, thửa. Đến năm 1997,
Tỉnh uỷ Hà Tây đã có Chỉ thị số 14/CT- TU về cơng tác chuyển đổi đất
nơng nghiệp trong tồn tỉnh.
Hình thức thứ hai là chuyển đổi đất tự phát giữa các hộ nông dân sau
một thời gian sử dụng. Đây là tình trạng các hộ tự thấy tình hình manh mún
của đất nông nghiệp làm cản trở sản xuất đã tự chuyển đổi đất nông nghiệp
cho nhau để tạo ra những thửa ruộng lớn hơn, thích hợp với khả năng canh
tác. Hình thức này mang tính tự phát, diễn ra lẻ tẻ, chính quyền khơng can
thiệp cũng khơng hướng dẫn, nên không giải quyết được những vẫn đề

chung như quy hoạch vùng sản xuất, thiết kế lại đồng ruộng.
Bên cạnh đó, nhiều hình thức tập trung ruộng đất cũng đã được tiến
hành như: chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất, thế chấp, cầm
cố đất nông nghiệp, phát triển kinh tế trang trại...
Cho đến nay, hình thức tập trung ruộng đất được thực hiện nhiều
nhất, được nâng lên thành một chủ trương lớn trong thời gian gần đây là
DĐĐT, hay là chuyển đổi đất sản xuất nơng nghiệp có sự chỉ đạo của Đảng
uỷ và chính quyền các cấp.
Chủ trương này bắt đầu được nhắc đến từ sau Hội nghị chuyên đề về
chuyển đổi đất nông nghiệp do Tổng cục Địa chính tổ chức tại Hà Tây cũ
năm 1997. Đến tháng 11 năm 1998 Bộ Chính trị, Ban chấp hành TƯ đã
thông qua Nghị quyết số 06 – NQ/TƯ, mở đường cho phong trào DĐĐT
diễn ra rộng khắp ở các địa phương trong cả nước, trong đó nhiều nhất là
các địa phương trong cả nước, trong đó nhiều nhất là ĐBSH. Chính phủ đã
hỗ trợ cho việc DĐĐT với hi vọng điều này sẽ giảm chi phí sản xuất trong
dài hạn và tăng cường thâm canh. Các nghị quyết của TƯ chủ yếu tập trung
20


vào việc DĐĐT bao gồm: Nghị quyết về việc thúc đẩy cơng nghiệp hố hiện đại hố nơng thơn (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH TƯ Đảng
khoá IX – Nghị quyết số 15 – NQ/TƯ, ngày 18 – 3 – 2002) và Nghị quyết
về tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả nền kinh tế tập thể (Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 5 BCH TƯ Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu
quả kinh tế trang trại ngày 19 – 4 đến 22 – 4 – 2001).
Nghị quyết về tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể chỉ
rõ: “Tiếp tục phát triển kinh tế trang trại trong các ngành, lĩnh vực, đặc biệt
trong đó trọng tâm là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Phát triển kinh tế
trang trại trong nông nghiệp nông thôn phải trên cơ sở đảm bảo quyền tự
chủ của kinh tế hộ, trang trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, trang trại phát
triển, gắn với tiến trình cơng nghiệp hố - hiện đại hố nơng nghiệp và xây

dựng nơng thơn mới”. Trong đó chính sách về đất đai được nhắc đến là:
“Khuyến khích tạo điều kiện cho kinh tế hộ nông dân DĐĐT, tập trung
ruộng đất theo chính sách của nơng nghiệp để phát triển sản xuất hàng hoá,
mở mang ngành nghề”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH TƯ Đảng ngày 18 - 3 - 2002
cũng chỉ rõ: “cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta chuyển dịch
chậm, chưa theo sát với thị trường, sản xuất nông nghiệp nhiều nơi còn
phân tán, manh mún, mang nhiều yếu tố tự phát; ứng dụng khoa học cơng
nghệ vào sản xuất chậm, trình độ khoa học cơng nghệ của sản xuất nhiều
mặt cịn lạc hậu nên năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của
nhiều sản phẩm nơng nghiệp cịn thấp, kém hiệu quả và thiếu bền vững”.
Nghị quyết nêu rõ nội dung của cơng nghiệp hố - hiện đại hố nơng thơn
nước ta đến năm 2010 là: cơng nghiệp hố - hiện đại hố nơng nghiệp là
q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hố lớn, gắn liền với công nghiệp cơ bản và thị trường, thực hiện cơ khí
hố, điện khí hố, thuỷ lợi hố, ứng dụng các thành tựu khoa học cơng
21


nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kĩ thuật và công nghệ
hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nơng sản hàng hố trên thị trường.
Nghị quyết cũng chỉ ra những chủ trương, biện pháp, chính sách nhằm thúc
đẩy nhanh cơng nghiệp hố - hiện đại hố nơng nghiệp, nơng thơn. Trong
đó, chính sách về đất đai là: “Nhà nước tạo điều kiện để nông dân thực hiện
đầy đủ, đúng pháp luật các quyền về sử dụng đất đai, khuyến khích nơng
dân thực hiện DĐĐT trên cơ sở tự nguyện; nông dân được sử dụng giá trị
quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần tham gia phát triển sản xuất kinh
doanh … Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất
theo quy hoạch và chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của

pháp luật”.
Thực hiện tinh thần này, một số tỉnh, thành phố chủ động ra chủ
trương chuyển đổi đất nông nghiệp bằng các Nghị quyết, chủ trương của
tỉnh uỷ, kế hoạch triển khai của UBND tỉnh, hướng dẫn chuyển đổi đất
nông nghiệp ở từng huyện, xã, tập trung chủ yếu ở các tỉnh ĐBSH. Đi đầu
trong việc thực hiện chủ trương này là tỉnh Phú Thọ. Năm 1998, Phú Thọ
chọn 4 xã: Lương Lỗ (Thanh Ba), Nga Sơn (Sông Thao), Bản Tuyên
(Phong Châu) và Trưng Vương (Thành phố Việt Trì) tổ chức làm thí điểm
và sau khi sơ kết, tỉnh đã quyết định mở rộng thí điểm ở 60 xã thuộc các
vùng khác nhau.
Tại Bắc Ninh, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết số 03 về việc vận động nông
dân chuyển đổi đất nông nghiệp cho nhau. Đến hết năm 1998 có 237 thơn
đã hồn thành chuyển đổi ruộng đất.
Ở Thanh Hoá, huyện Thọ Xuân là huyện đi đầu trong công tác
chuyển đổi đất nông nghiệp với mục tiêu: khắc phục tình trạng manh mún,
giảm thiểu số thửa ruộng trên mỗi hộ, kết hợp quy hoạch lại đồng ruộng
phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá. Đầu năm 1998, huyện mở cuộc vận
22


động DĐĐT. Đến tháng 5 – 1999, 100% xã trên toàn huyện đã cơ bản hoàn
thành việc DĐĐT. Số thửa ruộng giảm từ 329000 thửa xuống còn 152000
thửa (giảm 54%). Bình qn mỗi hộ cịn 3,2 thửa, quy mơ thửa được nâng
lên từ 272,52m2 lên 586,61m2 trên thửa [37, Tr 221].
Trong những năm tiếp theo, các tỉnh Thanh Hoá, Bắc Ninh, Phú Thọ,
Nghệ An, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Nam… đã
triển khai rộng rãi và có hiệu quả việc DĐĐT. Đến ngày 20 – 5 – 2008, tại
thành phố Bắc Ninh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Bộ Tài
nguyên – Môi trường và UBND tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức diễn đàn: Công
tác DĐĐT phục vụ cơng nghiệp hố - hiện đại hố nơng nghiệp nông thôn

với sự tham dự của đại diện các sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn,
nông dân các tỉnh vùng ĐBSH, các bộ, ngành liên quan. Kết quả bước đầu
được tổng kết: “Các địa phương hầu hết đã giảm được một phần hai số
thửa, có nơi giảm tới 80%. Diện tích mỗi thửa bình qn tăng 3 lần, tạo
điều kiện cho nông dân cải tạo đồng ruộng, thâm canh, chuyển đổi cơ cấu
cây trồng. Diện tích đất nơng nghiệp tăng lên nhờ giảm phần đất làm bờ
(chiếm từ 2 đến 4%). Cơ sở hạ tầng nội đồng được nâng cấp, năng suất cây
trồng, vật nuôi tăng. Thu nhập của các hộ nông dân sau khi DĐĐT tăng từ
2 đến 3 lần so với trước.
Sau 8 năm thực hiện chủ trương này, có 2 tỉnh Hà Nam và Bắc Ninh
hồn thành cơ bản việc DĐĐT, khắc phục tình trạng manh mún. Đi liền với
đó là cơng tác cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từng bước được
hoàn thành. Tuy nhiên tốc độ thực hiện nhìn chung vẫn cịn rất chậm.
Lợi ích từ việc DĐĐT về cả kinh tế lẫn xã hội đều được thấy rõ. Đất
đai được dồn đổi tập trung lại tạo điều kiện cho việc quy hoạch đồng ruộng.
Nhiều vùng, nhiều nơi nông dân đã chuyển sang sản xuất hàng hố với quy
mơ lớn hơn, nhiều mơ hình trang trại được mở rộng, tốc độ công nghiệp

23


hố - hiện đại hố nơng nghiệp nơng thơn được đẩy nhanh, đời sống của
nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Sau một thời gian thực hiện chủ trương này ở các địa phương trong
cả nước, nhất là vùng ĐBSH, đã tạo ra sự chuyển biến trong hoạt động sản
xuất nông nghiệp, kéo theo sự thay đổi trong đời sống kinh tế và xã hội ở
nhiều vùng nông thôn, dấu hiệu của một nền nơng nghiệp sản xuất hàng
hố đang biểu hiện rõ rệt.
Tuỳ theo đặc điểm tự nhiên, đất đai và điều kiện kinh tế - xã hội cụ
thể, mỗi địa phương, đến cấp huyện, xã, lại có cho mình một phương án

DĐĐT và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội sau DĐĐT một cách hợp lí
và hiệu quả nhất.
1.2. Quá trình thực hiện DĐĐT ở tỉnh Hưng n và huyện Văn
Giang
1.2.1 Q trình triển khai cơng tác DĐĐT ở Hưng Yên.
* Thực trạng ruộng đất Hưng Yên trước DĐĐT
Năm 1997, Hưng Yên được tách ra từ tỉnh Hải Hưng. Sau khi tái lập
tỉnh, lãnh đạo và nhân dân Hưng Yên tập trung toàn bộ tinh thần cho việc
phát triển kinh tế, xã hội. Vốn là một phần của tỉnh Hải Hưng cũ, nhưng so
với khu vực Hải Dương thì kinh tế Hưng Yên lại kém phát triển hơn về mọi
mặt, nhất là về ruộng đất và sản xuất nông nghiệp.
Tháng 4 năm 1993, Ban thường vụ TU Hải Hưng ra Nghị quyết số
03/NQ.TU (ngày 01/04/1993) về việc giao ruộng đất cho các hộ gia đình sử
dụng lâu dài trước khi thực hiện Nghị định 64/CP (ngày 27/09/1993) của
Chính phủ. Khi đó các huyện thuộc địa phận Hưng Yên đã sớm triển khai
việc giao đất cho hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản
xuất nơng nghiệp. Đến năm 1998, tồn tỉnh Hưng n đã giao 52.293 ha
đất canh tác cho 951.584 khẩu nông nghiệp thuộc 250.897 hộ nông dân.
24


Kết quả đó có tác động tích cực thúc đẩy nông nghiệp Hưng Yên
phát triển, chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao, sản lượng
lương thực tăng nhanh góp phần quan trọng vào sự ổn định tình hình kinh
tế, xã hội và đổi mới bộ mặt nơng thơn. Tuy nhiên, với cơ chế khốn hộ, để
đảm bảo sự cơng bằng trong q trình giao quyền sử dụng đất, mỗi hộ nông
dân Hưng Yên được nhận trên dưới 10 thửa ruộng lớn nhỏ khác nhau ở các
xứ đồng trong một thôn. Những cánh đồng vốn không bằng phẳng, đồng
đều về độ cao và chất đất của Hưng Yên đã bị xé lẻ. Nhà nhà đều có chân
ruộng tốt, ruộng xấu, đồng vàn, đồng trũng, cánh xa, cánh gần. Bình qn

mỗi hộ được nhận 0,21 ha đất nơng nghiệp. Điều này đã dẫn đến một thực
trạng là sau khi giao quyền sử dụng đất, ruộng đất nông nghiệp trở nên
phân tán, manh mún. Biểu hiện manh mún là ruộng đất bị “băm nhỏ” để
chia đều cho các hộ nông dân, nên một hộ canh tác rất nhiều thửa (khoảng
từ 8 đến 10 thửa), cá biệt có hộ tới 15 thửa nằm rải rác trên tất cả các cánh
đồng, xứ đồng của thơn. Kích thước các thửa cũng đa dạng. Diện tích bình
qn các thửa đất lúa phổ biến từ 200 đến 300m2, diện tích trồng rau màu
và cây cơng nghiệp ngắn ngày bình qn từ 100 đến 200m2. Thậm chí có
những thửa vài chục m2, nhất là đất mạ diện tích có thửa dưới 10m2 [66, tr
1,2].
Tình trạng manh mún ruộng đất tập trung chủ yếu ở các loại đất
trồng cây hàng năm đã giao ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân như đất
trồng lúa, đất trồng rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày... Loại đất càng
tốt, có điều kiện thâm canh càng cao thì càng bị manh mún. Canh tác bất
lợi, khó đầu tư thâm canh, dẫn đến chậm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
ni để làm ra khối lượng hành hóa lớn. Thậm chí vụ đơng, nhiều cánh
đồng được coi là màu mỡ lại bị bỏ hoang. Sản xuất nông nghiệp của Hưng
Yên vẫn tăng nhưng khá chậm chạp.

25


×