Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện đức thọ tỉnh hà tĩnh giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (473.17 KB, 105 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG XUÂN HÙNG

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
ĐỂ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP
CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

NGHỆ AN - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG XUÂN HÙNG

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
ĐỂ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP
CƠ SỞ Ở HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:


PGS. TS. NGUYỄN THÁI SƠN

NGHỆ AN - 2015


2
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian qua, tôi đã được sự hướng dẫn tận tình của các thầy giáo,
cô giáo trường Đại học Vinh, tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu nhà
trường, Phòng đào tạo sau Đại học, khoa giáo dục Chính trị cùng toàn thể các
thầy cô giáo của trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều
kiến thức chính trị quý báu, hướng dẫn nhiệt tình cho tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thái Sơn, Phó trưởng khoa giáo
dục Chính trị đã chu đáo dìu dắt, hướng dẫn giúp tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn lớp Cao học khóa 21, gia đình,
bạn bè, và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân
dân huyện, các ban ngành đoàn thể của huyện Đức Thọ đã hỗ trợ, giúp đỡ, tạo
điều kiện cho tôi trong thời gian tham gia học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn
thành luận văn tốt nghiệp này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Tác giả

Hoàng Xuân Hùng


3

MỤC

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa....................................................................................................................
Lời cảm ơn........................................................................................................................
Mục lục..............................................................................................................................

MỤC......................................................................................................................3
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................
2. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................
3. Nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................................
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................
5. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................
6. Những đóng góp mới của đề tài..................................................................
7. Kết cấu của luận văn....................................................................................
B. NỘI DUNG.....................................................................................................10
Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ.................10
1.1. Một số khái niệm liên quan về cán bộ......................................................
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn của người cán bộ cách mạng
..................................................................................................................
1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về huấn luyện, đào tạo, sử dụng và
chính sách đãi ngộ cán bộ........................................................................
Kết luận chương 1...........................................................................................
Chương 2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ XÂY
DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở ĐỨC THỌ TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY....................................................................................43
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đức Thọ, tỉnh Hà
Tĩnh..........................................................................................................

2.2. Một số nét chung về đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở ở Đức Thọ hiện
nay............................................................................................................


4
2.3. Những kết quả đạt được trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp cơ sở ở Đức Thọ trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh.........................................................................................................
Kết luận chương 2...........................................................................................
Chương 3 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ ĐỂ XÂY
DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ HUYỆN ĐỨC THỌ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.....................................................................63
3.1. Mục tiêu....................................................................................................
3.2. Phương hướng..........................................................................................
3.3. Những giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở
Đức Thọ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.......................................................
C. KẾT LUẬN.....................................................................................................97
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................99
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài, người anh hùng giải phóng dân tộc,
nhà tư tưởng, danh nhân văn hoá thế giới. Tư tưởng của Người luôn là tấm gương
sáng cho toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ phấn đấu học tập và noi
theo. Với sự hiểu biết sâu rộng, là kiến trúc sư và linh hồn của khối đoàn kết dân
tộc, Người cũng đã để lại cho nhân dân ta nhiều bài học quý giá về việc xây dựng
đội ngũ cán bộ. Giá trị cao quý của nó không những là các chỉ dẫn lý luận mang
tính sáng tạo, thiết thực mà còn có ý nghĩa thực tiễn chỉ đạo và định hướng trực tiếp
cho công tác cán bộ của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và
mai sau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy chúng ta rằng "Muốn xây dựng chủ

nghĩa xã hội trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa" và Người
nhấn mạnh: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [33, tr.240], "công việc thành
công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [33, tr.269].


5
Cấp cơ sở hay còn gọi là cấp xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính
nhỏ nhất trong hệ thống hành chính 4 cấp ở nước ta, ở ngay trong dân, trực tiếp
làm việc với dân và chăm lo đến đời sống của nhân dân. Cấp cơ sở là nơi diễn ra
mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tầng lớp nhân dân, nơi tiến
hành tổ chức và vận động người dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có vai trò rất
quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã
hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Cán bộ cấp cơ sở là người mang
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu và thi
hành, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt. Đồng thời, lắng nghe ý chí, nguyên
vọng và thu thập thông tin về tình hình thực tế có liên quan đến mọi hoạt động
của nhân dân để báo cáo cho Đảng và Chính phủ hiểu rõ, nhằm xây dựng và
điều chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước cho phù
hợp với tình hình thực tế. Cán bộ cấp cơ sở chính là cầu nối giữa Đảng, Chính
Phủ với nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng
của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”[33, tr. 271].
Hệ thống chính trị, chính quyền cấp cơ sở mạnh hay yếu phụ thuộc vào chất
lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt của cấp cơ sở. Hiện nay, trong quá trình hội nhập
quốc tế nhằm phát triển đất nước với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
dân chủ, công bằng, văn minh”, đòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt phải có đủ
phẩm chất đạo đức, năng lực để thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng được yêu cầu

trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên, thực tế trên phạm vi cả nước và trong từng địa phương đang
đặt ra nhiều vấn đề mới, cần được tiếp tục nghiên cứu cụ thể, những đòi hỏi về
chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cấp cơ sở ngày càng trở nên


6
bức thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Do những tác động ngày càng mạnh mẽ
của mặt trái kinh tế thị trường dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số
cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống với những
biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ,
cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham
nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc... Mặt khác, một bộ phận cán bộ lãnh
đạo các cấp vẫn còn mắc bệnh độc đoán, chuyên quyền, thiếu khoa học, thiếu
dân chủ; cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thì xa dân, cửa quyền, hách dịch… làm cho
hoạt động của bộ máy công quyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị kém
hiệu quả, những “điểm nóng” ở cơ sở ngày càng nhiều hơn, phức tạp hơn… đặt
ra những vấn đề lớn về công tác cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt các cấp
nói riêng, trong đó cấp cơ sở có vai trò cốt yếu.
Do đó, việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán
bộ, từ đó rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, đồng thời vận dụng sáng
tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ để đề xuất với lãnh đạo huyện nhà một số
giải pháp chủ yếu trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ nhằm
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay là việc làm hết sức
cần thiết.
Từ tình hình thực tế trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ ở huyện Đức
Thọ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.

Liên quan đến đề tài này đã có nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dưới
những góc độ tiếp cận khác nhau. Có công trình đi vào nghiên cứu toàn bộ
nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, có công trình
chỉ nghiên cứu một hay một số nội dung trong công tác cán bộ theo tư tưởng
của Người. Các công trình nghiên cứu của các tác giả được công bố dưới


7
dạng chuyên đề, luận văn thạc sỹ, các bài đăng trên các sách, báo, tạp chí, kỷ
yếu, hội thảo khoa học. Mỗi bài viết, tác phẩm, công trình nghiên cứu đều
dựa trên những cơ sở thực tiễn, khoa học nhất định để đưa ra các giải pháp
hiệu quả để giải quyết những vấn đề cụ thế phát sinh. Như một số đề tài
nghiên cứu:
* Công trình nghiên cứu tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công
tác cán bộ:
- Mãi mãi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2007.
- Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc,
thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội năm 2008.
- Một số bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm,
chống tham ô, lãng phí, quan liêu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2008.
- Ban Tuyên giáo TW: Tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về
nâng cao ý thức, trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân
dân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2009.
- TS. Hoàng Trang - TS. Phạm Ngọc Anh (Đồng chủ biên): Tư tưởng
nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay,
Nxb Chính trị Quốc gia.
* Công trình nghiên cứu về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ở
nước ta hiện nay.

- Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (Đồng chủ biên): Luận cứ khoa
học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
- Nguyễn Thị Thanh Huyền: luận văn Thạc sĩ chuyên ngành hành chính
công "Nâng cao năng lực của đội cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tại huyện Thanh
Trì, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay".


8
Trần Huy Sáng (1999), Xây dựng đội ngũ CB, CC QLNN về kinh tế ở các
huyện (qua thực tế các huyện ngoại thành Hà Nội), Luận án Tiến sĩ khoa học
Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; - Thang Văn Phúc, Nguyễn
Minh Phương, Xây dựng đội ngũ CB, CC của Nhà nước pháp quyền XHCN của
dân, do dân, vì dân, Tạp chí Cộng sản điện tử, số 22;
- Một số bài báo của nhiều nhà nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học
theo chủ đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ như:
- TS. Lê Văn Thịnh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách công tác của
cán bộ, Trường Đại học KHXH&NV- Đại học Quốc gia Hà Nội- 2011
- Lê Thị Thủy: Vấn đề cán bộ trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Hồ
Chí Minh, Tạp chí Lý luận chính trị & truyền thông - Số tháng 3-2009.
- TS. Nguyễn Thị Kim Dung - Học viện chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh: Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về sử dụng cán bộ - Tạp
chí lí luận Chính trị số 6-2013.
- Ths. Nguyễn Lương Uyên - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng:
Quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dung huấn luyện cán bộ, 4-2013.
Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ và công tác cán bộ dưới nhiều góc độ khác nhau, như vấn đề
rèn luyện đạo đức, năng lực của cán bộ, một số nội dung quan trọng của tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, đổi mới phong
cách cán bộ, v.v… song có thể nói chưa có công trình khoa học nào đi sâu

nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ vào việc xây dựng đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở nước ta hiện nay, đặc biệt là đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp cơ sở tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh một cách có hệ thống. Vì
vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố,
tôi mong muốn được góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc
nâng cao chất lượng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở ở huyện Đức Thọ giai đoạn hiện nay.


9
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ vào thực
tiễn ở huyện Đức Thọ để nhận thức thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đức Thọ tỉnh
Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ.
- Phân tích, điều tra, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt và
việc vận dụng tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ
để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Đức Thọ trong thời
gian qua.
- Đề xuất mục tiêu, phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở ở huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ;
- Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Đức Thọ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Tư liệu phục vụ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đã được công bố
chính thức ở Việt Nam;
- Thực tiễn công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở huyện Đức Thọ
từ năm 2005 đến nay và tầm nhìn đến 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; sử dụng các phương pháp phân tích, tổng


10
hợp; phương pháp lôgíc và lịch sử kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học,
đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn góp phần đánh giá thực trạng công tác xây dựng và chất lượng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, qua đó đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn
hiện nay theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ.
Chương 2. Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đức Thọ trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3. Mục tiêu, phương hướng và những giải pháp nhằm vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
huyện Đức Thọ trong giai đoạn hiện nay.
B. NỘI DUNG
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
1.1. Một số khái niệm liên quan về cán bộ

1.1.1. Khái niệm cán bộ
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì: "Cán
bộ: Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước. 2. Người giữ
chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan,
tổ chức nhà nước" [27, tr. 249].
Trong lĩnh vực khoa học hành chính, thuật ngữ “cán bộ” được hiểu là
những người giữ các chức vụ từ Phó trưởng phòng, Trưởng phòng tương đương
trở lên để phân biệt với những người không giữ chức vụ.


11
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát,
giản dị và dễ hiểu. Theo Người: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng,
Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình
dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng"
[32, tr. 33].
Theo khoản 1 điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định “Cán
bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức
danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước”.
1.1.2. Đội ngũ cán bộ
Khái niệm “đội ngũ” được dùng rộng rãi trong các tổ chức như đội ngũ
cán bộ công nhân viên, đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ khoa học, đội ngũ y, bác
sỹ, v.v.. Khái niệm đội ngũ xuất phát từ thuật ngữ quân sự, đó là tổ chức gồm
nhiều người tập hợp hành một lực lượng hoàn chỉnh. Như vậy đội ngũ có thể
được hiểu là tập hợp một số người có cùng chức năng, nhiệm vụ và nghề
nghiệp. Các quan niệm về “đội ngũ” tuy có khác nhau nhưng đều thống nhất ở

chỗ: Đội ngũ là tập hợp một số người thành một lực lượng thực hiện một hay
một số chức năng, nhiệm vụ nhất định để đem về kết quả nhất định nào đó.
Nội hàm “đội ngũ cán bộ” cũng bao hàm nhiều nội dung. Xét về mặt cấu
trúc, có thể quan niệm đội ngũ cán bộ bao hàm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất,
gồm những cán bộ được hình thành qua con đường đào tạo tại các trường; bộ
phận thứ hai, gồm những cán bộ được hình thành qua con đường bầu cử hoặc đề
bạt, bổ nhiệm.
Xét về loại hình đội ngũ cán bộ, có thể phân thành các loại:


12
- Cán bộ Đảng và đoàn thể;
- Cán bộ Nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp);
- Cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế;
- Cán bộ khoa học - kỹ thuật, văn hoá, giáo dục, y tế, thể thao, xã hội và
cán bộ quản lý thuộc các ngành này;
- Cán bộ lực lượng vũ trang v.v…
Trong xã hội có giai cấp, đội ngũ cán bộ được hình thành theo quan điểm,
mục đích của giai cấp cầm quyền. Ở nước ta, cán bộ phải là người trung thành,
tận tuỵ, vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc.
Cán bộ chủ chốt: Trong mỗi tổ chức đều có người lãnh đạo. Nhiều tổ chức
có tập thể lãnh đạo. Trong tập thể lãnh đạo có người đứng đầu, đó là cán bộ chủ
chốt. Như vậy, cán bộ chủ chốt là người đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng
chi phối chủ yếu mọi hoạt động của một tổ chức.
Khi xác định cán bộ lãnh đạo chủ chốt, cần đặt cán bộ trong một tổ
chức nhất định. Có thể có cán bộ ở tổ chức này, trong mối quan hệ này là cán
bộ chủ chốt, nhưng trong mối quan hệ khác lại không phải là cán bộ chủ chốt.
1.1.3. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Cấp cơ sở là cấp cuối cùng của hệ thống chính trị bốn cấp (Trung ương,
tỉnh, huyện, xã), nó mang đầy đủ đặc trưng của bộ máy quyền lực chính trị trong

hệ thống quyền lực chính trị. Như vậy, có thể hiểu hệ thống chính trị cơ sở cũng
là một bộ phận cấu trúc thượng tầng của xã hội bao gồm: các tổ chức, các thiết
chế hợp pháp có quan hệ về mục đích, chức năng thực hiện quyền lực chính trị ở
cơ sở. Hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm các tổ chức Đảng, chính quyền và
các đoàn thể nhân dân.
Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những người lãnh đạo đứng đầu ở cấp xã,
phường, thị trấn (hoặc tương đương), có vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng
cốt chi phối toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định.


13
Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những người có chức vụ trọng yếu ở cơ sở,
thực hiện lãnh đạo, tổ chức, điều hành, triển khai các nhiệm vụ ở địa phương và
phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình trước tập thể, trước nhân dân và
trước cấp trên của mình. Cụ thể: Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những cán bộ giữ
chức vụ bao gồm các chức danh: Bí thư đảng uỷ, phó bí thư đảng uỷ, chủ tịch
hội đồng nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân, phó chủ tịch hội đồng nhân dân,
phó chủ tịch uỷ ban nhân dân.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở chính là những người giữ vai trò nòng
cốt, điều hành hoạt động của bộ máy tổ chức cấp cơ sở, nó vừa thể hiện sự lãnh
đạo của Đảng vừa đảm bảo thực hiện quyền lực chính trị của chính quyền, vừa
đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở. Đặc điểm này đòi hỏi khi đổi
mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở phải gắn liền với việc không ngừng củng cố và hoàn thiện hệ thống
chính trị cơ sở thật sự vững mạnh góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội ở
địa phương.
Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở giữ vai trò hết sức quan trọng trong ổn định
chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đơn vị nào có cán bộ chủ
chốt giỏi thì tổ chức đó sẽ mạnh, nâng cao được hiệu quả, chất lượng công
tác. Cùng một tổ chức, bộ máy tương tự, cùng một cơ chế, chính sách giống

nhau, nhưng có địa phương kinh tế phát triển rất nhanh, mọi nhiệm vụ đều
thực hiện hoàn thành xuất sắc, có địa phương về kinh tế xã hội thì trì trệ, mọi
nhiệm vụ bê trễ. Điều đó nói lên vai trò quyết định của cán bộ chủ chốt.
Vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở còn được thể hiện trong
việc định hướng sự phát triển ở cơ sở theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là
thực hiện tốt nguyên tắc phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then
chốt. Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những người quy tụ truyền thống đoàn kết
trong nhân dân, phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Đồng thời, trong
quá trình phát triển kinh tế, họ là những người vận động nhân dân thực hiện tốt


14
truyền thống của dân tộc: xoá đói giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa đối với gia
đình có công với cách mạng, gia đình chính sách. Đồng thời, trước những ảnh
hưởng không nhỏ của cơ chế thị trường, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những
người luôn giáo dục bà con cảnh giác với âm mưu diễn biến hoà bình của kẻ
địch. Họ là những người trực tiếp nắm bắt, quản lý dân số trên địa bàn cho nên
có những đóng góp không nhỏ trong việc đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội trên
địa bàn cơ sở của mình.
Tóm lại, xét trên tất cả các phương diện, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có vị trí
và vai trò rất quan trọng trong tổng thể đội ngũ cán bộ, cần được đặc biệt quan
tâm và có chính sách không ngừng xây dựng và phát triển.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn của người cán bộ cách mạng
1.2.1. Người cán bộ phải vừa có đức vừa có tài
Trong suốt cuộc đời làm cách mạng của mình Hồ Chí Minh luôn coi vấn
đề cán bộ là một trong những vấn đề then chốt quyết định đến sự thành bại của
cách mạng. Người khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc, mọi việc
thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém” và “Cán bộ là cái dây chuyền
của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy
toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ,

của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng
không thể thực hiện được”[42, tr.54].
Do đó, Người yêu cầu mỗi cán bộ phải luôn tự rèn luyện, phải luôn giữ
được tư cách của người cán bộ cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ
phải luôn là người giữ chủ nghĩa cho vững, ít ham muốn về vật chất, ngày đêm
nghĩ đến sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng hi sinh tất cả vì sự nghiệp giải phóng
dân tộc và nhân loại. Đó là những con người có trí tuệ, hiều biết, luôn luôn ủng
hộ cái “thiện”, lên án cái “ác”, bảo vệ “chính” và quyết tâm tiêu diệt “tà”. Trên
quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu những người cán bộ khi đã tự
nguyện đi làm “công bộc của dân”, thì trước hết phải thực hiện nghiêm túc bốn


15
đức tính căn bản của người cán bộ cách mạng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư”.
Đất nước ta đang trên con đường đổi mới, trong Văn kiện Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Lấy nhiệm vụ xây dựng
kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Để thực hiện tốt những nhiệm
vụ chiến lược quan trọng đó, đổi mới công tác cán bộ, đặc biệt là đổi mới đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, được Đảng xác định là khâu đột phá. Về vấn đề này, ngay
từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã nêu rõ: “Đổi mới cán bộ lãnh đạo
các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta nắm chắc để thúc đẩy những
cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng” [17, tr.126].
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, công tác tổ chức, đổi mới cán bộ của
Đảng làm chưa thật tốt. Nhiều trường hợp cán bộ mắc khuyết điểm ở nơi này, lại
được chuyển sang nơi khác với vị trí, cương vị cao hơn. Điều đó chẳng những
làm mất uy tín của Đảng, mà đồng thời còn làm mất uy tín của nhân dân đối với
Đảng và dẫn đến tình trạng thiếu kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.
Trước thực trạng đó, Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nhìn nhận
và kiểm điểm một cách nghiêm túc đồng thời khẳng định những yếu kém trong

công tác cán bộ là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng cán bộ “tài
không xứng chức”, làm trì trệ công cuộc đổi mới, làm mất lòng tin của nhân
dân với Đảng. Chính vì thế, vấn đề đổi mới công tác cán bộ nói chung, đổi mới
cán bộ lãnh đạo nói riêng, được Đảng xác định là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm và hết sức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên,
công tác đào tạo, quy hoạch cán bộ là cả một quá trình chọn lọc, vừa đòi hỏi
tính khoa học của nghệ thuật dùng người, lại vừa có tính đặc thù phải dựa trên
cơ sở lý luận của khoa học tổ chức và đào tạo qua thực tiễn.
Có thể nói công tác đào tạo, đánh giá cán bộ, đề bạt cán bộ, chính sách
cán bộ…đặt ra những yêu cầu hết sức cụ thể đối với cán bộ mỗi ngành, mỗi cấp,
mỗi địa phương, trong từng giai đoạn lịch sử và trong mỗi nhiệm vụ nhất định.


16
Nhưng nhìn lại những tiêu chí về phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn
của người cán bộ cách mạng mà Hồ Chí Minh đã nêu ra cách đây nhiều thập kỷ,
cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Có thể nói rằng từ việc nhìn nhận vai trò hết sức quan trọng của người
cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những tiêu chuẩn của
người cán bộ cách mạng, phải tự giác rèn luyện về mọi mặt, không ngừng nâng
cao phẩm chất, năng lực, để xứng đáng: “Vừa là người lãnh đạo vừa là người
đầy tớ trung thành của nhân dân”. Do đó, Người đề ra tiêu chuẩn của người cán
bộ không phải từ ý muốn chủ quan của bản thân, mà xuất phát từ yêu cầu khách
quan của sự nghiệp cách mạng.
Cách mạng muốn thành công, đất nước muốn độc lập, nhân dân được tự
do, hạnh phúc, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành,
đòi hỏi người cán bộ phải vừa có “đức” vừa có “tài”, vừa “hồng” vừa “chuyên”,
sẵn sàng hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, ở mọi lúc, mọi nơi, luôn đặt lợi
ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.
Theo Hồ Chí Minh: Đạo đức cách mạng là nguồn gốc của người cán

bộ. Đã là người cán bộ cách mạng thì phải có đạo đức cách mạng. Giữ được
đạo đức cách mạng mới có thể trở thành người cán bộ cách mạng chân chính.
Bởi vì: Mọi việc thành công hay thất bại, chủ yếu là do cán bộ có thấm nhuần
đạo đức cách mạng hay không. Người khẳng đinh: “Người Đảng viên, người
cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả.
Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ
quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công
vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng
thêm” [42, tr.251].
Hồ Chí Minh khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng
làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng”. Người coi đạo đức
của người cách mạng như gốc của cây, ngọn nguồn của suối của sông: “Cũng


17
như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có
gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [42, tr. 252].
Hồ Chí Minh cho rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội
mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề,
một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được
nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng,
mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [46, tr. 283].
Trên quan điểm đó, ngay từ những năm đầu chuẩn bị cho sự ra đời của
Đảng Cộng sản, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tư
cách của người cán bộ cách mạng trong các mối quan hệ: Đối với mình, đối
với người và đối với việc. Sau này, Người đề cập một cách cụ thể và nhấn
mạnh đến các tiêu chí, phẩm chất đạo đức cơ bản của người cán bộ, đảng viên.
- Một là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân
Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền

thống Nho giáo phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên,
mệnh đề này đã được Hồ Chí Minh sử dụng và đưa vào đó nội dung mới. Nếu
như trước kia, trung quân là trung thành với vua, vì vua là thiên tử gánh vác
mệnh trời trông coi vận nước, nước là nước của vua, thì nay phạm trù đó đã
được mang nội dung mới: trung với Đảng, trung với nước. Còn hiếu trước đây
chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình, là con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, nay nội
dung đó đã được mở rộng, ý nghĩa lớn lao hơn nhiều, không chỉ bó hẹp trong
phạm vi gia đình mà với toàn dân tộc.
Như vậy, tư tưởng trung với nước, hiếu với dân của Hồ Chí Minh không
những kế thừa giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn
vượt qua những hạn chế truyền thống đó. Trung với nước là trung thành với sự
nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân lại là chủ
nhân của đất nước. Hiếu với dân là thương dân, là phục vụ hết lòng để được dân


18
tin yêu, quý mến. Hiếu với dân trong đó có cha mẹ mình, phải biết phấn đấu hi
sinh, đem lại độc lập, tự do dân chủ, hạnh phúc cho dân, sống cuộc sống của dân,
nói tiếng nói của dân. Hiếu với dân là mỗi cán bộ, đảng viên phải biết tin vào dân,
dựa vào dân, gần gũi, giúp đỡ dân, lo cho cuộc sống của dân ngày càng tốt hơn.
Người nhấn mạnh: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho
dân thì phải hết sức tránh” [41, tr. 47].
Chính quyền phải có trách nhiệm lo cho dân: “Làm cho dân có ăn, làm
cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành”.
Hiếu với dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là mỗi cán bộ dù ở bất cứ cương
vị gì, giữ trọng trách gì cũng phải xuất phát từ dân, thực hành dân chủ, “làm sao
cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình,
dám nói, dám làm” [49, t.r 223].
Hồ Chí Minh dạy rằng, Đảng và Chính phủ trước hết là người lãnh đạo,
và là công bộc của nhân dân chứ không phải là “quan cách mạng”, không phải

để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”.
Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hi sinh vì độc lập tự do
của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội
Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào
cũng đánh thắng. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là
định hướng chính trị, đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong
cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.
- Hai là, gần dân, quan hệ mật thiết với nhân dân, yêu
thương con người
Hồ Chí Minh được thế giới tôn vinh là danh nhân văn hóa, trước hết bởi
tư tưởng nhân văn cao cả của Người. Đồi với cán bộ, một trong những yêu cầu
hàng đầu mà Người đặt ra là tinh thần hy sinh, phục vụ nhân dân, tin tưởng và
yêu mến nhân dân, quan hệ mật thiết với nhân dân,yêu thương đồng bào, yêu
nhân loại. Đối với Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người trước hết được dành


19
cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột: từ người
phu đường đến người bạn tù trong ngục tối và cả em bé đang nằm trong nôi.
Hồ Chí Minh yêu thương dân tộc, yêu thương con người và đó là điểm
xuất phát để Người ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng
nhân loại khỏi áp bức bất công. Người nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham
muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn
toàn tự do, đồng bào ta ai củng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" [41,
tr. 161].
Tình yêu thương bao la và sâu sắc này mang lại sức mạnh cho Hồ Chí
Minh, cho những người cách mạng vượt qua muôn trùng thử thách, khó khăn
trên đường cách mạng.
Với Hồ Chí Minh, yêu thương con người không phải chỉ tồn tại như một
đạo lý mà phải được thể hiện sinh động trong hoạt động hàng ngày giữa người

với người. Điều đó đòi hỏi mọi người phải luôn luôn chặt chẽ, nghiêm khắc với
bản thân mình, rộng rãi, độ lượng với người khác, phải biết cách nâng con
người lên chứ không phải là hạ thấp, càng không phải là vùi dập con người.
Tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở sự bao
dung đối với con người có sai lầm, khuyết điểm, nhưng đã nhận rõ sai lầm,
khuyết điểm và đang cố gắng sữa chữa. Người ví rằng, năm ngón tay có ngón
dài ngón ngắn, nhưng dù ngắn hay dài đều ở nơi bàn tay, vì thế "máu chảy ruột
mềm", dù dòng máu đó là máu của người Việt Nam hay máu của những thanh
niên Pháp đổ ra vì cuộc chiến tranh phi nghĩa.
Yêu thương con người còn được thể hiện bằng lẻ sống: sống có tình, có
nghĩa. Hồ Chí Minh trước lúc đi xa còn dặn lại cán bộ, đảng viên phải có tình
đồng chí, yêu thương lẫn nhau. Tình yêu thương được thể hiện trên nguyên tắc
phê bình và tự phê bình một cách chân thành, nghiêm túc, giữa những người có
cùng lý tưởng, cùng phấn đấu cho một sự nghiệp. Nó hoàn toàn xa lạ với thái độ
dĩ hòa vi quý, bao che khuyết điểm cho nhau. Nó càng xa lạ với thái độ yêu nên


20
tốt, ghén nên xấu, bè cánh là nguy cơ đưa đến những tổn thất cho Đảng, cho
cách mạng. Hồ Chí Minh nói: "nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có
nghĩa như thế. Từ khi có Đảng lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp
hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một
nhà. Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu
thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ
nghĩa Mác - Lênin được” [49, tr.554].
Ba là, cận, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: đây là phẩm chất đạo đức
gắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người, vì vậy, Hồ Chí Minh đã đề cập
đến phẩm chất này nhiều nhất, thường xuyên nhất, từ Đường cách mệnh cho đến
bản Di chúc cuối cùng.
Hồ Chí Minh đã sử dụng những khái niệm: cần, kiệm, liêm, chính, chí

công vô tư trong đạo đức học phương Đông và truyền thống đạo đức Việt Nam.
Người đã giữ lại những gì tốt đẹp nhất của quá khứ, lọc bỏ những gì không còn
phù hợp và đưa vào những nội dung mới, với mục tiêu vì sự nghiệp giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mỗi chữ: cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư đã được Hồ Chí Minh giải thích rất rõ, rất cụ thể và
dễ hiểu đối với mọi người.
Theo Hồ Chí Minh, đã là người cán bộ thì phải có đức tính Cần: tức là lao
động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao
động với tinh thần từ lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa
dẫm. Phải thấy rõ: "Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn
hạnh phúc của chúng ta". Người nói: Cần tứ là: "siêng năng, chăm chỉ, cố gắng
dẻo dai… nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó khăn mấy cũng làm được… Cần là
luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời" [42, tr 632-634]. Lười
biếng là kẻ địch của chữ Cần và cũng là kẻ địch của dân tộc.
Người cán bộ phải có ý thức về Kiệm: tức là tiết kiệm sức lao động, tiết
kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình: phải tiết kiệm


21
từ cái to, đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không
hoang phí, không bừa bãi" [42, tr. 636], không phô trương, hình thức, không liên
hoan, chè chén lu bù. Cần và kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của người.
Hồ Chí Minh còn ví cần mà không kiệm như thùng không đáy "Kiệm tức là
không lãng phí thời giờ, của cải nhân dân".
Người cán bộ phải nêu cao đức tính liêm tức là luôn luôn tôn trọng giữ
gìn của công và của cải của nhân dân, không xâm phạm một đồng xu, một hạt
thóc của nhà nước, của nhân dân. Phải "trong sạch, không tham lam, không
tham vị. Không tham tiền tài, không tham sung sướng. Không ham người tâng
bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một
thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ” [42, tr. 252].

Hồ Chí Minh đã chỉ ra những hành vi trái với chữ liêm như: "cậy quyền
thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư"
"Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm)
Gặp việc phải mà sợ khó nhọc, nguy hiểm, không dám làm là tham vật úy lạo.
Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử" [42, tr. 641].
Hồ Chí Minh khẳng định một dân tộc biết cần, kiệm, liêm là một dân tộc
giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ.
Người cán bộ phải Chính: “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng
đắn”[42, tr. 643].
Đối với mình: Không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ,
luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình.
Đối với người: Không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn
giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối
với việc: Để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì
thì quyết làm cho được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm,
việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Mỗi
ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân.


22
Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính, Người còn ví
những đức tính đó trong một con người như cây cần phải có gốc, rễ, cần phải có
cành, lá, hoa quả, mới hoàn toàn. Con người cũng phải hoàn toàn như vậy, đối
với người cán bộ cách mạng thì không thể thiếu bốn đức ấy. Bởi người cán bộ
phải làm gương trước, tức là làm cái cho người ta soi sáng để sửa, do vậy cán bộ
cách mạng phải chính trước mới giúp được người thành chính. Người nói: Mình
không chính mà muốn người khác chính là điều không thể. Mỗi cán bộ, đảng
viên cần, kiệm, liêm, chính là vô cùng cần thiết. Bởi vì: “Cán bộ các cơ quan,
các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có
quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút” [42, tr. 641].

Người cán bộ phải chí công vô tư: Ðem lòng chí công vô tư mà đối với
người, với việc”, “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi
hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “phải lo trước thiện hạ, vui sau thiên hạ”.
Đối lập với chí công vô tư là dĩ công vi tư, đó là điều mà đạo đức mới đòi
hỏi phải chống lại. Chí công vô tư về thực chất là sự thể hiện của các đức tính:
cần, kiệm, liêm, chính. Chỉ có người cán bộ nào thực sự cần, kiệm, liêm, chính
mới chí công vô tư; ngược lại, đã chí công vô tư một lòng vì nước, vì dân, vì
Đảng thì nhất định sẽ thực hiện cần, kiệm, liêm, chính và có nhiều tính tốt khác.
Theo Hồ Chí Minh, đã chí công vô tư thì khuyết điểm ngày càng ít mà những
tính tốt ngày càng thêm.
Bồi dưỡng phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư sẽ làm cho
con người vững vàng trước mọi thử thách: “giàu sang không thể quyến rũ,
nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”, và có thể: “trợn
mắt coi khinh ngàn lực sĩ, cúi đầu làm ngựa đám nhi đồng”.
Đạo đức được xác định là yêu cầu đầu tiên, quan trọng nhất, là gốc của
người cán bộ cách mạng, nhưng Hồ Chí Minh cũng không bao giờ xem nhẹ tài
năng. Người yêu cầu người cán bộ phải vừa có đức, vừa có tài. Người luôn nhấn
mạnh đến năng lực lãnh đạo và thực hành công việc của người cán bộ. Theo Hồ


23
Chí Minh, cán bộ tốt nhất thiết phải là người có đủ phẩm chất và năng lực, mà
những phẩm chất và năng lực đó phải biểu hiện được bằng những việc làm cụ thể,
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hồ Chí Minh không viết riêng một bài nào
dành cho tiêu chuẩn tài năng của người cán bộ, song tất cả các bài viết liên quan
đến cán bộ của người đều toát lên các yêu cầu cán bộ phải có năng lực, Đảng phải
có ý thức quý trọng và bồi dưỡng nhân tài.
Trước hết là tư tưởng quý trọng người hiền tài: “Chiêu hiền đãi sĩ”
được thể hiện rất rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ khi chuẩn bị giành
chính quyền và nhất là trong những ngày đầu cách mạng còn non trẻ, Hồ Chí

Minh đã có bài viết nổi tiếng để tập hợp người tài cho cách mạng Việt Nam là
Nhân tài và kiến quốc và Tìm người tài đức: “Nước nhà cần phải kiến thiết.
Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu
người có tài đức… Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền
năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể
làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ
biết ” [41, tr. 451].
Tài năng không bỗng dưng mà có, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ cách
mạng phải luôn chăm lo, rèn luyện, thực hiện lời dạy của Lênin: Học, học nữa,
học mãi!, và chính Người là tấm gương sáng về tinh thần tự rèn luyện nâng cao
trình độ, không ngừng học tập để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
Tài luôn đi đôi với đức, đức và tài có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Hồ Chí Minh luôn kết hợp chặt chẽ hai yêu cầu này khi đánh giá, giáo dục, sử
dụng cán bộ. Hồ Chí Minh giải thích một cách đúng đắn: đạo đức và tài năng
là hai mặt không thể tách rời trong mỗi người cán bộ cách mạng. Người luôn
coi trọng tiêu chí đạo đức, lấy đức làm gốc, làm nền tảng của người cách mạng.
Nhưng Người không bao giờ xem nhẹ tài năng. Cán bộ có tài mới làm được
việc. Theo Người: cán bộ “Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa,
không giúp ích gì được ai” [45, tr.184]. Ngược lại, có tài mà không có đức thì


24
nguy hiểm, dễ trở thành kẻ phá hoại có tính toán. Người yêu cầu cán bộ cán bộ
cách mạng phải vừa “hồng” vừa “chuyên”. Người cán bộ có tài là người có
trình độ, năng lực giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, giàu về kinh nghiệm, có
nhiều sáng kiến.
Trong Di chúc trước lúc đi xa, Người đã để lại nhưng lời căn dặn tâm
huyết của mình đối với thế hệ trẻ: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức
cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thứa kế xây dựng xã hội chủ
nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một

việc quan trọng và rất cần thiết” [49, tr. 498].
Rõ ràng, các tiêu chuẩn mà Hồ Chí Minh nêu ra về đức - tài của người cán
bộ cách mạng là yêu cầu cụ thể đối với mỗi người cán bộ, chứ không phải chỉ là
điều mong muốn, là lời nói suông. Đức - tài là hai nhân tố làm cho cán bộ nói
riêng, con người nói chung trở nên hữu ích đối với xã hội, không thể tách rời cũng
không thể tuyệt đối hóa mặt này mà phủ nhận hay xem nhẹ mặt kia.
Tóm lại, những quan điểm của Hồ Chí Minh về người cán bộ cách mạng
cho đến tận hôm nay vẫn còn nguyên giá trị và sức sống trong thực tiễn. Nó càng
có ý nghĩa trong sự nghiệp đổi mới đất nước, mà trước hết là sự vận dụng tư
tưởng của Người để đổi mới công tác tổ chức cán bộ trong giao đoạn hiện nay.
Tuy nhiên cần phải nói răng, đổi mới cán bộ là công việc hết sức hệ trọng,
đặc biệt là đổi mới cán bộ lãnh đạo, bởi nó liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt
động của cả bộ máy dưới quyền. Do đó, phải cân nhắc, xem xét phẩm chất đạo
đức và năng lực cán bộ được đề bạt một cách nghiêm túc, khách quan theo tiêu
chuẩn đức - tài mà Hồ Chí Minh đã nêu ra. Nếu không, sẽ rơi vào tình trạng “ô
dù”, cục bộ bè phái, hoặc dùng người tài không xứng với chức vụ được giao.
1.2.2. Người cán bộ phải có phương pháp lãnh đạo và phong cách công
tác tốt
Phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác hay nói theo cách mà Hồ
Chí Minh thường dùng chính là cách lãnh đạo và tác phong làm việc. Từ lâu


×