Tải bản đầy đủ (.pdf) (4 trang)

Báo cáo các tội phạm về ma tuý so sánh giữa bộ luật hình sự năm 1985 và bộ luật hình sự năm 1999

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (69.94 KB, 4 trang )

nghiên cứu - trao đổi

Các tội phạm về ma túy - So sánh
giữa BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999
TS. Lê Thị Sơn *

T

rong Bộ luật hình sự (BLHS) năm
1999 (có hiệu lực từ ngày
01/7/2000), các tội phạm về ma túy đợc
quy định tại Chơng XVII, từ Điều 192
đến Điều 201, mời điều luật này quy
định mời tội danh khác nhau. So sánh
những quy định này với các quy định
tơng ứng trong BLHS năm 1985 có thể
thấy có nhiều thay đổi. Trong đó có
những thay đổi hợp lí và cũng có những
thay đổi cha hợp lí. Cụ thể những thay
đổi đó là:
1. BLHS năm 1999 đ gộp 4 tội danh
độc lập đợc quy định tại 4 điều luật
khác nhau trong BLHS năm 1985 thành
một tội danh chung. 4 tội danh độc lập đó
là: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
(Điều 185 c); tội vận chuyển trái phép
chất ma túy (Điều 185 d); tội mua bán
trái phép chất ma túy (Điều 185 đ) và tội
chiếm đoạt chất ma túy (Điều 185 e).
Trong BLHS năm 1999, cả bốn loại hành
vi này đều đợc quy định chung tại một


điều luật với tội danh: Tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt chất ma túy (Điều 194). Việc gộp
này, theo chúng tôi là cần thiết bởi những
lí do sau:
- Trong khi áp dụng BLHS năm 1985
để giải quyết các vụ án liên quan đến ma
túy, các cơ quan pháp luật đ gặp vớng
mắc khi xác định phải truy cứu trách
nhiệm hình sự (TNHS) về tội gì trong

trờng hợp ngời phạm tội có nhiều hành
vi phạm tội khác nhau (tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt
chất ma túy) mà những hành vi này lại có
liên quan mật thiết với nhau. Để giải
quyết vấn đề này các cơ quan Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao và Bộ công an đ phải ban hành 2
thông t liên tịch. Trong đó giải thích,
khi nào truy cứu TNHS về nhiều tội, khi
nào chỉ truy cứu TNHS về 1 tội và tội đó
là tội gì(1). Việc quy định gộp 4 loại hành
vi vào cùng một tội danh đ khắc phục
đợc tình trạng phải có những hớng dẫn
nh vậy. Tuy chỉ là 1 điều luật nhng
Điều 194 của BLHS năm 1999 có thể
đợc vận dụng linh hoạt theo các hớng
khác nhau. Điều luật này có thể đợc vận
dụng nh là quy định về các tội phạm độc

lập để truy cứu TNHS ngời phạm tội về
một tội phạm khi họ chỉ thực hiện một
hành vi trong số 4 loại hành vi đ đợc
quy định trong điều luật nh trờng hợp
ngời phạm tội đ thực hiện hành vi trộm
cắp chất ma túy sẽ bị truy cứu TNHS về
tội chiếm đoạt chất ma túy; hoặc để truy
cứu TNHS ngời phạm tội về nhiều tội
khi họ đ thực hiện nhiều loại hành vi
khác nhau đợc quy định trong điều luật
và giữa những hành vi này không có sự
liên quan với nhau. Điều 194 cũng có thể
* Trờng đại học luật Hà Nội
Tạp chí luật học - 31


nghiên cứu - trao đổi

đợc vận dụng nh là quy định về một tội
phạm để truy cứu TNHS ngời phạm tội
về một tội mặc dù đ thực hiện nhiều
hành vi khác nhau đợc quy định trong
điều luật nhng có liên quan mật thiết với
nhau.
- Lí do thứ hai của việc phải quy định
gộp là để thể hiện tính nhất quán trong kĩ
thuật lập pháp, tránh hiện tợng có các
cách quy định khác nhau cho những
trờng hợp có đặc điểm giống nhau.
Trong BLHS năm 1985, hành vi tàng trữ,

vận chuyển, mua bán trái phép và hành vi
chiếm đoạt chất ma túy đợc quy định
thành 4 tội danh khác nhau nhng hành
vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép và hành vi chiếm đoạt tiền chất
dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma
túy lại đợc quy định gộp thành một tội
danh. Đây là điểm không nhất quán về kĩ
thuật lập pháp. Với việc gộp 4 tội danh đ
đợc quy định tại các điều 185c, 185d,
185đ và 185e BLHS năm 1985 thành một
tội danh quy định tại Điều 194 BLHS
năm 1999, sự không nhất quán này đ
đợc khắc phục.
2. Các tình tiết định khung tăng nặng
ở các tội phạm về ma túy đợc quy định
trong BLHS năm 1985 và BLHS năm
1999 có nhiều điểm khác nhau. Có tình
tiết định khung tăng nặng đợc cụ thể
hoá hơn, có tình tiết định khung tăng
nặng không còn đợc tiếp tục quy định và
có tình tiết định khung tăng nặng đợc
sửa đổi lại trong BLHS năm 1999. Cụ thể:
- Trong BLHS năm 1985, ở rất nhiều
điều luật khác nhau(2) đều quy định cho
phép chuyển lên khung hình phạt nặng
hơn khi có nhiều tình tiết định khung
32 - Tạp chí luật học

tăng nặng của khung tăng nặng thấp hơn.

Đây là điều đ đợc thực tiễn xét xử kiểm
nghiệm là hợp lí. Trong BLHS năm 1999,
ở Chơng tội phạm về ma túy, điều cho
phép này đ bị xoá bỏ. Tình tiết định
khung tăng nặng Có nhiều tình tiết quy
định tại... không đợc quy định ở tất cả
các điều luật của Chơng các tội phạm về
ma túy. Theo chúng tôi, việc không quy
định tình tiết này trong các tội phạm về
ma túy nói chung và đặc biệt trong các
tội phạm về ma túy có tình tiết định
khung theo định lợng (chất ma túy hoặc
tiền chất ma túy) nói riêng là một trong
những hạn chế của BLHS năm 1999.
Điều này sẽ tạo ra những bất hợp lí trong
áp dụng. Có thể nhận thấy sự bất hợp lí
này qua ví dụ sau:
Một ngời đ vận chuyển qua biên
giới lợng chất ma túy dới mức quy
định của khoản 2 Điều 194. Trờng hợp
này sẽ bị truy cứu TNHS theo khoản 2
Điều 194 và phải chịu mức hình phạt theo
khung 2 vì có tình tiết định khung tăng
nặng ... qua biên giới. Trong trờng
hợp này, chỉ một tình tiết là tình tiết ...
qua biên giới đ quyết định việc chuyển
khung hình phạt. Thế nhng ở ví dụ khác,
tình tiết này cộng với nhiều tình tiết định
khung tăng nặng khác lại không thể làm
chuyển đợc khung hình phạt. Đó là

trờng hợp một ngời đ vận chuyển qua
biên giới theo sự phân công của một
nhóm đồng phạm có tổ chức một lợng
chất ma túy trong mức quy định của
khoản 2 Điều 194. Trờng hợp này cũng
chỉ bị truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều
194 và phải chịu mức hình phạt theo
khung 2 vì trọng lợng chất ma túy đ đạt


nghiên cứu - trao đổi

mức quy định (hoặc vì qua biên giới hoặc
vì có tổ chức).
Nh vậy, các tình tiết định khung tăng
nặng "... qua biên giới và có tổ chức"
không những không quyết định đợc việc
chuyển từ khung 2 lên khung 3 mà thực
ra cũng không có ý nghĩa trong việc
chuyển từ khung 1 lên khung 2 (nếu nh
đ sử dụng tình tiết về định lợng chất
ma túy để định khung 2) hay nói cách
khác, trong trờng hợp này các tình tiết
định khung tăng nặng đó không có ý
nghĩa định khung hình phạt. Việc xoá bỏ
tình tiết định khung tăng nặng Có nhiều
tình tiết quy định tại khoản... không
những làm mất ý nghĩa của các tình tiết
định khung tăng nặng mà còn góp phần
vào việc tuyệt đối hoá ý nghĩa định

khung của tình tiết về định lợng chất ma
túy. Trong khi đó, việc xác định lợng
chất ma túy thực trong các vụ án thực tế
không phải luôn luôn chính xác và các vụ
án về ma túy thờng có nhiều tình tiết
định khung tăng nặng khác (ngoài tình
tiết về định lợng chất ma túy) mà những
tình tiết này lại dễ xác định.
- Cùng với việc bỏ tình tiết định
khung tăng nặng Có nhiều tình tiết
đợc quy định tại... ở các tội phạm về
ma túy, BLHS năm 1999 còn bỏ một số
tình tiết định khung tăng nặng khác ở một
số tội phạm về ma túy. Việc bỏ những
tình tiết định khung tăng nặng trong
những trờng hợp này, theo chúng tôi đều
không hợp lí. Cụ thể: BLHS năm 1999
không quy định tình tiết định khung tăng
nặng Thu lợi bất chính lớn là tình tiết
định khung của khung 2 và tình tiết định
khung tăng nặng Có tính chất chuyên

nghiệp là tình tiết định khung của khung
3 ở tội mua bán trái phép chất ma túy.
Đây là những tình tiết có ý nghĩa chuyển
khung rất riêng của loại tội này. BLHS
năm 1999 đ bỏ những tình tiết này ở tội
phạm về ma túy trong khi vẫn quy định
nó ở các tội khác có đặc điểm tơng tự
nh tội buôn lậu (Điều 153), tội sản xuất,

tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
(Điều 155), tội sản xuất, buôn bán hàng
giả (Điều 156)...
- Tơng tự vậy, BLHS năm 1999 cũng
không quy định tình tiết Có sử dụng vũ
khí hoặc phơng tiện nguy hiểm là tình
tiết định khung tăng nặng của khung 2 ở
tội chiếm đoạt chất ma túy. Tội chiếm
đoạt chất ma túy có thể đợc thực hiện
bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Trong đó
có thủ đoạn dùng vũ lực nh ở tội cớp
tài sản. Trong những trờng hợp dùng vũ
lực nh vậy, việc quy định 2 tình tiết trên
là tình tiết định khung tăng nặng là cần
thiết, giống nh chúng ta đ quy định nó
ở tội cớp tài sản (Điều 133).
- Bên cạnh việc bỏ một số tình tiết
định khung tăng nặng nêu trên, BLHS
năm 1999 cũng đ sửa nội dung một số
tình tiết định khung tăng nặng khác.
Trong đó có tình tiết định khung tăng
nặng Sử dụng ngời cha thành niên vào
việc phạm pháp. Tình tiết này đ đợc
sửa thành Sử dụng trẻ em vào việc phạm
tội. Việc sửa này đ thể hiện thái độ bảo
vệ đặc biệt đối với trẻ em nhng đ vô
tình loại những ngời cha thành niên từ
16 tuổi đến dới 18 tuổi khỏi đối tợng
cần bảo vệ đặc biệt hơn so với ngời
thành niên.

- Điểm mới của BLHS năm 1999
Tạp chí luật học - 33


nghiên cứu - trao đổi

trong việc quy định tình tiết định khung
tăng nặng ở các tội phạm về ma túy là sự
định lợng hoá hậu quả gây tổn hại cho
sức khoẻ của ngời khác là dấu hiệu định
khung đợc quy định ở một số tội. Tuy
nhiên, liên quan đến vấn đề này BLHS
năm 1999 vẫn còn điểm hạn chế. Cụ thể:
BLHS chỉ quy định tình tiết Gây tổn hại
cho sức khoẻ của nhiều ngời... ở Điều
197 mà không quy định tình tiết này ở
Điều 200 mặc dù ở hai điều luật này đều
có dấu hiệu hậu quả gây tổn hại cho sức
khỏe là dấu hiệu định khung. Đây cũng là
biểu hiện của sự không nhất quán trong
các quy định của BLHS.
3. Về hình phạt, các quy định của
BLHS năm 1999 cũng có nhiều điểm
khác so với BLHS năm 1985. Những
điểm khác đó vừa thể hiện mức độ
nghiêm khắc hơn ở trờng hợp này vừa
thể hiện mức độ ít nghiêm khắc hơn hoặc
mềm dẻo hơn ở trờng hợp khác. Cụ thể:
- ở một số tội phạm, khung hình phạt
đợc quy định với mức tối thiểu và mức

tối đa hoặc chỉ mức tối thiểu thấp hơn so
với quy định trong BLHS năm 1985. Các
tội có nhiều khung hình phạt đợc quy
định giảm nhẹ nh vậy là tội sản xuất trái
phép chất ma túy, tội mua bán trái phép
chất ma túy, tội chiếm đoạt chất ma túy
và tội vi phạm các quy định về quản lí, sử
dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma
túy khác. Ngoài ra, tất cả các tội mà theo
BLHS năm 1985 có mức thấp nhất ở
khung cao nhất là chung thân thì theo
BLHS năm 1999 mức đó chỉ là 20 năm
tù. Hình phạt tử hình không còn đợc quy
định ở tội cỡng bức, lôi kéo ngời khác
sử dụng trái phép chất ma túy.
34 - Tạp chí luật học

- ở một số tội phạm, hình phạt tiền
không còn đợc quy định là hình phạt
chính. Đây là biểu hiện của việc quy định
xử lí nghiêm khắc hơn với các loại tội ấy.
Những tội đó là: Tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt tiền chất ma túy; tội sản xuất, tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các
phơng tiện, dụng cụ dùng vào việc sản
xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;
tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma
túy.
- Trong việc quy định hình phạt bổ

sung cũng có những thay đổi thể hiện sự
mềm dẻo, ít nghiêm khắc hơn và cũng có
thay đổi thể hiện sự nghiêm khắc hơn. Cụ
thể: BLHS năm 1999 đ tăng mức thấp
nhất của hình phạt tiền từ 20 triệu đồng
lên 50 triệu đồng ở tội tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy và ở tội chứa chấp
sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197
và Điều 198). Bên cạnh đó, BLHS năm
1999 lại giảm mức thấp nhất của hình
phạt Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định ở các
tội quy định tại Điều 193, Điều 196 và
Điều 201. BLHS năm 1999 cũng không
quy định hình phạt bổ sung là hình phạt
bắt buộc ở đa số các tội phạm nh trớc
đây BLHS năm 1985 đ quy định. Cụ thể:
Các tội phạm đợc quy định từ Điều 193
đến Điều 198 và các điều 200, 201 là
những tội mà hình phạt bổ sung đợc quy
định không phải là hình phạt bắt buộc./.
(1).Xem: Thông t liên tịch số 01/1998/TTLT của
TANDTC-VKSNDTC-BCA ngày 2/1/1998; Thông t
liên tịch số 02/1998/TTLT của TANDTC-VKSNDTCBCA ngày 05/08/1998.
(2). Trong Chơng các tội phạm về ma túy có 9/13
điều.




×