Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử vụ án tham nhũng của tòa án nhân dân ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.52 MB, 90 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ THỊ THÚY HÒA

N¢NG CAO HIÖU QU¶ HO¹T §éNG XÐT Xö Vô ¸N
THAM NHòNG CñA TßA ¸N NH¢N D¢N
ë viÖt NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành : Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Ngọc Quang

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những
kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Tạ Thị Thúy Hòa


MỤC LỤC


Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÉT XỬ VỤ ÁN THAM
NHŨNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY................... 6
1.1. Các khái niệm có liên quan đến xét xử các vụ án tham nhũng ........... 6
1.1.1. Khái niệm xét xử vụ án hình sự ....................................................... 6
1.1.2. Khái niệm xét xử vụ án tham nhũng ............................................... 9
1.2. Quá trình phát triển của pháp luật tố tụng hình sự về xét xử vụ
án tham nhũng................................................................................................ 11
1.2.1. Giai đoạn 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình
sự năm 1988................................................................................................ 11
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
đến năm nay ............................................................................................... 14
1.3. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xét xử vụ án tham nhũng............. 18
1.3.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xét xử vụ án hình
sự nói chung ............................................................................................... 18
1.3.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đặc điểm xét xử vụ
án tham nhũng ........................................................................................... 21
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ VỤ ÁN THAM NHŨNG VÀ
NHỮNG KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ
VỤ ÁN THAM NHŨNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN ..................................... 35
2.1. Thực tiễn hoạt động xét xử vụ án tham nhũng .................................... 35
2.2.1. Những kết quả đạt được .................................................................. 35


2.1.2. Những tồn tại trong xét xử các vụ án tham nhũng ........................ 42

2.1.3. Những nguyên nhân gây nên những tồn tại trong xét xử vụ án
tham nhũng ................................................................................................ 51
2.2. Các kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử vụ
án tham nhũng................................................................................................ 58
2.2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xét xử vụ án tham nhũng ..........58
2.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự liên
quan đến xét xử vụ án tham nhũng .......................................................... 61
2.2.3. Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhằm bảo đảm hiệu
quả xét xử vụ án tham nhũng.................................................................... 66
2.2.4. Đào tạo và hoàn thiện đội ngũ thẩm phán về những vấn đề
liên quan đến xét xử vụ án tham nhũng ................................................... 75
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 82


DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng số 2.1: số liệu các vụ án tham nhũng được điều tra, truy tố, xét xử ...... 35
Bảng số 2.2: Thống kê theo tội danh tham nhũng bị đưa ra xét xử ................ 37
Bảng số 2.3: kết quả phiên tòa xét xử vụ án tham nhũng .............................. 40
Bảng số 2.4: tỷ lệ áp dụng hình phạt cho hướng án treo................................. 49


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đưa ra các chủ
trương, đường lối và chính sách nhằm hoàn thiện thể chế và các cơ chế phòng
ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới, xác định công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và

xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm
phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức…
Tiếp đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 nhấn mạnh phải quy định trách nhiệm hình sự nghiêm
khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp
luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Điều này còn
được thể hiện trên nhiều phương diện, như việc xây dựng một khung pháp
luật về xử lý hình sự đối với tội phạm tham nhũng theo hướng đầy đủ, rõ ràng
với chế tài đủ nghiêm khắc; bước đầu bảo đảm thẩm quyền cần thiết cho các
cơ quan tư pháp hình sự cũng như bảo đảm cơ chế phối hợp, tham gia của các
cơ quan khác và người dân vào hoạt động xử lý đối với tội phạm tham
nhũng. Kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh chống tham nhũng cho thấy có thể
thực hiện bằng nhiều biện pháp, nhưng đấu tranh thông qua các công cụ pháp
luật và tư pháp là biện pháp đấu tranh công khai, minh bạch, hiệu quả cao,
được nhân dân đồng tình, vì vậy tạo ra hiệu ứng xã hội mạnh mẽ trong việc
củng cố lòng tin của người dân vào pháp luật, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, không phải không có lúc, có nơi chúng ta xử lý thiếu kiên
quyết, không công khai những người có chức quyền phạm tội tham nhũng vì
sợ làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước, sợ bị “địch lợi dụng”. Nhưng điều

1


đó đã phản tác dụng vì nó gây mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của Nhà nước và là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ
ta. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp của Quố c hô ̣i về báo cáo công tác
phòng, chố ng tham nhũng năm 2012 của Chính phủ chỉ ra : “…việc xử lý
nghiêm minh hành vi tham nhũng, nhất là các vụ án tham nhũng đặc biệt lớn
chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn nhiều người có hành vi tham nhũng
với tài sản có giá trị lớn nhưng chỉ bị xử phạt kỷ luật hoặc phạt tù nhưng cho

hưởng án treo”. Nhận thức được những tác hại của tham nhũng và sự cần
thiết của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tác giả chọn đề tài
“Nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử vụ án tham nhũng của Tòa án nhân
dân ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự nói chung, các vụ án tham
nhũng nói riêng luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo cũng như thường xuyên
được các nhà khoa học, học viên cao học, nghiên cứu sinh chọn làm đề tài
nghiên cứu. Cụ thể như: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần các tội phạm),
Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Lê Cảm chủ biên; Giáo trình Luật Hình sự
Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội; Sách chuyên khảo "Tìm hiểu trách nhiệm
hình sự đối với các tội phạm về chức vụ" của GS.TS Võ Khánh Vinh; Sách
"Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng trong Luật
hình sự Việt Nam" của GS. TS Đỗ Ngọc Quang; Sách "Nhận diện tham nhũng
và các giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay" của
PGS.TSKH Phan Xuân Sơn và Ths. Phạm Thế lực đồng chủ biên.v.v... .
Các luận văn, luận án, công trình khoa học trực tiếp hoặc gián tiếp như: Đề
tài khoa học cấp Bộ. TS Nguyễn Văn Thanh, nguyên Viện trưởng Viện Khoa
học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ chủ nhiệm: Thực trạng và nguyên nhân
tham nhũng ở Việt Nam; Đề tài "Tham nhũng và chống tham nhũng ở Việt

2


Nam" do PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí làm chủ nhiệm. Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Trường (Đại học Luật Hà Nội) "Các tội phạm về tham nhũng có tính
chất chiếm đoạt tài sản và đấu tranh phòng chống các tội này ở Việt Nam
trong xu thế hội nhập quốc tế" do PGS.TS Dương Tuyết Miên chủ nhiệm đề
tài v.v... . Luận án tiến sĩ luật học: Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham
nhũng ở Việt Nam hiện nay, tác giả Trần Đăng Vinh (Đại học Luật Hà Nội);

Luận án tiến sĩ luật học: Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự
Việt Nam, tác giả Trần Văn Đạt (Học viện Kỹ thuật quân sự, năm bảo vệ
2012); Luận án tiễn sĩ luật học: Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng trong giải quyết vụ án hình sự, tác giả Nguyễn Trung Kiên (Cao học hình
sự 14, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội);
Bài viết "Nguyên nhân và hướng khắc phục những vướng mắc trong
đấu tranh với tội phạm về tham nhũng ở nước ta hiện nay" của tác giả Hồ
Thế Hòe, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2013; Bài viết "Một số kinh
nghiệm từ thực tiễn giải quyết các vụ án tham nhũng ở cấp phúc thẩm"
của tác giả Lê Thành Dương, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2015; Bài viết “Hiệu
quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình
sự trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN” đăng trên Tạp
chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (Chuyên san kinh tế - Luật), số 22002; Bài tham luận “Một số kiến nghị và giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng” của ông Vũ Tiến Chiến,
Ủy viên Trung ương Đảng, ủy viên thường trực - Chánh Văn phòng Ban
Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng tại phiên họp ngày 14/1
Đại hội XI của Đảng.
Tuy nhiên đề tài mà tác giả lựa chọn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt
động xét xử các vụ án về tham nhũng. Cho đến nay nội dung này chưa được
nghiên cứu một cách có hệ thống trong khoa học luật hình sự Việt Nam.

3


3. Đối tƣợng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động xét xử các vụ án tham
nhũng của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay.
Mục đích của luận văn là nghiên cứu và đánh giá kết quả đạt được cũng
như những tồn tại, thiếu sót và nguyên nhân của những tồn tại, thiếu sót trong
hoạt động xét xử vụ án tham nhũng hiện nay. Từ đó đề ra các giải pháp nâng

cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động xét xử vụ án tham nhũng ở nước ta.
Nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu tình hình tội phạm tham nhũng ở
nước ta hiện nay. Những kết quả đã đạt được thông qua hoạt động xét xử vụ
án tham nhũng trong thời gian qua. Những tồn tại, thiếu sót và nguyên nhân
những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động xét xử vụ án tham nhũng; đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử vụ án tham nhũng.
4. Các phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
về Nhà nước và Pháp luật; Luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ
yếu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử
dụng các phương pháp như: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu
lịch sử…để làm sáng tỏ các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng
những vấn đề lý luận và thực tiễn được nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu
Xét xử các vụ án tham nhũng có hiệu quả đang là đòi hỏi hết sức cấp
thiết của xã hội hiện nay. Trong phạm vi của luận văn này tác giả xin giới hạn
nghiên cứu ở một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động xét xử vụ án
tham nhũng của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay từ năm 2011 đến 6
tháng đầu năm 2015.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên, bước đầu nghiên cứu hoạt động
xét xử vụ án tham nhũng cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử các

4


vụ án tham nhũng của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay. Luận văn đã có
những đóng góp mới cho khoa học pháp lý.
Ngoài ra luận văn còn là tài liệu tham khảo cho quá trình học tập,
nghiên cứu về tội phạm tham nhũng; hoạt động xét xử của tòa án nhân dân

nói chung, hoạt động xét xử vụ án tham nhũng của tòa án nhân dân nói riêng.
Đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tham
nhũng đang diễn ra hết sức trầm trọng như hiện nay.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài luận văn được
chia làm 2 chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề chung về xét xử vụ án tham nhũng của Tòa
án nhân dân ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2. Thực tiễn xét xử vụ án tham nhũng và những kiến nghị, giải
pháp nâng cao hiệu quả xét xử vụ án tham nhũng của Tòa án nhân dân ở Việt
Nam hiện nay.

5


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÉT XỬ VỤ ÁN THAM NHŨNG
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Các khái niệm có liên quan đến xét xử các vụ án tham nhũng
1.1.1. Khái niệm xét xử vụ án hình sự
Theo Từ điển Luật học (trang 869): “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh
giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức
độ pháp lí của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết
tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét
xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính…)”.
Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lí thông dụng: Xét xử là hoạt động do Tòa án tiến
hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Tòa án sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án
một cách khách quan toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành
giải quyết và xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định cần thiết có
liên quan. Thuật ngữ “xét xử”, hiểu theo nghĩa là một giai đoạn tố tụng quan

trọng - được thể hiện thông qua hình thức phiên tòa - là nơi nhìn nhận công
khai kết quả của nhiều hoạt động khác như điều tra, truy tố, giám định, bào
chữa.... để Tòa án độc lập phán quyết, thể hiện quyền lực Nhà nước, về bản
chất của vụ án.
Tòa án của bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều có chức năng
xét xử. Xét xử có vai trò rất lớn trong việc giữ vững ổn định và phát triển
của xã hội. Sự ổn định của trật tự pháp luật trong nước, việc giữ vững kỷ
cương xã hội, sự tự do và an toàn của con người... một phần quan trọng
phụ thuộc vào hoạt động xét xử của Tòa án. Bằng việc xét xử nghiêm
minh, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội chẳng những có tác dụng trừng
trị các phần tử phạm tội, giáo dục, cải tạo họ mà đồng thời còn góp phần
ngăn chặn, phòng ngừa các vi phạm trong xã hội. Bằng việc giải quyết

6


đúng các tranh chấp, Toà án góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của các tổ
chức, cá nhân, tạo thuận lợi cho các giao dịch dân sự, kinh tế phát triển
lành mạnh.
Quá trình tiến hành giải quyết một vụ án hình sự trải qua rất nhiều giai
đoạn khác nhau. Trong đó có thể coi việc xét xử vụ án hình sự có một ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc giải quyết một vụ án hình sự bởi chỉ trong quá
trình xét xử các chứng cứ mới được công khai và quyết định bị cáo có tội hay
không có tội. Hiến pháp năm 2013 khẳng định Tòa án nhân dân tối cao, các
Tòa án khác do luật định là những cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp,
tức có chức năng xét xử các vụ án, giải quyết các việc có tranh chấp theo
thẩm quyền quy định. Mọi bản án do các Toà án tuyên đều phải qua xét xử.
Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết
tội của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng nhiệm vụ của

các Toà án. Các Toà án là các cơ quan duy nhất của Nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm nhiệm chức năng xét xử. Hiến pháp năm
1992 quy định hệ thống tòa án gồm: “Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án
nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật
định”. Quy định này là nhằm xác định Tòa án được tổ chức theo địa giới
hành chính địa phương từ cấp huyện đến cấp tỉnh. Nghĩa là, có đơn vị
hành chính cấp huyện hoặc cấp tỉnh thì đồng thời có Tòa án cấp huyện
hoặc Tòa án cấp tỉnh. Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư
pháp đã xác định tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử không phụ
thuộc vào địa giới hành chính. Vì vậy, Hiến pháp năm 2013 đã thể chế
quan điểm này về tổ chức Tòa án nhân dân, cụ thể là: Khoản 2 Điều 102
Hiến pháp sửa đổi quy định “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối
cao và các Tòa án khác do Luật định”. Căn cứ quy định trên, Điều 3

7


Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định Tổ chức Tòa án
nhân dân gồm có: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao,
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân
sự. Như vậy so với quy định trước đây, có bổ sung thêm quy định về Tòa
án nhân dân cấp cao. Tuy nhiên vấn đề xác định tổ chức hệ thống Tòa
án theo cấp xét xử không phụ thuộc vào địa giới hành chính vẫn chưa
được giải quyết.
Xét xử vụ án hình sự, như trên đã phân tích bao gồm hai giai đoạn là xét
xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện
nghiêm ngặt nguyên tắc hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm.
Trong đó, xét xử sơ thẩm được quy định chặt chẽ từ thẩm quyền xét xử,
chuẩn bị xét xử, những quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa cho

đến khi xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án. Bởi vì xét xử sơ
thẩm là xét xử lần thứ nhất, là giai đoạn trung tâm và có vai trò quan trọng
bậc nhất do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp
luật. Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong
đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm
đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị nhằm
kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm.
Như vậy, xét xử vụ án hình sự là việc tòa án đánh giá một cách toàn
diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự để
quyết định có hành vi phạm tội xảy ra hay không, những tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị đưa ra xét xử để từ đó đưa ra một
bản án (quyết định) một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm
bảo sức thuyết phục tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người vô tội.

8


1.1.2. Khái niệm xét xử vụ án tham nhũng
“Tham nhũng” là một thuật ngữ có nghĩa rộng, được tranh luận khá sôi
nổi trong các nghiên cứu về tham nhũng trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Theo Từ điển Luật học - Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thì tham nhũng
là “hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hưởng lợi ích vật chất trái pháp luật,
gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt động
đúng đắn của cơ quan, tổ chức”. Ở nước ta hiện nay, từ “tham nhũng” thường
được dùng để chỉ hành vi đòi hối lộ và nhận hối lộ của những người có quyền
lực trong bộ máy Nhà nước, còn từ “tham ô” được dùng để chỉ hành vi ăn cắp
tài sản công. Tham nhũng diễn ra trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh
tế - xã hội ở Việt Nam. Hội nghị Trung ương IX đã chỉ rõ, tệ tham nhũng, tiêu
cực nổi lên nóng bỏng nhất trên 4 lĩnh vực chủ yếu, đó là: xây dựng cơ bản,

quản lý và sử dụng đất đai, sử dụng ngân sách công và việc chi tiêu của các
doanh nghiệp Nhà nước.
Điều 3, Luật phòng, chống tham nhũng quy định 12 hành vi tham
nhũng, bao gồm: Tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Lạm dụng chức vụ, quyền
hạn chiếm đoạt tài sản; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành
nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công
vụ vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác
để trục lợi; Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; Đưa hối lộ, môi giới hối lộ
được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc
của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ,
quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; Nhũng nhiễu
vì vụ lợi; Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi;
cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán,
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. Tuy nhiên, không phải mọi

9


hành vi tham nhũng đều bị xử lý về mặt hình sự mà chỉ những hành vi hội
đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự thì mới
được xác định là tội phạm và bị xử lý bằng biện pháp hình sự. Cụ thể, Bộ
luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định các
hành vi tham nhũng ở phần các tội phạm về tham nhũng như sau: Tội tham
ô tài sản (Điều 278); Tội nhận hối lộ (Điều 279); Tội lạm dụng chức vụ,
quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn
trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi (Điều 281); Tội lạm quyền
trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi (Điều 282); Tội lợi dụng
chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi (Điều 283);
và Tội giả mạo trong công tác vì vụ lợi (Điều 284).

Như phần trên đã trình bày, xét xử vụ án hình sự là việc tòa án đánh giá
một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ
án hình sự để quyết định có hành vi phạm tội xảy ra hay không, những tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị đưa ra xét xử để từ
đó đưa ra một bản án một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và
đảm bảo sức thuyết phục, tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người vô tội.
Xét xử vụ án tham nhũng cũng là xét xử vụ án hình sự, nhưng về các tội về
tham nhũng được quy định trong Bộ luật hình sự nhằm mục đích đánh giá có
hành vi tham nhũng xảy ra hay không, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của người có hành vi tham nhũng bị đưa ra xét xử để từ
đó đưa ra một bản án (quyết định) một cách công minh và đúng pháp luật, có
căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục tránh bỏ lọt tội phạm về tham nhũng và
không kết án oan người vô tội.
Như vậy, xét xử vụ án tham nhũng là việc Tòa án có thẩm quyền đưa
vụ án hình sự về tội tham nhũng bị Viện Kiểm sát truy tố ra xét xử nhằm đánh
giá có hành vi tham nhũng xảy ra hay không, những tình tiết tăng nặng, giảm

10


nhẹ trách nhiệm hình sự của người có hành vi tham nhũng bị đưa ra xét xử để
từ đó đưa ra một bản án (quyết định) một cách công minh và đúng pháp luật,
có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục, tránh bỏ lọt tội phạm về tham nhũng
và không kết án oan người vô tội.
1.2. Quá trình phát triển của pháp luật tố tụng hình sự về xét xử
vụ án tham nhũng
1.2.1. Giai đoạn 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự
năm 1988
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời. Ngay từ khi thành lập, chính quyền còn non trẻ đã bắt tay

ngay vào công cuộc kiến thiết đất nước, đồng thời sẵn sàng chống lại mọi âm
mưu xâm lược của các thế lực thù địch bên ngoài và tay sai. Đảng Cộng sản
Việt Nam lúc này đã chỉ rõ, muốn đấu tranh thắng lợi với kẻ thù và vượt qua
mọi khó khăn đòi hỏi phải huy động sức mạnh của toàn thể dân tộc, thực hiện
khối đại đoàn kết toàn dân, nhất là phải xây dựng củng cố chính quyền nhân
dân. Đây là một nhiệm vụ hết sức mới mẻ và đầy khó khăn. Trong quá trình
hoạt động của Nhà nước ta, cũng đã bắt đầu có hiện tượng một số người cố
tình lợi dụng địa vị của mình trong bộ máy chính quyền để mưu lợi cá nhân,
tham ô, lãng phí.
Thực tế lịch sử cho thấy, tham nhũng tồn tại trong mọi quốc gia và
không loại trừ đối với chế độ xã hội nào. Nhận biết được sự nguy hiểm của
tham nhũng, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,
ngay sau khi lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành được chính quyền, thành lập
Nhà nước công nông đã chú trọng đến việc ban hành những văn bản, tạo cơ
sở pháp lý để ngăn chặn, trừng trị các tội phạm tham nhũng. Ngày
23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh
tra đặc biệt. Tại Điều 3 Sắc lệnh này quy định: Sẽ thiết lập ngay, tại Hà Nội

11


một Tòa án đặc biệt để xử những nhân viên của các Ủy ban nhân dân hay các
cơ quan của Chính phủ do Ban Thanh tra truy tố. Điều 6 Sắc lệnh quy định:
Tòa án đặc biệt có toàn quyền định án, có thể tuyên án tử hình. Những án
tuyên lên sẽ thi hành trong 48 giờ. Có thể nói trong hoàn cảnh khó khăn và
phức tạp lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước ta đã có những biện
pháp kịp thời để đấu tranh với những vi phạm trong đội ngũ cán bộ chính
quyền của mình, tỏ rõ thái độ đấu tranh không khoan nhượng với hành vi
tham nhũng. Sắc lệnh 64/SL cùng với sự ra đời của Tòa án đặc biệt là văn bản
pháp lý và một trong những cơ quan có thẩm quyền đầu tiên về đấu tranh

chống tham nhũng ở Nhà nước ta. Nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng đã bị
phát hiện và xử lý, mang lại niềm tin cho nhân dân vào chế độ.
Ngày 24/01/1946 Chủ tịch chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Tòa án và các ngạch
thẩm phán. Sắc lệnh đã quy định về việc tuyên thệ khi nhậm chức của phụ
thẩm: "Tôi thề trước Công lý và nhân dân rằng tôi sẽ suy xét cẩn thận những
án đem ra xử, không hề ăn hối lộ, vị nể, vì sợ hãi, vì tư lợi hay thù oán riêng
mà bênh vực hay làm hại một bị can nào".
Trong tình hình đất nước phức tạp, thù trong giặc ngoài nhưng Đảng
và Nhà nước vẫn hết sức quan tâm đến việc ban hành những văn bản, tạo cơ
sở pháp lý để ngăn chặn, trừng trị các tội phạm tham nhũng, điển hình là Sắc
lệnh số 223/SL ngày 27 tháng 11 năm 1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm,
biển thủ công quỹ. Trong văn bản này đã xác định chủ thể của loại tội phạm
này là công chức và nhân viên Chính phủ, trong các Ủy ban hành chính các
cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ đội và tất cả người phụ trách
trong một công vụ. Như vậy, có thể thấy khi đó pháp luật của chúng ta đã các
định khá rộng về chủ thể của tội tham nhũng và được hiểu có thể là bất kỳ ai
có chức vụ, quyền hạn. Sắc lệnh số 223/SL đã có những quy định nghiêm

12


khắc đối với kẻ tham nhũng như “Tội đưa hối lộ cho công chức, tội công
chức nhận hối lộ hoặc phù lạm, hoặc biển thủ công quỹ, hay của công dân
đều bị phạt khổ sai từ 5 năm đến 20 năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ,
phù lạm hay biển thủ. Tang vật hối lộ bị tịch thu sung công: Người phạm tội
còn có thể bị xử tịch thu nhiều nhất đến ba phần tư gia sản; Các đồng phạm
và tòng phạm cũng bị phạt như trên” (Điều 1). Đồng thời Sắc lệnh cũng thể
hiện thái độ nhân đạo khoan hồng và sự công bằng đối với người đưa hối lộ,
phân biệt kẻ cố tình và vô tình, người bị bắt ép hoặc đã có hành vi tố giác như

tại điều 2 “Người phạm tội đưa hối lộ cho một công chức mà tự ý cáo giác
cho nhà chức trách việc hối lộ ấy và chứng minh rằng đưa hối lộ là vì bị công
chức cưỡng bách ước hứa hay là dùng cách trá ngụy thì người ấy được miễn
hết các tội. Trong trường hợp này, tang vật hối lộ được hoàn lại”.
Ngoài tội hối lộ, Sắc lệnh này còn ghi nhận các hình thức của tội tham
ô dưới các tên gọi “phù phạm, biển thủ công quỹ”, thực chất đây là những
biểu hiện cụ thể của tội tham ô. Các hình phạt với tội này đều rất nghiêm
khắc, thể hiện sự đấu tranh không khoan nhượng của Đảng và Nhà nước ta.
Sắc lệnh số 223/SL mặc dù còn hết đơn giản nhưng việc truy tố các tội
hối lộ hoặc phù lạm, hoặc biển thủ công quỹ đã thể hiện chính sách hình sự
nhất quán của Nhà nước ta đối với các tội phạm tham nhũng mà điển hình là
tội tham ô và nhận hối lộ, cũng như chú trọng động viên, khuyến khích người
chủ động tố giác các hành vi tham nhũng.
Tiếp sau đó các quy định về tham nhũng và tội phạm tham nhũng được quy
định rải rác trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên có thể kể đến một số văn bản
pháp luật quy định trực tiếp như: ngày 09/9/1964, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ
thị số 84/TTg về việc tổng hợp tình hình tham ô, lãng phí, quan liêu; Quyết định
số 207/CP ngày 06/12/1962 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập
Ban chỉ đạo Trung ương cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường
quản lý kinh tế, tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu;

13


Điển hình trong số văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng là
Bộ luật Hình sự năm 1985. Bộ luật đã xây dựng nhiều điều quy định cụ thể về
các tội danh liên quan tới tham nhũng. Trong đó, Luật đã quy định tương đối
rõ ràng về hành vi phạm tội, giá trị tài sản bị chiếm đoạt để làm căn cứ để tiến
hành truy tố, xét xử tội phạm về tham nhũng.
Trên cơ sở Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành, Bộ luật tố tụng

hình sự được ban hành năm 1988 quy định những vấn đề liên quan đến xét xử
vụ án hình sự nói chung và xét xử các vụ án tham nhũng nói riêng.
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
đến năm nay
Sau khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 có liên quan đến
đến xét xử vụ án tham nhũng, ngày 16/6/1990 Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) đã có Quyết định số 240 - HĐBT nhằm tập trung đấu tranh chống
tệ nạn tham ô, hối lộ, cố ý làm trái chính sách, luật pháp và sử dụng lãng phí
tiền bạc, tài sản của Nhà nước. Đây là một trong những văn bản pháp luật
sớm nhất của Nhà nước sử dụng thuật ngữ “tham nhũng”; Chỉ thị số 64 CT/TW ngày 10/10/1990 của Ban Bí thư về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống
tham nhũng; Chỉ thị số 416/CT ngày 03/12/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng về việc tăng cường công tác thanh tra, điều tra xử lý các việc tham
nhũng và buôn lậu; Ngày 06/12/1990 Tòa án nhân dân tối cao đã ra Chỉ thị số
08/CT-TATC về việc triển khai chống tham nhũng, chống buôn lậu qua biên
giới và một số tội phạm kinh tế khác; Quyết định số 114/TTg ngày
21/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách nhằm
ngăn chặn và bài trừ tệ nạn tham nhũng và buôn lậu; Ngày 20/11/1992 Bộ
Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 15 - CT/TW về việc tiếp tục ngăn chặn và bài
trừ tệ nạn tham nhũng. Những năm sau đó, xác định tham nhũng là một trong
những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa, ngày 15

14


tháng 5 năm 1996 Bộ Chính trị đã ban hành tiếp Nghị quyết số 14 - NQ/TW
về lãnh đạo của Đảng đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng; Nghị quyết
của Quốc Hội ngày 30/12/1993 về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống
tham nhũng, chống buôn lậu v.v... .
Thực hiện chỉ đạo của Đảng về chống tham nhũng, trong nhiều năm
qua, Quốc hội đã tập trung xây dựng nhiều văn bản pháp luật liên quan tới

cuộc đấu tranh này. Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 20/3/1993 của
TAND Tối cao - VKSND Tối cao - Bộ Nội vụ - Bộ Tư pháp hướng dẫn áp
dụng một số điều quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
hình sự được ban hành, thì chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể
hành vi nào là tham nhũng. Trong Thông tư số 02/TTLN ngày 20/3/1993, có
nêu 11 loại hành vi phạm tội “có tính chất tham nhũng” cần được xử phạt
nghiêm khắc. Trong mục 2 - Về đường lối xử lý, Thông tư nêu rõ:“a. Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày
22/12/1992 phục vụ cuộc đấu tranh chống tội phạm đang diễn biến phức tạp
hiện nay, đặc biệt là phục vụ cuộc đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu,
làm hàng giả... các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung lần
này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ, cho nên,
đối với những người mà từ ngày 2/1/1993 trở đi phạm một trong các tội được
quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22/12/1992, thì phải xử phạt
nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà
trước ngày 2/1/1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới
được thông qua ngày 22/12/1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy
định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho
thoả đáng. b. Các tội có tính chất tham nhũng cần phải bị xử lý nghiêm khắc
là các tội được liệt kê dưới đây: Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều
133); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trong trường hợp

15


người phạm tội có lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm d khoản 2 Điều 134).
Tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trong trường hợp
người phạm tội có lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm d khoản 2 Điều 135);
Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa trong trường hợp người phạm
tội có lợi dụng chức vụ quyền hạn (khoản 2 Điều 137); Tội lạm dụng chức vụ,

quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 156); Tội cố ý làm trái quy
định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong trường
hợp người phạm tội có vụ lợi hoặc động cơ cá nhân (điểm a khoản 2 Điều
174); Tội lập quỹ trái phép (Điều 175); Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc
lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 221); Tội giả mạo trong công tác
(Điều 224); Tội nhận hối lộ (Điều 226); Tội đưa hối lộ trong trường hợp
người phạm tội sử dụng công quỹ để đưa hối lộ (điểm e khoản 2 Điều 227)”.
Ngày 26/02/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội đã ban hành Pháp lệnh số
03/1998/PL-UBTVQH10 - Pháp lệnh chống tham nhũng. Theo Pháp lệnh
này, các hành vi tham nhũng bao gồm: Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa;
Nhận hối lộ; Dùng tài sản xã hội chủ nghĩa làm của hối lộ; lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để đưa hối lộ, môi giới hối lộ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa
đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản xã hội chủ nghĩa; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản
xã hội chủ nghĩa; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của cá
nhân; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ để
vụ lợi; Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ để vụ lợi; Lợi dụng
chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để vụ lợi; Lập quỹ trái
phép để vụ lợi; Giả mạo trong công tác để vụ lợi.
Đặc biệt, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có hẳn một chương tội phạm về
chức vụ, trong đó có tới 7 điều quy định tội phạm về tham nhũng. Tử hình là
hình phạt cao nhất của hai trong số các tội tham nhũng đã được quy định

16


trong Bộ luật này. Cùng với Bộ luật Hình sự, ngày 09/12/2005, Quốc Hội
cũng đã thông qua và ban hành Luật phòng, chống tham nhũng. Luật có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/6/2006. Luật phòng, chống tham nhũng là “cây gậy”
pháp lý quan trọng để chúng ta “tuyên chiến”, đẩy lùi nguy cơ đe dọa sự tồn

vong của chế độ. Tất cả những văn bản này đã tạo thành một hành lang pháp
lý tương đối toàn diện, và trở thành một thứ vũ khí sắc bén để những người
tiến hành tố tụng có căn cứ, tự tin tiến hành cuộc đấu tranh cam go, khốc liệt chống tham nhũng.
Qua phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng cho thấy tính chất
tham nhũng ngày càng phức tạp, thủ đoạn tinh vi hơn, phạm vi, lĩnh vực tham
nhũng ngày càng rộng, tính có tổ chức của các vụ việc, vụ án tham nhũng
ngày càng rõ nét hơn, mức độ tham nhũng lớn, một số vụ án tham nhũng gây
hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát một lượng lớn tài sản của Nhà nước,
dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; Nếu trước đây hành vi tham nhũng chỉ tập
trung ở một số lĩnh vực như đầu tư xây dựng cơ bản, cổ phần hóa, tài chính,
ngân hàng… thì hiện nay đã có tội phạm tham nhũng mang yếu tố nước
ngoài. Đã xảy ra những vụ án tham nhũng trong các dự án có sử dụng vốn
ODA với thủ đoạn thông đồng, móc ngoặc giữa chủ đầu tư, ban quản lý dự án
trong nước với các nhà thầu nước ngoài để lấy tiền. Điển hình gần đây là vụ
đưa và nhận hối lộ xảy ra tại Ban quản lý dự án Đại lộ Đông Tây và môi
trường nước (Thành phố Hồ Chí Minh). Các đối tượng Huỳnh Ngọc Sỹ và Lê
Quả là lãnh đạo của Ban quản lý dự án này đã chỉ đạo Công ty PCI thuê
phòng làm việc, lấy tiền chia nhau gây thiệt hại trên 1 tỷ đồng. Các đối tượng
này cũng bị các đối tác Nhật Bản tố cáo đã nhận tiền hối lộ gần 2,5 triệu USD.
Tham nhũng vẫn là một trong những vấn đề bức xúc nhất của xã hội
hiện nay, là một yếu tố tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, xã hội,
nhất là khi tình hình kinh tế - xã hội trong nước còn có nhiều khó khăn, tiềm

17


ẩn nhiều yếu tố tiêu cực, nguy cơ phát sinh tham nhũng. Do vậy, xét xử vụ án
tham nhũng là một trong những vấn đề quan tâm của Đảng và Nhà nước ta
trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay.
1.3. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xét xử vụ án tham nhũng

1.3.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xét xử vụ án hình
sự nói chung
Để đấu tranh có hiệu quả với các tội phạm tham nhũng, Bộ luật tố tụng
hình sự, như Điều 1, quy định: Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ
tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa
vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân;
hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn
tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật
tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo
pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Như vậy, Bộ luật tố tụng
hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án
hình sự nói chung mà không quy định về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các
vụ án hình sự về tội tham nhũng. Do vậy, xét xử vụ án tham nhũng được tiến
hành theo thủ tục chung của xét xử vụ án hình sự. Có nghĩa quá trình xét xử
sơ thẩm vụ án tham nhũng được tiến hành theo các bước sau đây:
- Xác định thẩm quyền xét xử của tòa án: căn cứ vào phân loại tội
phạm; Thẩm quyền theo lãnh thổ; Thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra
trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

18


đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam; Việc xét xử bị
cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của các Tòa án khác cấp; Chuyển vụ
án; Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử;

- Chuẩn bị xét xử: Thời hạn chuẩn bị xét xử; Áp dụng, thay đổi hoặc
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; Nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử;
Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình
chỉ vụ án; Viện kiểm sát rút quyết định truy tố; Việc giao các quyết định của
Tòa án; Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa;
- Thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục;
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm; Thay thế thành viên của Hội đồng xét
xử trong trường hợp đặc biệt; Sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa; Giám sát bị
cáo tại phiên tòa; Sự có mặt của Kiểm sát viên; Sự có mặt của người bào
chữa; Sự có mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ;
Sự có mặt của người làm chứng; Sự có mặt của người giám định; Thời hạn
hoãn phiên tòa; Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ
hơn tại phiên toà; Giới hạn của việc xét xử; Nội quy phiên tòa; Những biện
pháp đối với người vi phạm trật tự phiên tòa; Việc ra bản án và các quyết định
của Tòa án; Biên bản phiên tòa;
- Thủ tục bắt đầu phiên tòa: Thủ tục bắt đầu phiên tòa; Giải quyết việc
đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người
giám định, người phiên dịch; Giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên
dịch, người giám định; Giải thích quyền, nghĩa vụ và cách ly người làm
chứng; Giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi
có người vắng mặt;
- Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa: Đọc bản cáo trạng; Trình tự xét hỏi; Công
bố những lời khai tại Cơ quan điều tra; Hỏi bị cáo; Hỏi người bị hại, nguyên

19


đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
hoặc người đại diện hợp pháp của họ; Hỏi người làm chứng; Xem xét vật

chứng; Xem xét tại chỗ; Việc trình bày, công bố các tài liệu của vụ án và nhận
xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức; Hỏi người giám định; Kết thúc xét hỏi;
- Tranh luận tại phiên tòa: Trình tự phát biểu khi tranh luận; Đối đáp;
Trở lại việc xét hỏi; Bị cáo nói lời sau cùng; Xem xét việc rút quyết định truy
tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn;
- Nghị án và tuyên án: Nghị án; Trở lại việc xét hỏi và tranh luận; Bản
án; Kiến nghị sửa chữa những khuyết điểm trong công tác quản lý; Tuyên án;
Trả tự do cho bị cáo; Bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án; Việc giao bản án;
- Phạm vi xét xử phúc thẩm; Những người có quyền kháng cáo bản án
sơ thẩm; Kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án sơ thẩm; Thủ tục
kháng cáo và kháng nghị xem xét bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm;
Thời hạn kháng cáo, kháng nghị; xem xét kháng cáo quá hạn; Thông báo về
việc kháng cáo, kháng nghị; Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị; Bổ
sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị; Kháng cáo, kháng nghị những
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm
của Tòa án không có kháng cáo, kháng nghị;
- Thủ tục xét xử phúc thẩm; Phạm vi xét xử phúc thẩm; Thời hạn xét
xử phúc thẩm; Việc Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn; Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm; Những người tham
gia phiên tòa phúc thẩm; Bổ sung, xem xét chứng cứ tại Tòa án cấp phúc
thẩm; Thủ tục phiên toà phúc thẩm; Bản án phúc thẩm và thẩm quyền của Toà
án cấp phúc thẩm; Sửa bản án sơ thẩm; Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại
hoặc xét xử lại; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án; Điều tra lại hoặc xét
xử lại vụ án hình sự; Phúc thẩm những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
Việc giao bản án và quyết định phúc thẩm.

20



×