Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí 10 (thu nhập) về xây dựng nông thôn mới tại xã vĩnh châu, thành phố châu đốc, tỉnh an giang, năm 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (233.75 KB, 30 trang )

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
- Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước nhằm thực
hiện đường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta. Có nhiều yếu tố tác động
đến sự thành công của việc xây dựng nông thôn mới, trong đó lực lượng lao động ở nông
thôn là một nhân tố quan trọng.
- Thực tế đó cho thấy phụ nữ là lao động chính ở nông thôn hiện nay. Theo số liệu điều tra,
ở nước ta hiện nay trong gần 80% phụ nữ của khu vực nông thôn thì có đến 58% hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp. Phụ nữ nông thôn Việt Nam là một chủ thể quan trọng mang
lại thu nhập chính cho gia đình. Họ không chỉ là người lao động chính mà còn là người góp
phần sản xuất ra phần lớn nông phẩm. Cũng như phụ nữ trong cả nước, phụ nữ ở an giang
cũng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc CNH - HĐH đất nước điển hình là phụ nữ ở
nữ xã Vĩnh Châu trong xây dựng nông thôn mới cũng như tìm ra những rào cản giúp họ
phát huy tiềm xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang trong chương trình mục
tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 thì phụ nữ xã Vĩnh Châu
cũng góp phần tăng thu nhập ở địa phương và hộ gia đình từ đó đạt được tiêu chí 10 (thu
nhập) trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Nhằm đánh giá vai trò của phụ nữ xã
Vĩnh Châu trong xây dựng nông thôn mới cũng như tìm ra nhưng rào cản giúp họ phát huy
tiềm năng sáng tạo to lớn của mình. Khi phụ nữ đã làm tốt vai trò của mình sẽ có sức lan
tỏa và lôi cuốn được những lực lượng và nguồn lực khác trong xã hội tạo ra sức mạnh tổng
hợp để hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Do đó chúng
tôi chon đề tài “Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí 10 (thu nhập) về xây
dựng nông thôn mới tại xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, năm 2014”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung:
- Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí 10 (thu nhập) về xây dựng nông thôn
mới tại xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang , nhằm đánh giá vai trò và tìm
ra những thuận lợi và khó khăn của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí.
b. Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu thực trạng vai trò của phụ nữ xã Vĩnh Châu trong thực hiện tiêu chí 10 (thu
nhập) về xây dựng nông thôn mới.


1


- Đánh giá sự tham gia của phụ nữ xã Vĩnh Châu vào các hoạt động sản xuất tăng thu nhập
trong địa phương để nâng cao vị trí vai trò của mình.
- Đưa ra giải pháp nhằm tháo gở khó khăn của phụ nữ trong quá trình thực hiện tiêu chí xã
Vĩnh Châu.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ trên địa bàn xã Vĩnh Châu.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí 10 (thu
nhập) về xây dựng nông thôn mới.
- Về không gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại 2 ấp đó là ấp Phú Thuận và ấp Phú
Mỹ tại xã Vĩnh Châu. Hộ được đại diện nghiên cứu là các hộ trồng lúa.
- Về thời gian nghiên cứu: 9 tháng đầu năm 2014

2


CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Khái niệm giới tính và giới
2.1.1. Giới

chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực ) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa
phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các
nền văn hóa và thay đổi theo thời gian. Sự khác biệt này được nhận thấy sự khác biệt trong
vai trò, trách nhiệm nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính. (Tổ Chức Lao Động
Quốc Tế, 2002)
2.1.2. Giới tính

- Giới tính chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn cầu và
không thay đổi.
- Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt đông theo các cơ chế tự nhiên, di truyền.
ví dụ người nào có cặp nhiểm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người nào có cặp
nhiễm sắc thể XY thuộc về nam giới.
- Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú
bằng bầu sửa mẹ. nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng. Về mặt sinh lý học nữ giới khác
với nam giới. (Tổ Chức Lao Động Quốc Tế, 2002)
2.2. Bình đẳng giới
- Bình đẳng giới được hiểu nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được công
nhận và có vị thế bình đẳng trong xã hội.
- Bình đẳng giới không đơn thuần chỉ là việc phụ nữ có nhiều vai trò giống nam giới hơn
mà còn là nam giới cũng sẽ có nhiều vai trò giống phụ nữ hơn.(Trần Thị Vân Anh, không
ngày tháng).
2.3. Giới và vấn đề thu nhập

2.3.1. Thu nhập: Thu nhập là số lượng tiền, hàng hoá hoặc dịch vụ mà một cá nhân, công
ty hay một nền kinh tế nhận trong một khoảng thời gian nhất định (quý, tháng, năm).
2.3.2. Vai trò của phụ nữ trong thu nhập gia đình
2.3.2.1. Nguồn thu nhập của gia đình
* Thu nhập bằng tiền:
- Tiền lương: Mức thu nhập này tùy thuộc vào kết quả lao động của mỗi người và điều
kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tiền thưởng: Phần thu nhập bổ sung cho những người lao động tốt, có năng suất cao, kỉ
luật tốt.
- Tiền phúc lợi: Do cơ quan, trường học… chi cho cán bộ viên chức trong những dịp lễ tết,
thăm hỏi, hiếu hỉ… từ quỹ phúc lợi.
- Tiền bán sản phẩm.
- Tiền lãi tiết kiệm.
* Thu nhập bằng hiện vật: Tùy từng địa phương mà có mỗi hình thức thu nhập riêng phù

hợp với điều kiện khí hậu, địa hình.
3


2.3.2.

Đặc điểm thu nhập của hộ nông dân
Thu nhập, đời sống của nông dân còn thấp và tăng chậm so với dân cư thành thị.
Nông hộ chủ yếu sống ở nông thôn, nơi có nhiều điều kiện khó khăn như cơ sở hạ tầng,
trình độ dân trí thấp, dân trí tăng nhanh và thiếu việc làm. Theo thống kê của Tổng cục
thống kê Việt Nam thì khoảng cách về thu nhập bình quân của một người 1 tháng giữa dân
cư thành thị và dân cư nông thôn có xu hướng gia tăng năm 1993 là 2 lần, năm 1994 tăng
lên 2,55 lần, năm 1995 là 2,63 lần, năm 1996 là 2,7 lần, năm 1999 là 3,7 lần, năm 2001 là
4 lần đến 2003 giảm xuống nhưng vẫn ở mức 2,3 lần.
Nguồn thu nhập của hộ nông dân phong phú đa dạng: hoạt động sản xuất kinh
doanh của hộ nông dân bao gồm các hoạt động sản xuất nông nghiệp và sản xuất phi nông
nghiệp trong nông hộ: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, kinh doanh, buôn bán,
tiểu thủ công nghiệp, làm thuê, xuất khẩu lao động…
Thu nhập của nông hộ vẫn chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp.
Thu nhập của hộ nông dân không đều do mỗi vùng có 1 nguồn tài nguyên, điều
kiện kinh tế, xã hội, môi trường, tổ chức quản lý khác nhau. Sự đa dạng về quy mô và trình
độ phát triển đã tạo ra sự khai thác nguồn lực không đồng đều giữa các hộ nông dân trong
vùng. Những hộ biết tận dụng mọi khả năng sẵn có, biết học hỏi kinh nghiệm và có khả
năng đầu tư sẽ đem lại hiệu quả cao và thu nhập cao, ngược lại.
Thu nhập của hộ nông dân chưa loại trừ hết chi phí sản xuất. Trong nông hộ thu
nhập không chỉ là lợi nhuận kinh doanh mà nó bao gồm cả chi phí lao động gia đình.
Nguồn lao động sử dụng 1 cách linh hoạt một người có thể làm được nhiều công việc, tuỳ
theo thời vụ, công việc mà sắp xếp nên khó tính chi phí lao động của gia đình.

2.3.3.


Vai trò đóng góp kinh tế của phụ nữ đối với gia đình
Chức năng kinh tế là một chức năng đặc biệt và quan trọng nhất ở thiết chế gia
đình. Người phụ nữ có đặc trưng về sinh học: là mẹ, là vợ, họ đảm trách các công việc
thường nhật của gia đinh, tuy nhiên họ cũng còn phải đóng góp thu nhập vào kinh tế gia
đình. Có quan điểm cho rằng công việc nhà là công việc “đương nhiên” của phụ nữ. Tuy
nhiên chúng ta biết rằng sự phân công lao động theo giới là một sản phẩm xã hội. Ph.ăngghen trong tác phẩm nổi tiếng. Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước,
khi nói về sự phân công lao động theo giới trong thời kỳ bộ lạc đã cho rằng: “ Sự phân
công lao động là hoàn toàn có tính chất tự nhiên, nó chỉ tồn tại giữa nam và nữ. Đàn ông đi
đánh giặc, đi săn bắt và đánh cá, tìm nguyên liệu dùng làm thức ăn và kiếm những công cụ
cần thiết cho việc đó. Đàn bà chăm sóc việc nhà, chuẩn bị cái ăn và cái mặc, họ làm bếp và
4


may vá ( trích nguồn Các Mác và Ph.ăng-ghen, 1984:243 ). Trong kết quả điều tra gia đình
Việt Nam năm 2006, quan niệm mức độ hài lòng về hôn nhân của người phụ nữ cũng nhấn
mạnh tới chức năng kinh tế của bất hoà về ứng xử và dẫn đến rạn nứt gia đình. Có đến
46,1% đưa ra lý do khó khăn về kinh tế khi được hỏi về nguyên nhân dẫn tới bất hoà trong
gia đình ( trích nguồn Bộ văn hoá thể dục thể thao và du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia
đình và giới, Unicef 2008). (Nguồn: Tạp chí nghiên cứu giới và gia đình số 4 năm 2010).
Quyền quyết định của người phụ nữ trong gia đình cũng ngày càng được tăng lên.
Có nhiều người vợ quyết định cùng chồng những công việc quan trọng trong gia đình.
Trong “Kết quả điều tra gia đình năm 2006” cho thấy đến 53% số phụ nữ ở thành thị đứng
tên một giấy tờ đăng ký sản xuất kinh doanh ( trích nguồn Bộ văn hoá thể dục thể thao và
du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia đình và giới, Unicef 2008 ).
2.3.4.

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
Giáo dục - đào tạo: Vẫn còn những thách thức lớn trong công tác giáo dục và phát
triển nguồn nhân lực. ở khu vực miền núi, vùng nông thôn, sự chệnh lệch về giới trong tỷ

lệ học sinh đến trường cao hơn những vùng khác, đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng lớn về đào tạo cho dân số nông thôn, trình độ chuyên môn và
trình độ kỹ thuật của họ vẫn còn ở mức thấp. Năm 2002, cứ 100 dân số nữ từ 15 tuổi trở
lên thì có 25,5 người tốt nghiệp tiểu học, 25,8 người tốt nghiệp THCS và 9,4 người tốt
nghiệp THPT; các tỷ lệ tương ứng ở dân số nam là 27,3; 29,5 và 12. Bậc trung học chuyên
nghiệp không có sự khác biệt lớn, nữ đạt 2,9% và nam 2,8%; bậc cao đẳng và đại học nữ
đạt 2,7% và nam đạt 4,2%. Riêng bậc trên đại học, tỷ lệ nữ thấp hơn 3 lần so với nam, cụ
thể nữ đạt 0,04% và nam 0,13%. ( Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và
Tổng cục Thống kê, 2004) Lao động và việc làm: Về ngành nghề lao động, thống kê cho
thấy lao động nữ có xu hướng tập trung lao động ở các ngành nông nghiệp và dịch vụ,
trong khi lao động nam lại tập trung cao ở ngành thuỷ sản và xây dựng.
Trình độ chuyên môn, phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và giáo
dục đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, điều kiện để
nâng cao chuyên môn ít hơn nam giới. Có số liệu cho thấy lao động nữ qua đào tạo chỉ
bằng 30% so với lao động nam. Bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý nhà nước đối với nữ cũng
chỉ chiếm tỷ lệ 30% (Nguyễn Thu Linh, 2009). Do đó trong đa số trường hợp lao động nữ
không có trình độ chuyên môn cao bằng nam giới nên dễ dẫn đến chênh lệch trong thu
nhập so với nam giới.

5


Vùng địa lý: Hoạt động kinh tế là cao nhất ở Tây Bắc, đạt 80%, tiếp theo là Tây
Nguyên, đạt 78%. Tỷ lệ nữ tham gia hoạt sđộng Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở
nước ta duy trì ở mức cao, năm 2003, tỷ lệ này ở nữ là 68,5%, còn ở nam là 75,8%. Giữa
các vùng có sự khác biệt lớn về tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế. Năm 2003, tỷ lệ nữ
kinh tế thấp nhất được ghi nhận ở Đông Nam Bộ, đạt 60%, theo sau là đồng bằng sông
Cửu Long, đạt 64%. Đặc biệt, đây cũng là hai vùng có mức chênh lệch lớn nhất về tỷ lệ
tham gia hoạt động kinh tế của nam và nữ (Visocialword/nd).


Nếu phân biệt theo khu vực thành thị và nông thôn thì tỷ lệ có việc làm thường xuyên ở
thành thị thấp hơn ở nông thôn. Năm 2003, tỷ lệ nữ ở thành thị có việc làm thường xuyên
là 94,5% còn ở nông thôn là 95,8%; các tỷ lệ tưng ứng ở nam là 95,8% và 96,3%. Trong
thời kỳ 2000-2003, trong khi tỷ lệ thất nghiệp của nam có xu hướng giảm thì tỷ lệ thất
nghiệp nữ tăng lên, năm 2003, tỷ lệ thất nghiệp của nữ là 6,9%, còn tỷ lệ thất nghiệp của
nam là 4,4%. (Visocialword/nd).
Chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới: Bình đẳng giới trong lĩnh vực
lao động có nghĩa là bình đẳng về quyền, trách nhiệm, cơ hội, đối xử và đánh giá đối với
mỗi người không phân biệt giới tính của họ về pháp lý. Việt Nam đã quy định sự bình đẳng
giữa phụ nữ và nam giới tại điều 24 Hiến pháp Việt Nam khuyến khích cho doanh nghiệp
sử dụng đông lao động nữ như tín dụng ưu đãi, giảm thuế và cải thiện điều kiện việc làm
cho lao động nữ. Đào tạo và chuyển lao động nữ đang làm các công việc độc hại nguy
hiểm có hại cho việc sinh con và chăm sóc con cái của phụ nữ sang các công việc khác phù
hợp hơn,cải thiện điều kiện lao động và giảm thời gian làm việc.
Tuy nhiên, còn có những yếu tố hạn chế phụ nữ tham gia vào lĩnh vực việc làm
chính thức và hưởng lợi một cách bình đẳng từ việc làm. So với mức độ phát triển của đất
nước thì Việt Nam có nhiều chính sách lao động "bảo vệ" cho lao động nữ như chính sách
phúc lợi hưu trí, sinh đẻ, hạn chế hoặc cấm phụ nữ làm các công việc nặng nhọc, nguy
hiểm...
Nhóm các yếu tố khác: Tình trạng sức khoẻ có quan hệ với thời gian lao động, khối
lượng và chất lượng công việc thực hiện nên nó có quan hệ tỷ lệ thuận đối với thu nhập của
người lao động.
Xây dựng chiến lược thúc đẩy bình đẳng giới là nhiệm vụ đầy thách thức. Giáo
dục, chuyên môn và đào tạo, là những nhu cầu cần hướng tới của một nền kinh tế và một
6


xã phát triển. Bên cạnh đó, nâng cao hiểu biết tiến bộ về giới là một điều kiện tiên quyết
quan trọng đối với nhiều ưu tiên chính sách. Bởi các chiến lược để thúc đẩy bình đẳng giới
phải giải quyết những ý tưởng và định kiến lâu nay về quan hệ giới và chuẩn mực của nữ

giới và nam giới trong xã hội.
2.4. Khái niệm nông thôn
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn
được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
(Trích Quyết định số 800/QD-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ)
- Khái niệm mô hình nông thôn mới:
Mô hình nông thôn mới là mô hình được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát

triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất
trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa
đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước. Là tổng thể những
đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu
cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so
với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt. (Tạp chí cộng
sản, 2008)
2.5. Nội dung tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Theo Quyết định số 800/QD-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể
về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau:
 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến năm
2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu tư
xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 - 2020;
b) Nội dung:
- Nội dung 1: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông
nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;
- Nội dung 2: Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu
dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã.

 Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông
thôn mới;
b) Nội dung:
7


- Nội dung 1: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống
giao thông trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được
nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn,
xóm cơ bản cứng hóa);
- Nội dung 2: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt
và sản xuất trên địa bàn xã. Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm
2020 là 95% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 3: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa
thể thao trên địa bàn xã. Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến
2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 4: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa
bàn xã. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 5: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên
địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 6: Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã đạt
tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 7: Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã
đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa). Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn
(cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch).
 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến
năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt;

b) Nội dung:
- Nội dung 1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát
triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao;
- Nội dung 2: Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp;
- Nội dung 3: Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp;
- Nội dung 4: Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng
một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;
- Nội dung 5: Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp
vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn.
 Giảm nghèo và an sinh xã hội

a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
b) Nội dung:
- Nội dung 1: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62
huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới;
- Nội dung 2: Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo;
- Nội dung 3: Thực hiện các chương trình an sinh xã hội.
 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
8


a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015
có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
b) Nội dung:
- Nội dung 1: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
- Nội dung 2: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;
- Nội dung 3: Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh

tế ở nông thôn.
 Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn

a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến
2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;
b) Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến
2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
b) Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y tế,
đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
 Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn

a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến
2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt
chuẩn. Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm
internet đạt chuẩn;
b) Nội dung:
- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu
cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
- Nội dung 2: Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí
quốc gia nông thôn mới.
 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo
cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở
và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường
sinh thái trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt
chuẩn;
b) Nội dung:

- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn;
- Nội dung 2: Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn
theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm;
xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải
tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình
công cộng….
9


 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa

bàn
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015
có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;
b) Nội dung:
- Nội dung 1: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu
cầu xây dựng nông thôn mới;
- Nội dung 2: Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ
tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;
- Nội dung 3: Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ
thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015
có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;
b) Nội dung:
- Nội dung 1: Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ
nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;

- Nội dung 2: Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho
lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội
trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
c) Phân công quản lý, thực hiện:
- Bộ Công an chủ trì, hướng dẫn thực hiện đề án;
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các
huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện.
2.6. Thực trạng vai trò của phụ nữ ở nông thôn
Trong quá trình CNH, HĐH diễn ra mạnh mẽ ở nước ta hiện nay, khi mà đa số nam
giới và phụ nữ trẻ, khỏe, có trình độ học vấn đều đi tìm kiếm việc làm ở các thị trường lao
động ngoài nông thôn, thì ở nông thôn, mặc dù đội ngũ lao động cơ bản là lao động nữ và
với chất lượng không cao nhưng họ có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống
kinh tế, xã hội nông thôn. Điều này được thể hiện cụ thể: Phụ nữ đang là lực lượng đông
đảo nhất trong cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động nông thôn; lao động nữ có vị trí trung tâm
và đóng vai trò quyết định trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, cộng đồng ở nhiều
vùng nông thôn; phụ nữ là người đảm nhiệm hầu như toàn bộ công việc nội trợ gia đình,
nuôi con cái và chăm sóc người già, người ốm ở các gia đình; là người quản lý thực tế các
nguồn lực gia đình, có vai trò quan trọng cùng với chồng quyết định các đầu tư, chi tiêu
lớn trong sản xuất, kinh doanh, trong xây dựng nhà cửa và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt
đắt tiền của gia đình; là lực lượng chủ yếu trong các lĩnh vực hoạt động giáo dục, y tế, văn
10


hóa, tuyên truyền, lãnh đạo, quản lý cộng đồng; phụ nữ nông thôn vừa đóng vai trò xây
dựng, đào tạo nguồn nhân lực mới vừa là nguồn nhân lực trực tiếp tham gia vào quá trình
biến đổi cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu kinh tế - xã hội
nông thôn. Vì vậy, có thể khẳng định họ là một chủ thể quan trọng tích cực thúc đẩy quá
trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.(Theo Nguyễn Linh Khiếu, 2011)
2.7. Vị trí vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước nhằm

thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta. Có
nhiều yếu tố tác động đến sự thành công của việc xây dựng nông thôn mới, trong đó lực
lượng lao động ở nông thôn là một nhân tố quan trọng. Một thực tế đang đặt ra hiện nay là
cùng với quá trình đô thị hóa thì xu hướng lao động chuyển từ nông thôn ra thành thị nên
lực lượng lao động chính ở khu vực này còn lại chủ yếu là phụ nữ. Chính vì vậy, phụ nữ
nông thôn nước ta có một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói
chung và việc xây dựng nông thôn mới nói riêng.
Thực tế đó cho thấy phụ nữ là lao động chính ở nông thôn hiện nay. Theo số liệu
điều tra, ở nước ta hiện nay trong gần 80% phụ nữ của khu vực nông thôn thì có đến 58%
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Phụ nữ nông thôn Việt Nam là một chủ thể quan
trọng mang lại thu nhập chính cho gia đình. Họ không chỉ là người lao động chính mà còn
là người góp phần sản xuất ra phần lớn nông phẩm.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí đặt ra,
một mặt đòi hỏi phải tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, mặt khác phải có sự
gắn kết chặt chẽ giữa chính quyền, đoàn thể đặc biệt là Hội phụ nữ nhằm khơi dậy và phát
huy mọi tiềm năng to lớn của lao động nữ ở nông thôn. Chính phụ nữ là lực lượng đông
đảo góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo bộ mặt nông thôn và xây dựng đời sống
mới thông qua việc triển khai thực hiện các phong trào: Phụ nữ sản xuất kinh doanh giỏi,
xóa đói giảm nghèo lồng ghép chặt chẽ trong việc thực hiện cuộc vận động “Xây dựng gia
đình văn hóa” chống bạo lực gia đình, chống buôn bán phụ nữ trẻ em.
Bên cạnh đó phụ nữ còn tham gia hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao vào
những dịp lễ tết, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho phụ nữ nông thôn. Phụ nữ là
người góp phần tích cực trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
như: “Gia đình không sinh con thứ 3”, “nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, “Gia đình không
có người thân phạm tội và mắc tệ nạn xã hội”,… Họ là người đảm bảo cuộc sống gia đình
ấm no, hạnh phúc, bền vững và an toàn cho mọi thành viên trong gia đình.
Ngoài ra, phụ nữ còn có vai trò quan trọng trong việc chăm lo đời sống văn hóa
tinh thần cho gia đình góp phần giáo dục nhân cách trẻ em, xây dựng gia đình hòa thuận,
hạnh phúc. Ngoài thiên chức làm mẹ, làm vợ, làm dâu; phụ nữ nông thôn là một lực lượng
xã hội thực sự quan trọng trở thành chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển kinh tế - văn hóa

11


xã hội ở nông thôn. Chính vì lẽ đó cần có những định hướng và biện pháp tích cực để phát
huy vai trò của phụ nữ nông thôn trong xây dựng nông thôn mới. (Nguyễn thị như quỳnh,
không ngày tháng).
2.8. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và Việt Nam
2.8.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới Tại
Châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương
Trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12 – 13 giờ và có ít thời gian
nghỉ ngơi hơn. Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công ít hơn nam giới cho
cùng một loại công việc. Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50% - 90% thu nhập của nam
giới. Báo cáo Bridge số 56 (năm 2000)
 Phụ nữ chiếm một tỷ trong lớn trong lực lượng lao động: tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh
tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thống kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận
định đó:
Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao đóng so với 82,5%
nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phự nữ thành thị( 28,9%). Theo
nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30 – 49, tiếp đó là các
nhóm tuổi 25 – 29, 50 – 54. Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60 – 64
vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc
biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động. (Nguyễn Vân
Chi, 2007)
Trung Quốc: Nhóm tuổi phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất từ 20 – 29
tuổi, tiếp đó là nhóm tuổi 30 – 39, và giảm dần theo nhóm tuổi cao hơn. Giống như ở
Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60 – 64 vẫn còn 32,53% tham gia
lực lượng lao đông, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. (Nguyễn
Vân Chi, 2007).
 Trình độ chuyên môn kỷ thuật thấp: Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỷ thuật của lao


động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp. Ở các nước đang phát triển cho
đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông
và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai. Vì có ít điều kiện học hành nên những người nữ này
không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và
chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức của họ có được chủ yếu là do tự học
từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của người thân của mình. Một hạn chế lớn là những
loại kinh nghiệm được truyền đạt theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổ được
mô hình, cách thức sản xuất của họ. (Nguyễn Vân Chi, 2007).
12


 Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới hầu hết các nước đang phát

triển. Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp. Một
nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng
phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ
có bằng cấp cao và kỷ thuật tốt thì những công việc họ làm vẫn không được nghi nhận một
cách xứng đáng.
Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói
riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách. Đây là
cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu. Đất nước ta hàng ngàn năm
phong kiến, tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ
phận dân chúng, nhất là ở những vùng, miền có nặng nề hủ tục lạc hậu…Ngay tại cán bộ,
ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẵng giới vẫn còn gặp nhiều
khó khăn nhất định. Việc bồi dưỡng phát triển cán bô nữ có lúc, có nơi còn bị hạn chế, một
số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ… Như vậy, mặc dù đã đạt được
những thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà
chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thực sự.
2.8.2. Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế nông thôn

 Thực trạng phụ nữ Việt Nam: là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam

hiện có khoảng gần 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ
nữ chiếm trên 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không
được như đội ngũ công, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức.
Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu sản xuất nông nghiệp như:
cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo…. (Borje Lujnggren, không ngày tháng)
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao nữ nông thôn những năm gần đây là
do một số nguyên nhân chính sau:
Do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta
có khoảng 80 – 90 vạn người bước vào tuổi lao động trong đó: lao đông nữ chiếm 55%
(Trương Ngọc Chi, 2002).
Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các
ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị giảm biên chế, không
có việc làm phải quay về nông thôn làm việc.

13


Do sự tan rã thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90, khiến cho các nghề
tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguôn tiêu thụ hàng hóa, đa số phụ nữ làm
nghề này chuyển làm nghề nông nghiệp.
Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh ttranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ
công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản. Kết quả là công nhân
chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông.
 Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội: Dưới sự

lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp
giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Quyền bình đằng của phụ nữ đã được ghi
trong Điều 36 Hiến pháp Việt Nam năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi và bổ

xung năm 2002) một lần nữa khẳng định: “Công nhân nam nữ có quyền ngang nhau về
mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ
nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội”. Trên tinh
thần đó, các tầng lớp phụ nữ đã tích cực học tập, lao động sáng tạo, họ tham gia vào tất cả
các lĩnh vực và giữ vị trí quan trọng.
- Phụ nữ trong hệ thống dân cư:
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm của phụ nữ trong xã hội và trong quản lý Nhà
nước. Chỉ thị 37 – CT/TƯ ngày 16/5/1994 khẳng định “ nâng cao tỷ lệ nữ tham gia quản lý
Nhà nước, quản lý kinh tế là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân
chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị phụ nữ” (Ban
bí thư Trung ương Đảng khóa VII, chỉ thị số 37 – CT/TW, ngày 16/5/1994). Nước ta được
đánh giá là có số đại biểu nữ cao trong quốc hội, đứng đầu Châu Á và đứng thứ hai khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương và xếp thứ 9/135 các nước trên thế giới. Trong chặng
đường 60 năm, Quốc hội nước ta đã trải qua 12 nhiệm kỳ, đội ngũ cán bộ nữ trưởng thành
cả về số lượng và chất lượng. Tính đến nhiệm kỳ 2002 – 2007, 1038 đại biểu được bầu vào
Quốc hội. Khóa I có 3% đại biểu nữ thì đến khóa XI đã tăng lên 27,31%, cán bộ nữ giữ
chức chủ nhiệm, phó chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội chiếm 25%. Nhiệm kỳ1999 –
2004, số nữ đại biểu hội đồng nhân cấp tỉnh chiếm 22,33%, cấp huyện 20,12%, cấp xã
chiếm 16,56%. Tuy nhiên so với nam giới tỷ lệ này vẫn (Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Quốc
Tuấn, 2008).
- Phụ nữ tham gia các cấp ủy Đảng:
Trong các kỳ đại hội Đảng gần đây, tỷ lệ phụ nữ trong các cấp ủy tăng lên không
đáng kể. So với các cấp, số lượng phụ nữ tham gia Ban chấp hành Trung ương Đảng chiếm
tỷ lệ thấp nhất, khóa VII có 12 đồng chí, khóa VIII tăng lên là 18 đồng chí nhưng đến khóa
IX lại còn 12 đồng chí. Phụ nữ tha gia các cấp ủy địa phương có từ 10 – 11%, trong đó ủy
viên thường vụ trở lên đạt từ 3% đến 8%. Phần lớn các chị em trong ban thường vụ cấp ủy
14


thường được phân công làm công tác kiểm tra và dân vận. (Nguyễn Hải Hà – Nguyễn

Quốc Tuấn, 2008).
- Phụ nữ tham gia các cấp chính quyền:
Trong những năm gần đây, tỷ lệ lãnh đạo nữ ở cấp Trung ương thấp. Năm 2008, tỷ
lệ phó chủ tịch nước là 25%, bộ trưởng 4,55%, tương đương bộ trưởng là 11,43%, thứ
trưởng 2,75%, tương đương thứ trưởng là 9,21%, vụ trưởng và tương đương là 20,74%
(Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Quốc Tuấn, 2008).
Tỷ lệ nữ là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh/ thành nhiệm kỳ 1999 – 2004 chỉ có
1,64% đến nhiệm kỳ 2004 – 2009 tăng lên là 3,12%, nhưng ở cấp huyện lại có xu hướng
giảm, từ 5,27% ở cả 2 cấp giảm xuống còn 3,62% (Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Quốc Tuấn,
2008).
- Trong các doanh nghiệp:
Trong hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, có 15% phụ
nữ đứng đầu hoặc nắm cương vị chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp ở một số
ngành dệt, may mặc, giầy dép, thực phẩm,…chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông, vận
tải, xây dựng. khai khoáng…chiếm 20%. Trong 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình có 27%
phụ nữ điều hành (Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Quốc Tuấn, 2008).
Bên cạnh việc tham gia vào mọi hoạt động của đơi sống xã hội, phụ nữ Việt Nam
còn luôn cố gắn làm tròn nhiệm vụ người vợ, người mẹ gánh vác công việc nội trợ. Trong
hoàn cảnh còn thiếu thốn, phụ nữ nông thôn phải lo cho gia đình đủ ăn cơm, con cái được
học hành và khỏe mạnh. Người phụ nữ còn là người giữ gìn, truyền thụ những gí trị văn
hóa tốt đẹp của dân tộc ta từ thế hệ này sang thế hệ khác, gi đình Việt Nam đến nay vẫn
giữ được truyền thống tốt đẹp là do công lao to lớn của người phụ nữ.
 Đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ: Sinh thời, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụ nữ. Bác nhấn mạnh: “ Nếu không
giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được một nữa loài người”. Người cho rằng, muốn
giải phóng phụ nữ trước hết phải giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng trọng nam
khinh nữ, ra khỏi sự bất công trong gia đình mình cũng như xã hội, đồng thời nâng cao vị
thế của họ trong xã hội. Thế nên, Người ta đã yêu cầu các ngành các địa phương phải tạo
điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, để phụ nữ phát huy quyền

và khả nâng công dân của nình.
Tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng của người, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành
và thực hiện không ít những quyết sách mang tính chiến lược đối với vấn đề phụ nữ như:
Nghị quyết số 04 – NQ/TW, ngày 12/4/1993 của bộ Chính trị “ Về đổi mới và tăng cường
vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị số 37 – CT/TW, ngày 16/5/1994 của Ban bí
thư Trung ương Đảng khóa VII “ Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình
mới”. Năm 1995, Tại Hội nghị lần thứ IV về phụ nữ của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Bắc
15


Kinh( Trung Quốc), các quốc gia đã nhất trí thông qua Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ
của phụ nữ đến năm 2000, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cường quyền lực cho phụ nữ
trên toàn thế giới. Mỗi quốc gia xây dựng chiến lược của nước mình nhằm thực hiện
Cương lĩnh Bắc Kinh. Tại Hội nghị này, Chính phủ Việt Nam đã công bố chiến lược phát
triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 với 10 mục tiêu. Tiếp đó, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/2002/QĐ – TTg, ngày 21/01/2002 về phê
diệt Chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai
đoạn 2001 – 2010 với mục tiêu là: “ Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thân
của phụ nữ; tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai
trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính tri, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Báo cáo
Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ( tháng 4/2001) cũng đã khẳng định: đối
với phụ nữ thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tào nghề
nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng thêm nhiều
vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà
mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt nhiệm vụ của người vợ, người mẹ, xây dựng
gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc.
Cùng phụ nữ cả nước, phụ nữ nông thôn đang đóng góp sức lực, trí tuệ cho phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sự ra đời Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp đã giúp
đỡ, khuyến khích động viên phụ nữ thực hiện tốt vai trò, vị trí của mình.
2.9. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn

Do cùng lúc phải đóng nhiều vai trò, nhất là vai trò thay thế nam giới hầu như trong
mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội nông thôn nên dẫn đến một số hậu quả sau:
- Lao động quá sức, không có thời gian nghỉ ngơi để phục hồi sức lao động đang
ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe;
- Do đời sống các gia đình nông thôn còn nghèo, phụ nữ thường là người phải hy
sinh bản thân mình trong sự nghèo khổ đó;
- Phụ nữ không có điều kiện học tập, giao lưu, thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh
thần..., vì vậy, trình độ văn hóa vốn đã thấp lại không có điều kiện bổ sung, nâng cao, sự
hiểu biết xã hội hạn chế, lạc hậu;
- Khi sức khỏe của người phụ nữ nông thôn bị suy kiệt sẽ ảnh hưởng nặng nề đến
việc thực hiện chức năng sinh sản và nuôi con của chính họ...
- Do sức khỏe kém, trình độ văn hóa thấp, sự hiểu biết xã hội hạn chế... phụ nữ nông thôn
sớm muộn sẽ rơi vào các tình trạng sau:
- Tự ti, mặc cảm, không hòa nhập được với sự biến đổi mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã
hội, từ đó từng bước xa rời quá trình CNH, HĐH;
- Chất lượng lao động kém không đáp ứng được nhu cầu về việc làm của CNH, HĐH;
16


- Không có điều kiện, khả năng tham gia thị trường lao động ở các đô thị, các khu công
nghiệp và thị trường lao động quốc tế;
- Từng bước mất dần vai trò và vị trí của mình trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội,
hoạt động quản lý, lãnh đạo, cộng đồng ở nông thôn.
Do những thách thức nêu trên, cùng với quá trình vợ, chồng do phải bươn chải kiếm sống
thường xuyên xa nhau nên những tác động tiêu cực của xã hội trong điều kiện hiện nay có
thể dẫn đến nguy cơ ly hôn tăng cao, đời sống người phụ nữ trở nên bấp bênh, không được
bảo đảm, bản thân người phụ nữ cũng không có điều kiện chăm sóc chồng, con... Đây cũng
là một thách thức không nhỏ đối với hôn nhân và gia đình nông thôn trong giai đoạn hiện
nay. (Nguyễn Linh Khiếu, 2011)


CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập số liệu Sơ cấp: Điều tra thông qua phỏng vấn 20 phụ nữ tại 20 hộ thuộc 2 ấp
(phú thuận và phú mỹ) tại xã vĩnh châu.
- Thu thập số liệu Thứ cấp: Số liệu thứ cấp của nghiên cứu được thu thập từ các nguồn báo
cáo tổng kết năm 2014 của Hội Phụ nữ, Hội nông dân, các số liệu ở cấp xã.
17


CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Thực trạng vai trò của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí 10 (thu nhập) về xây dựng
nông thôn mới
4.1.1.

Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã vĩnh châu
4.1.1.1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý của xã: phía đông giáp phường Vĩnh Mỹ; phía tây giáp xã Thới Sơn;
phía nam giáp kênh Đào – xã Ô Long Vĩ; phía bắc giáp xã Vĩnh Tế và phường Núi Sam.
18


Tổng diện tích tự nhiên 2.277 ha; trong đó đất sản xuất nông nghiệp 2056 ha, đất
lâm nghiệp có rừng 99 ha. Tòan xã có 03 ấp; tổng số nhân khẩu 4376 người, với tổng số
1090 hộ, trong đó số lao động trong độ tuổi 3192 lao động. Dân cư gồm 02 dân tộc: kinh
chiếm 99,99%, Khmer chiếm 0,1%.
Vĩnh Châu là xã vùng ven của thị xã Châu Đốc, được tách ra vào năm 2003 (từ xã
Vĩnh Mỹ cũ), cơ sở hạ tầng, các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao còn hạn
chế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Xã Vĩnh Châu là xã thuần nông với thế mạnh
sản xuất lúa và khai thác thuỷ sản vào mùa lũ; trong đó tập trung ứng dụng khoa học kỹ

thuật vào sản xuất và từng bước phát triển mô hình mới phù hợp với địa phương.
(Ủy Ban Nhân Dân Xã Vĩnh Châu, 2011)
4.1.1.2. Tình hình kinh tế xã hội
- Nông Nghiệp:

Tình hình sản xuất trong 9 tháng đầu năm đạt kết quả khả quan, toàn xã có 1.909 ha
đất sản xuất nông nghiệp. Trong đó, tổng diện tích xuống giống 3.747,6 ha, thu hoạch vụ
Đông Xuân – Hè Thu ước sản lượng đạt 26.292 tấn với năng suất bình quân từ 6 - 8 tấn/ha,
giá lúa dao động từ 4.600 - 5.000 đ/kg. Vụ Thu đông xuống giống được 1.834 ha. Lúa từ
tiểu vùng K4- Tha La phát triển tốt, các loại bệnh như đạo ôn cổ bông, rầy nâu xuất hiện
rãi rác với mật độ thấp, được giám sát chặt chẽ. Công tác chỉ đạo sản xuất được triển khai
đồng bộ, chặt chẽ phù hợp với điều kiện sản xuất của từng tiểu vùng; các tiến bộ kỹ thuật
được tiếp tục triển khai như: chương trình 01 phải 5 giảm, cơ giới hóa trong sản xuất lúa,
mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa, hội thảo về xử lý các dịch bệnh trên cây lúa..... được
nông dân tiếp thu và áp dụng vào sản xuất đạt kết quả tốt.
Tổng diện tích gieo trồng màu 111,95 ha thu hoạch ước đạt 21.270,5 tạ, năng suất
bình quân 180-200 tạ/ha với các loại khác nhau như: khổ qua, ớt, đậu xanh, nụ dưa… giá
các sản phẩm rau màu dao động tùy theo từng mặt hàng, nhìn chung người dân vẫn có lãi.
Cánh đồng mẫu: Phối hợp với công ty Phước Tiếng thực hiện cách đồng lớn tại
tiểu vùng kênh 4- kênh 7. Vận động tham gia cánh đồng mẫu được 55 hộ với 87,4 ha thực
hiện vụ Thu đông.
Thành lập hợp tác xã: Triển khai và thực hiện kế hoạch thành lập hợp tác xã. Phối
hợp phòng Kinh tế thành phố chọn thành viên thành lập ban sáng lập hợp tác xã. Trao đổi
kinh nghiệm với Liên minh hợp tác xã về công việc chuẩn bị thành lập hợp tác xã.
- Chăn nuôi:
Tình hình giá thức ăn tăng, thị trường giá cả không ổn định, dịch bệnh vẫn còn
nguy cơ xảy ra, đã ảnh hưởng đến tâm lý phát triển chăn nuôi của người dân, do đó tổng
đàn gia súc, gia cầm không biến động nhiều so với cùng kỳ năm 2013. Theo thống kê số
lượng đàn gia súc gia cầm toàn xã 15.626 con (bò 170 hộ 568 con; heo 45 hộ 182 con; vịt
19



15 hộ 13.500 con; gà 48 hộ 1250 con, trâu 04 hộ 14 con, dê 03 hộ 12 con). Công tác phòng,
chống dịch bệnh, vệ sinh tiêu độc các khu vực chăn nuôi được thực hiện tốt. Kết hợp chặt
chẽ với Trạm Thú y tiêm vắc xin cho đàn gia súc gia cầm, đến nay trên địa bàn không phát
sinh dịch bệnh.
-

Thủy sản:
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã là 11,848 ha ( có 2,6 ha không

chăn nuôi). Toàn xã có 13 hộ nuôi cá tra (tổng diện tích 109.800m 2), 02 hộ nuôi cá lóc
(tổng diện tích 8.000m2), 01 hộ nuôi ếch (tổng diện tích 150m2), 11 hộ nuôi lươn (tổng diện
tích 525m2). Sản lương thu hoạch cá tra thịt đạt khoảng 1 tấn với giá 22.500đ/kg, cá tra
giống đạt 320kg với giá 26.000đ/kg, cá loc giống đạt 280 kg với giá 250.000đ/kg. Các hộ
dân tiếp tục duy trì và phát triển thêm mô hình nuôi lươn, ếch tăng thu nhập kinh tế gia
đình. Nông dân thu hoạch từ mô hình nuôi lươn ước đạt sản lượng 3.020 kg, giá 120.000đ
– 130.000đ/kg; mô hình nuôi ếch đạt sản lượng 1.500 kg, giá 28.000- 34.000đ/kg. Sau khi
thu hoạch, bình quân người dân có lãi từ 7 triệu – 15 triệu đồng.
-

Thương mại: Tình hình hoạt động kinh doanh chợ ổn định.
Giao thông thủy lợi:

Hệ thống đê bao thường xuyên được kiểm tra, gia cố đảm bảo an toàn sản xuất. Thực hiện
ốp mũ, chống sạt lỡ tuyến kênh đào (K10 –K12) và sửa chữa 02 cống rò rĩ kè gia cố mái
bờ đông kênh Tha la, kinh phí thực hiện 82.375.500 đồng.
-

Đầu tư xây dựng cơ bản:

Thực hiện dặm vá đường Kênh 4 đạt 97%, đường cộ nội đồng 97% ( còn lại 600

mét do vướng nhà ông Dũng).
Hoàn thành các công trình: Dặm vá đường Kênh Đào (đoạn K4-K7), láng nhựa
đường Huỳnh Văn Thu, đường Bờ Đông kênh 7, quãng trường và lót gạch vĩa hè công
viên. Điện ánh sáng khu Trung tâm hành chính, chợ, đường Kinh đào (đoạn K7-K10). Lắp
đặt đồng hồ nước tuyến kinh 8, kinh 10.
Theo dõi các công trình do Ban Quản lý dự án thành phố làm chủ đầu tư: hoàn
thành các phòng chức năng và khu hành chính trường Tiểu học, THCS; công trình xây
dựng hàng rào, khuôn viên sân trường trường Tiểu học và THCS. Sở VHTT-DL tỉnh đầu
tư nâng cấp các phòng chức năng nhà văn xã và cải tạo sửa chữa nhà văn hóa liên ấp tổng
kinh phí 350 triệu đồng, tiến độ đạt 90%. Phối hợp phòng kinh tế, Xí nghiệp điện nước
thành phố, Công ty điện nước An Giang khởi công xây dựng các danh mục công trình điện
nước trên địa bàn xã.
20


-

Văn hóa – Xã hội:
Giáo dục đào tạo: Các trường thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp

dạy học, chất lượng giáo dục. Công tác vận động, duy trì sĩ số học sinh Năm học 2013 –
2014 được thực hiện tốt, tổ chức thành công lễ tổng kết năm học. Trong năm học qua,
trường Mẫu giáo thực hiện tốt lớp bán trú (với 19 trẻ), trường Tiểu học Vĩnh Châu duy trì
thực hiện tốt mô hình bán trú 2 ngày/tuần đối với học sinh là con hộ nghèo. Duy trì giữ
vững danh hiệu phổ cặp các cấp. Công ty Prudential hỗ trợ 12 em học sinh trường THCS
và Tiểu học 12 phần học bổng trị giá 12 triệu đồng. Tỷ lệ học sinh bỏ học trường Tiểu học
0,22%, trường THCS 7,6% (giảm so với cùng kỳ năm học 2012-2013 là 0,86%). Học sinh
tốt nghiệp THCS đạt 100% (77/77 học sinh).

Năm học 2014 – 2015, các trường tổ chức Tháng hành động vì sự nghiệp giáo dục
và lễ khai giảng năm học mới. Công tác vận động học sinh ra lớp đạt kết quả: Trường mẫu
giáo có 270 trẻ ra lớp học Trường Tiểu học có 464/472 học sinh ra lớp đạt 98,3% Trường
THCS có 554 học sinh ra lớp.
Công tác khuyến học khuyến tài được duy trì thực hiện tốt, vận động các mạnh
thường quân hỗ trợ tiền và hiện vật giúp đỡ các học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn với
kinh phí 95.994.000 đồng. Phát động phong trào ống heo tiết kiệm khuyến học, qua đó có
40 hộ gia đình tham gia với số tiến 1.680.000 đồng
Trung tâm học tập công đồng: Kết hợp Trường lái xe đồng bằng mở lớp nghề lái
xe hạng C, B2 có 19 học viên tham dự. Trung tâm văn hóa thành phố mở lớp sinh hoạt hè
cho các em thiếu nhi trên địa bàn xã , qua đó có 56 em tham gia học vẽ và 8 em tham gia
lớp đàn.

-

Y tế:

Công tác phòng chống dịch bệnh được theo dõi, giám sát thường xuyên, kết quả có 01 cas
sốt xuất huyết, 06 cas tay chân miệng giảm so với cùng kỳ; riêng bệnh sởi nhờ tích cực chủ
động trong công tác phòng chống dịch bệnh, tổ chức tiêm ngừa, tuyên truyền giáo dục sức
khỏe và vận động cộng đồng tích cực tham gia vào công tác vệ sinh phòng chống nên
không xảy ra dịch. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, phòng chống
dịch bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân luôn được chú trọng. Kết hợp phòng tài
nguyên môi trường thành phố và cán bộ môi trường xã vận động các hộ chăn nuôi xử lý
nước thải, chất thải không gây ô nhiễm môi trường xung quanh, vận động các hộ chăn nuôi
vịt di dời chuồng trại tránh xa khu dân cư. Phối hợp Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh khám
21


và phát thuốc miển phí cho 400 lượt người và phát 100 phần quà cho hộ nghèo, cận nghèo

trị giá 35 triệu đồng. Tổ chức thăm hỏi cơ sở y tế nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2.
Công tác ứng trực, khám chữa bệnh phục vụ người dân đều được đảm bảo, khám
chữa bệnh 12.264 lượt người, khám chữa bệnh đông y 3.418 lượt người và phát 6.839
thang thuốc, châm cứu 952 lần. Tiêm vắc xin phòng ngừa bệnh trẻ dưới 12 tháng tuổi
được 63 trẻ và dưới 18 tháng tuổi được 60 trẻ, tiêm ngừa viêm não Nhật Bản cho trẻ từ
1-2 tuổi được 65 trẻ
-

Dân số:

Chiến dịch Truyền thông dân số - chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình luôn
được quan tâm chỉ đạo. Tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn xã được 07 cuộc
có 223 lượt người dự và vận động các đối tượng thực hiện các biện pháp tránh thai hiện
đại đạt tỷ lệ như sau: vòng 23/80 đạt 28,35%, đình sản 1/4 ca đạt 25 %, thuốc viên 266 %,
thuốc tiêm 12%, capot 136%.
-

Văn hoá – TDTT:

Thực hiện kế hoạch tổ chức các hoạt động Mừng Đảng Mừng Xuân của thành phố, UBND
xã đã tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao thiết thực Mừng Đảng,
Mừng Xuân Giáp Ngọ với các họat động như tổ chức giải việt dã, kéo co. Đồng thời tham
gia các hoạt động TDTT do thành phố tổ chức. Được sự hỗ trợ của Trung tâm văn hóa tỉnh
tổ chức chiếu phim lưu động tại xã tạo khí thế phấn khởi vui xuân trong nhân dân. Tham
gia hội thi đờn ca tài tử cấp thành phố kết quả đạt 2 giải nhất.
Kết hợp Hội nông dân xã tổ chức giải bóng đá bóng chuyền nông dân cấp xã và
tham gia cấp thành phố. Tham gia giao lưu thể dục thể thao của văn phòng HĐND-UBND
thành phố tổ chức kết quả đạt 02 giải nhì kéo co, trò chơi vận động.
Công tác bản tin địa phương được duy trì thường xuyên và không ngừng nâng cao
chất lượng, cải tiến chương trình với nhiều nội dung phong phú phản ánh kịp thời các sự

kiện và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Trong đó, chú trọng nội dung chuyên mục
“Xây dựng nông thôn mới” đã phát trên 30 tin để nhân dân trên địa bàn tiếp thu và tích cực
hưởng ứng góp phần duy trì, nâng cao hiệu quả của chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới.
-

Công tác an sinh xã hội:
Được Đảng ủy, UBND xã quan tâm chỉ đạo và thực hiện. Trong dịp Tết Nguyên

đán Giáp Ngọ 2014, chính quyền và cấp ủy thành phố cùng các tổ chức chính trị - xã hội
đã thăm hỏi, tặng quà và chúc Tết các gia đình liệt sỹ, gia đình có công, hộ nghèo và các
22


đối tượng chính sách. Kết hợp UBMTTQ xã vận động gây quỹ cây mùa xuân với tổng số
tiền 148.173 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, khó khăn vui tết. Vận động các mạnh thường
quân trong và ngoài địa bàn hỗ trợ tiền và quà cho các hộ nghèo, cận nghèo tổng số tiền
131.838 triệu đồng.
-

Chính sách xã hội:
Được thực hiện đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng, chăm lo tốt đời sống các đối

tượng chính sách. Phát tiền Chính phủ hỗ trợ cho 95 người thuộc diện bảo trợ xã hội với
tổng số tiền 33.250.000 đồng (350.000 đồng/người) và 17 đối tượng gia đình chính sách
tiêu biểu với tổng số tiền 3.400.000đồng; UBND tỉnh hỗ trợ 28 đối tượng gia đình chính
sách với tổng số tiền 16.800.000đồng và phát 10 phần quà cho gia đình chính sách với tổng
kinh phí 5.000.000 đồng do UBND thành phố hỗ trợ. Tổ chức thăm hỏi và tặng quà các gia
đình chính sách nhân ngày 27/7 tổng số tiền 12.500.000đ. Thực hiện tốt công tác cấp phát
trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng cho các đối tượng có công, gia đình chính sách (14

người) kinh phí 145.344.000 đồng, Bảo trợ xã hội (96 người) kinh phí 183.600.000đ
4.2. Thực trạng kết quả thực hiện tiêu chí 10 (thu nhập) trong chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc
Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới, Châu Đốc là địa phương đầu tiên trên địa bàn tỉnh nói riêng, khu vực ĐBSCL và
cả nước nói chung có 100% xã đạt chuẩn NTM. Trong đó xã Vĩnh Châu thành phố Châu
Đốc đã làm tốt nhiệm vụ thực hiện và hoàn thành 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới
với tiêu chí (10) thu nhập. Yêu cầu của tiêu chí là: mức thu nhập bình quân khu vực nông
thôn năm 2013 đạt 23 triệu đồng/người/năm.
Kết quả thực hiện: Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã tập
trung chỉ đạo vận động nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế
hộ gia đình gắn với kinh tế hợp tác, xây dựng nhiều mô hình kinh tế làm ăn có hiệu quả.
Tạo các điều kiện thuận lợi cho nông dân tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng đầu tư lĩnh
vực nông nghiệp.
Trong những năm gần đây, tất cả các tiểu vùng sản xuất của xã được thực hiện khép
kín từ đó diện tích sản xuất lúa tăng 02 vụ lên 3 vụ/năm; các Công ty nông nghiệp triển
khai thực hiện “ cánh đồng lớn”. Ngoài ra, nông dân còn áp dụng có hiệu quả những tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, sản xuất giống lúa chất lượng cao, thu hoạch bằng
cơ giới hóa, nhân rộng các mô hình trồng rau, hoa màu, nông dân cũng mạnh dạng đầu tư
phát triển các mô hình kinh tế vườn, chăn nuôi gia súc (bò vỗ béo, lươn, ếch,..) mang lại
23


hiệu quả cao với số tiền tham gia là 1.250 triệu đồng, đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn vay tín dụng trong cải thiện phát triển kinh tế hộ gia đình. Từ đó đã nâng mức thu
nhập bình quân đầu người của xã Vĩnh Châu lên 23 triệu đồng/người/năm, tăng bình quân
hàng năm là 16,8%.
Tổng kinh phí thực hiện là 1.750 triệu đồng trong đó: nhân dân tham gia là 1.250
triệu đồng, vốn doanh nghiệp hỗ trợ 500 triệu đồng
So sánh với Bộ tiêu chí của UBND tỉnh theo Quyết định số 2361/QĐ-UBND ngày

15/11/2013: Đạt
4.3. Thực trạng vai trò của phụ nữ trong các hộ điều tra
4.3.1 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất tạo thu nhập
Bảng 1: Tỷ lệ nam, nữ là chủ hộ trong gia đình
Giới tính
Phần trăm (%)
Nam
75
Nữ
25
(Nguồn: kết quả khảo sát 20 hộ tại xã Vĩnh Châu, 2014)
Hình 1: Biểu đồ tỷ trọng phụ nữ làm chủ hộ trong gia đình
(Nguồn: kết quả khảo sát 20 hộ tại xã Vĩnh Châu, 2014)
Qua kết quả bảng cho thấy tỷ lệ phụ nữ (25%) làm chủ hộ trong gia đình thấp hơn
nam giới (75%) trong 20 hộ nghiên cứu tại ấp mỹ thuận và ấp mỹ phú. Do phong tục tập
quán của người việt, nam giới thường được xem là trụ cột trong gia đình.

Hình 2: Biểu đồ phân bố quỷ thời gian của phụ nữ trong một ngày (24 giờ)
(Nguồn: kết quả khảo sát 20 hộ tại xã Vĩnh Châu, 2014)
Trong cuộc sống hằng ngày phụ nữ và nam giới cũng đều tham gia vào các hoạt động sản
xuất tạo thu nhập, các hoạt động này rất phong phú và đa dạng tư nghề nông đến nghề
buôn bán nhỏ lẻ, làm thuê, tiểu thủ công nghiệp, may…. Nhưng sản xuất nông nghiệp vẩn
là chủ yếu. Trên địa bàn nghiên cứu thì nam giới chủ yếu làm những công việc nặng nhọc
như: cày, xới, khuân vác bón phân… còn phụ nữ trong gia đình làm các công việc nội trợ
ngoài ra phụ nữ còn tham gia vào các hoạt động sản xuất không đòi hỏi tốn nhiều sức lực
như làm cỏ, mua vật, cất giử tiền bạc. Sự bình đẳng trong công việc gia đình cũng như các
hoạt động sản xuất có thể thấy rõ qua các việc mà người phụ nữ và người đàn ông đảm
nhận.
24



Qua hình cho thấy thời gian người phụ nữ làm công việc tăng thu nhập chiếm
30,63% là rất cao nhưng họ vẩn phải làm công việc nội trợ trong gia đình chiếm 14,83% ,
dạy con 0,83%, chăm sóc sức khỏe 5,42%, tuy nhiên họ cũng dành thời gian tam gia công
tác xã hội 1,45%. Kết quả trên cũng cho thấy thời gian ngũ nghỉ để phục hồi sức lao động
là tương đối cao 36,67% do họ thường có thói quen ngũ trưa và ngũ sớm vào buổi tối để
phục hồi lao động sao một ngày làm việc vất vả.
4.3.2 Vai trò của giới trong hoạt động sản xuất lúa
Từ trước đến nay, nhắc đến những công việc đồng án thì người phụ nữ luôn luôn
xuất hiện đóng một vai trò là người thực hiện hầu hết các công việc với những hình ảnh tảo
tần “một nắng hai sương”, “ bán mặt cho đất bán lưng cho trời”.Vai trò của họ phần lớn là
vai trò sản xuất và tái sản xuất bao gồm thực hiện các công việc từ nội trợ đến công việc
đồng án, còn những vấn đề liên quan đến những việc lớn hơn có tính quyết định hay liên
quan đến những tài chính, tài sản trong gia đình thì hầu như họ chưa được xem trọng. Điều
đó có lẽ do một phần của tư tưởng “trọng nam khinh nữ” từ xa xưa. Thế nhưng ngày nay,
xã hội ngày càng phát triển thì sự nhận thức của con người cũng đang phát triển theo chiều
hướng tích cực, đặc biệt là sự nhận thức về sự bình đẳng giữa nam và nữ không ngừng
trong gia đình và xã hội ở đô thị mà ngay cả ở những gia đình và xã hội ở vùng nông thôn
đã có sự nâng cao khá rõ rệt. Vì thế trong lĩnh vực sản xuất luôn có sự quyết định và tham
gia của nữ giới. (Theo Thị Bích Nghĩa, 2013)
Bảng 2: Tỷ lệ (%) vai trò của giới trong sản xuất lúa
ST
T
1
2
3
4
5
6
7

8
9
10
11

Hoạt động

Ra quyết định
Tham gia
Nam
Nữ
Cả hai
Nam
Chọn giống
70
15
15
70
Gieo sạ
70
15
15
50
Mua phân
75
15
10
70
Bón phân
75

15
10
75
Mua thuốc
75
15
10
65
Phun thuốc
75
15
10
65
Cấy giậm
75
15
10
50
Nhổ cỏ
75
15
10
40
Thu hoạch
75
15
10
30
Giá bán
35

30
35
40
Giữ tiền
10
70
20
10
(Nguồn: kết quả khảo sát 20 hộ tại xã Vĩnh Châu, 2014)

Nữ
10
20
20
10
15
20
25
20
10
30
65

Cả hai
20
30
10
15
20
15

25
40
60
30
25

Kết quả điều tra ở bảng trên cho thấy nam ra quyết định trong các khâu sản xuất lúa
như: mua phân, bón phân, mua thuốc, phun thuốc, cấy giậm, nhổ cỏ, thu hoạch chiếm 75%
tỷ lệ này khá cao còn các khâu như giá bán chiếm 35% và giữ tiền chiếm 10%.
25


×