Tải bản đầy đủ (.doc) (98 trang)

Đòn bẩy tài chính nâng cao hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính tại công ty tnhh sản xuất và thương mại bình quân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (449.01 KB, 98 trang )

Luận văn tốt nghiệp

Mục lục

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

1


Luận văn tốt nghiệp

Lời cảm ơn
Qua quá trình gần bốn năm tu dưỡng rèn luyện và học tập tại lớp CQ
46/11.02 chuyên ngành tài chính doanh nghiệp của Học viện Tài chính, tôi đã
tiếp thu được rất nhiều kiến thức bổ ích và lí thú về những vấn đề kinh tế tài
chính tổng quát. Đặc biệt nhờ vào thời gian thực tập cuối khoá tại công ty
TNHH Sản xuất và Thương mại Bình Quân tôi còn học hỏi được nhiều kiến
thức và kĩ năng công việc của một nhà tài chính trong thực tế. Vận dụng kiến
thức tiếp thu được trên giảng đường cũng như những kĩ năng học hỏi được tại
công ty thực tập, tôi đã mạnh dạn phát triển một vấn đề tài chính mà tôi vốn
rất tâm huyết thành đề tài luận văn tốt nghiệp của mình: đó là việc sử dụng
đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp thực tế trong nỗ lực nâng cao lợi ích
cho chủ sở hữu. Luận văn của tôi sẽ khó có thể hoàn thành nếu thiếu đi sự
hướng dẫn nhiệt tình của các bác, các anh chị trong công ty thực tập, thầy
giáo hướng dẫn của bộ môn cũng như các thầy cô và các bạn trong học viện,
tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới ban lãnh đạo cty TNHH SX &
TM Bình Quân, đặc biệt là các bác, các chị trong phòng kế toán tài chính, tới
thầy giáo hướng dẫn TS Vũ Văn Ninh và toàn thể các thầy cô, bạn bè trong
khoa đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tuy nhiên do đây là
mảng đề tài khá mới trong nền kinh tế VN cũng như trong học viện và điều
kiện thời gian, trình độ, kiến thức có hạn nên luận văn vẫn còn nhiều sai sót


hạn chế nhất định, mong các thầy cô cùng các bạn nghiên cứu và hướng dẫn,
đóng gớp ý kiến cho luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên : Nguyễn Kim Phượng

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

2


Luận văn tốt nghiệp

Lời nói đầu
1. Sự cần thiết của đề tài:
Nhà bác học vĩ đại Accimes đã có câu nói nổi tiếng “Hãy cho tôi một
điểm tựa, tôi có thể nâng cả trái đất lên”, nghĩa là trong khoa học người ta sẽ
dựa vào một điểm tựa cố định nhằm khuếch đại lực để di chuyển một vật thể
nào đó. Tương tự trong tài chính, ta sử dụng đòn bẩy tài chính như một công
cụ để gia tăng lợi nhuận và khuếch đại dòng tiền. Vì thế các nhà kinh tế từng
có câu: “Hãy cho tôi một đòn bẩy tài chính đủ lớn, tôi có thể nâng hạ thị
trường theo ý muốn”.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam và thế giới ngày một nóng lên,
đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc dân hiện nay và hoàn cảnh thị
trường vốn và tiền tệ có nhiều biến động như năm 2010 và 2011 thì việc lập
kế hoạch phương án huy động sao cho tiết kiệm chi phí và hiệu quả nhất luôn
là một bài toán hóc búa cho các doanh nghiệp. Với mục tiêu cuối cùng là tối
đa lợi ích cho chủ sở hữu luôn thì Đòn bẩy tài chính chính là một công cụ đắc
lực trong việc giảm thiểu chi phí và gia tăng lợi nhuận nếu được sử dụng hợp
lí.
Tuy hoạt động với quy mô không quá lớn nhưng nhu cầu mở rộng hoạt

động sản xuất và kinh doanh không ngừng gia tăng, Công ty TNHH sản xuất
và thương mại Bình Quân chính là một trong những doanh nghiệp đang tích
cực sử dụng chính sách huy động nguồn vốn vay để tăng cường quy mô
nguồn vốn và hiệu quả sử dụng vốn. Tuy nhiên do chính sách sử dụng đòn
bẩy tài chính mới được doanh nghiệp sử dụng trong những năm gần đây nên
hiệu quả chưa thực sự cao, vì vậy qua đề tài này tôi muốn đi sâu nghiên cứu
và phân tích cũng như đóng góp một số ý kiến về việc nâng cao và hoàn thiện
việc sử dụng đòn bẩy tài chính tại công ty:

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

3


Luận văn tốt nghiệp
ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH & NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐÒN BẨY TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI BÌNH QUÂN

2. Mục tiêu nghiên cứu:
Thông qua bài luận văn của mình tôi hi vọng có thể áp dụng được
những kiến thức tiếp thu được trên giảng đường vào công việc của một doanh
nghiệp cụ thể trong thực tế. Qua đó phân tích đánh giá được một cách cụ thể
chi tiết nhất về tình hình sử dụng đòn bẩy tài chính và hiệu quả của việc sử
dụng đòn bẩy tài chính tại đơn vị thực tập của mình. Từ đó có thể đưa ra
những ưu nhược điểm và đóng góp một số ý kiến giải pháp cho ban lãnh đạo
cũng như phòng tài chính kế toán, để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
đòn bẩy tài chính tại công ty Bình Quân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Việc sử dụng đòn bẩy tài chính cũng như hiệu quả của việc sử dụng đòn
bẩy tài chính tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Bình Quân.

4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài này tôi chủ yếu tính toán và phân tích các chỉ tiêu, thông
qua sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp đồ thị để rút ra được
những đánh giá chính xác về việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh
nghiệp.
5. Bố cục: Bài luận văn của tôi gồm 3 phần chính:
Phần 1: Đòn bẩy tài chính và tác động của đòn bẩy tài chính tới giá
trị doanh nghiệp: Đây là phần nêu lên những nội dung kiến thức về mặt cơ
sở lí thuyết của vấn đề đòn bẩy tài chính và sử dụng đòn bẩy tài chính, giá trị
doanh nghiệp và các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp cũng như tác
động của đòn bẩy tài chính tới giá trị DN.
Phần 2: Thực trạng việc sử dụng đòn bẩy tài chính tại công ty
TNHH Sản xuất và Thương mại Bình Quân: Đây là phần giới thiệu về

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

4


Luận văn tốt nghiệp
công ty TNHH SX & TM Bình Quân và thực tế vấn đề áp dụng lí thuyết đòn
bẩy tài chính trong DN này. Ở đó sẽ nêu lên thực trạng tình hình áp dụng đòn
bẩy tài chính cũng như những thành tựu và hạn chế của việc thực hiện đòn
bẩy tại công ty.
Phần 3: Các giải pháp hoàn thiện việc sử dụng đòn bẩy tài chính
nhằm nâng cao giá trị công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Bình
Quân: Rút ra những kinh nghiệm, bài học thực tiễn và đề cập tới một số giải
pháp kiến nghị đối với ban lãnh đạo công ty và các cơ quan chức năng.

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính


5


Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH
TỚI GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
Đòn bẩy tài chính là gì? Các công thức xác định? Vai trò và tác dụng
của đòn bẩy tài chính lên hoạt động tài chính của một doanh nghiệp? Các chỉ
tiêu, hệ số được sử dụng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng đòn bẩy tài
chính? Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính? …
Phần này sẽ nêu lên nền tảng cơ sở lí thuyết và khoa học để cung cấp cho
người đọc những hình dung tổng quát nhất về vấn đề đòn bẩy.
1.1

LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH:

1.1.1

Khái niệm đòn bẩy tài chính và độ lớn đòn bẩy tài chính:

1.1.1.1

Khái niệm đòn bẩy tài chính :

Nhà vật lí học Accimes đã có câu nói nổi tiếng “Hãy cho tôi một điểm
tựa tôi có thể nâng cả trái đất lên”. Thật vậy, xuất phát từ khái niệm trong vật
lí học thuần tuý, ta coi đòn bẩy là một công cụ nhằm khuếch đại một lực từ
lực lớn thành lực nhỏ với tác dụng di chuyển vật thể dựa trên cánh tay đòn và

điểm tựa. Vì vậy trong kinh tế các nhà chứng khoán từng mượn thuật ngữ này
để nêu quan điểm “Hãy cho tôi một đòn bẩy tài chính đủ lớn, tôi có thể nâng
hạ thị trường theo ý muốn”.
 KN đòn bẩy tài chính :
Trong quá trình hoạt động và phát triển của mình, một công ty có thể
sử dụng một trong hai hoặc cả hai loại đòn bẩy: đó là đòn bẩy kinh doanh và
đòn bẩy tài chính nhằm tạo nên lực tác động hình thành đòn bẩy tổng hợp.
Trong đó đòn bẩy kinh doanh được thể hiện ở việc sử dụng nguồn chi phí
hình thành nên tài sản cố định có tỷ lệ cao trong tổng số nguồn chi phí của
DN, với nỗ lực nhằm khuếch đại EBIT cho công ty. Tuy nhiên đòn bẩy kinh

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

6


Luận văn tốt nghiệp
doanh chỉ có tác động gia tăng EBIT khi công ty đạt được sản lượng tiêu thụ
cao hơn sản lượng hoà vốn, đồng thời đòn bẩy kinh doanh cũng chỉ có tác
động khuếch đại EBIT, trong khi lợi ích giành cho chủ sở hữu mới là mục tiêu
cuối cùng của mỗi công ty. Vì vậy người ta sử dụng thêm đòn bẩy tài chính
trong nỗ lực này.
- Khái niệm: theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Học viện tài
chính: Đòn bẩy tài chính là thể hiện việc sử dụng vốn vay trong nguồn vốn
của doanh nghiệp nhằm hi vọng gia tăng tỉ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
(ROE) hay thu nhập trên một cổ phần (EPS) của công ty.
Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở
hệ số nợ, DN có hệ số nợ cao thì có mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính cao và
ngược lại.
Nợ phải trả

Hệ số nợ

=
Tổng nguồn vốn

 Các công cụ vay nợ thường được sử dụng trong DN:
Thông thường một doanh nghiệp có thể tiến hành vay nợ bằng các 2
phương thức chính: phát hành chứng khoán nợ, phổ biến như phát hành trái
phiếu… hoặc là vay nợ ở các định chế tài chính trung gian như vay nợ ở ngân
hàng...Mỗi phương thức đều có những ưu nhược điểm nhất định.
- Phát hành chứng khoán nợ: chứng khoán nợ được doanh nghiệp phát
hành và được mua bán bởi nhà đầu tư, vì vậy khi bạn mua trái phiếu của
doanh nghiệp hoặc chính phủ cũng đồng nghĩa là bạn đang cho doanh nghiệp
hoặc chính phủ vay tiền. Khi phát hành các chứng khoán này, doanh nghiệp
phải chịu chi phí bao tiêu cho các tổ chức bảo lãnh phát hành và các chi phí
trung gian, tiếp thị quảng cáo nếu cần. Tuy nhiên với các chứng khoán nợ thì

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

7


Luận văn tốt nghiệp
cho phép doanh nghiệp huy động được nhiều tiền hơn và có thời gian đáo hạn
dài hơn so các khoản vay thông thường khác.
- Vay nợ: vay nợ từ các ngân hàng hoặc các định chế tài chính trung
gian khác, thông thường các doanh nghiệp sử dụng các khoản vay ngân hàng
để thực hiện các nghĩa vụ phải trả đối với người bán, mua hàng tồn kho và các
trang thiết bị mới hoặc để duy trì một lượng tiền mặt tại quỹ ở mức an toàn.
Trong hầu hết các trường hợp thì, các khoản vay ngân hàng có thời gian đáo

hạn ngắn hơn so với các chứng khoán nợ hay phương án phát hành trái phiếu
doanh nghiệp.
Tuỳ theo mục đích sử dụng nợ và một số yếu tố khác mà doanh nghiệp
sẽ chọn việc hình thức vay nợ thích hợp.
 Lợi ích của việc sử dụng nợ vay
- DN luôn muốn mở rộng quy mô SX KD và tăng cường đầu tư máy
móc thiết bị …tuy nhiên nguồn vốn chủ sở hữu và lợi nhuận để lại là có giới
hạn và thường bị hạn chế ở một lượng nhỏ, vì thế nhu cầu vay vốn bổ sung
vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp là rất lớn.
- Huy động vốn vay kịp thời giúp DN có thể nắm bắt được thời cơ và
cơ hội kinh doanh: đầu tư vào các dự án có lợi nhuận cao, mua cổ phiếu,
chứng khoán khi có cơ hội,…
- Sử dụng nguồn vốn vay thường có chi phí thấp: lãi suất ngân hàng và
các công ty tài chính thường nhỏ hơn nhiều so với tỷ suất sinh lời mong muốn
của chủ sở hữu. Sau khi DN trả các khoản lãi vay cố định thì phần lợi nhuận
còn dôi ra nếu có sẽ thuộc về chủ sở hữu.
- Sử dụng vốn vay được hưởng khoản lợi thuế do chi phí đi vay hợp lí
được tính vào chi phí khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế thu nhập doanh
nghiệp.

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

8


Luận văn tốt nghiệp
- Ngày nay thị trường vốn và tiền tệ đang rất phát triển, hệ thống ngân
hàng và công ty tài chính ngày càng được mở rộng, với thủ tục được rút gọn
đáng kể, thời gian làm hồ sơ vay vốn tương đối nhanh và thường được duy trì
hạn mức hoặc vay thấu chi với các DN lớn và là khách hàng quen của ngân

hàng. Đây là những yếu tố thuận lợi giúp các DN dễ dàng huy động vốn vay
và tăng tác động của đòn bẩy tài chính.
 Sự khác biệt khi sử dụng đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính:
Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy kinh doanh
- Thể hiện ở tỷ trọng đầu tư vào chi

- Thể hiện ở hệ số nợ tức là mức độ

phí cổ định trong tổng chi phí SXKD

huy động vốn vay trong tổng nguồn

của DN.

vốn của DN.

- Tác động khuếch đại lợi nhuận

- Tác động khuếch đại tỷ suất lợi

trước lãi vay và thuế dưới sự thay đổi

nhuận vốn chủ hay thu nhập một cổ

doanh thu và sản lượng.

phần dưới sự thay đổi lợi nhuận trước
lãi vay và thuế.


- Không phải hoàn toàn dựa vào

- Dựa hoàn toàn vào chính sách huy

quyết định của chủ DN mà phần lớn

động vốn của chủ doanh nghiệp.

phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh
ngành nghề, mức độ yêu cầu trang
thiết bị …

1.1.1.2

Khái niệm độ lớn đòn bẩy tài chính:

 Khái niệm:
Độ lớn đòn bẩy tài chính: là tỷ lệ thay đổi của tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
sở hữu phát sinh do sự thay đổi của lợi nhuận trước lãi vay và thuế. Kí hiệu:
DFL (Degree of Financial Leverage).

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

9


Luận văn tốt nghiệp
 Công thức tính độ lớn đòn bẩy tài chính:
Tỷ lệ thay đổi tỷ suất lợi nhuận VCSH (ROE hay EPS)

Mức độ tác độ

=

của đòn bẩy tài chính
DFL =

Tỷ lệ thay đổi của EBIT

∆ROE (EPS) / ROE
∆EBIT / EBIT

 Trường hợp doanh nghiệp không có cổ phiếu ưu đãi :
∆ROE =

∆NI
NI
∆NI (∆EBIT − ∆I ).(1 − t )
:
=
= ( EBIT − I ).(1 − t )
E
E
NI

Do ∆I = 0 nên
 DFL =

∆ROE
∆EBIT

=
ROE
EBIT − I

Q( P − V ) − F
∆EBIT
∆EBIT
EBIT
:
=
= Q( P − V ) − F − I
EBIT − I
EBIT
EBIT − I

(1.1)

 Trường hợp doanh nghiệp có cổ phiếu ưu đãi: có thể tính tương tự
EPS với ROE do EPS = ROE / NS (với NS là số cổ phiếu thường
hiện đang lưu hành).
EPS = [(EBIT - I)(1- t) - PD] / NS
Vì I và PD là hằng số nên ∆ I và ∆ PD bằng 0, nên ta có:

∆EPS =

=



(∆EBIT − ∆I )(1 − t ) − ∆PD

NS

∆EBIT (1 − t )
NS

∆EBIT (1 − t )
∆EPS
NS
=
( EBIT − I )(1 − t ) − PD
EPS
NS

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

10


Luận văn tốt nghiệp

=

∆EBIT (1 − t )
( EBIT − I )(1 − t ) − PD

Nên công thức tính độ bẩy tài chính được tính như sau:

∆EBIT (1 − t )
( EBIT − I )(1 − t ) − PD
DFL =

∆EBIT
EBIT

  EBIT 
∆EBIT (1 − t )
=


 ( EBIT − I )(1 − t ) − PD   ∆EBIT 

=

EBIT (1 − t )
( EBIT − I )(1 − t ) − PD

 DFL =

(1.2)

EBIT
EBIT − I − [ PD (1 − t )]

Trong đó EBIT: lợi nhuận trước lãi vay và thuế
I

: lãi tiền vay phải trả

Q

: sản lượng sản phẩm tiêu thụ


P

: giá bán một sản phẩm

V

: chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm

F

: tổng chi phí cố định kinh doanh

ROE

: tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

PD

: cổ tức chi trả cho cổ đông ưu đãi

NS

: số lượng cổ phiếu thường ( Number of Share )

Từ công thức 1.1 và công thức 1.2 ta có thể thấy độ bẩy của đòn bẩy tài
chính trong hai trường hợp: Có dùng vốn cổ phần ưu đãi và không dùng vốn
cổ phần ưu đãi trong cơ cấu nguồn vốn là khác nhau.

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính


11


Luận văn tốt nghiệp
+ Nếu chi phí trả cổ tức ưu đãi (PD) lớn hơn phần tiết kiệm nhờ thuế do
sử dụng nợ (1 - t).I thì ta có:

PD > (1 − t ) I ⇔ PD (1 − t ) > 1

⇔ EBIT +

PD
> EBIT + I
(1 − t )

⇔ EBIT − I > EBIT −





EBIT
<
EBIT − 1

PD
(1 − t )

EBIT

PD
EBIT −
(1 − t )

DFL (1.1) < DFL (1.2)

Từ công thức trên ta dễ dàng suy ra rằng độ bẩy của đòn bẩy tài chính
khi sử dụng vốn nợ và cổ phần ưu đãi trong cơ cấu vốn sẽ lớn hơn trong
trường hợp không sử dụng vốn cổ phần mà chỉ sử dụng nợ trong trường hợp
chi phí trả cổ tức lớn hơn phần tiết kiệm nhờ thuế do sử dụng nợ.
+ Nếu chi phí trả cổ tức cổ phần ưu đãi (PD) nhỏ hơn phần tiết kiệm
nhờ thuế do sử dụng nợ (1 - t).I thì ta có:

PD < (1 − t ) I ⇔ PD (1 − t ) < 1

⇔ EBIT +

PD
< EBIT + I
(1 − t )

⇔ EBIT − I < EBIT −



EBIT
>
EBIT − 1

PD

(1 − t )

EBIT
PD
EBIT −
(1 − t )

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

12


Luận văn tốt nghiệp
 DFL (1.1) > DFL (1.2)
Từ công thức trên thì trong trường hợp chi phí cổ tức vốn cổ phần ưu
đãi nhỏ hơn phần tiết kiệm nhờ thuế từ việc sử dụng nợ thì độ bẩy tài chính
trong trường hợp chỉ dùng nợ trong cơ cấu nguồn vốn lại lớn hơn trường hợp
dùng cả vốn cổ phần ưu đãi.
Từ 2 trường hợp trên ta có thể tư vấn cho chủ doanh nghiệp cân nhắc
có nên sử dụng cổ phần ưu đãi hay không tuỳ vào mức độ sử dụng đòn bẩy
tài chính DN muốn áp dụng.
1.1.2

Các chỉ tiêu đánh giá đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
 Quan điểm về tính hiệu quả:
Khi đánh giá hiệu quả một công việc nói chung ta thường quan tâm đến

hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong quản lí một doanh nghiệp chúng ta
quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả kinh tế của việc giải quyết vấn đề. Đó là
việc lựa chọn ra trong vô số phương án có thể thực hiện một phương án đem

lại kết quả cao nhất: về doanh thu, sản lượng, lợi nhuận, tỷ suất sinh lời…. với
chi phí bỏ ra là thấp nhất.
Chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về hiệu quả sử dụng đòn bẩy
tài chính theo quan điểm sau: Hiệu quả sử dụng đòn bẩy là một phạm trù kinh
tế phản ánh trình độ, năng lực của doanh nghiệp trong việc sử dụng nợ và cổ
phần ưu đãi để đảm bảo cho việc khuyếch đại thu nhập trên vốn cổ phần
thường một cách lớn nhất trong mọi trường hợp. Kết quả thu được càng cao
so với chi phí tài chính bỏ ra thì hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính càng cao
điều này nó thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu về mức sinh lời trên vốn
chủ sở hữu, trên vốn cổ phần thường, và một số chỉ tiêu liên quan.
 Tác dụng phân tích hiệu quả:

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

13


Luận văn tốt nghiệp
Việc phân tích hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính để nhanh chóng có
biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những ưu điểm của
doanh nghiệp trong quá trình sử dụng đòn bẩy tài chính. Thông qua phân tích
hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ cung cấp thêm những kinh nghiệm
cũng như kỹ năng dự báo, sử dụng đòn bẩy cùng những những ưu điểm và
hạn chế trong công tác tài chính tại doanh nghiệp, từ đó giúp nhà tài chính của
DN đưa ra được chính sách huy động vốn sao cho đạt hiệu quả cao nhất cho
các kì tài chính sau.
 Các nhóm tỷ số chỉ mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính :
 Tỷ số nợ trên tài sản hay Hệ số nợ (Debt Ratio) – Hd
Tổng nợ phải trả
Hệ số nợ =

Tổng tài sản
Hd =

D
D+E

Trong đó : + Tổng nợ (D): bao gồm toàn bộ các khoản nợ dài hạn và nợ ngắn
hạn tại thời điểm lập báo cáo tài chính: các khoản phải trả, vay ngắn hạn, nợ
dài hạn do đi vay hoặc phát hành trái phiếu dài hạn.
+ Tổng tài sản: bao gồm toàn bộ tài sản của công ty tại thời điểm
lập báo cáo tài chính. Tổng tài sản bao gồm nợ vay và vốn chủ sở hữu.
Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được
tài trợ bằng vốn vay.
Đây là chỉ tiêu thời kì và sử dụng giá trị sổ sách chứ không phải giá trị
thị trường.
 Đối với một số công ty, đặc biệt công ty cổ phần, người ta có thể sử
dụng thêm chỉ tiêu tỷ số nợ trên vốn cổ phần (Debt to Equity Ratio)
hay tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu.

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

14


Luận văn tốt nghiệp
Tổng số nợ
Tỷ số nợ trên vốn cổ phần (vốn CSH) =
Vốn cổ phần (vốn chủ sở hữu)
Cho biết các nhà cho vay tài trợ bằng mấy lần các chủ sở hữu của DN.
Chỉ tiêu này cũng là chỉ tiêu thời kì và mang tính sổ sách.

Tương tự nhóm chỉ tiêu dùng để xác định mức độ đi vay hay mức độ sử
dụng đòn bẩy tài chính của DN người ta còn sử dụng thêm một số chỉ tiêu
như:
 Để loại trừ tác động của các khoản vay nợ ngắn hạn như: phải trả
ngắn hạn và tín dụng thương mại phi lãi suất, người ta xác định
mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên qua chỉ tiêu:
Nợ dài hạn
Tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần =
Vốn cổ phần
 Để xác định mức độ đi vay còn có chỉ tiêu:
Tổng tài sản
Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần =
Vốn cổ phần (vốn CSH)
Nhìn chung ở nhóm chỉ tiêu này: Hệ số nợ càng lớn làm cho độ bẩy tài chính
và rủi ro tài chính của DN càng tăng lên.
 Chỉ tiêu xác định độ nghiêng của đòn bẩy tài chính:

DFL =

∆EPS
∆EBIT

Chỉ tiêu độ nghiêng của đòn bẩy tài chính nó thể hiện khả năng khuyếch
đại của đòn bẩy tài chính. Chỉ tiêu này càng lớn thì thể hiện sức mạnh của đòn
bẩy càng lớn, chỉ cần thu nhập trước thuế và lãi vay thay đổi một lượng nhỏ
thì cũng tạo nên một sự thay đổi lớn hơn nhiều trong thu nhập trên vốn cổ

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

15



Luận văn tốt nghiệp
phần thường. Đánh giá chỉ tiêu này bằng cách so sánh với các năm trước đó.
Tuy nhiên khi chỉ tiêu này càng cao thì kéo theo sự gia tăng của rủi ro tài
chính, nên cần đánh giá chỉ tiêu này một cách linh động, không máy móc quá
về độ lớn. Khi thu nhập trước thuế và lãi vay đủ lớn để trang trải những khoản
lãi vay và dư ra một lượng thì khi đó độ bẩy càng cao sẽ càng tốt. Đây chỉ là
chỉ tiêu mang tính phụ trợ cho việc đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài
chính của doanh nghiệp.
 Nhóm chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi xác định hiệu quả sử dụng đòn bẩy
tài chính:
Tỷ số sinh lợi đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo
ra lợi nhuận như : doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu...
 Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROAe)
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
ROA e =

x 100(%)
Tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết 100đ tài sản của DN tạo ra được bao nhiêu đồng
lợi nhuận trước lãi vay và thuế.
 Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản – Return On total asset
Ratio (ROA)
Lợi nhuận ròng
ROA =

x 100(%)
Tổng tài sản


Chỉ tiêu này cho biết 100đ tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế.

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

16


Luận văn tốt nghiệp
 Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu – Return On Equity Ratio
(ROE):
Lợi nhuận sau thuế
ROE =

x 100(%)
Vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này cho biết 100đ vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế. Đây là các chỉ tiêu thời kì.
Bằng cách tính toán và so sánh với chỉ tiêu kì trước hoặc với các DN
cùng ngành có quy mô tương đương hoặc trung bình ngành ta có thể đánh giá
chung về hiệu quả sử dụng vốn của DN. Nếu các chỉ tiêu này cao và ngày
càng tăng qua các năm thì chứng tỏ DN có tình hình làm ăn tốt, đạt lợi nhuận
cao. Đặc biệt khi so sánh giữa ROA và ROE ta có thể thấy được tác dụng và
hiệu quả của việc sử dụng nợ vay hay đòn bẩy tài chính với DN. Nếu ROE >
ROA chứng tỏ các chủ sở hữu nhận được nhiều lợi ích hơn so với lợi nhuận
tổng tài sản sinh ra hay đòn bẩy tài chính đã phát huy tác dụng khuếch đại
tăng ROE. Ngược lại nếu ROE < ROA chứng tỏ việc sử dụng nợ vay làm hao
hụt lợi nhuận của chủ sở hữu so với việc không sử dụng, khi đó đòn bẩy tài

chính có tác động ngược chiều.
 Chỉ tiêu thu nhập trên mỗi cổ phần thường - Earning Per Share
(EPS):

EPS =

TNST − PD
NS

Chỉ tiêu thu nhập trên mỗi cổ phần là một yếu tố quan trọng nhất, quyết
định đến giá trị của cổ phần bởi vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

17


Luận văn tốt nghiệp
một cổ phần hay nói cách khác nó thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được
do mua cổ phần. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp này sử
dụng đòn bẩy tài chính càng hiệu quả. Để thấy được việc sử dụng đòn bẩy tài
chính có hiệu quả hay không so với năm trước thì ta lấy chỉ tiêu này mà so
với cũng chỉ tiêu này của năm trước đó hoặc so sánh với giá trị trung bình
ngành. Nếu lớn hơn chứng tỏ doanh nghiệp đã tiến bộ trong quản lý tài chính
mà cụ thể là nâng cao được hiểu quả sử dụng đòn bẩy tài chính. Thu nhập trên
vốn cổ phần thường là mục tiêu của việc sử dụng đòn bẩy tài chính nên việc
dùng chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả sử dùng đòn bẩy tài chính là tất yếu.
Hai chỉ tiêu ROE và EPS là hai chỉ tiêu đánh giá kết quả trực tiếp của
đòn bẩy tài chính có được sử dụng một cách hiệu quả hay không? Nếu nó
được sử dụng một cách hiệu quả thì hai chỉ tiêu này phải đạt giá trị lớn nhất

có thể. Mặc dù cùng được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài
chính nhưng hai chỉ tiêu này có một chút khác biệt. Với chỉ tiêu tỷ suất sinh
lời trên vốn chủ sở hữu nó phản ánh mức sinh lợi trên vốn cổ phần thường và
vốn cổ phần ưu đãi, còn với chỉ tiêu thu nhập trên vốn cổ phần thường thì lại
chỉ xét khả năng sinh lợi trên vốn cổ phần thường. Trong khi sử dụng vốn cổ
phần ưu đãi cũng tạo nên độ bẩy cho thu nhập trên vốn cổ phần thường.
Chính vì sự khác biệt này nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài
chính thì chỉ tiêu thu nhập trên vốn cổ phần thường là chỉ tiêu quan trọng hơn.
Tuy nhiên với các công ty không cổ phần ta hay sử dụng chỉ tiêu ROE để
đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính.
 Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro khi sử dụng đòn bẩy tài chính :
 Hệ số khả năng thanh toán hiện thời hay khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn :

Tài sản ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Nợ ngắn hạn

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

18


Luận văn tốt nghiệp
Trong đó: + Tài sản lưu động bao gồm cả các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn (hay chính là tài sản ngắn hạn của DN).
+ Số nợ ngắn hạn bao gồm các khoản vay ngắn hạn, phải trả
người bán, thuế các khoản phải trả nhà nước, phải trả người lao động, nợ dài
hạn đến hạn trả, các khoản phải trả có thời hạn dưới 12 tháng.

Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải
các khoản nợ ngắn hạn hay thể hiện khả năng đảm bảo thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn của DN. Tài sản ngắn hạn của DN có thể sử dụng để thanh toán
bao nhiêu lần nợ ngắn hạn của DN tại cùng một thời điểm.
 Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Đây là chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn hệ số khả năng thanh toán hiện
thời do nó đã loại trừ đi các khoản tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản kém
như: hàng tồn kho.
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết tài sản ngắn hạn của DN không kể hàng tồn kho có
thể thanh toán bao nhiêu lần nợ ngắn hạn của mình.
 Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Đây là chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ nhất khả năng thanh toán của DN.
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
Trong đó: + Tiền: bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
Tương đương tiền bao gồm các khoản đầu tư tài chính có thể chuyển đổi dễ
dàng thành tiền trong vòng 3 tháng.

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

19


Luận văn tốt nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết lượng tiền của DN có khả năng thanh toán bao
nhiêu lần nợ ngắn hạn của mình.

 Chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán lãi vay – Times interest earned
Ratio:
Lãi vay hàng kì là khoản chi phí tài chính cố định và ta muốn biết công
ty sẵn sàng trả khoản vay này tới mức nào hay liệu số vốn vay có được sử
dụng tốt, tạo ra bao nhiêu lợi nhuận để bù đắp lại khoản lãi vay. Tỷ số này
dùng để đo mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn có đảm bảo trả lãi
vay hàng năm hay không. Chỉ tiêu này rất quan trọng do nó có ảnh hưởng trực
tiếp đến quyết định xem xét có cho vay hay không của các chủ nợ.
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay ( EBIT )
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay phải trả trong kì.
Trong đó: + Lãi vay phải trả: bao gồm cả lãi vay cho các khoản ngắn hạn và
dài hạn kể cả lãi do phát hành trái phiếu DN.
Đây là một chỉ tiêu thời kì và cho biết EBIT của DN tạo ra trong kì có
khả năng thanh toán bao nhiêu lần lãi vay của DN. Nó thể hiện đòn bẩy tài
chính là đòn bẩy tài chính âm hay dương, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 tức là
doanh nghiệp có được đòn bẩy tài chính dương, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1
tức là doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính âm. Chỉ tiêu này được đánh giá
thông qua sự so sánh với 1, và với các năm trước đó, nếu càng lớn thì kết hợp
với các chỉ tiêu ở trên sẽ có thể kết luận được là việc sử dụng đòn bẩy tài
chính của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
 Ngoài ra một số DN còn sử dụng chỉ tiêu khả năng thanh toán các
chi phí tài chính cố định:

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

20


Luận văn tốt nghiệp

EBIT + các khoản thanh toán tiền thuê TS
Khả năng thanh toán CPCĐ =
Lãi vay + các khoản thanh toán tiền thuê TS
+ cổ tức ưu đãi trước thuế + quỹ hoàn trái trước thuế


Khi phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính của một DN

cần có sự tính toán so sánh phân tích kết hợp nhiều chỉ tiêu, giữa các kì, giữa
kế hoạch với thực tế hoặc giữa các DN cùng ngành hay hệ số trung bình
ngành để có được kết luận chính xác và toàn diện nhất.
1.1.3

Mục tiêu sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp:

1.1.3.1

Mục tiêu sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp:

Do những tác động của đòn bẩy tài chính tới vấn đề khuếch đại ROE
(EPS) cho doanh nghiệp, rủi ro tài chính, chi phí sử dụng vốn ta có thể khái
quát mục tiêu của các doanh nghiệp khi quyết định sử dụng vốn vay:
- Mức vốn vay được huy động và sử dụng hợp lí, trong khả năng huy
động cũng như đảm bảo chi trả lãi vay và hoàn gốc vay.
- Mức độ rủi ro tài chính duy trì ở mức nhất định, không đe doạ tới tình
hình an toàn tài chính của doanh nghiệp.
- Mức vốn vay được huy động sử dụng cũng như các chi phí liên quan
ở mức vừa phải, chi phí sử dụng vốn ở mức tối thiểu nhất.
- Mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp khi tiến hành khai thác và
sử dụng vốn vay chính là khả năng khuếch đại tỷ suất sinh lời cho DN. Đối

với công ty cổ phần mục tiêu chính khi sử dụng đòn bẩy tài chính là khuếch
đại tỷ suất sinh lời vốn cổ phần (EPS hay ROE). Đối với các công ty TNHH,
công ty liên doanh, liên kết… và các đối tượng không phát hành cổ phiếu nói
chung chính là gia tăng tối đa tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu hay ROE và vẫn
đảm bảo an toàn tài chính cho công ty.

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

21


Luận văn tốt nghiệp
1.1.3.2

Vai trò của đòn bẩy tài chính đối với doanh nghiệp:
- Khái niệm đòn bẩy tài chính rất hữu dụng cho phân tích, hoạch định

và kiểm soát tài chính. Các chi phí tài chính cố định được sử dụng tạo rất
nhiều thuận lợi trong việc quản lý tài chính. Việc nghiên cứu về đòn bẩy tài
chính còn giúp cho các nhà quản trị tài chính có thể có thêm công cụ để gia
tăng lợi nhuận trên cổ phần thường, giúp có thêm các thông tin để hỗ trợ cho
việc quản lý nợ, vốn chủ sở hữu… của doanh nghiệp
- Một doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng đạt được
lợi nhuận cao hơn các định phí của nợ và cổ phần ưu đãi, từ đó gia tăng lợi
nhuận cho cổ đông thường. Tuy nhiên đòn bẩy tài chính là con dao hai lưỡi vì
nó cũng làm tăng tính khả biến hay rủi ro trong lợi nhuận của cổ đông thường.
Đối với các giám đốc tài chính, việc nghiên cứu đòn bẩy tài chính làm sáng tỏ
nguyên tắc đánh đổi lợi nhuận và rủi ro của nhiều loại quyết định tài chính
khác nhau.
- Bất cứ khi nào một doanh nghiệp dùng các chi phí tài chính cố định

thì doanh nghiệp này được gọi là đang sử dụng đòn bẩy tài chính. Đòn bẩy tài
chính dùng chi phí tài chính cố định làm điểm tựa, dùng sự thay đổi của thu
nhập trước thuế và lãi vay là lực bẩy và dĩ nhiên cái cần được bẩy chính là thu
nhập trên cổ phiếu thường hay tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Tác động số
nhân này của việc sử dụng các chi phí tài chính cố định được gọi là độ
nghiêng của đòn bẩy tài chính.
- Đòn bẩy tài chính giúp cho doanh nghiệp có thêm một công cụ để dự
kiến nhanh thu nhập trên cổ phần thường (EPS) có thể đạt được trong kỳ ứng
với kết cấu nguồn vốn hiện tại của doanh nghiệp. Điều này rất quan trọng đối
với doanh nghiệp trong việc lựa chọn các quyết định tài chính sao cho có hiệu
quả nhất. Chẳng hạn, việc lựa chọn và đi đến các quyết định cơ cấu vốn của

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

22


Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp, sử dụng nợ thêm hay giảm đi, sử dụng vốn cổ phần thêm hay
giảm đi để có thể làm cho thu nhập trên cổ phần thường được tối đa.
1.2

GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP:

1.2.1

Giá trị doanh nghiệp và xác định giá trị doanh nghiệp:
- Khái niệm: giá trị doanh nghiệp là giá trị bằng tiền của tổng tài sản

mà doanh nghiệp đang sở hữu, có thể là tài sản cố định hữu hình, tài sản vô

hình và tất cả tài sản khác thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
- Xác định giá trị doanh nghiệp: được hiểu và thừa nhận một cách rộng
rãi là việc: điều tra chi tiết và đánh giá các hoạt động của công ty nhằm xác
định giá trị hiện hữu và tiềm năng của một doanh nghiệp.
 Đối tượng cần xác định giá trị doanh nghiệp: Các công ty:
- Đã và đang chuẩn bị Cổ phần hóa
- Dự kiến sẽ có những thay đổi đáng kể về quyền sở hữu hoặc cơ cấu
vốn của công ty: sáp nhập, liên doanh, liên kết, chuyển nhượng vốn, mua bán
công ty hoặc nhượng quyền kinh doanh…
- Chuẩn bị phát hành trái phiếu lần đầu tiên ra công chúng
- Đang trên đà phát triển và mở rộng qui mô hoạt động, hoặc có sự thay
đổi về tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Nhằm trợ giúp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu về vốn chủ sở hữu.
 Tại sao phải tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp?
- Cổ đông hoặc nhà đầu tư muốn nắm bắt một cách chi tiết về tình hình
hiện tại của công ty trước khi đưa ra quyết định cuối cùng
- Các cơ hội và tiềm năng phát triển cho tương lai, đặc biệt là các khoản
nợ ngoài dự kiến, ví dụ: các vấn đề về thuế, các nguy cơ tiềm ẩn về kiện tụng,
tranh chấp,…
- Chuẩn bị cho việc phát hành trái phiếu ra công chúng lần đầu (IPO).

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

23


Luận văn tốt nghiệp
- Cải thiện tình hình hoạt động chung của công ty trước thực trạng hoạt
động kém hiệu quả.
 Tác dụng của việc xác định giá trị doanh nghiệp :

- Quá trình xác định giá trị DN sẽ đánh giá một cách khách quan các
điểm mạnh và điểm yếu của công ty. Bằng việc xác định và chỉ ra những vấn
đề hoặc các khu vực thể hiện rõ nhất các điểm yếu của công ty, đây là một
công cụ nhằm giúp công ty đánh giá một cách khách quan hoặc đón đầu các
cơ hội, tiềm năng và gia tăng giá trị cho các cổ đông hiện tại và tương lai.
- Lợi ích của qui trình xác định giá trị DN là khả năng tổng hợp, đánh
giá, phân tích và khớp lại các dữ liệu quá quá khứ và triển vọng phát triển
trong tương lai của DN trong một bản báo cáo chính xác và toàn diện. Bằng
việc xác định các điểm mạnh, điểm yếu và các giá trị cốt lõi của công ty, nó
đã trở thành một công cụ hữu hiệu giúp công ty hiện thực hoá được cơ hội và
gia tăng giá trị cho các cổ đông hoặc nhà đầu tư tương lai.
- Trong các trường hợp cần thiết, sẽ vạch ra các kế hoạch và các kiến
nghị chuẩn bị cho các hoạt động tiền và hậu IPO.
- Chỉ ra những thay đổi cần thiết về hệ thống tài chính, cơ cấu thành
phần cổ đông hoặc cấu trúc DN bởi qui trình này sẽ tạo ra một diễn đàn mở
để công ty có thể thảo luận một cách sâu rộng và xem xét xem những cơ cấu
này có đồng nhất và có lợi cho tương lai của công ty hay không?
- Hỗ trợ Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc đưa ra những quyết định
khó khăn như các hoạt động bán hàng hoặc loại bỏ các hoạt động làm ăn
không có lãi hoặc không mang tính mấu chốt, để tập trung vào những hoạt
động mang lại giá trị cao.
- Đưa ra những phân tích về hệ thống quản trị và điều hành công ty,
đồng thời cung cấp những đánh giá về năng lực đối với một số các vị trí nhân
lực chủ chốt

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

24



Luận văn tốt nghiệp
 Một dự án xác định giá trị DN toàn diện và thành công sẽ đem lại
những hiệu quả tích cực do đội ngũ chuyên gia tư vấn sẽ phát hiện ra những
khu vực làm ăn hiệu quả của công ty, từ đó sẽ đưa ra được những giải pháp
phát huy tối đa hiệu quả điểm mạnh đó để gia tăng giá trị cho các cổ đông và
chủ DN.
1.2.2

Cách xác định giá trị doanh nghiệp:
Hiện nay, để xác định giá trị doanh nghiệp, người ta thường dùng các

phương pháp sau:
- Phương pháp giá trị tài sản thuần
- Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức
- Phương pháp chiết khấu lợi nhuận
- Phương pháp chiết khấu dòng tiền
- Phương pháp hệ số giá trên thu nhập (P/E)
Tuy nhiên, hiện nay, tại nước ta có 3 cách hình dung về giá trị (toàn bộ)
tài sản của một doanh nghiệp.
1. Một là xem “thị giá” doanh nghiệp là tổng giá trị doanh nghiệp.
Thị giá của một doanh nghiệp = Giá tham chiếu của cổ phiếu x Khối lượng cổ
phiếu niêm yết.
Trong đó: + Giá tham chiếu của cổ phiếu là giá đóng cửa của ngày giao dịch
gần nhất trước đó.
Giả sử công ty có 10 triệu cổ phiếu đang lưu hành với giá đóng cửa của
phiên giao dịch gần nhất (chẳng hạn ngày 20/5/2008) là 100 nghìn đồng một
cổ phiếu (mệnh giá khi phát hành là 10 nghìn đồng) thì giá trị thị trường (thị
giá) của công ty này là 1.000 tỷ đồng.
Như vậy, thị giá một doanh nghiệp chỉ có khi DN đã có mặt trên thị trường
chứng khoán và thị giá thay đổi từng ngày theo giá chứng khoán.

2. Hai là xem giá trị tài sản sổ sách là giá trị DN.

Nguyễn Kim Phượng – CQ 46 / 11. 02 – Học viện Tài chính

25


×