Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hiệu dạy kiểu " Nghe kể lại câu chuyện vui " lớp 3 Trong phân môn Tập Làm Văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (152.33 KB, 11 trang )

phòng giáo dục & đào tạo thành phố hà tĩnh
trờng tiểu học thạch hng
*********************************
Nộp 2010-2011 rồi

sáng kiến kinh nghiệm

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy kiểu
bài
" Nghe kể lại một câu chuyện" ở lớp 3
Trong phõn mụn :Tập Làm Văn

1


I- Cơ sở lý luận

Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học là hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ
năng : nghe , nói , đọc , viết để học tập và giao tiếp trong và ngoài nhà trờng . Thông qua
việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác t duy cho học sinh , đồng thời
cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu nh : Đọc thành thạo một văn bản ngắn ,
bớc đầu biết đọc diễn cảm , viết đúng chính tả , viết rõ ràng , nghe nói một cách tự
nhiên . Cung cấp cho học snh những hiểu biết về xã hội , tự nhiên và con ngời . Từ đó bồi
dỡng cho học sinh tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của
Tiếng Việt.
Cũng nh các môn học khác , môn Tiếng Việt cũng đợc đổi mới toàn diện về cấu trúc
chơng trình , nội dung . Sự đổi mới của môn học Tiếng Việt lớp 3 thể hiện rõ rệt ở tất cả
các phân môn , đặc biệt là phân môn Tập làm văn .So với chơng trình cải cách , phân
môn tập làm văn đổi mới hoàn toàn về cấu trúc nội dung , thể hiện rõ nhất ở các dạng bài
tập làm văn .
Nội dung dạy học Tập làm văn lớp 3 chủ yếu rèn luyện cho học sinh ba kỹ năng cơ bản


Nghe , nói , viết nhằm phục vụ cho việc học tập và giao tiếp hàng ngày của các em.Trong
ba kỹ năng cơ bản đó thì hai kỹ năng nghe , nói của học sinh đợc rèn luyện nhiều nhất .
ở loại bài tập "nghe và kể lại một câu chuyện", loại bài tập này chiếm dung lợng khá
lớn trong phân môn tập làm văn .Trong đó , số câu chuyện vui chiếm hơn một nửa số câu
chuyện đợc học sinh kể.
Mảng truyện cời trong Tập làm văn lớp 3 nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghe kể . Nếu ở bài tập đọc các em đợc trực tiếp đọc văn bản thì ở phân môn tập làm văn việc
tiếp nhận câu chuyện đợc thể hiện qua hình thức nghe thày cô kể và ghi nhớ lại .Việc
nghe kể này có tác dụng rèn luyện cho các em kỹ năng nghe , nói song điều quan trọng
các em không thể dừng lại ở việc kỹ năng nghe - nói mà còn rèn luyện kỹ năng nghe phát hiện , nghe - phân tích , phán đoánĐó là một trong những hình thức rèn luyện t
duy logich cho trẻ rất hiệu quả.
Trong những câu chuyện cời ở Tập làm văn lớp 3, tiếng cời không phải là mục đích , là
cứu cánh của câu chuyện mà nó là phơng tiện chủ yếu quan trọng của thể loại truyện cời .
Đối tợng thẩm mĩ chủ yếu của loại truyện này là những cái xấu , đáng cời , có thể cời hay
nói cách khác đó là những thói h tật xấu , cái cần và có thể phê phán bằng tiếng cời .
Song khi đọc hoặc nghe kể chuyện cời , nếu cả ngời đọc và ngời nghe cha phát hiện đợc
ra hiện tợng buồn cời , cha làm bật tiếng cời cũng có nghĩa là cha nhận ra đợc ý nghĩa
phê phán của truyện cời .Vì thế , việc rèn luyện kỹ năng nghe , kể cho học sinh bằng
những câu chuyện vui cời có tác dụng giáo dục sâu sắc vừa tăng cờng sự phản ứng của lý
trí trớc những hiện tợng khác với lẽ thờng mà các em bắt gặp đâu đó từ trong sách đến
cuộc sống sinh động hằng ngày.

2


II.Cơ sở thực tiễn.

Qua thực tế giảng dạy , dự giờ thăm lớp và trao đổi thảo luận với giáo viên về những
điểm khó khi thực hiện chơng trình tôi thấy loại bài tập nghe và kể lại một câu chuyện
vui trong phân môn tập làm văn lớp 3 có ý nghĩa vô cùng quan trọng , loại bài tập này rất
hấp dẫn , lôi cuốn học sinh tạo ra sự thoải mái cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.

Nhng trong thực tế giảng dạy, hiệu quả của bài tập nghe , kể lại một câu chuyện vui thờng có từ hai bài tập trở lên.
* Ví dụ: Tiết tập làm văn của tuần gồm hai bài:
Bài 1 : Nghe và kể lại câu chuyện : Tôi có đọc đâu.
Bài 2 : Viết về quê hơng em.
Nên việc dành thời gian cho việc nghe kể nhiều , giáo viên thờng xem nhẹ , phần phân
bài tập này mà chỉ dạy lớt qua hoặc dành thời gian không thích hợp mà chỉ chú trọng vào
bài tập còn lại của tiết học.
Chính vì loại bài tập này thờng xem nhẹ , dành thời gian không thích hợp nên giáo viên
cha chú trọng tìm ra các phơng án kể và hớng dẫn học sinh kể một cách sinh động nên
việc thực hiện bài tập này thờng diễn ra một cách chiếu lệ , kém hiệu quả , cha đáp ứng
đợc yêu cầu về kiến thức kỹ năng của bài tập và nhu cầu tìm tòi sáng tạo của học sinh .
Chính vì lẽ đó tôi mạnh dạn trình bày " Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
khi dạy kiểu bài Nghe - kể lại một câu chuyện vui ở lớp 3" Trong phân môn Tập làm
văn.
Phần II : Nội dung
I/ Nội dung chơng trình môn Tiếng Việt lớp 3

Chơng trình Tập làm văn lớp 3 đợc cấu trúc theo chơng trình đồng tâm , tiết Tập làm
văn đợc bố trí sắp xếp ở các tiết học cuối tuần sau khi học xong các tiết Tiếng Việt trong
tuần . Kiến thức tiết Tập làm văn là ứng dụng kiến thức Tiếng Việt đã học trong tuần ,
trong chủ điểm .
Phân môn Tập làm văn lớp 3 gồm 31 tiết và 4 tiết kiểm tra bao gồm các kiểu bài tập :
1. Bài tập nghe : Nghe và kể lại một mẩu chuyện ngắn ; nghe và nói lại một mẩu tin .
2. Bài tập nói gồm :
- Tổ chức điều khiển cuộc họp , phát biểu trong cuộc họp .
- Kể hoặc tả miệng về ngời thân trong gia đình , trờng , lớp , quê hơng , lễ hội , hoạt
động thể thao , văn nghệ
3. Bài tập viết
- Điền vào giấy tờ in sẵn .
- Viết một số giấy tờ theo mẫu .

- Viết th .
- Ghi chép sổ tay .
- Kể hoặc tả ngắn về ngời thân trong gia đình , trờng , lớp , quê hơng , lễ hội , hoạt
động thể thao , văn nghệ

3


Trong tiết có kiểu bài nghe - kể lại một câu chuyện ngắn (10 tiết ) . Số truyện vui học
sinh đợc nghe kể chủ yếu tập trung ở học kỳ I : 6 truyện và một truyện vui ở học kỳ II
trong tiết 5 ôn tập của tuần 35 .
Nh vậy số lợng tiết có bài tập nghe kể lại một câu chuyện vui trong phân môn Tập
làm văn lớp 3 không nhiều nhng mục tiêu của loại bài tập đề ra cho học sinh nghe và kể
lại đợc nội dung câu chuyện đúng trình tự , đảm bảo nội dung qua đó rèn kỹ năng nghe ,
nói cho học sinh .Không những thế mà loại bài tập nàycòn giúp các em thấy đợc ý nghĩa
và giá trị của tiếng cời qua mỗi câu chuyện giúp các em có ý thức tránh đợc thói h , tật
xấu , rèn luyện hình thành thói quen c sử tốt trong cuộc sống hằng ngày . Do đó mỗi câu
chuyện vui trong Tập làm văn lớp 3 đều chứa đựng ý nghĩa nhân văn cao cả .
II/ Điều tra thực trạng .

1. Về phía giáo viên :
Trong quá trình thực tế dự giờ thăm lớp giáo viên , và qua trao đổi với giáo viên dạy
lớp 3 năm học này tại trờng , tôi thấy việc giúp học sinh thực hiện loại bài tập " Nghe kể lại một câu chuyện vui" trong giờ Tập làm văn lớp 3 thờng đợc xem nhẹ vì những
nguyên nhân sau đây :
- Loại bài tập này đơn giản , nội dung tình tiết câu chuyện ngắn , học sinh dễ dàng
thực hiện đợc yêu cầu bài tập .
- Kiểu bài tập này thờng đợc ghép với một bài tập khác có yêu cầu cao hơn trong cùng
một tiết Tập làm văn . Chính vì thế giáo viên thờng chỉ dạy qua , dành ít thời gian cho bài
tập này mà dành thời gian cho bài tập khác nhiều hơn .
- Do giáo viên không xác định rõ đợc mục tiêu , ý nghĩa của bài tập này mà không chú

ý tới trong khi dạy .
Chính vì lẽ đó nên khi hớng dẫn học sinh thực hiện dạy loại bài tập này giáo viên chỉ
dạy đơn giản , có thể nói là qua loa với thời gian ngắn cho xong , còn dành thời gian cho
bài tập còn lại . Thông thờng quy trình dạy bài tập này giáo viên chỉ thực hiện nh sau :
- Giới thiệu câu chuyện .
- Giáo viên kể mẫu ( hoặc đọc trong sách giáo khoa )
- Cho học sinh kể mẫu ( HS khá giỏi )
- Giáo viên nêu ý nghĩa câu chuyện .
Với cách thể hiện nh vậy giờ học Tập làm văn kiểu bài nghe kể một câu chuyện vui trở
nên nhàm chán , đơn điệu , câu chuyện vui trở thành buồn tẻ
2. Về phía học sinh .
Cũng xuất phát từ cách thể hiện nh trên của giáo viên đã dẫn tới hiệu quả tiếp thu ,
lĩnh hội kiến thức của học sinh không cao . Học sinh không nhận thấy cái đáng cời ,
không thấy buồn cời dẫn đến việc kể lại của các em không còn hào hứng , đôi khi là bắt
buộc , gò ép .
Cũng do giáo viên kể chuyện thiếu sáng tạo ( đọc 1 , 2 lần ) Học sinh kể chuyện
cũng gần nh lặp lại máy móc những từ ngữ ở câu chuyện mà giáo viên vừa kể ( hoặc đọc
) , đối với học sinh khá , giỏi ; còn đói vốịhc sinh có nhận thức chậm hơn có thể các em
nắm đợc nội dung câu chuyện xong kể khó thành công , ngôn ngữ lặp đi , lặp lại vấp váp
4


ở nhiều chi tiết . Co nên kỹ năng nói của các em không đợc rèn , ngôn ngữ phát triển
chậm , điều này ảnh hởng rất lớn đến các bài tập luyện nói khác .
III/ Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả khi dạy kiểu bài Tập làm
văn " Nghe - kể lại một câu chuyện vui" lớp 3 .

Qua nghiên cứu tìm hiểu thực trạng ở trờng tôi , đối với một câu chuyện vui khi đọc
lên thấy có thể bật ngay tiếng cời nhng sau khi học xong học sinh lại thấy bình thờng ,
đơn điệu chẳng có gì đáng cời thì việc dạy của giáo viên coi nh chẳng gặt hái điều gì sau

bài dạy của mình . Chính vì vậy tôi mạnh dạn đa ra một số biện pháp sau đây .
1- Nghiên cứu kỹ nội dung câu chuyện .
- Điều này có thể không mới nhng rất quan trọng , thông qua việc nghiên cứu kỹ nội
dung câu chuyện ta nắm đợc cái gì ? dạy cho học sinh cái gì ?
- Giáo viên phải tìm hiểu kỹ xem câu chuyện vui nó gây cời nh thế nào ? Cời ở chi tiết
nào ? Tiếng cời bật lên ở tình huống nào ? và tiếng cời ấy có ý nghĩa gì ?
* Ví dụ : Trong truyện " Dại gì mà đổi" . Cái chi tiết gây cời khi các em nhận ra hiện
tợng buồn cời tởng chừng có lý nhng lại hoàn toàn vô lý . Điều vô lý ở chỗ cậu bé đã biết
là chẳng ai muốn đổi một đứa con ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm , ấy vậy mà cậu
bé vẫn rất nghịch ngợm . ẩn sau tiếng cời sảng khoái ấy là sự phê phán rất ngọt ngào
mà mỗi em đều tự nhận ra .
Hay trong truyện " Không nỡ nhìn" ( TV3 - Tập 1 tr.61) cái đáng cời là ở chỗ : Bản
thân anh thanh niên trên chuyến xe đông ngời cũng nhận thấy là không nỡ ngồi nhìn các
cụ già và phụ nữ phải đứng nên đã lấy tay che mặt . Những hiện tợng nh vậy không phải
là hiếm thấy trong cuộc sống . Câu chuyện ngầm khuyên các em hãy biết chia sẻ, nhờng
nhịn , biết sống vì mọi ngời - một yếu tố rất cần thiết trong cuộc sống của lớp trẻ hôm
nay.
Do đó việc giáo viên nghiên cứu kỹ nội dung , nắm chắc ý nghĩa của truyện trớc khi
dạy là vô cùng quan trọng .
2- Tạo hứng thú cho học sinh ngay từ khi giới thiệu truyện và khi kể mẫu .
Thông thờng đối với không ít giáo viên coi việc giới thiệu bài là chuyện bình thờng ,
không quan trọng nên đôi khi giáo viên làm tắt hoặc qua loa . Việc tạo hứng thú cho học
sinh khi giới thiệu có tác dụng lớn , nó giúp cho các em tập trung theo dõi ngay từ đầu,
đây là bớc tiền đề để giúp các em tái hiện một cách đầy đủ câu chuyện khi kể lại .
Tuỳ vào từng câu chuyện , mức độ gây cời và ý nghĩa phê phán của truyện , giáo viên
chọn cách giới thiệu cho phù hợp , có thể lựa chọn một số phơng án sau :
* Phơng án 1 : Giới thiệu dựa vào các gợi ý và tranh minh hoạ truyện trong sách giáo
khoa . Điểm thuận lợi cho giáo viên khi giới thiệu loại truyện này vui này là trong sách
giáo khoa không có nội dung câu chuyện mà chỉ có các câu hỏi gợi ý và tranh minh hoạ .
Riêng điều này đã thu hút sự chú ý , tạo sự tò mò cho học sinh khi các em đọc yêu cầu

bài tập . Giáo viên cần biết dựa vào điều kiện thuận lợi này mà khai thác , khơi sâu trí tò
mò của các em , nên kết hợp câu hỏi và tranh minh hoạ để giới thiệu .
* Ví dụ : Truyện "Giấu cày" ( SGK- TV3 T1- Tr 128) . Giáo viên cho học sinh đọc
các câu hỏi gợi ý theo thứ tự sau :
5


a. Khi đợc gọi về ăn cơm , bác nông dân nói thế nào ?
b. Vì sao bác bị vợ trách ?
c. Khi thấy mất cày bác làm gì ?
Sau đó cho học sinh qua sát tranh mô tả về bức tranh , giáo viên dựa luôn vào tranh
giới thiệu : " Trên một cánh đồng có hai ngời . một ngời đàn bà đang gọi một ngời đàn
ông , còn một ngời đàn ông đang cất một vật gì đó vào bụi cây , nét mặt anh ta lấm lét vẻ
bí mật . Câu chuyện xảy ra giữa họ nh thế nào ? Các em cùng nghe cô kể câu chuyện "
Giấu cày" ".
* Phơng án 2 : Để cho học sinh đoán tình huống của truyện qua tranh minh hoạ . Hầu
hết các tranh minh hoạ đều tập trung mô tả chi tiết gây cời của truyện . Giáo viên cho
học sinh quan sát tranh , dự đoán hành động của nhân vật trong tranh , từ những dự đoán
của học sinh giáo viên giới thiệu .
* Ví dụ : Trong truyện " Giấu cày" . Giáo viên cho học sinh dự đoán xem hành động
của ngời đàn ông trong tranh là gì ?
Sau khi học sinh đa ra các dự đoán của mình , giáo viên dựa vào đó để giới thiệu
truyện .
Điều lu ý ở đây dù giáo viên chọn phơng án giới thiệu nào đi nữa nhất thiết phải có
tranh minh hoạ treo trên bảng lớp . Giáo viên cần chú ý đến giọng nói , kết hợp cử chỉ ,
điệu bộ khi giới thiệu truyện .
- Kể chuyện của giáo viên : Việc kể chuyện của giáo viên là yếu tố quyết định sự
thành công việc dạy của giáo viên .
Tiếp nhận các loại văn bản , đặc biệt là văn bản nghệ thuật thờng tuân theo quy luật
tiếp nhận chung . Song mỗi loại văn bản tơng ứng với thể loại văn học khác nhau lại có

cách tiếp nhận khác nhau . Truyện cổ tích có cách kể của truyện cổ tích , truyện cời có
cách kể của truyện cời
Khi sáng tác truyện cời , tác giả phải thờng xuyên sử dụng h cấu , tởng tợng và biện
pháp phóng đại , cờng điệu để xây dựng ngôn ngữ , cử chỉ , trờng hợp và hoàn cảnh đáng
cời . Có thể cái cời đã có sẵn trong đời sống xã hội , nhng phát hiện và thể hiện nó thành
truyện cời lại đòi hỏi tác giả phải có sự nhạy cảm về cái hài và có tài sáng tạo , h cấu .
Để bộc lộ hết những ý đồ của tác giả , ý nghĩa sâu sa của truyện , đòi hỏi giáo viên phải
có nghệ thuật kể chuyện riêng , lời kể phải rõ ràng , mạch lạc , đặc biệt là những câu
chứa hiện tợng buồn cời . Giáo viên kể một cách dễ hiểu không quá vắn tắt , nhng không
dài dòng , giọng kể phải không nhanh , không chậm quá . Bởi nhanh quá tiếng cời sẽ
không có điều kiện bộc lộ , chậm quá tiếng cời sẽ chùng lại hoặc lơi lỏng ra . Trong khi
kể chuyện , đôi khi giáo viên phải biết tạo khoảng trống nhằm cuốn hút học sinh và đặc
biệt là không đợc cời trớc học sinh . Giáo viên phải kể nhiệt tình , đầy sự rung cảm song
lại phải kìm hãm nhiệt tình và rung cảm ở bên trong không cho nó bộc lộ ra thành tiếng
cời quá sớm cần biết cời đúng lúc , có nh vậy mới làm cho học sinh thấy bất ngờ làm nổ
tiếng cời giòn giã . Mặt khác , muốn kể thành công giáo viên phải thuộc truyện , phải
nắm chắc nội dung câu chuyện , biết sử dụng hợp lý những yếu tố phi ngôn ngữ : Cử

6


chỉ , điệu bộ , nét mặt trong khi kể . Một điều giáo viên hết sức nên tránh là không đ ợc
đọc truyện .
3. Tổ chức cho học sinh kể lại chuyện .
Đây là yêu cầu cơ bản thứ hai trong khi giáo viên giải quyết loại bài tập này . Học sinh
kể lại đợc chuyện bằng ngôn ngữ của mình , kể mạch lạc , đầy đủ nội dung , lời kể tự
nhiên , hấp dẫn và khiến cho các bạn trong lớp bật cời ở những chi tiết cời . Học sinh
thực hiện đợc điều này tức là bài dạy của giá viên đã thành công .
Trong thực tế khi học sinh kể lại chuyện , số học sinh trong một lớp kể chuyện đạt đợc
nhữngyêu cầu trên không nhiều , nếu không nói là ít hoặc không có . Học sinh chỉ đơn

thuần nêu lại những chi tiết câu chuyện , cố gắng nhắc lại đợc những lời cô giáo vừa kể
thì càng tốt . cho nên bớc này gây cho học sinh sự nhàm chán buồn tẻ , hoặc căng thẳng
không cần thiết .
Việc giúp học sinh kể lại chuyện một cách tự nhiên , sinh động thể hiện cái tài và khả
năng s phạm của mỗi giáo viên . Với từng truyện phụ thuộc vào nội dung và chi tiết gây
cời mà giáo viên có hình thức tổ chức cho học sinh kể lại chuyện cho phù hợp , tạo sự
hứng khởi cho học sinh .
* Phơng án 1 : Kể bằng lời một nhân vật trong truyện .
Kể bằng lời của nhân vật trong truyện rèn cho học sinh kỹ năng kể chuyện theo lời
một nhân vật trong câu chuyện , trau giồi cách diễn đạt giàu trí tởng tợng của học sinh
qua việc thay đổi ngôi kể . Kể bằng lời của nhân vật còn luyện cho học sinh trí nhớ và
khả năng dùng từ ngữ chính xác , diễn đạt sáng ý và làm nổi bật ý nghĩa câu chuyện .
Trong một câu chuyện có bao nhiêu nhân vật , giáo viên nên cho học sinh kể theo lời
từng ấy nhân vật .Để chuẩn bị cho học sinh kể theo lời nhân vật , giáo viên nên chuẩn bị
một số phụ trang nh tấm bìa hoặc mũ ghi tên nhân vật . Khi học sinh nào lên kể theo lời
nhân vật nào thì cho học sinh đó đội mũ hoặc đeo trớc ngực tấm bìa có ghi tên nhân vật
đó . Hình thức tổ chức kể : giáo viên tổ chức cho học sinh thi kể , mỗi học sinh kể bằng
lời một nhân vật trong truyện .
* Ví dụ : Trong truyện " Tôi có đọc đâu !" ( TV3 - tập 1 tr.92 )
Giáo viên cho học sinh thi kể theo hai lời của hai nhân vật : Ngời viết th và ngời ngồi
bên cạnh . Điều đáng chú ý khi hớng dẫn học sinh kể theo lời nhân vật ngời ngồi bên
cạnh ở tình huống gây cời ngời ngồi bên cạnh kêu lên : " Không đúng ! Tôi có đọc trộm
th của anh đâu !" em đó phải thể hiện ở giọng kèm theo nét mặt của ngời bị bắt quả tang
đọc trộm th : ngờ nghệch , thật thà . Hay khi học sinh kể bằng lời nhân vật ngời viết th
giọng kể vui , dí dỏm . Hai câu ngời viết th viết thêm vào th kể với giọng bực dọc .
* Phơng án 2 : Đóng kịch
Có thể nói những câu chuyện vui trong phân môn Tập làm văn lớp 3đều có thể dựng
thành kịch , bởi tình tiết câu chuyện đơn giản , nội dung ngắn , những câu chuyện kể đều
dễ dàng chuyển thành lời thoại . Việc chuẩn bị cho đóng kịch những câu chuyện này
không quá cầu kỳ , chỉ cần những phụ trợ rất đơn giản nh chiếc khăn đội đầu , dây buộc


7


thắt lng hoặc xắn ống quần nhằm tạo hứng thú cho học sinh khi kể và các bạn theo
dõi .
Nhng khi giáo viên tổ chức cho học sinh đóng kịch thành công thì việc học sinh kể lại
câu chuyện này bằng hình thức đóng kịch lại thu đợc kết quả ngoài mong muốn của giáo
viên . Tất cả học sinh đều muốn tham gia cả ngời đóng và ngời theo dõi : theo dõi xem
bạn đóng có hay, có đạt không và còn muốn thể hiện mình đóng đạt hơn bạn .
Điều khó khăn với giáo viên khi tổ chức hình thức này là phải chuẩn bị sẵn lời thoại
cho kịch để khi các em thảo luận chuẩn bị đóng mà cha tìm ra lời thoại phù hợp cho lời
kể thì giáo viên bổ sung .
Cách tiến hành : Trớc khi lên đóng kịch giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm để các
em tìm lời thoại và phân vai nhân vật . Khi học sinh đóng chú ý cho các em đóng tự
nhiên thể hiện cử chỉ , điệu bộ , nét mặt cho phù hợp .
* Ví dụ : Cho học sinh đóng kịch truyện"Giấu cày" (Tiếng Việt 3 - Tập 1 trang 128 )
Câu chuyện này có thuận lợi chỉ cần bổ sung rất ít lời thoại hoặc không nếu thấy không
cần thiết , nhng điều cốt yếu là hớng dẫn các em một số hành động : anh nông dân đang
cày ruộng ,hành động anh ta giấu cày nét mặt lấm lét vẻ bí mật nhng miệng lại hét to : "
Để tôi giấu cái cày vào bụi đã !"rồi hành động anh ta kiểm tra thấy mất cày thì nét mặt
hốt hoảng ngó trớc ngó sau , ghé sát vào tai vợ thì thào " Nó lấy mất cày rồi !"vẻ bí mật
kín đáo . Giáo viên chú ý lời nói thầm của bác nông dân tuy là thì thào nhng cũng phải
đủ to để cả lớp nghe đợc vì đây chính là tình huống làm bật nên tiếng cời .
Hay trong truyện " Kéo cây lúa lên" ( Tiếng Việt 3 - Tập 1 trang 137 ). Giáo viên có
thể chuẩn bị một số lời thoại sau :
- Chàng ngốc ( nói với vợ ) : Bà ơi , tôi đi thăm đồng đây !
- Chị vợ ( khi chàng ngốc về ) : Gớm , sao hôm nay mình chăm chỉ vậy !
- Chàng ngốc ( ở ngoài ruộng lẩm bẩm ) : Lúa nhà mình xấu quá , lúa ngời ta đẹp thế
kia , làm thế nào bây giờ ? à , mình nghĩ ra rồi , mình sẽ kéo cây lúa nhà mình lên xem

có cao hơn nhà ngời ta không nào !
- Chị vợ ( khi chàng ngốc về ) : Sao , mình đi thăm đồng thấy lúa nhà mình thế nào ?
- Chàng ngốc : Lúa của nhà ta xấu quá ! Ngng hôm nay tôi đã kéo nó lên cao hơn lúa
ở ruộng bên rồi !
- Chị vợ : ối giời ơi ! Ông làm thế thì chết hết lúa rồi còn gì ! ( Rồi hớt hải chạy đi )
IV- Kết quả áp dụng .

Để có kết quả khách quan khi áp dụng biện pháp tôi đã chọn hai lớp cho dạy thực
nghiệm cùng một bài . ở lớp 3A tôi vẫn áp dụng cách dạy thông thờng nh sách giáo viên
hớng dẫn . ở lớp 3B tôi áp dụng dạy theo các biện pháp mà tôi đa ra . Bài dạy : Nghe và
kể lại câu chuyện " Giấu cày" ( Tiếng Việt 3 - Tập 1 trang 128 ). Kết quả thu đ ợc nh
sau :

Lớp

Sĩ số

Giỏi

Khá
8

Trung bình

Yếu


3A
3B


21
21

SL
3
6

%
14
27

SL
5
11

%
24
50

SL
11
4

%
52
23

SL
2
0


%
10

Phân tích kết quả
Từ kết quả thu đợc trên đây tôi thấy chất lợng học sinh đợc nâng lên rõ rệt và điều đặc
biệt khi áp dụng các biện dạy học trên đây học sinh vô cùng hào hứng chủ động tham gia
hoạt động học .
Để có đợc kết quả nh vậy đòi hỏi giáo viên phải xác định đợc vị trí và tầm quan trọng
của bài dạy , nghiên cứu nắm chắc nội dung kiến thức mà mình cần cung cấp cho học
sinh . Không coi nhẹ bất cứ một hoạt động nào . Giáo viên phải thay đổi các hình thức tổ
chức dạy học một cách linh hoạt cho phù hợp với tâm lý của học sinh , làm cho tiết dạy
luôn luôn mới đối với học sinh . Có nh vậy bài dạy mới nhẹ nhàng , sinh động , đạt hiệu
quả cao nh giáo viên mong muốn .
V - Bài học kinh nghiệm

1. Đối với giáo viên :
- Cần nắm chắc chơng trình , nội dung bài dạy , kiến thức kỹ năng mà mỗi học sinh
cần lĩnh hội .
- Cần nghiên cứu kỹ , sâu bài trớc khi dạy , có sự cân nhắc lờng trớc những tình huống
có thể xảy ra khi dạy .
- Cần tổ chức , tham gia các hội thảo chuyên đề về bài dạy hoặc trao đổi với bạn bè ,
đồng nghiệp .
- Báo cáo với lãnh đạo , chuyên môn của trờng , các cấp nhằm có biện pháp tháo gỡ
khi gặp khó khăn vớng mắc .
- Nắm chắc tâm lý học sinh để có những phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học cho
phù hợp .
2. Đối với học sinh :
Để góp phần tạo sự thành công cho bài học đòi hỏi học sinh :
- Tích cực học tập , tham gia thảo luận với bạn .

- Có đầy đủ sách vở , dụng cụ học tập .
- Mạnh dạn đa ra những lời thoại tự nhiên , phù hợp với câu chuyện , phù hợp với ngôn
ngữ lứa tuổi của mình .
- Khẳng định vai trò của mình trong quá trình học một cách tự tin , hăng hái sôi nổi
nhiệt tình tham gia vào hoạt động học .

Phần III : Kết luận .

9


Trong dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 , để giúp các em các bài tập nghe - kể các
câu chuyện vui cời đạt hiệu quả cao , giáo viên cần hớng dẫn học sinh nắm chắc yêu cầu
của bài tập trong sách giáo khoa , kết hợp khai thác hợp lý tranh minh hoạ và hệ thống
câu hỏi gợi ý trong sách , bởi đó chính là điểm tựa cần thiết để học sinh nhớ nội dung
câu chuyện .
Với lứa tuổi học sinh tiểu học , đọc truyện , nghe kể chuyện là món ăn tinh thần không
thể thiếu trong đời sống . Mảng truyện vui cời trong sách giáo khoa tiểu học đã đem lại
cho các em vui vẻ , th giãn , sự bình ổn là những cái rất cần thiết và quý trọng trong
cuộc sống . Một đứa trẻ có óc hài hớc hóm hỉnh sẽ dễ vợt qua những khó khăn , trở ngại
của cuộc sống và dễ hoà nhập vào cuộc sống hơn những đứa trẻ không có khả năng này .
* ý kiến đề xuất .
+ Đối với nhà trờng :
- Thờng xuyên mở những hội thảo , chuyên đề về phơng giảng dạy cũng nh về nội
dung chơng trình để giáo viên có điều kiện tham gia học hỏi . Nội dung những chuyên đề
nên chi tiết , chia nhỏ cụ thể, không mang tính chất chung chung khái quát và chọn GV
có năng lực thực hiện.
+ Đối với giáo viên :
- Trong quá trình dạy học nên áp dụng các phơng pháp , biện pháp một cách linh hoạt
có các hình thức tổ chức dạy học phù hợp , đa dạng để học sinh tích cực chủ động tiếp

thu kiến thức và tạo một không khí học tập thoải mái , vui vẻ .
- Cần chuẩn bị tốt phơng tiện trực quan , đồ dùng học tập để tờng minh kiến thức giúp
học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức bài học .
Trên đây là những vấn đề tôi đã nghiên cứu , đúc rút giúp giáo viên áp dụng có hiệu
quả trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 3 kiểu bài nghe - kể lại một
câu chuyện vui . Tuy nhiên , do năng lực có hạn , thời gian nghiên cứu ngắn , tài liệu
tham khảo còn thiếu thốn nên đề tài nghiên cứu của tôi cũng còn có nhiều thiếu sót . Tôi
rất mong đợc sự góp ý từ phía các thầy cô giáo và bạn đọc để đề tài của tôi đợc hoàn
thiện hơn .
Thạch Hng , ngày 20 tháng 05 năm 2011 .

10


11



×