Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

Lịch sử việt nam giai đoạn từ sau TRUONGF VÙNG CAO VIỆT bắc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.82 KB, 14 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÙNG CAO VIỆT BẮC

TÊN ĐỀ TÀI:

Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện học
sinh giỏi Quốc gia khi giảng dạy chuyên đề:

“Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau
ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954”

Người thực hiện: Đỗ Thị Hồng Hạnh
Tổ: Xã hội
Trường: PT Vùng cao Việt Bắc

THÁI NGUYÊN, THÁNG 8 NĂM 2015


MỤC LỤC
Nội dung
I. Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích
II. Phần nội dung
1. Lựa chọn nội dung ôn luyện học sinh giỏi Quốc gia khi
giảng dạy chuyên đề “Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau
ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954”
2. Một số phương pháp ôn luyện học sinh giỏi Quốc gia khi
giảng dạy chuyên đề “Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau
ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954”
2.1 Xác định được kiến thức cơ bản.


2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập của nội dung Lịch
sử Việt Nam giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày
21/7/1954.

Trang
3
3
4
3
5

2.3. Xây dựng các chuyên đề của nội dung Lịch sử Việt
Nam giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954.

7

2.4. Hướng dẫn học sinh tự học

12

III. Kết luận

14

I. Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2

5


5
6


Chất lượng giáo dục là những yếu tố tạo nên giá trị của sản phẩm giáo
dục, đó là năng lực và nhân cách người học. Chất lượng giáo dục gắn liền với
chất lượng nguồn nhân lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước, của địa phương.
Để đáp ứng yêu cầu đó, giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng phải
có sự đổi mới căn bản, toàn diện. Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ hai, khoá
VIII chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học. Từng bước áp
dụng phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học”.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định “...Ưu tiên hàng đầu
cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới chương trình, nội dung,
phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên...” [8; 206 – 206]
Kết luận 242/NQ của bộ chính trị khoá X ngày 15/4/2009 đã xác định 7
nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục đến năm 2020: “Nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho học
sinh, sinh viên, mở rộng qui mô giáo dục hợp lý. Nội dung này tồn tại trong cả
ba mặt giáo dục: dạy người, dạy chữ, dạy nghề” (nhiệm vụ 1); “Tiếp tục đổi
mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục: Cụ thể,
rà soát lại toàn bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông, sớm khắc phục
tình trạng quá tải, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa khuyến khích đúng
mức tính sáng tạo của người học” (nhiệm vụ 4). Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh
mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học.
Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ
thông mới.”[tr 131 – 132]
Thấm nhuần các nghị quyết của Đảng về nâng cao chất lượng giáo dục,
trong những năm qua, các thầy cô giáo giảng dạy môn Lịch sử đã có nhiều cố

gắng, luôn tìm tòi, sáng tạo những phương pháp dạy và ôn luyện phù hợp với
khả năng nhận thức của nhóm chuyên và đội tuyển học sinh giỏi môn Sử, một
trong những cách thức ôn luyện đó là xây dựng các chuyên đề chuyên sâu về
lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, giúp học sinh nắm chắc, hiểu sâu, biết phân
tích đánh giá các sự kiện, nhân vật lịch sử, biết khái quát, so sánh các vấn đề lịch
3


sử thế giới và trong nước.Với cách làm này đã cho kết quả, nhiều năm qua các
đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh, duyên hải, Hùng Vương và đội tuyển quốc gia
đều chiếm số lượng giải nhiều hơn các bộ môn khác trong trường.
Tuy nhiên, kết quả đó vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển ngày
càng cao của nhà trường. Số học sinh đạt giải cao còn ít, các em theo học đội
tuyển phần lớn lựa chọn môn chuyên theo cảm tính, ít học sinh có năng khiếu,
yêu thích bộ môn thực sự. Trong quá trình ôn luyện, cho thấy khả năng diễn đạt,
lập luận, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử của học sinh còn yếu, khả năng
khai thác các tư liệu chuyên sâu còn hạn chế. Chưa có nội dung chuyên sâu theo
hệ thống cho đội tuyển. Kinh nghiệm dạy và ôn luyện đội tuyển của một số giáo
viên còn thiếu.
Là những giáo viên thường xuyên được nhà trường tin cậy, giao nhiệm
vụ dạy và ôn luyện nhóm chuyên và đội tuyển học sinh giỏi các cấp, chúng tôi
nhận thấy chuyên đề: Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện học sinh
giỏi Quốc gia khi giảng dạy chuyên đề “Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau
ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954” là chuyên đề rất quan trọng, cần thiết trong
quá trình ôn luyện cho HSGQG. Nằm trong chương trình lịch sử VN lớp 12,
Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954 là phần ôn
tập trọng tâm, chứa đựng nhiều vấn đề quan trọng, là nội dung của nhiều câu hỏi
trong các kỳ thi HSG Quốc gia các năm qua.
Vì vậy, việc đầu tư thời gian cho việc dạy và học các vấn đề của giai đoạn
lịch sử này là hết sức quan trọng, nó góp phần không nhỏ vào kết quả của đội

tuyển. Tuy nhiên, để đạt được kết quả cao nhất, thì giáo viên cần biết lựa chọn
nội dung dạy và phương pháp ôn tập hiệu quả cho các vấn đề nói trên.
2. Mục đích:
Cần làm rõ các vấn đề sau:
- Các kiến thức trọng tâm cần nắm được trong giai đoạn Lịch sử Việt Nam từ
sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954
- Hệ thống một số phương pháp ôn tập cho các vấn đề cơ bản của giai đoạn 1919
– 1930.

II. Phần nội dung

4


1. Lựa chọn nội dung ôn luyện học sinh giỏi Quốc gia khi giảng dạy chuyên
đề “Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954”
Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954 Lớp 12 THPT cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:
- Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày
19/12/1946.
- Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
(1946-1950).
- Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
(1951-1953).
- Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc(1953-1954).
2. Một số phương pháp ôn luyện học sinh giỏi Quốc gia khi giảng dạy
chuyên đề “Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày
21/7/1954”
2.1 Xác định được kiến thức cơ bản.
Để có quá trình ôn luyện đạt được kết quả cao, điều trước tiên đối với GV
là cần xác định được kiến thức cơ bản của bài, của giai đoạn lịch sử. Xác định

được hệ thống kiến thức cơ bản sẽ giúp GV lựa chọn phương pháp dạy và ôn
luyện phù hợp.
Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954 bao
gồm những kiến thức cơ bản cần nắm vững là:
- Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân (19451946): Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta giải quyết các
khó khăn đối nội và đối ngoại ở những năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám
để bảo vệ độc lập dân tộc giữ vững và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân.
- Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp và can thiệp Mĩ (19461954):
+ Hoàn cảnh bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc và cuộc chiến đấu của quân
và dân ta trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc.
+ Nội dung chính của đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng.
+ Những chiến thắng lớn: Việt Bắc thu đông 1947, Biên giới thu đông 1950,
cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng
Điện Biên Phủ.
+ Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương.

5


2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập của nội dung Lịch sử Việt Nam
giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954.
Câu 1:
Tại sao nói tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 như “ngàn
cân treo sợi tóc”?
Câu 2:
Nêu những chủ trương, biện pháp của Đảng ta trong việc xây dựng chính quyền
cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính.
Câu 3:
Đảng và Chính phủ đã thực hiện chủ trương, sách lược như thế nào đối với quân
Trung Hoa Dân quốc và bọn phản cách mạng ở miền Bắc sau cách mạng tháng

Tám?
Câu 4:
Hãy cho biết chủ trương, sách lược của Đảng và Chính phủ ta đối với thực dân
Pháp trong thời gian từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946?
Câu 5:
Tại sao cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ?
Câu 6:
Nêu đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng?
Câu 7:
Chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950 diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử mới
như thế nào?
Câu 8:
Trình bày hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng
(2/1951)?
Câu 9:
Hậu phương của ta trong kháng chiến chống Pháp từ sau Đại hội đại biểu lần thứ
II của Đảng phát triển như thế nào?
Câu 10:
Nêu hoàn cảnh, nội dung kế hoạch quân sự Nava?
Câu 11:
Kế hoạch quân sự Nava bước đầu bị phá sản như thế nào?
Câu 12:
Hãy cho biết âm mưu của thực dân Pháp trong việc chiếm đóng và xây dựng tập
đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ?

6


Câu 13:
Tại sao ta quyết định mở chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ?

Câu 14:
Trình bày nguyên nhân thắng lợi, kết quả, ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp?
Câu 15:
Nêu nội dung, ý nghĩa của Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương?
2.3. Xây dựng các chuyên đề của nội dung Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ
sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954.
Trong giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954, để ôn tập có
hiệu quả cho HS, GV có thể xây dựng thành các chuyên đề nhằm đi sâu vào các
kiến thức trọng tâm, tạo mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử trong
một giai đoạn và giữa các giai đoạn lịch sử.
Ở giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954, có thể xây dựng
thành các chuyên đề sau:
- Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân (19451956).
- Trên mặt trận Quân sự.
- Xây dựng hậu phương.
- Cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao.
Trong mỗi chuyên đề, GV cần ôn tập lại các kiến thức cơ bản, xây dựng
hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó, đòi hỏi ở các em từ các kĩ năng nhận biết, tư
duy, tìm ra mối liên hệ với các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Cụ thể nội dung các
chuyên đề như sau:
2.3.1. Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân
(1945-1956).
- Bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước (thuận lợi và khó khăn).
- Vấn đề nổi lên trong giai đoạn này là: giải quyết những khó khăn trong đối nội
và đối ngoại của chính quyền non trẻ vì “giành chính quyền đã khó, giữ được
chính quyền còn khó hơn nhiều”.
- Về đối nội:
+ Các biện pháp của Đảng và Bác Hồ trong đối nội bao giờ cũng bao gồm các

biện pháp giải quyết khó khăn trước mắt và đặt nền móng lâu dài.

7


+ Đặt trong tình thế đương thời để phân tích rõ tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn
của việc diệt giặc đói, giặc dốt, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân. Đây
chính là cơ sở để giải quyết nạn ngoại xâm.
- Về đối ngoại:
+ Giảm bớt kẻ thù.
+ Kéo dài thời gian hòa hoãn để có điều kiện chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
+ Thái độ của ta luôn mềm dẻo nhưng giữ vững nguyên tắc.
- Đánh giá ý nghĩa, tác dụng của giai đoạn này đối với lịch sử cách mạng Việt
Nam (tiếp nối cách mạng tháng Tám và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài).
2.3.2. Trên mặt trận Quân sự.
a. Lập bảng hệ thống các chiến thắng tiêu biểu:
Đây là một phương pháp hiệu quả giúp HS hệ thống hoá kiến thức đã học, các
kiến thức lịch sử trở nên ngắn gọn, cô đọng, các em sẽ dễ dàng so sánh, rút ra
các mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử.

Tên
chiến
dịch

Âm mưu
của địch

+ Tháng
1.
3/1947,

Chiến
Bolaet
dịch
sang làm
Việt
Cao
ủy
Bắc thu Pháp

đông
ĐD,
đã
1947
thực hiện
kế hoạch
tấn công
lên
Việt
Bắc nhằm
nhanh
chóng kết
thúc chiến
tranh.

Chủ
trương, kế
hoạch của
ta

Diễn biến


+ Đảng ra
chỉ
thị
“Phải phá
tan cuộc
tấn công
mùa đông
của giặc
Pháp”.

+ Ngày 7/10/1947,
12.000 quân Pháp
tiến công lên Việt
Bắc theo ba hướng
+ Quân ta bao vây ,
tấn công tiêu diệt
địch ở Chợ Mới,
chợ Đồn, chợ Rã..
( Bắc Kan )
+ Ở Mặt trận
hướng đông: quân ta
phục kích chặn đánh
địch trên đường số
4, tiêu biểu là trận
đèo
Bông
Lau
(30/10/1947) đánh
trúng đoàn xe cơ

giới, thu nhiều vũ
khí, quân trang,
quân dụng của địch.
8

Kết quả ý nghĩa

- Loại
hơn
6000
tên, bắn
rơi 16
máy
bay, bắn
chìm 11
ca

tàu
chiến,
phá huỷ
nhiều
phương
tiện
chiến
tranh.Cơ
quan
đầu nảo
kháng

- Đưa

cuộc
kháng
chiến
của ta
sang
bước
phát
triển
mới.
- Buộc
địch
phải
thay
đổi
chiến
lược
chiến
tranh
từ


Từ tháng
2.
6/1949,
Chiến
Pháp tăng
dịch
cường hệ
Biên
thống

giới thu phòng ngự
đông
trên đường
1950
số 4 nhằm
khóa chặt
biên giới
ViệtTrung,
thiết
lập
“hành lang
ĐôngTây”
từ
Hải Phòng
qua

Nội
đến
Hòa Bình,
Sơn La 

Mục đích
của ta khi
mở chiến
dịch Biên
Giới (tiêu
diệt sinh
lực địch,
khai thông
biên giới

đường
sang Trung
Quốc và
thế
giới,
mở rộng và
củng
cố
căn cư địa
VB, tạo đà
thúc đẩy
cuộc kháng
chiến tiến
lên.)

+ Ở mặt trận
hướng tây: ta phục
kích đánh địch trên
sông Lô ( trận Đoan
Hùng, Khe Lau )
bắn chìm nhiều tàu
chiến , ca nô địch.
 ngày 19/12/1947,
quân Pháp rút lui
khỏi Việt bắc.

chiến
được
bảo
toàn. Bộ

đội chủ
lực
trưởng
thành.
Đập
tan âm
mưu
đánh
nhanh
thắng
nhanh
của P,
buộc
chúng
phải
chuyển
sang
đánh lâu
dài với
ta.

“đánh
nhanh
thắng
nhanh”
chuyển
sang
“đánh
lâu
dài”,

thực
hiện
chính
sách
“dùng
người
Việt
đánh
người
Việt”

- Ngày 16/9/1950,
quân ta tấn công,
đánh chiếm Đông
Khê Thất Khê bị
uy hiếp, cao Bằng bị
cô lập.
- Pháp tổ chức rút
lui khỏi Cao bằng
 tổ chức cuộc
hành quân kép
+ Một cánh quân từ
Thất Khê đánh lên
Đông Khê và đón
cánh quân từ Cao
Bằng về.
+ Một cánh quân
tiến
lên
Thái

Nguyên nhằm thu
hút chủ lực của ta.

- Loại
khỏi
vòng
C/Đ hơn
8000
tên, khai
thông
B/G VT, mở
đường
liên lạc
QT, làm
cho
cuộc
K/C
thoát
khỏi thế
bị bao
vây cô
lập.

- Ta
giành
quyền
chủ
động
chiến
lược

trên
chiến
trường
chính
Bắc
Bộ.Mở
ra T/K
tiến
công
tiêu
diệt
địch
với qui


9


chuẩn bị
tấn công
qui mô lớn
lên
Việt
Bắc
lần
hai.
Tháng
3. Cuộc 5/1953,
tiến
được sự

công
thỏa thuận
chiến
của Mỹ,
lược
Na
va
Đông
được cử
Xuân
làm tổng
1953chỉ
huy
1954
quân Pháp
ở ĐD đề
ra
kế
hoạch
quân
sự
Nava: tập
trung
giành
thắng lợi
về
quân
sự, để “kết
thúc chiến
tranh trong

danh dự”

ngày
càng
lớn của
bộ độ
chủ lực
ta.
- Tháng
9/1953,
BCT.TWĐ
họp đề ra
phương
hướng
chiến
lược:
+
Tiêu diệt
sinh
lực
địch.
+ Giái
phóng
nhiều vùng
đất
đai
rộng lớn.
+ Buộc
địch phải
phân tán

lực lượng.

+Tháng 2/1953, chủ
Buộc
lực ta tiến công giải
địch
phóng tỉnh Lai
phải
Châu → Nava phải phân tán
lực
điều quân tăng
cường cho ĐBP lượng.
điểm tập trung thứ
hai và là khâu chính
của kế hoạch Nava.
+Tháng 12/1953,
liên quân Việt-Lào
tấn công Trung Lào,
bao vây uy hiếp
Xavanakhet và căn
cứ Xê nôNava
buộc phải tăng
cường cho Xê nô
tập trung quân
thứ ba.
+ Tháng 1/1954,
liên quân Việt –Lào
tấn công địch ở
Thượng Lào, giải
phóng lưu vực sông

Nậm Hu và tỉnh
Phongxali.
Nava
dùng đường không
tăng cường quân
cho Luông Phabang
và mường Sài  trở
thành nơi tập trung
quân thứ 4 của Pháp
+ Tháng 2/1954,
quân ta tấn công
địch ở Bắc Tây
Nguyên, giải phóng
Kontum, uy hiếp
Playku. Pháp phải
bỏ dở cuộc tấn công
10

đã
chuẩn
bị về
mặt
vất
chất và
tinh
thần
cho
quân
dân ta
mở

cuộc
tấn
công
quyết
định
vào
ĐBP.


ở Phú Yên để tăng
cường
cho
Playkutập trung
quân thứ 5.
Với
sự
4.
giúp
đở
Chiến
của Mỹ,
dịch
Nava xây
lịch sử dựng ĐBP
Điện
thành tập
Biên
đoàn
cứ
Phủ

điểm
1954
mạnh nhất
ĐD gồm 3
phân khu
(phân khu
Bắc, phân
khu Trung
tâm, phân
khu Nam)
với 49 cứ
điểm; số
quân:
16.200
gòm nhiều
loại binh
chủng
PhápMỹ nhận
định:ĐBP

một
pháo đài
bất
khả
xâm
phạm.

Đầu tháng
12/1953,
BCT.TWĐ

quyết định
mở chiến
dịch ĐBP
với mục
tiêu: tiêu
diệt
lực
lượng địch
ở đây, giải
phóng
vùng Tây
Bắc, giải
phóng Bắc
lào.

+ Đợt 1( 13Loại
17/3/1954): quân ta 16.200
tấn công tiêu diệt cứ tên địch,
điểm Him Lam và 62 máy
phân khu Bắc, loại
bay...
2000 quân địch .
+ Đợt 2( 30?326/4/1954): ta tấn
công, chiếm phần
lớn các cứ điểm của
phân khu trung tâm
(
đồi
A1,C1,D1,E1,C2…)
+ Đợt 3 ( 1/57/5/1954): ta tấn

công phân khu
trung tâm Mường
Thanh và phân khu
Nam 17 giờ 30 ngày
7/5/1954,
tướng
Đờcaxtơri cùng toàn
bọ Ban tham mưu
của địch đầu hàng.


thắng
lợi lớn
nhất
trong
cuộc
kháng
chiến
chống
Pháp

b. Dàn ý chung khi tìm hiểu một chiến dịch là:
* Về chủ trương:
Mỗi bên (âm mưu của địch hoặc chủ trương của ta) bao giờ cũng căn cứ vào thế
và lực ở thời điểm đó mà đề ra các yêu cầu:
Về quân sự và chính trị: nhằm phá kế hoạch của đối phương và phát huy thế
mạnh của mình, mong đạt thắng lợi cuối cùng.
11



* Về quá trình diễn biến:
- Địa bàn diễn ra: chiến trường chính, chiến trường phối hợp?
- Các lực lượng tham gia.
- Qua từng giai đoạn diễn biến của chiến dịch mà rút ra cách đánh (chiến thuật)
trong toàn chiến dịch đó.
* Về kết quả, ý nghĩa:
- Đối chiếu với mục đích ban đầu xem chiến dịch đó đã đạt ở mức độ nào?
- So sánh thế và lực của mỗi bên ở trước và sau chiến dịch đó.
- Nguyên nhân thắng lợi hoặc thất bại: xét về khách quan và chủ quan, về cách
đánh có phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế hay không?
2.3.3. Xây dựng hậu phương.
Từ 1946 đến 1954 ta luôn chú ý xây dựng, củng cố, phát triển hậu
phương về mọi mặt:
* Chính trị (Đảng, chính quyền, mặt trận dân tộc thống nhất)
* Kinh tế: khôi phục, bước đầu phát triển ở hậu phương song song với đấu tranh
chống âm mưu, thủ đoạn phá hoại của thực dân Pháp trên các mặt: nông nghiệp,
thủ công nghiệp, công nghiệp (đặc biệt là công nghiệp quốc phòng), thương
nghiệp, tài chính…
* Văn hóa – giáo dục.
* Xã hội: chú ý bồi dưỡng sức dân về vật chất (giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng
đất…) và tinh thần (tuyên dương anh hùng, chiến sĩ thi đua).
* Tác dụng của hậu phương đối với tiền tuyến và ngược lại.
2.3.4. Cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao.
- Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết ngày 21/7/1954.
- Với hiệp định Giơnevơ, nhân dân ta đã đi được nửa chặng đường trong sự
nghiệp thống nhất đất nước.
2.4. Hướng dẫn học sinh tự học
Việc rèn kĩ năng tự học cho học sinh là điều rất cần thiết để thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ môn học. Vì vậy, khi ôn tập cho học sinh giỏi, chúng tôi rất coi trọng
việc hướng dẫn học sinh tự học. Đối với việc học chuyên đề “Lịch sử Việt Nam

giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày 21/7/1954” chúng tôi tiến hành
hướng dẫn học sinh tự học như sau:
+ Hướng dẫn học sinh tự tìm đọc tài liệu liên quan đến chuyên đề. Nếu học sinh
chỉ học những nội dung trong chuyên đề mà giáo viên dạy trên lớp sẽ không đủ.
Bởi thời gian cho giáo viên dạy và ôn trên lớp không nhiều. Cho nên để đáp ứng
12


yêu cầu trong kì thi các cấp học sinh cần biết tự nghiên cứu tài liệu để làm
phong phú hơn vốn kiến thức của mình.
+ Thảo luận: Giáo viên giao chủ đề để học sinh tự thảo luận, trao đổi với nhau
trên lớp hay ở nhà. Thảo luận sẽ giúp các em tự hoàn thiện các kĩ năng của mình
đáp ứng yêu cầu đòi hỏi chất lượng ngày càng cao của học sinh đội tuyển.
+ Viết bài: Viết bài theo nội dung bài tập cô giao hoặc tự tìm tòi các dạng câu
hỏi cũng là những hình thức tự học rất hiểu quả đối với học sinh lớp chuyên Sử.
Với chuyên đề “Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945 đến ngày
21/7/1954” là chuyên đề khó, khối lượng kiến thức tương đối lớn cho nên cần
chú trọng rất nhiều đến kĩ năng viết bài.

13


III. Kết luận
Trên đây là một số phương pháp ôn tập có thể sử dụng khi ôn luyện cho
HSGQG khi học về nội dung Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ sau ngày 2/9/1945
đến ngày 21/7/1954. Các phương pháp trên cũng cần được áp dụng một cách
linh hoạt đối với từng đối tượng học sinh cho phù hợp và hiệu quả.
Trong những năm qua, ở các trường THPT đã có nhiều chuyển biến trong
việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Sử nói riêng. Qua
nhiều năm học, số lượng học sinh giỏi cấp Tỉnh, học sinh giỏi Quốc gia của bộ

môn tăng lên, chất lượng ôn luyện cũng được nâng lên. Bản thân chúng tôi đã áp
dụng, thử nghiệm các phương pháp thực hiện ở một số lớp và bước đầu thu được
những kết quả khả quan.
Đối với học sinh ở trường THPT, việc bồi dưỡng môn Lịch sử cho các em
mặc dù đã được các trường quan tâm, nhưng cũng không ít khó khăn và chưa
phải là nhìn thấy ngay hiệu quả cao, bởi vì nhiều nguyên nhân: Như điều kiện cơ
sở vật chất còn thiếu thốn, thiếu tài liệu tham khảo, thăm quan thực tế còn ít.....
Song việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch Sử đối với học sinh
ở trường THPT là cần thiết vì vậy chúng tôi đề nghị một số ý kiến sau:
- Các trường cần xây dựng, thành lập các phòng học bộ môn, mở các lớp
tập huấn, bồi dưỡng, chuyên đề; cung cấp thiết bị và tài liệu dạy học.
- Các trường tạo điều điều kiện thuận lợi hơn nữa trong việc bồi dưỡng
chuyên môn, mua tài liệu, đồ dùng trực quan và các phương tiện dạy học cho
các bộ môn cũng như môn Lịch Sử.
- Tổ chức học sinh đi học tập thực tế để mở mang kiến thức nhân rộng các
hình thức hoạt động ngoại khóa…
- Đối với giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử cần luôn luôn gần gũi giúp
đỡ động viên học sinh yêu thích bộ môn, chủ động trong tham mưu và xây dựng
kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi của bộ môn.

14



×