Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

Các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết bồi thường trong trách nhiệm bổi thường của Nhà nước và mô hình hóa các quy định pháp luật này

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (132.27 KB, 13 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Nhu cầu bồi thường thiệt hại cho các công dân, các tổ chức là nghĩa vụ,
trách nhiệm của một nhà nước dân chủ, “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”,
thể hiện sự bình đẳng, đối xử công bằng của pháp luật đối với các cơ quan Nhà
nước, cán bộ, công chức và mọi công dân.Chính vì vậy, việc ban hành Luật trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua
ngày 18/6/2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, là kịp thời
để đáp ứng các yêu cầu trên của xã hội công dân, trong một xã hội VN đang phát
triển đa dạng nhiều mặt. Một trong những yêu cầu góp phần thực hiện tốt Luật
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chính là việc quy định trình tự, thủ tục giải
quyết bồi thường nhà nước có cụ thể, rõ ràng hay không.
Vì vậy, ở bài viết này em xin đề cập đến vấn đề “Các quy định pháp luật
hiện hành về thủ tục giải quyết bồi thường trong trách nhiệm bổi thường của
Nhà nước và mô hình hóa các quy định pháp luật này”.
NỘI DUNG
I.

Quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết bồi thường
trong trách nhiệm bồi thường của nhà nước
Thủ tục giải quyết bồi thường hiểu theo nghĩa rộng là trình tự thực hiện và

giải quyết yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại.
Theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, thủ tục giải
quyết bồi thường bao gồm trình tự cơ bản sau:
- Yêu cầu giải quyết việc bồi thường;
- Thụ lí đơn yêu cầu bồi thường;
- Xác minh thiệt hại và thương lượng với người bị thiệt hại;
- Ban hành và chuyển giao quyết định giải quyết việc bồi thường;
- Chi trả tiền bồi thường.

1




1. Yêu cầu giải quyết việc bồi thường
Để bắt đầu thủ tục yêu cầu giải quyết việc bồi thường, trước hết người bị
thiệt hại phải gửi đơn yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. (Thủ tục xác định
hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ được áp dụng theo quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Trong quyết định giải quyết khiếu nại phải xác
định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại.
Về lí thuyết, trách nhiệm bồi thường của nhà nước phát sinh khi thỏa mãn
các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm này đó là: có hành vi trái pháp luật của
người thi hành công vụ, có thiệt hại thực tế xảy ra; có lỗi của người thi hành công
vụ; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành công
vụ với thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, để được bồi thường trên thực tế người bị thiệt
hại phải yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc bồi thường.
Khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành
công vụ, người yêu cầu bồi thường phải gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường đến cơ
quan có trách nhiệm bồi thường. Hồ sơ có thể được gửi trực tiếp hoặc thông qua
hệ thống bưu chính viễn thông đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
Theo Điều 16 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (LTNBTCNN)
quy định hồ sơ yêu cầu bồi thường:
1. Khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi
hành công vụ thuộc các trường hợp quy định tại Điều 13 của Luật này thì người
bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường
quy định tại Điều 14 của Luật này.
2. Đơn yêu cầu bồi thường có các nội dung chính sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;
b) Lý do yêu cầu bồi thường;
c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.
2



3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và tài
liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường”.
2. Thụ lí đơn yêu cầu bồi thường
Về Thụ lý đơn yêu cầu bồi thường được quy định rất cụ thể tại Điều 17
LTNBTTHCNN:
Khi nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải
kiểm tra và xác định tính hợp lệ của đơn và các giấy tờ kèm theo; trường hợp hồ
sơ không đầy đủ thì hướng dẫn người bị thiệt hại bổ sung.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn và các giấy tờ
hợp lệ, nếu xác định yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm giải quyết của mình
thì cơ quan đã nhận hồ sơ phải thụ lý và thông báo bằng văn bản về việc thụ lý
đơn cho người bị thiệt hại; trường hợp yêu cầu bồi thường không thuộc trách
nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã tiếp nhận hồ sơ phải trả lại hồ sơ và
hướng dẫn người bị thiệt hại gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu giải
quyết bồi thường”.
3. Xác minh thiệt hại và thương lượng
Thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra
cho thấy: người bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ thường đưa ra
nhiều loại chi phí với mức thiệt hại cao hơn so với mức các cơ quan có trách
nhiệm bồi thường đưa ra, thậm chí chênh lệch đến vài chục lần; trong một số
trường hợp do vụ việc xảy ra từ lâu và thời gian giải quyết keo dài nên người bị
thiệt hại đưa ra mức bồi thường rất cao và khó xác định; thông tin tài liệu chứng
minh thiệt hại khác nhau và khó xác định tính xác thực. Chính vì vậy, xác minh
thiệt hại và thương lượng là khâu quan trọng trong quá trình giải quyết bồi
thường; cần được tiến hành kĩ lưỡng, khách quan, công khai, minh bạch, nhằm
xác định chính xác thiệt hại.
3



a) Xác minh thiệt hại
Để xác định chính xác mức bồi thường, đảm bảo lợi ích hợp pháp cho cả
người bị thiệt hại, người thi hành công vụ gây ra thiệt hại và Nhà nước, Luật trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định các vấn đề liên quan đến xác minh thiệt
hại tại Điều 18: “Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi
thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt
hại để làm căn cứ xác định mức bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết
phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn xác minh thiệt hại có
thể kéo dài nhưng không quá 40 ngày.
Căn cứ vào tính chất, nội dung của vụ việc, cơ quan có trách nhiệm bồi
thường có thể tổ chức việc định giá tài sản, giám định thiệt hại về tài sản, giám
định thiệt hại về sức khoẻ hoặc lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan về việc
giải quyết bồi thường. Chi phí định giá, giám định được bảo đảm từ ngân sách
nhà nước.
Trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với kết quả định giá, giám định
mà yêu cầu định giá, giám định lại và được cơ quan có trách nhiệm bồi thường
đồng ý thì chi phí định giá, giám định lại do người bị thiệt hại chi trả, trừ trường
hợp kết quả định giá, giám định chứng minh yêu cầu định giá, giám định lại là có
căn cứ”.
b) Thương lượng việc bồi thường
Thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra xuất phát từ quan hệ hành chính
giữa cơ quan nhà nước với người thi hành công vụ. Tuy nhiên, bồi thường thiệt
hại do người thi hành công vụ gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng chứ không phải trách nhiệm hành chính; quan hệ giữa người bị
thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường – cơ quan nhà nước quản lí người
thi hành công vụ gây ra thiệt hại – là quan hệ dân sự chứ không phải là quan hệ

4



hành chính. Cho nên, thương lượng giữa người bị thiệt hại và cơ quan có trách
nhiệm bồi thường là thủ tục bắt buộc phải tiến hành trong giải quyết bồi thường.
Việc thương lượng việc bồi thường được quy định tại Điều 19 LTNBTCNN:
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan có
trách nhiệm bồi thường phải tổ chức và chủ trì thương lượng với người bị thiệt
hại về việc giải quyết bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp
thì thời hạn thương lượng có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày.
Thành phần thương lượng gồm đại diện cơ quan có trách nhiệm bồi thường
và người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ. Trong trường hợp cần thiết,
người thi hành công vụ gây ra thiệt hại được mời tham gia vào việc thương
lượng.Đại diện của cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải là người có thẩm
quyền để thỏa thuận việc bồi thường với người bị thiệt hại và chịu trách nhiệm
trước cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
Địa điểm thương lượng là trụ sở của cơ quan có trách nhiệm bồi thường
hoặc trụ sở của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị thiệt hại cư trú,
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Việc thương lượng phải lập thành biên bản. Biên bản thương lượng phải ghi
rõ những nội dung chính sau đây:
- Ngày, tháng, năm tiến hành thương lượng;
- Địa điểm thương lượng, thành phần tham gia thương lượng;
- Ý kiến của các bên tham gia thương lượng;
- Những nội dung thương lượng thành hoặc không thành.
Biên bản thương lượng phải có chữ ký của các bên và được gửi cho người bị
thiệt hại một bản ngay sau khi kết thúc thương lượng.
Kết quả thương lượng là cơ sở để quyết định việc bồi thường.

5



4. Ban hành và chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường
Về việc ban hành quyết định giải quyết bồi thường: trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày kết thúc việc thương lượng, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải ra
quyết định giải quyết bồi thường. Quyết định giải quyết bồi thường phải có các nội
dung chính sau đây:
- Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;
- Tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường;
- Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường;
- Mức bồi thường;
- Quyền khởi kiện tại Toà án trong trường hợp không tán thành với quyết
định giải quyết bồi thường;
- Hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường.
Quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi cho người bị thiệt hại, cơ
quan cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người thi hành
công vụ gây ra thiệt hại (Theo Điều 20 LTNBTCNN).
Việc chuyển giao quyết định được thực hiện theo thủ tục được quy định chi
tiết tại Điều 10 Nghị định 16/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước,
cụ thể:
- Việc chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại do một
trong những người sau đây thực hiện:
• Đại diện của cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
• Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, tổ chức
bị thiệt hại đặt trụ sở, trong trường hợp chuyển giao quyết định giải quyết
bồi thường thông qua Ủy ban nhân dân cấp xã;
• Những người khác do pháp luật quy định.
6



- Thủ tục chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường:
Người thực hiện việc chuyển giao phải trực tiếp chuyển giao quyết định giải
quyết bồi thường cho người bị thiệt hại. Người bị thiệt hại phải ký nhận vào biên
bản hoặc sổ giao nhận quyết định giải quyết bồi thường. Ngày ký nhận của người
bị thiệt hại được tính là ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường.
Trong trường hợp người bị thiệt hại vắng mặt thì quyết định giải quyết bồi
thường có thể được giao cho người thân có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư
trú với họ. Người thân của người bị thiệt hại phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ
giao nhận quyết định giải quyết bồi thường. Ngày ký nhận của người thân cùng
cư trú được tính là ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định giải quyết bồi
thường.
Trong trường hợp người bị thiệt hại không có người thân có đủ năng lực
hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng họ từ chối nhận hộ quyết định giải
quyết bồi thường thì có thể chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường thông
qua Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú.
Trong trường hợp việc chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường qua
người khác thì người thực hiện việc chuyển giao phải lập biên bản ghi rõ việc
người bị thiệt hại vắng mặt, quyết định giải quyết bồi thường đã được giao cho ai;
lý do; ngày, giờ giao; quan hệ giữa người nhận hộ với người bị thiệt hại; cam kết
giao ngay tận tay quyết định giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại. Biên
bản có chữ ký của người nhận chuyển quyết định giải quyết bồi thường và người
thực hiện việc chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường, người chứng kiến.
- Trong trường hợp người bị thiệt hại vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về
hoặc không rõ địa chỉ thì người thực hiện việc chuyển giao quyết định giải quyết
bồi thường phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc chuyển giao.
Biên bản phải có chữ ký của người cung cấp thông tin về người bị thiệt hại.

7



- Trong trường hợp người bị thiệt hại từ chối nhận quyết định giải quyết bồi
thường thì người thực hiện việc chuyển giao phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý
do của việc từ chối, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố hoặc Ủy ban nhân dân,
công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận quyết định giải quyết
bồi thường.
5. Chi trả tiền bồi thường
Căn cứ vào quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực của cơ quan có
trách nhiệm bồi thường hoặc bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thực hiện việc chi trả tiền bồi thường cho
người bị thiệt hại theo quy định tại chương VI Luật trách nhiệm bồi thường của
nhà nước.
II.

Mô hình hóa các quy định pháp luật

8


MÔ HÌNH THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

9


Cá nhân, tổ

(1)

(1)

Cơ quan nhà


chức cho rằng

Hồ sơ yêu cầu

nước có thẩm

bị thiệt hại

BTTH

quyền
(2)

Thương lượng

(4)
(5)

(3)

Xác minh thiệt

Thụ lí hoặc
không thụ lí

hại
(7)

(5)


Quyết định giải

Thực hiện chi trả

Trả lại

quyết bồi

việc việc bồi

hồ sơ

thường hại

thường

(6)

(1)tối đa 2 năm kể từ ngày có quyết định về việc họ thuộc trường hợp được bồi
thường;
(2)trong5 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;
(3) trong 20 ngày kể từ ngày thụ lí đơn yêu cầu, trong trường hợp đặc biệt cũng
không quá 40 ngày;
(4) tối đa30 ngày kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, trường hợp đặc biệt
cũng không quá 45 ngày;
10


(5) trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc việc thương lượng;

(6) 5 ngày kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật.
(7) Trường hợp không thuộc trách nhiệm giải quyết.
LỜI KẾT
Việc tìm hiểu những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của
nhà nước, đặc biệt là những quy định về thủ tục giải quyết bồi thường giúp mỗi cá
nhân, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính mình khi bị cơ quan nhà
nước gây thiệt hại trái pháp luật. Từ đó giúp Luật trách nhiệm bồi thường của nhà
nước thực hiện tốt nhiệm vụ đặt ra: bảo đảm quyền công dân, quyền con người
trong đó có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà
nước gây ra khi thi hành công vụ.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

11


1. Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước số 35/2009/QH12 ngày 18 tháng
6 năm 2009.
2. Nghị định số 16/2010/NĐ-CPngày 03 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ Quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước.
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng Luật Trách nhiệm bồi thường
của nhà nước, NXB.CAND, Hà Nội, 2011.

12



×