Tải bản đầy đủ (.docx) (23 trang)

SKKN tạo hứng thú cho hoc sinh khi day doc van bang phuong pháp nhap de

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (249.68 KB, 23 trang )

MỘT SỐ CÁCH DẪN VÀO BÀI TẠO HỨNG THÚ
CHO HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN BẬC THPT
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho học
sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học,bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh”(Điều 24, Luật giáo dục). Đây là định hướng cơ bản, thiết thực đối với mỗi
giáo viên đồng thời cũng là yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả của mỗi tiết dạy.
M.Gorki từng nói “Văn học là nhân học” thế nhưng một thực trạng đáng buồn là ngày nay
học sinh yêu thích và đeo đuổi môn Ngữ Văn đang ngày càng ít đi. Một phần là bộ môn Ngữ
Văn là môn khó chiếm lĩnh kiến thức, một phần là do các em không thật sự yêu thích và có hứng
thú với các tiết học Văn. Vậy nguyên nhân xuất phát từ đâu? Từ học sinh? Hay do đặt thù môn
học chỉ dung nạp những người có năng khiếu thơ văn? Hay do chính người truền thụ - người dạy
chưa tạo được hứng thứ, chưa thắp lên được ngọn lửa say mê môn học trong các em.
Từ nhiều năm nay phương pháp đổi mới dạy Văn – học văn đã được thực hiện , một trong
những yêu cầu của đổi mới là tạo hứng thú cho học sinh trong vệc học tập môn Ngữ Văn – một
trong những khâu cần tạo hứng thú nhất chính là “dẫn vào bài”. Xuất phát từ nhu cầu trên tôi
chọn đề tài “Một số cách dẫn vào bài tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Ngữ Văn bậc
trung học phổ thông”
II. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Học sinh bậc trung học phổ thông
- Học viên bậc trung học phổ thông tại Trung Tâm Giáo dục thường xuyên huyện Bình Tân
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khoa học giáo dục hiện đại cho rằng dạy học vừa là lĩnh vực mang tính khoa học vừa mang
tính nghệ thuật. Dẫn vào bài chính là biện pháp hợp thành của quá trình nghệ thuật dạy học. Nó
mở đầu, đặt nền móng cho quá trình dạy học, gắn bó xuyên suốt với hoạt động lên lớp. Đồng
thời cũng là quá trình then chốt thúc đẩy tính tích cực ở người học. Vì vậy đề tài nhằm mục đích:
- Góp phần tạo hứng thú và nâng cao chất lượng học tập cho học viên đối với bộ môn Ngữ
Văn. Có thể nói dẫn nhập có vai trò như một bước đệm để dẫn dắt tạo hứng thú cho học viên đến
với môn học bằng sự tò mò chờ đợi để khám phá tri thức mới


- Hạn chế, giải quyết tình trạng lười học, chán học và không biết cách học, sợ học môn Ngữ
văn của học viên hiện nay.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Tham khảo tài liệu tham khảo và SGK để tìm ra những kiến thức cơ bản phục vụ cho việc
viết đề tài và áp dụng đề tài vào trong quá trình giảng dạy.
- Nghiên cứu về phương pháp giảng dạy của các GV bộ môn khác và GV dạy Ngữ văn
trong nhà trường.
- Nghiên cứu về tình hình học tập của học viên đối với các môn học nói chung và môn Ngữ
văn nói riêng về khả năng nắm bắt kiến thức, hứng thú trong học tập bộ môn.
- Nghiên cứu về tâm tư, nguyện vọng và thái độ, sự ham thích của học viên trong việc học
môn Ngữ văn.
- Nghiên cứu về chương trình nội dung kiến thức SGK môn Ngữ văn về các phương pháp
giảng dạy học viên phù hợp với lứa tuổi.


- Dùng phương pháp khảo sát thực nghiệm và phân tích nội dung; phương pháp trắc
nghiệm khách quan; phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động.


B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. KHÁI NIỆM DẪN NHẬP
Dẫn nhập hay còn gợi là lời mở đầu là phương thức dẫn dắt học viên một cách có ý thức
vào tri thức mới
Dẫn nhập theo nghĩa chữ: là phát huy tác dụng của nhập vào (nhập) và hướng dẫn, dẫn dắt
(dẫn). Vậy dẫn nhập là nhập vào để học viên có thể nhập tâm, chú tâm vào bài học, kích thích
ham muốn học tập cho học sinh.
2. VAI TRÒ CỦA VIỆC “ DẪN VÀO BÀI”
Dẫn vào bài hay còn gọi là “lời mở đầu – dẫn nhập”, là một phương thức dẫn dắt học viên
một cách có ý thức, có mục đích để đi vào tri thức mới, là khâu mở đường, bắt đầu của quá trình

dạy hoc.
Nhà khoa học Anh –xtanh từng nói “Vật có giá trị chân chính không phải được sinh ra từ
dã tâm hoặc tinh thần trách nhiệm mà được sinh ra từ lòng đam mê và nhiệt thành đối với sự vật
khách quan” Vì thế dẫn vào bài trong quá trình dạy học của bất kì phân môn nào – đặc biệt là
môn Ngữ Văn sẽ kích thích lòng ham muốn khám phá tri thức tạo hứng thú học tập cho hoc viên.
Xét lâu dài dẫn nhập có vai trò tạo nên tinh thần tự giác, tự khám phá tri thức cho người học.Vì
vậy dẫn vào bài mới giữ một vai trò quan trọng đó là:
- Mở đường cho tiến trình dạy học
- Khái quát nội dung bài dạy
- Định hướng cho học viên tiếp cận văn bản
3.YÊU CẦU CỦA PHƯƠNG PHÁP DẪN VÀO BÀI
Thứ nhất, thời gian lên lớp của một tiết chỉ 45 phút nên khi soạn giảng cũng như tiến trình
lên lớp người dạy không đươc rỗng rãi thời gian ở công đoạn này. Thông thường chỉ dành
khoảng 3 -4 phút để dẫn vào bài. Vì vậy yêu cầu đầu tiên là ngắn gọn, súc tích, khái quát cao, lấy
ít dẫn nhiều, không dài dòng tùy tiện.
Thứ hai, tùy vào từng bài dạy mà giáo viên có thể chú ý những yêu cầu riêng. Trong đó có
những yêu cầu sau mà người dạy cần lưu ý:
- Làm nổi bật tính mũi nhọn, nội trung trọng tâm, tư tưởng quan trọng của bài dạy
- Làm nỗi bật quan hệ giữa các phần, các nội dung trong bài học.
- Làm nỗi bật tính đơn giản, dễ hiểu của ngôn ngữ
- Khơi dậy được sự tò mò, kích thích hứng thú và ham muốn khám phá tri thức của người
học.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. VỀ PHÍA GIÁO VIÊN
Thực tế cho thấy nhiều giáo viên còn xem nhẹ vai trò tạo hứng thú của phần dẫn vào bài
học, chưa chú ý nhiều vào việc dẫn vào bài học như thế nào để người học tham gia vào bài học
một cách hào hứng và tích cực. Như dành thời gian dẫn vào bài mới để kiểm tra bài cũ...v...v
Hay một số giáo viên có thực hiện bước dẫn vào bài mới nhưng phương pháp chưa phù
hợp, chưa tác động hiệu quả tới người học tạo cảm giác nhàm chán thái độ học tập thụ động ở
người học.

2. VỀ PHÍA HỌC SINH


- Thực tế những năm gần đây cho thấy học sinh cấp THPT nói chung và học viên ở Trung
tâm Giáo dục thường xuyên huyện Bình Tân nói riêng rất yếu môn Ngữ văn, không ham thích
học văn, thậm chí là sợ môn Văn.
- Hiện nay, học viên từ bậc Trung học cơ sở lên trung học phổ thông còn có rất nhiều em
chưa đọc thông viết thạo. Đây là một trở ngại quá lớn khi các em lại phải tiếp tục tìm hiểu, khám
phá những kiến thức cao hơn, rộng lớn hơn, trừu tượng hơn. Từ đó dẫn đến việc mất dần kiến
thức và kỹ năng cơ bản, dẫn đến chán học, không hứng thú học văn.
- Chương trình vẫn còn những bài dạy dung lượng kiến thức lớn so với thời lượng từ 45
phút nghiên cứu trên lớp nên học viên lại càng khó tiếp thu kiến thức.
- Học viên lười học, không chịu đầu tư suy nghĩ, phát biểu xây dựng bài trong giờ học,
khâu chuẩn bị bài còn hời hợt, tiếp thu bài chậm.
3. NGUYÊN NHÂN
- Thao tác vào bài, lời dẫn định hướng trước tiết học của giáo viên còn hạn chế, thường chỉ
dừng lại ở việc giơi thiệu tên bài học, nội dung chính. Đây là kiểu dẫn dắt mở đầu đơn điệu, thiếu
thu hút, lôi cuốn người học. Hơn nữa Văn là một môn khó chiếm lĩnh – kén người học, người
dạy – vì thế dễ sinh sự nhàm chán khi tiếp cận kiên thức.
- Trong thời đại khoa học công nghệ như hiện nay chuyện học viên xa lánh môn Ngữ Văn
nói riêng và các môn xã hội nói chung - nhiều học viên hướng tới các môn tự nhiên để tạo điều
kiện nghề nghiệp trong tương lai.
- Ngữ Văn là bộ môn có sự hạn chế nhất định về đồ dùng trực quan (tranh ảnh – video).
Một số văn bản phổ thông tương đối dài, chữ nhiều, hình ít cũng là một cản trở để học viên tiếp
cận văn bản.
III. CÁC GIẢI PHÁP
1. VÀO BÀI MỚI BẰNG LỜI DẪN TRỰC TIẾP
1.1: VÀO BÀI MỚI BẰNG LỜI DẪN CỦA GIÁO VIÊN
Dẫn vào bài học trực tiếp bằng lời dẫn của giáo viên là hình thức giáo viên đi thẳng vào bài
học bằng lời dẫn dắt của người dạy. Đây là cách dẫn vào bài phổ biến nhất vì giáo viên không

cần phải nghiền ngẫm nhiều đầu tư nhiều mà vẫn giới thiệu định hướng được vấn đề, nội dung
bài dạy.
Ví dụ: Để dạy bài “Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” (Ngữ Văn 11) người dạy có
thể dẫn vào bài bằng lời dẫn sau: Mỗi người Việt Nam đã đang và sẽ mãi mãi sử dụng một kho
tài sản quí báu được ông cha truyền lại từ ngàn đời. Tài sản này càng sử dụng càng phong phú,
càng giàu có thêm.Đó là ngôn ngữ của dân tộc – tiếng mẹ đẻ - Tiếng Việt. Mỗi lời nói của chúng
ta hằng ngày là biểu hiện cụ thể của việc sử dụng tài sản ngôn ngữ vào đời sống con người.Vậy
ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân có quan hệ như thế nào?Để giải đáp thắc mắc trên cô mời cả
lớp cùng đi vào bài học hôm nay
Tuy nhiên cách sử dụng lời dẫn trực tiếp này không tạo được thử thách với người học, nó
chỉ dừng lại ở việc định hướng giới thiệu nội dung bài mới. Chính vì thế khi sử dụng cách này
người dạy cần khéo léo, thay đổi “màu sơn” để tạo hứng thú cho người học tránh sự lập lại nhàm
chán.
1.2: Từ một nhận định, đánh giá để đi vào bài mới
Gv có thể lấy một câu nhận định, đánh giá từ một nhà văn, nhà thơ hay một nhà phê bình
văn học, và có thể là nhận định của chính giáo viên để đi vào bài. Nhưng nhận định, đành giá đó
cần phải phù hợp, có ý nghĩa tích cực và có liên quan đến bài học mới. Cách dẫn này giúp các
em có thêm được kiến thức mới, giúp ích cho phần làm văn, đồng thời bổ sung, làm giàu vốn
kiến thức cho người giáo viên.


Ví dụ: Vào bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy, ta có thể dẫn như sau:
Nhà thơ Tố Hữu, trong bài thơ Tâm sự đã viết: “Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu, Trái tim lầm
chỗ để trên đầu. Nỏ thần vô ý trao tay giặc, Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.” Đó là cách đánh giá
của ông về một nhân vật trong truyền thuyết đặc sắc: Truyện An Dương Vương và Mị Châu –
Trọng Thủy. Trải qua hàng nghìn năm đến nay, câu chuyện ấy vẫn đem lại cho chúng ta những
bài học sâu sắc. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về câu chuyện đó.
1.3: Trích dẫn danh ngôn
Danh ngôn là những lời răn dạy, những câu triết lí mang hàm ý sâu sắc, có tác dụng răn dạy
được mọi người sử dụng trong cuộc sống hằng ngày.Trích dẫn danh ngôn để dẫn nhập vào bài

mới có thể thu hút được sự chú ý của học viên, tạo sự mới mẽ, khác lạ, kích thích nâng cao hứng
thú tìm tòi khám phá tri thức ở học viên. Khi dạy học nếu giáo viên biết trích dẫn danh ngôn hợp
lí sẽ khiến cho ngôn ngữ có sức mạnh hơn hẵn những lời nói tản mản, vụn vặt.
Ví dụ: Khi dạy “Lưu biệt khi xuất dương – Phan Bội Châu” . Giáo viên có thể dẫn “Chúng
ta từng nghe “Làm trai cho đáng nên trai. Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng” (ca dao). Chí làm
trai một đề tài không mới không hiếm trong thơ ca Việt Nam. Nó được thể hiện rõ nét trong tác
phẩm của Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Công Trứ...Nhưng đến Phan Bội Châu quan niệm này đã
được kế thừa và thể hiện một cách mới và và táo bạo. Điều này được cụ thể hóa trong tác phẩm
Lưu biệt khi xuất dương mà chúng ta sẽ hoc ngày hôm nay.
2. LIÊN HỆ THỰC TẾ ĐỂ VÀO BÀI
Văn chương nghệ thuật luôn gắn liền với thực tiễn, và nhiều năm gần đây việc tích hợp
giáo dục thực tiển, kĩ năng sống…đang được áp dụng rất phổ biến trong tất cả các môn học.
Phân môn Ngữ văn là môn cần được áp dụng một cách sát sao hơn hết, do đó việc liên hệ từ thực
tế để dẫn dắt vào bài (hay ngược lại) là một việc cần thiết. - Việc liên hệ thực tế để đi vào bài sẽ
giúp các em có cái nhìn toàn diện hơn, các em sẽ được mở mang tầm mắt thay vì chỉ chăm chú
nhìn vào SGK, vào lí thuyết suông. Nó còn giúp các em bổ sung vào phần dẫn chứng khi làm
văn
Vd: GV có thể đi từ nạn bạo hành gia đình đang diễn ra rất phổ biến trong xã hội ngày nay
để vào bài “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu ). Hoặc trước khi vào bài Giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt, GV liên hệ chương trình truyền hình Giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Việt của đài HTV7 lúc 12h55 mỗi ngày.
3. GIẢ ĐỊNH TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ ĐỂ VÀO BÀI MỚI
“Tư duy luôn bắt đầu từ một vấn đề” xác định được vấn đề và xây dựng được tình huống
có vấn đề là hạt nhân của dạy học nêu vấn đề. Để dẫn dắt vào bài mới bằng tình huống có vấn đề
người dạy có thể tạo ra những vấn đề giả định bằng hệ thống câu hỏi tình huống. Tình huống đặt
ra cần bám sát vào nội dung, tư tưởng bài hoc, tình huống đặt ra có thể là để học sinh độc lập tư
duy, cũng có thể rộng hơn là để học viên bàn bạc thỏa luận mở đầu bài dạy.
Thành công của phương pháp này là từ tình huống người dạy đặt ra, học viên có thể lí giải
hiểu một phần nội dung bài dạy, hoặc sẽ mang theo thắc mắc vào học tập, và lần lượt khơi mở
vấn đề để đi đến câu trả lời, khi bài học kết thức cũng là lúc các em tìm, hoàn thiện đáp án – một

cách kích thích hứng thú tìm tòi kiến thức và khắc sâu kiến thức.
Ví dụ:
- Khi dạy bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Nguyễn Minh Châu giáo viên có thể đưa ra
tình huống: Nhu cầu sống của con người là rất lớn. Giả sử nếu một ngày nào đó em phải lựa


chọn: ra đi vĩnh viễn hoặc sống nhưng linh hồn phải nương nhờ vào một thân xác không là của
mình. Em sẽ làm gì?
-Hay khi dạy “Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm” giáo viên có thể đặt nhưng câu hỏi tình
huống như sau: Nếu phải trả lời những câu hỏi sau em sẽ trả lời như thế nào: theo em đất nước ta
có từ bao giờ? Do ai tạo nên? Và em sẽ làm gì với đất nước mình?
4. SỬ DỤNG KÊNH HÌNH ĐỂ VÀO BÀI MỚI
Vào đầu tiết, GV có thể cho HS xem một đoạn phim hoặc một số hình ảnh có liên quan đến
bài học mới, từ đó kích thích trí tò mò giúp các em đi vào tìm hiểu bài mới một cách dễ dàng
hơn. Biện pháp này có thể thay cho lời dẫn tạo cảm giác chân thực, sinh động kích thích khám
phá bài mới
Tuy nhiên để thành công trong thời lượng ít ỏi của phần vào bài người dạy cần phải chọn
lọc những kênh hình phù hợp, mang tính bao quát nhất tránh giới thiệu quá nhiều tranh ảnh,
video cùng một nội dung.
Ví dụ: Khi dạy Chí Phèo – Nam Cao; Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài giáo viên có thể giới
thiệu một trích đoạn phim được chuyển thể từ tác phẩm. Hoặc giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh
để học viên khám phá nội dung bài học.
Giáo viên cũng có thể sử dụng hình ảnh để học viên dự đoán nội dung thể hiện trong bức
tranh và đó cũng là nội dung bài học. Ví dụ: Khi dạy “Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh
Châu” giáo viên có thể vào bài bằng hình ảnh sau

5. VẬN DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI ĐỂ VÀO BÀI
Để giảm bớt sự căng thẳng sau vài phút trả bài, Gv có thể cho HS chơi một trò chơi nhỏ để
đi vào bài. Với cách làm này vừa tạo được không khí vui nhộn, sôi động trong giờ học, giảm bớt
sự nhàm chán, buồn ngủ vừa giúp các em có thêm sự nhạy bén, linh hoạt trong giao tiếp

Vd: Học bài Đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, Gv mời 2 HS (HS năng động) lên
bảng. Một HS sẽ diễn tả các từ ngữ đã cho sẵn: con bướm, bác sĩ, giáo viên… (không được nói).
HS còn lại sẽ nhìn vào hành động, cách diễn tả đó để đoán từ ngữ. Sau đó, GV sẽ chốt lại, đây là
một trong những đặc điểm của ngôn ngữ nói, còn ngôn ngử viết thì có những đặc điểm nào?
Hôm nay chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu bài Đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC


Dạy văn – học văn là một môn học khó nhiều chữ, nhiều lời đôi khi gây ra sự nhàm chán
cho học viên đặc biệt là học viên ở các Trung tâm GDTX. Vì vậy để khắc phục tình trạng trên tôi
đã cụ thể hóa các biện pháp trên vào tiết dạy và nhận được kết quả như sau
Ý kiến
Cảm nhận của em khi học tiết Ngữ Văn trong năm học 2014 -2015
Tiêu chí
Hứng thú
Bình thường
Nhàm chán
12/1
74%
18%
8%
11/1
72.8%
27.2%
0%
11/2
88.4%
6.4%
5.2%
V. KHẢ NĂNG NHÂN RỘNG

Qua thực tế kiểm nghiệm sự ảnh hưởng của sáng kiến đến việc học tập của học sinh là khá
tốt. Đa số học sinh tích cực tham gia vào hoạt động khám phá bài mới, và không thấy áp lực khi
phải học môn Ngữ Văn.
Việc giúp HS ham thích học môn Ngữ văn, nắm bắt được những kiến thức cơ bản của bài
học, là một yêu cầu cấp thiết mà mỗi giáo viên Ngữ văn chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm tòi
sáng tạo trong giảng dạy để đạt được hiệu quả cao. Dẫn vào bài không mất nhiều thời gian của
một tiết dạy, dẫn vào bài tạo được không khí tích cực cho tiết dạy. Chính vì vậy đây là một khâu
không thể thiếu trong dạy và học Ngữ Văn


C. PHẦN KẾT LUẬN
I. KẾT LUẬN
Trên đây là một số giải pháp của tôi đưa ra nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học
môn Ngữ văn. Chúng ta tin tưởng rằng nó sẽ rất cần thiết để cho nhiều giáo viên giảng dạy bộ
môn Ngữ văn và các bộ môn khác tham khảo, học tập. Song với khả năng và kinh nghiệm có
hạn, thiết nghĩ bài tham luận còn rất nhiều hạn chế như tính mới, tính lô- gíc nên tôi rất mong
được sự tham gia góp ý của các đồng nghiệp xa gần để hoàn thiện và được áp dụng rộng rãi
II. KIẾN NGHỊ
Để việc dạy và học Ngữ Văn không trở nên nhàm chán, áp lực thì người giáo viên và học
viên cần phải có tiếng nói chung, người đi đầu của quá trình đó phải là người dạy, người thầy,
người cô đứng trên bục giảng. Để làm được điều đó chúng ta cần:
- Đa dạng hóa, đổi mới nội dung, phương pháp hình thức học tập trong trường học. Không
vì nghĩ mình là giáo viên hệ GDTX mà xem nhẹ việc đổi mới phương pháp giảng dạy, hoặc năng
lực của người học.
- Tìm hiểu, phân tích sở thích, tâm lí học viên để có biện pháp lôi cuốn tạo hứng thú môn
học nhất là đối với học viên hệ GDTX đây là việc làm hết sức cần thiết.

Phê duyệt của lãnh đạo
Giáo viên thực hiện


Lê Phạm Hương Diệu


PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH DẪN VÀO BÀI

1. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu”


- Qua việc thực hiện các giải pháp trên của đề tài vào các bài dạy môn Ngữ
văn, người viết đã rút ra một số những kinh nghiệm sau:
+ Cần tạo hứng thú nhiều hơn nữa cho học sinh trong giờ học môn Ngữ
văn, đặc biệt là phần dẫn vào bài học.
+ Tuỳ vào đối tượng học sinh của lớp học mà người dạy chọn giải pháp tạo
hứng thú ở phần dẫn vào bài học cho phù hợp, nhưng luôn có hướng từ dẫn vào bài
trực tiếp bằng lời dẫn của giáo viên đến dẫn vào bài gián tiếp thông qua một số
hoạt đông. Nếu lớp học không thuận lợi cho việc áp dụng giải pháp 2 buộc người
dạy chỉ dừng lại ở giải pháp 1 thì người dạy cũng nên có những điểm nhấn gây ấn
tượng thông qua giọng điệu và cử chỉ trong lời dẫn của mình để học sinh dễ có
cảm hứng hơn trong thời điểm “dạo đầu” này.
- Người viết cũng xin đưa ra một số khuyến nghị để tăng khả năng áp dụng
các giải pháp của đề tài vào thực tiễn, cụ thể như sau:
+ Đối với loại bài học tiếng Việt, việc tạo hứng thú ở phần mở đầu là tương
đối khó nhưng không phải là không có cách. Người dạy nên soạn giảng xong
xuôi,
sau đó mới chuẩn bị cho việc tạo hứng thú ở phần mở đầu bài học. Bởi lẽ,
loại bài
học này chủ yếu là cung cấp kiến thức và áp dụng vào bài tập. Cho nên, soạn
giảng
trước, người dạy sẽ thấy có những đơn vị kiến thức, có những bài tập kích

thích
được sự tò mò của học sinh



I. LÍ DO CHỌ ĐỀ TÀI
Hứng thú là một trạng thái tâm lí rất cần thiết trong đời sống con người. Bởi
có hứng thú, con người học tập, lao động và vui chơi mới hăng say, nhiệt
tình. Đặc
biệt, trong hoạt động dạy và học nói chung và dạy và học môn Ngữ văn nói
riêng,
hứng thú không chỉ giúp người học vui học, sáng tạo mà còn giúp người dạy
nhập
tâm, truyền hết cái thần của bài học. Trong một tiết học mà cả thầy và trò
đều hứng
thú, say mê đi chiếm lĩnh bầu trời tri thức thì tiết học ấy sẽ sinh động đến
nhường
nào.
Hoạt động dạy và học môn Ngữ văn quả thực rất cần có hứng thú, mà một
trong những khâu cần tạo hứng thú nhất là phần dẫn vào bài học. Bởi lẽ, bất
kì một


hoạt động nào cũng đều cần có sự mở đầu, dẫn dắt. Trong mỗi tiết học môn
Ngữ
văn, phần dẫn vào bài học là một khâu quan trọng góp phần quyết định đến
hiệu
quả của cả giờ học. Đây là thời điểm “dạo đầu” để giáo viên tìm cách tạo
động cơ
học tập cho học sinh.

Vì thế, hòa vào xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học nói chung và dạy
và học môn Ngữ văn nói riêng, người viết xin được đưa ra những kiến giải về
vấn
đề “Đổi mới dạy và học môn Ngữ văn qua việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào
bài
học” cho những bước đầu tập nghiên cứu của mình.
Có nhiều cách dẫn vào bài học tùy theo mục tiêu, nội dung của tiết học, năng
lực, thiên hướng của học sinh và năng lực của bản thân giáo viên. Trong
phạm vi
sáng kiến kinh nghiệm này, người viết bước đầu đưa ra một số kĩ thuật dẫn
vào bài
học hiệu quả, tạo hứng thú học tập cho học sinh trong môn Ngữ văn (có minh
họa
cụ thể áp dụng cho một số loại bài học, đối tượng học sinh). Thiết nghĩ, đây
là một
vấn đề có giá trị thực tiễn đối với dạy và học môn Ngữ văn ở trung học phổ
thông
nên rất mong nhận được sự góp ý của nhiều đồng nghiệp để người viết hoàn
thiện
đề tài.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
- Người viết đã tìm hiểu khái niệm “hứng thú” để làm cơ sở cho việc nghiên
cứu đề tài của mình. Đã có nhiều học giả định nghĩa về hứng thú, sau đây
người
viết xin đưa ra một số định nghĩa về khái niệm này như sau:
+ Hứng thú là tâm trạng ham thích, cảm thấy có hào hứng. Ví dụ: Tác
phẩm gây được hứng thú cho người đọc (theo nhóm tác giả Hoàng Phê, Từ
điển
tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2004, trang 473).

Trang 1


+ Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó,
vừa có
ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân
trong
quá trình hoạt động (theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Quang Uẩn).
Như vậy, hứng thú biểu hiện ở sự tập trung chú ý cao độ, ở sự say mê hấp


dẫn bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và cả chiều sâu. Hứng thú làm nảy
sinh khát
vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm
việc. Vì
thế cùng với nhu cầu, hứng thú là một trong những hệ thống động lực của
nhân
cách.
Theo cách định nghĩa khái niệm “hứng thú” trên, chúng ta cũng đã hiểu vì
sao việc tạo hứng thú lại rất cần thiết trong giờ học môn Ngữ văn, đặc biệt là

phần dẫn vào bài học.
- Người viết cũng chú ý vào các câu thành ngữ Việt Nam như “Vạn sự khởi
đầu nan”, “Đầu xuôi đuôi lọt”,… để chiêm nghiệm và góp phần kiến giải cho
đề tài
của mình. Qua việc chiêm nghiệm những câu thành ngữ này, chúng ta có thể
thấy
được sự khởi đầu có ý nghĩa quan trọng như thế nào trong mọi công việc, mọi
hoạt
động. Và với cương vị là người giáo viên dạy môn Ngữ văn, chiêm nghiệm

những
câu thành ngữ trên, người viết không khỏi suy nghĩ về việc tạo hứng thú
trong các
giờ học của môn học này, đặc biệt là phần dẫn vào bài học. Bởi lẽ, giống
nhưng
mọi công việc, một hoạt động khác, dạy và học môn Ngữ văn cũng thường
gặp
nhiều khó khăn ở phần khởi đầu để từ đó lôi cuốn học sinh tham gia một
cách tích
cực vào bài học.
Vì vậy, việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài học, đặc biệt ở môn Ngữ văn là
rất cần thiết. Dẫn vào bài học tốt, gây được hứng thú để học sinh tập trung
hướng
vào bài học có thể nói là người dạy môn Ngữ văn đã thành công được một
nửa
trong tiết dạy đó.
- Người viết cũng luôn suy nghĩ về câu nói của Longfellow – một nhà thơ
Mĩ: “Mở đầu là một nghệ thuật vĩ đại” với mong muốn những kiến giải cho đề
tài
của mình được đầy đủ hơn.
Thật vậy, ấn tượng đầu tiên bao giờ cũng là rất quan trọng. Mỗi bài học nếu
có phần mở đầu bài học thuyết phục thì chỉ với vài ba phút mở đầu thôi sẽ
dẫn dắt
được cả tiết học. Phần mở đầu bài học là một trong những yếu tố quyết định
tính


toàn vẹn của bài học, có tác dụng phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học
sinh, tạo
không khí hứng khởi cho các em khi bắt đầu vào bài học mới.

Cũng vì “Không có lần thứ hai cho sự mở đầu”, như nhiều người khẳng
định, nên việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài học cần phải được người dạy
chuẩn
bị chu đáo. Bởi lẽ, chỉ có chuẩn bị chu đáo người dạy mới thể hiện được cái
“nghệ
thuật vĩ đại” ở phần mở đầu bài học. Và chỉ có chuẩn bị chu đáo người dạy
mới
thấy tự tin, tạo hứng thú cho phần dẫn vào bài học một cách tự nhiên, không
khiên
cưỡng.
2. Cơ sở thực tiễn
Trang 2


Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên còn xem nhẹ vai trò việc tạo hứng
thú ở
phần dẫn vào bài học, chưa chú ý nhiều đến việc phải bắt đầu tiết học như
thế nào
để học sinh cảm thấy hào hứng và tham gia vào bài học một cách tích cực
nhất.
Nhiều khảo sát gần đây cho thấy thực trạng học tập các môn học nói chung
và học tập môn Ngữ văn nói riêng của học sinh trung học phổ thông chưa
thực sự
hiệu quả. Một phần là học sinh chưa có khả năng tự học, còn lười học, mang
tính
chất học vẹt, học thuộc nhưng không hiểu sâu; một phần là giáo viên sử
dụng các
phương pháp chưa thực sự phù hợp và chưa tác động hiệu quả tới từng đối
tượng
học sinh, tạo ra cảm giác nhàm chán và thái độ học tập thụ động. Vấn đề đặt

ra là
cần phải có những đổi mới nhất định trong phương pháp dạy học.
Vì thế, người viết đưa ra giải pháp “Đổi mới dạy và học môn Ngữ văn qua
việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài học” để nâng cao hiệu quả cho học
sinh trong
từng bài học. Đây là giải pháp được cải tiến từ những giải pháp đã có.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1. Giải pháp 1: Dẫn vào bài học trực tiếp bằng lời dẫn của giáo viên
- Dẫn vào bài học trực tiếp bằng lời dẫn của giáo viên là hình thức giáo viên
đi thẳng vào vấn đề cần trình bày bằng lời dẫn dắt của mình. Đây là cách
dẫn vào
bài học phổ biến nhất vì giáo viên không cần phải đầu tư, nghiềm ngẫm
nhiều mà


vẫn giới thiệu được bài học và những nội dung chính của tiết học, xác định
được
ngay định hướng mà không bị “lạc đường”.
Tuy nhiên cách dẫn vào bài học này không tạo được “thử thách” với người
học mà người học phải tự đặt ra “thử thách” cho mình sau khi đi vào bài học.
Chính vì thế, khi sử dụng cách này, người dạy cần khéo léo tạo hứng thú,
tránh sự
nhàm chán làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập.
Đối tượng áp dụng cho giải pháp này thường là lớp học với những học sinh
trung bình – yếu hoặc không yêu thích môn Ngữ văn. Đây là loại đối tượng
tương
đối nhiều trong các cấp học, đặc biệt là cấp học trung học phổ thông hiện
nay vì
các em học trung bình – yếu hoặc có xu hướng học lệch để hướng tới học các
môn

cho việc chọn ngành nghề của mình sau này. Nhưng không phải vì các em
học
trung bình – yếu hay học lệch (không thích môn học của mình) mà người dạy
không chú ý tạo hứng thú cho các em, đặc biệt ở phần dẫn vào bài học. Đối
với
loại đối tượng này, người dạy có thể chỉ cần dừng lại ở cách dẫn vào bài học
trực
tiếp bằng lời dẫn của mình nhưng ở mỗi bài học cần đổi mới cánh cửa vào bài
bằng
“màu sơn” khác nhau qua giọng nói, cử chỉ, điệu bộ,… Và chỉ có làm như vậy
mới
dần dần thu hút được sự chú ý, tạo được hứng thú học tập cho những người
học
thuộc loại đối tượng này.
- Qua thực tiễn áp dụng giải pháp này vào giảng dạy tại đơn vị mình, người
viết xin đưa ra một số dẫn chứng minh hoạ đã thực hiện có hiệu quả trong
việc tạo
hứng thú ở phần dẫn vào bài học trong một số bài học như sau:
+ Dạy kiểu bài văn thuyết minh (Ngữ văn 10), người dạy nên dẫn vào bài
học như sau sẽ tạo được sự hứng thú cho người học: Các em đã học xong văn
tự
sự. Văn tự sự không cần độ chính xác cao vì bên cạnh yếu tố thực lại có cả
yếu tố
Trang 3


hư cấu, thậm chí là rất hoang đường. Khác với văn tự sự, có một dạng văn
mà khi



các em đi mua thuốc bệnh, thuốc bổ đều có tờ “Hướng dẫn sử dụng” thuộc
dạng
văn này, đó là văn thuyết minh. Vậy, yêu cầu số 1 của văn thuyết minh là
tính
chính xác. Bây giờ, thầy mời cả lớp đi tìm hiểu cách làm của dạng văn này.
+ Dạy bài “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão (Ngữ văn 10), người dạy có thể
dẫn vào bài học bằng cách sau: Đất nước ta đã trải qua mấy nghìn thu chiến
đấu
và đổi mới, nay đã được bình yên, nhân dân ấm no, bờ cõi vững vàng. Có
được
như thế là nhờ công lao to lớn của người đời trước. Trong đó, tiêu biểu là
Phạm
Ngũ Lão – một danh tướng đời Trần. Mà “Tỏ lòng” là một trong hai bài thơ còn
lại của vị danh tướng này đã nêu bật “hào khí Đông A” mạnh mẽ của thời đại
ấy… Để hiểu bài thơ “Tỏ lòng”, thầy mời cả lớp đi vào tìm hiểu tiết học ngày
hôm
nay.
+ Dạy bài Hồi trống Cổ Thành (Ngữ văn 10), người dạy có thể dẫn vào bài
học bằng cách sau sẽ tạo được hứng thú cho người học: Chắc trong lớp
chúng ta
có em đã xem hoặc về bộ phim “Tam quốc diễn nghĩa” trên các phương tiện
thông
tin đại chúng. Nhưng các em có biết bộ phim này đã được chuyển thể từ bộ
tiểu
thuyết chương hồi cùng tên của nhà văn La Quán Trung. Và hôm nay, chúng
ta sẽ
đi tìm hiểu một hồi tiêu biểu trong 120 hồi của bộ tiểu thuyết này, đó là hồi
thứ 28
có một nhân vật xuất hiện trong thành ngữ sau: “nóng như Trương Phi, đa
nghi

như Tào Tháo”. Mời các em cùng mở sách giáo khoa trang 74.
+ Dạy bài “Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” (Ngữ văn 11), người
dạy có thể dẫn vào bài bằng lời dẫn sau để tạo hứng thú cho người học: Mỗi
người
Việt Nam đã, đang và sẽ mãi mãi sử dụng kho tài sản quý báu của cha ông ta
ngàn
đời truyền lại. Khác với những loại tài sản khác, loại tài sản này, chúng ta
càng sử
dụng càng làm cho nó phong phú và giàu có thêm. Đó là ngôn ngữ của dân
tộc.
Mỗi lời nói của chúng ta hằng ngày cũng chính là biểu hiện của việc sử dụng
tài
sản chung đó vào đời sống cá nhân của mỗi con người. Vậy, ngôn ngữ chung



lời nói cá nhân có mối quan hệ như thế nào? Để giải đáp thắc mắc trên, thầy
mời
cả lớp cùng đi vào tìm hiểu bài học ngày hôm nay.
+ Dạy bài “Chiều tối” của Hồ Chí Minh (Ngữ văn 11), người dạy có thể
dẫn vào bài học bằng lời dẫn sau có thể tạo được hứng thú cho học sinh: Hồ
Chí
Minh là bậc ĐẠI NHÂN, ĐẠI TRÍ, ĐẠI DŨNG như Quách Mạt Nhược – một học
giả Trung Quốc – đã từng nhận định khi đọc tập “Nhật kí trong tù” của
Người.
Quả thực, qua tập thơ này, chúng ta có thể hiểu thêm về bản lĩnh phi thường

tinh thần lạc quan đáng kính của Người (“Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở
ngoài lao”). Một trong những bài thơ tiêu biểu của tập “Nhật kí trong tù” là
bài

“Chiều tối”. Bài thơ này lấy cảm hứng trên đường chuyển lao của Bác từ Tĩnh
Tây đến Thiên Bảo vào cuối mùa thu năm 1942. Để hiểu bản lĩnh và tinh thần
lạc
quan của Bác thể hiện trong bài thơ này, thầy mời cả lớp đi vào tiết học ngày
hôm
nay.
+ Dạy bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
(Ngữ văn 12), người dạy có thể dẫn vào bài học bằng lời dẫn sau:“Ai đã đặt
tên
cho dòng sông?” ban đầu có tên là “Hương ơi, e phải mày chăng?” là bài bút

của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế vào năm 1981. Đây là một
một
Trang 4




I. LÍ DO CHỌ ĐỀ TÀI

Hứng thú là một trạng thái tâm lí rất cần thiết trong đời sống con người. Bởi
có hứng thú, con người học tập, lao động và vui chơi mới hăng say, nhiệt
tình. Đặc
biệt, trong hoạt động dạy và học nói chung và dạy và học môn Ngữ văn nói
riêng,


hứng thú không chỉ giúp người học vui học, sáng tạo mà còn giúp người dạy
nhập
tâm, truyền hết cái thần của bài học. Trong một tiết học mà cả thầy và trò

đều hứng
thú, say mê đi chiếm lĩnh bầu trời tri thức thì tiết học ấy sẽ sinh động đến
nhường
nào.
Hoạt động dạy và học môn Ngữ văn quả thực rất cần có hứng thú, mà một
trong những khâu cần tạo hứng thú nhất là phần dẫn vào bài học. Bởi lẽ, bất
kì một
hoạt động nào cũng đều cần có sự mở đầu, dẫn dắt. Trong mỗi tiết học môn
Ngữ
văn, phần dẫn vào bài học là một khâu quan trọng góp phần quyết định đến
hiệu
quả của cả giờ học. Đây là thời điểm “dạo đầu” để giáo viên tìm cách tạo
động cơ
học tập cho học sinh.
Vì thế, hòa vào xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học nói chung và dạy
và học môn Ngữ văn nói riêng, người viết xin được đưa ra những kiến giải về
vấn
đề “Đổi mới dạy và học môn Ngữ văn qua việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào
bài
học” cho những bước đầu tập nghiên cứu của mình.
Có nhiều cách dẫn vào bài học tùy theo mục tiêu, nội dung của tiết học, năng
lực, thiên hướng của học sinh và năng lực của bản thân giáo viên. Trong
phạm vi
sáng kiến kinh nghiệm này, người viết bước đầu đưa ra một số kĩ thuật dẫn
vào bài
học hiệu quả, tạo hứng thú học tập cho học sinh trong môn Ngữ văn (có minh
họa
cụ thể áp dụng cho một số loại bài học, đối tượng học sinh). Thiết nghĩ, đây
là một
vấn đề có giá trị thực tiễn đối với dạy và học môn Ngữ văn ở trung học phổ

thông
nên rất mong nhận được sự góp ý của nhiều đồng nghiệp để người viết hoàn
thiện
đề tài.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
- Người viết đã tìm hiểu khái niệm “hứng thú” để làm cơ sở cho việc nghiên
cứu đề tài của mình. Đã có nhiều học giả định nghĩa về hứng thú, sau đây
người
viết xin đưa ra một số định nghĩa về khái niệm này như sau:
+ Hứng thú là tâm trạng ham thích, cảm thấy có hào hứng. Ví dụ: Tác


phẩm gây được hứng thú cho người đọc (theo nhóm tác giả Hoàng Phê, Từ
điển
tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2004, trang 473).
Trang 1


+ Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó,
vừa có

ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân
trong
quá trình hoạt động (theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Quang Uẩn).
Như vậy, hứng thú biểu hiện ở sự tập trung chú ý cao độ, ở sự say mê hấp
dẫn bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và cả chiều sâu. Hứng thú làm nảy
sinh khát
vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm
việc. Vì

thế cùng với nhu cầu, hứng thú là một trong những hệ thống động lực của
nhân
cách.
Theo cách định nghĩa khái niệm “hứng thú” trên, chúng ta cũng đã hiểu vì
sao việc tạo hứng thú lại rất cần thiết trong giờ học môn Ngữ văn, đặc biệt là

phần dẫn vào bài học.
- Người viết cũng chú ý vào các câu thành ngữ Việt Nam như “Vạn sự khởi
đầu nan”, “Đầu xuôi đuôi lọt”,… để chiêm nghiệm và góp phần kiến giải cho
đề tài
của mình. Qua việc chiêm nghiệm những câu thành ngữ này, chúng ta có thể
thấy
được sự khởi đầu có ý nghĩa quan trọng như thế nào trong mọi công việc, mọi
hoạt
động. Và với cương vị là người giáo viên dạy môn Ngữ văn, chiêm nghiệm
những
câu thành ngữ trên, người viết không khỏi suy nghĩ về việc tạo hứng thú
trong các
giờ học của môn học này, đặc biệt là phần dẫn vào bài học. Bởi lẽ, giống
nhưng
mọi công việc, một hoạt động khác, dạy và học môn Ngữ văn cũng thường
gặp
nhiều khó khăn ở phần khởi đầu để từ đó lôi cuốn học sinh tham gia một
cách tích
cực vào bài học.
Vì vậy, việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài học, đặc biệt ở môn Ngữ văn là
rất cần thiết. Dẫn vào bài học tốt, gây được hứng thú để học sinh tập trung
hướng
vào bài học có thể nói là người dạy môn Ngữ văn đã thành công được một
nửa



trong tiết dạy đó.
- Người viết cũng luôn suy nghĩ về câu nói của Longfellow – một nhà thơ
Mĩ: “Mở đầu là một nghệ thuật vĩ đại” với mong muốn những kiến giải cho đề
tài
của mình được đầy đủ hơn.
Thật vậy, ấn tượng đầu tiên bao giờ cũng là rất quan trọng. Mỗi bài học nếu
có phần mở đầu bài học thuyết phục thì chỉ với vài ba phút mở đầu thôi sẽ
dẫn dắt
được cả tiết học. Phần mở đầu bài học là một trong những yếu tố quyết định
tính
toàn vẹn của bài học, có tác dụng phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học
sinh, tạo
không khí hứng khởi cho các em khi bắt đầu vào bài học mới.
Cũng vì “Không có lần thứ hai cho sự mở đầu”, như nhiều người khẳng
định, nên việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài học cần phải được người dạy
chuẩn
bị chu đáo. Bởi lẽ, chỉ có chuẩn bị chu đáo người dạy mới thể hiện được cái
“nghệ
thuật vĩ đại” ở phần mở đầu bài học. Và chỉ có chuẩn bị chu đáo người dạy
mới
thấy tự tin, tạo hứng thú cho phần dẫn vào bài học một cách tự nhiên, không
khiên
cưỡng.
2. Cơ sở thực tiễn
Trang 2


Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên còn xem nhẹ vai trò việc tạo hứng

thú ở

phần dẫn vào bài học, chưa chú ý nhiều đến việc phải bắt đầu tiết học như
thế nào
để học sinh cảm thấy hào hứng và tham gia vào bài học một cách tích cực
nhất.
Nhiều khảo sát gần đây cho thấy thực trạng học tập các môn học nói chung
và học tập môn Ngữ văn nói riêng của học sinh trung học phổ thông chưa
thực sự
hiệu quả. Một phần là học sinh chưa có khả năng tự học, còn lười học, mang
tính
chất học vẹt, học thuộc nhưng không hiểu sâu; một phần là giáo viên sử
dụng các
phương pháp chưa thực sự phù hợp và chưa tác động hiệu quả tới từng đối
tượng
học sinh, tạo ra cảm giác nhàm chán và thái độ học tập thụ động. Vấn đề đặt
ra là
cần phải có những đổi mới nhất định trong phương pháp dạy học.
Vì thế, người viết đưa ra giải pháp “Đổi mới dạy và học môn Ngữ văn qua


việc tạo hứng thú ở phần dẫn vào bài học” để nâng cao hiệu quả cho học
sinh trong
từng bài học. Đây là giải pháp được cải tiến từ những giải pháp đã có.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1. Giải pháp 1: Dẫn vào bài học trực tiếp bằng lời dẫn của giáo viên
- Dẫn vào bài học trực tiếp bằng lời dẫn của giáo viên là hình thức giáo viên
đi thẳng vào vấn đề cần trình bày bằng lời dẫn dắt của mình. Đây là cách
dẫn vào
bài học phổ biến nhất vì giáo viên không cần phải đầu tư, nghiềm ngẫm

nhiều mà
vẫn giới thiệu được bài học và những nội dung chính của tiết học, xác định
được
ngay định hướng mà không bị “lạc đường”.
Tuy nhiên cách dẫn vào bài học này không tạo được “thử thách” với người
học mà người học phải tự đặt ra “thử thách” cho mình sau khi đi vào bài học.
Chính vì thế, khi sử dụng cách này, người dạy cần khéo léo tạo hứng thú,
tránh sự
nhàm chán làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập.
Đối tượng áp dụng cho giải pháp này thường là lớp học với những học sinh
trung bình – yếu hoặc không yêu thích môn Ngữ văn. Đây là loại đối tượng
tương
đối nhiều trong các cấp học, đặc biệt là cấp học trung học phổ thông hiện
nay vì
các em học trung bình – yếu hoặc có xu hướng học lệch để hướng tới học các
môn
cho việc chọn ngành nghề của mình sau này. Nhưng không phải vì các em
học
trung bình – yếu hay học lệch (không thích môn học của mình) mà người dạy
không chú ý tạo hứng thú cho các em, đặc biệt ở phần dẫn vào bài học. Đối
với
loại đối tượng này, người dạy có thể chỉ cần dừng lại ở cách dẫn vào bài học
trực
tiếp bằng lời dẫn của mình nhưng ở mỗi bài học cần đổi mới cánh cửa vào bài
bằng
“màu sơn” khác nhau qua giọng nói, cử chỉ, điệu bộ,… Và chỉ có làm như vậy
mới
dần dần thu hút được sự chú ý, tạo được hứng thú học tập cho những người
học
thuộc loại đối tượng này.

- Qua thực tiễn áp dụng giải pháp này vào giảng dạy tại đơn vị mình, người
viết xin đưa ra một số dẫn chứng minh hoạ đã thực hiện có hiệu quả trong
việc tạo
hứng thú ở phần dẫn vào bài học trong một số bài học như sau:
+ Dạy kiểu bài văn thuyết minh (Ngữ văn 10), người dạy nên dẫn vào bài


học như sau sẽ tạo được sự hứng thú cho người học: Các em đã học xong văn
tự
sự. Văn tự sự không cần độ chính xác cao vì bên cạnh yếu tố thực lại có cả
yếu tố
Trang 3


hư cấu, thậm chí là rất hoang đường. Khác với văn tự sự, có một dạng văn
mà khi
các em đi mua thuốc bệnh, thuốc bổ đều có tờ “Hướng dẫn sử dụng” thuộc
dạng
văn này, đó là văn thuyết minh. Vậy, yêu cầu số 1 của văn thuyết minh là
tính
chính xác. Bây giờ, thầy mời cả lớp đi tìm hiểu cách làm của dạng văn này.
+ Dạy bài “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão (Ngữ văn 10), người dạy có thể
dẫn vào bài học bằng cách sau: Đất nước ta đã trải qua mấy nghìn thu chiến
đấu
và đổi mới, nay đã được bình yên, nhân dân ấm no, bờ cõi vững vàng. Có
được
như thế là nhờ công lao to lớn của người đời trước. Trong đó, tiêu biểu là
Phạm
Ngũ Lão – một danh tướng đời Trần. Mà “Tỏ lòng” là một trong hai bài thơ còn
lại của vị danh tướng này đã nêu bật “hào khí Đông A” mạnh mẽ của thời đại

ấy… Để hiểu bài thơ “Tỏ lòng”, thầy mời cả lớp đi vào tìm hiểu tiết học ngày
hôm
nay.
+ Dạy bài Hồi trống Cổ Thành (Ngữ văn 10), người dạy có thể dẫn vào bài
học bằng cách sau sẽ tạo được hứng thú cho người học: Chắc trong lớp
chúng ta
có em đã xem hoặc về bộ phim “Tam quốc diễn nghĩa” trên các phương tiện
thông
tin đại chúng. Nhưng các em có biết bộ phim này đã được chuyển thể từ bộ
tiểu
thuyết chương hồi cùng tên của nhà văn La Quán Trung. Và hôm nay, chúng
ta sẽ
đi tìm hiểu một hồi tiêu biểu trong 120 hồi của bộ tiểu thuyết này, đó là hồi
thứ 28
có một nhân vật xuất hiện trong thành ngữ sau: “nóng như Trương Phi, đa
nghi
như Tào Tháo”. Mời các em cùng mở sách giáo khoa trang 74.
+ Dạy bài “Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” (Ngữ văn 11), người
dạy có thể dẫn vào bài bằng lời dẫn sau để tạo hứng thú cho người học: Mỗi
người


Việt Nam đã, đang và sẽ mãi mãi sử dụng kho tài sản quý báu của cha ông ta
ngàn
đời truyền lại. Khác với những loại tài sản khác, loại tài sản này, chúng ta
càng sử
dụng càng làm cho nó phong phú và giàu có thêm. Đó là ngôn ngữ của dân
tộc.
Mỗi lời nói của chúng ta hằng ngày cũng chính là biểu hiện của việc sử dụng
tài

sản chung đó vào đời sống cá nhân của mỗi con người. Vậy, ngôn ngữ chung

lời nói cá nhân có mối quan hệ như thế nào? Để giải đáp thắc mắc trên, thầy
mời
cả lớp cùng đi vào tìm hiểu bài học ngày hôm nay.
+ Dạy bài “Chiều tối” của Hồ Chí Minh (Ngữ văn 11), người dạy có thể
dẫn vào bài học bằng lời dẫn sau có thể tạo được hứng thú cho học sinh: Hồ
Chí
Minh là bậc ĐẠI NHÂN, ĐẠI TRÍ, ĐẠI DŨNG như Quách Mạt Nhược – một học
giả Trung Quốc – đã từng nhận định khi đọc tập “Nhật kí trong tù” của
Người.
Quả thực, qua tập thơ này, chúng ta có thể hiểu thêm về bản lĩnh phi thường

tinh thần lạc quan đáng kính của Người (“Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở
ngoài lao”). Một trong những bài thơ tiêu biểu của tập “Nhật kí trong tù” là
bài
“Chiều tối”. Bài thơ này lấy cảm hứng trên đường chuyển lao của Bác từ Tĩnh
Tây đến Thiên Bảo vào cuối mùa thu năm 1942. Để hiểu bản lĩnh và tinh thần
lạc
quan của Bác thể hiện trong bài thơ này, thầy mời cả lớp đi vào tiết học ngày
hôm
nay.
+ Dạy bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
(Ngữ văn 12), người dạy có thể dẫn vào bài học bằng lời dẫn sau:“Ai đã đặt
tên
cho dòng sông?” ban đầu có tên là “Hương ơi, e phải mày chăng?” là bài bút

của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế vào năm 1981. Đây là một
một
Trang 4







×