Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

SKKN một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (214.88 KB, 23 trang )

Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

I. Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài.
Trong đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định khi mà tiềm năng trí tuệ là
động lực chính của sự tăng tốc phát triển thì giáo dục được coi là nhân tố quyết
định sự thành bại của một quốc gia trong cạnh tranh quốc tế và sự thành đạt của
mỗi người trong cuộc sống của mình; đại hội khẳng định đổi mới căn bản, toàn
diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân
chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát
triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt.
Tuy nhiên trong đánh giá tại đại hội cũng chỉ ra đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục còn có những bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu;
một bộ phận chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm
huyết,… Chính vì vậy Đảng, Chính phủ ta đánh giá vai trò của giáo dục rất quan
trọng và đặc biệt quan tâm đến Ngành giáo dục.
Thực tế trong mấy năm qua Ngành giáo dục đã, đang thực hiện đổi mới
toàn diện trong đó có đổi mới công tác quản lý ở tất các các cấp từ trung ương
đến địa phương. Tôi thiết nghĩ đổi mới không phải là chỉ ở người đứng đầu cơ
quan, mà sự đổi mới đó phải được mọi thành viên trong đơn vị thực hiện một
cách tự giác trong mọi việc làm, mọi thời điểm. Đổi mới không phải đòi hỏi một
cái gì đó lớn lao ghê gớm, mà đổi mới từ những những việc làm bình thường
hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng ở tất cả mọi người. Đổi mới công tác quản lý
cũng có nghĩa là tất cả những người lãnh đạo trong đơn vị biết khai thác cái mới
của mọi thành viên trong đơn vị, biết khích lệ mọi người tìm ra cái mới, vận
dụng cái mới đó một cách có hiệu quả. Người lãnh đạo biết quản lý cái mới hay
nói một cách khác là biết “quản lý sự đổi mới”. Có như vậy thì mới thực sự đổi
mới và có hiệu quả.
Trong những năm gần đây đội ngũ giáo viên (GV) của toàn quốc nói
chung và của huyện Krông Ana nói riêng đã được đào tạo bài bản, nhiều giáo
viên đã có trình độ trên chuẩn, có kỹ năng sư phạm tốt dẫn đến chất lượng giáo


dục có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng mũi nhọn, chất lượng đại trà
được nâng cao; tỷ lệ học sinh (HS) lưu ban giảm đáng kể. Nhưng làm thế nào để
Người viết : Vũ Thị Chín
1


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

duy trì, đẩy mạnh sự phát triển giáo dục nói chung và nâng cao chất lượng dạy học một cách bền vững trong nhà trường nói riêng thì cần phải có sự chung tay
của tất cả các cấp, các ban ngành trong giáo dục nói chung và đặc biệt là từ các
cấp cơ sở. Để đạt được mục tiêu giáo dục ngắn hạn và dài hạn, thì khâu quan
trọng nhất vẫn là chất lượng giáo dục phát triển bền vững. Đó luôn là những câu
hỏi thu hút sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, GV các trường nói
chung và của cán bộ quản lý, GV trong trường Nguyễn Viết Xuân nói riêng.
Làm thế nào để nọi người đều phát huy tối đa nội lực bản thân, làm việc hết
công suất cho hiệu quả lao động là tốt nhất; điều đó không phải là dễ. Là một
phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn tôi luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao
chất lượng dạy- học một cách có chiều sâu đáp ứng với xu thế ngày càng đổi
mới hiện nay ? Vậy tôi đã chọn đề tài “Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao
chất lượng đại trà, giảm thiểu học sinh lưu ban trong trường tiểu học Nguyễn
Viết Xuân” .
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Thực hiện đề tài này giúp cho:
- Giáo viên có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ chuyên môn của mình;
nâng cao năng lực ý thức trách nhiệm trong công việc.
- Nâng cao chất lượng giáo dục.
- Nghiên cứu tìm ra biện pháp chỉ đạo thúc đẩy tinh thần làm việc của đội
ngũ GV làm tiền đề cho việc nâng cao chất lượng đại trà, giàm thiểu HS lưu
ban.
- Bồi dưỡng GV cốt cán, đầu tư trong việc bồi dưỡng HS năng khiếu xây

dựng điển hình trong đơn vị.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Các giải pháp, biện pháp quản lý, chỉ đạo GV trong đơn vị trường tiểu
học Nguyễn Viết Xuân.
- Tâm lý giáo viên; tâm lý học sinh; thiết bị dạy học.
- Chất lượng học sinh.
Người viết : Vũ Thị Chín
2


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Một số giải pháp chỉ đạo GV trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao ở
trường tiểu học Nguyễn Viết Xuân; năm học 2013-2014; 2014-2015.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp trải nghiệm thực tế.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh, thống kê,...
II. Phần nội dung
1. Cơ sở lý luận
Trong giáo dục vị trí, vai trò của người thầy rất quan trọng. Muốn nâng
cao chất lượng giáo dục thì phải nâng cao chất lượng đội ngũ GV. Điều này phụ
thuộc rất lớn vào phương pháp quản lí của người lãnh đạo. Một người lãnh đạo
có tâm sáng, tầm cao, cách làm đúng, phải làm thay đổi được chất lượng đội
ngũ, từ đó thúc đẩy chất lượng các mặt giáo dục. Trong nhà trường chất lượng
HS là một trong yếu tố quyết định để đánh giá đội ngũ GV, bởi lẽ lao động sư
phạm là lao động sáng tạo, đòi hỏi người GV phải có kiến thức sâu, rộng và toàn
diện, luôn bổ sung cái mới nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư phạm.
Giáo dục là lĩnh vực mang tính chất học thuật. Do đó yêu cầu người

quản lý phải có tầm nhìn vừa rộng, sâu, xa trên cơ sở khoa học (cơ sở lý luận và
thực tiễn) để đưa ra những quyết sách thích hợp, phải biết khơi nguồn cảm hứng
để GV phát huy tối đa năng suất lao động. Phải nắm bắt nhanh những thành tựu
mới của giáo dục khoa học quản lý giáo dục. Nếu không am hiểu về giáo dục
thì đó là nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong công tác quản lý và tự làm mất
uy tín của chính mình.
Mặt khác đối tượng bị quản lý là con người hơn nữa lại là chủ thể tích cực
của giáo dục(người dạy và người học) chịu sự tác động của nhiều mối quan hệ,
có nhiều mục tiêu, có nhiều nhu cầu khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau và
luôn luôn thay đổi theo thời gian và không gian. Do đó phải tùy theo đối tượng
cụ thể mà sử dụng phương pháp quản lý, chỉ đạo thích hợp. Điều này phụ thuộc
vào nghệ thuật quản lý của từng người.
Người viết : Vũ Thị Chín
3


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

Đối với GV, họ mong muốn được cấp trên đáp ứng các yêu cầu và
nguyện vọng cơ bản về vật chất cũng như tinh thần, tình cảm. Họ mong muốn
được lãnh đạo quan tâm, nhận xét đánh giá đúng khả năng, trình độ, ý thức và sự
cố gắng của mình; được cấp trên cư xử tế nhị, tôn trọng. Họ mong muốn được
sống và làm việc trong bầu không khí vui vẻ, quan tâm và đoàn kết, giúp đỡ lẫn
nhau; mong muốn cấp trên vừa là người có tài, có đức để lãnh đạo đơn vị đạt kết
quả tốt nhất.
Đối với HS các em mong muốn thầy cô của mình là người vừa có trình độ
chuyên môn cao, có đạo đức tốt, là người yêu thương, quan tâm tới tất cả mọi
người. Các em mong muốn được sống và học tập trong tập thể đoàn kết và yêu
thương nhau, mong muốn thầy cô luôn tạo điều kiện thuận lợi để tất cả các em
đều được phát huy khả năng sáng tạo của mình. Các em mong muốn thầy cô

nhận xét, đánh giá đúng khả năng và trình độ của mình trong thực tế học tập và
trong mọi hoạt động giáo dục khác.
Tóm lại: GV, HS họ đều có những nhu cầu, nguyện vọng cơ bản, mong
muốn chính đáng cần được thỏa mãn(cả vật chất lẫn tinh thần). Khi họ được
thỏa mãn sẽ đem lại những tâm trạng và thái độ tích cực và ngược lại khi không
được thỏa mãn những nhu cầu của bản thân sẽ nảy sinh ở họ những tâm trạng
và thái độ tiêu cực. Bởi vậy, ban giám hiệu nhà trường phải thấu hiểu tâm lý của
đối tượng quản lý quan tâm và có kế hoạch bồi dưỡng nhằm thúc đẩy động cơ
làm việc tích cực, sáng tạo, chủ động của GV và HS.
Như vậy việc bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ GV
trở thành việc làm thường xuyên của ban giám hiệu. Song có một đội ngũ GV
vững vàng về chuyên môn cũng chưa đủ để quyết định chất lượng giáo dục nói
chung. Bởi vì khi sinh ra một người một cá tính, mỗi người một vẻ khác nhau,
đương nhiên không ai giống ai. Chính vì vậy mặc dù có chung một nơi đào tạo
đi chăng nữa thì sản phẩm ắt sẽ hoàn toàn khác nhau. Vấn đề là ban giám hiệu
nắm bắt được khả năng nhận thức, vận dụng kỹ năng sư phạm của từng GV để
rồi khai thác triệt để nội lực bản thân đó chính là vấn đề tôi trăn trở muốn chia sẻ
trong đề tài này.
2.Thực trạng
2.1.Thuận lợi- khó khăn
Người viết : Vũ Thị Chín
4


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

Nhà trường được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa
phương; sự chỉ đạo sát sao của Phòng GD&ĐT. Phòng GD&ĐT thường xuyên
tổ chức các chuyên đề nhằm bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ cán bộ
quản lý, giáo viên.

Đội ngũ GV có phẩm chất đạo đức tốt, đoàn kết, có tính tự giác, có tinh
thần trách nhiệm. Về cơ bản họ đã chấp hành nghiêm các chỉ thị, Nghị quyết,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của
ngành. Đa số giáo viên trẻ, khoẻ, năng động, sáng tạo, nhiệt tình và yêu nghề;
một số giáo viên có năng lực chuyên môn tương đối vững vàng. Giáo viên nhà ở
gần trường.
Học sinh đại đa số là người Kinh.
Bên cạnh những thuận lợi trên trường còn gặp một số khó khăn:
+ Các biện pháp chỉ đạo theo lối mòn, chưa có sự đột phá, sáng tạo.
+ Giáo viên nhiều năm liền đều dạy một khối lớp nên bị mai một kiến
thức. Trình độ chuyên môn cũng như khả năng nhận thức của giáo viên không
đồng đều.
+ Tỷ lệ học sinh lưu ban còn cao, chất lượng mũi nhọn thấp.
+ Thiết bị và đồ dùng dạy học còn hạn chế làm ảnh hưởng đến chất lượng
dạy- học.
2. 2.Thành công- hạn chế:
- Ban giám hiệu có thêm kinh nghiệm trong lĩnh vực chỉ đạo, quản lý chất
lượng giáo dục.
- Đội ngũ GV ý thức được việc bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn
là nhiệm vụ của mỗi cá nhân nên đa số GV có ý thức tự học tự rèn tốt, chất
lượng giáo dục, kết quả các cuộc thi các cấp tăng dần.
- Tỷ lệ HS đạt 5 điểm còn cao (Điểm 5 là điểm cho thấy HS hoàn thành
các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng chưa an toàn).
2.3. Mặt mạnh- mặt yếu

Người viết : Vũ Thị Chín
5


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX


Một số GV trẻ có trình độ đại học, được đào tạo chính quy nên việc cập
nhật các vấn đề về chuyên môn, xã hội nhạy bén; GV năng động, hoạt bát và
tiên phong trong mọi hoạt động.
Gắn kết các thành viên trong đơn vị thành một khối đoàn kết cùng phấn
đấu cho mục tiêu chung của tập thể để đạt được kết quả giáo dục tương đối tốt.
Một số GV bằng lòng với những gì đã làm được, chưa có sự đầu tư chất
lượng đại trà, chất lượng mũi nhọn không cao. Một số GV chưa mạnh dạn đổi
mới phương pháp dạy- học; có suy nghĩ yên phận thủ thường.
Học sinh có tham gia các phong trào nhưng kết quả rất thấp.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động…
Trong những năm gần đây nhờ sự chỉ đạo sát sao của Phòng GD&ĐT, sự
quan tâm phối hợp của địa phương và sự chỉ đạo linh hoạt của Ban giám hiệu
nhà trường. Tập thể sư phạm đoàn kết. Cán bộ quản lý và giáo viên có nhiều cơ
hội bồi dưỡng trau dồi thêm năng lực quản lý cũng như năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt sau khi Thông tư
30/2014 được áp dụng thì hiệu quả trong giáo dục được nâng lên: Việc nhận xét
đánh giá HS rất đa dạng phong phú; đặc biệt việc nhận xét HS bằng lời khiến
GV phải suy nghĩ trăn trở tìm những câu từ nhận xét, đánh giá HS sao cho gần
gũi, dễ hiểu, cụ thể nhất nhưng không làm tổn thương HS, không có sự so sánh
giữa các HS với nhau lại khích lệ thế mạnh của HS để các em phát triển thế
mạnh, khắc phục được nhược điểm. Như vậy càng tăng thêm tình cảm thầy trò,
gắn kết giữa các HS với nhau (HS nhận xét đánh giá HS); việc đánh giá HS trở
nên khách quan, đảm bảo tính chân thực cao. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một
số hạn chế sau:
- Về giáo viên
+ Do tuổi cao nên khả năng vận dụng phương pháp mới; ứng dụng công
nghệ thông tin hạn chế.
+ Có GV chưa thật sự tâm huyết với nghề vì điều kiện gia đình khó khăn
về kinh tế; nặng về hủ tục sinh con một bề (Năm học 2013- 2014 có tới 3 GV


Người viết : Vũ Thị Chín
6


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

sinh con thứ 3); Còn nặng về việc chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần cho
gia đình...
+ Khả năng nhận thức của GV không đồng đều; Ý thức trách nhiệm, tự
giác của một số GV chưa cao, chưa chịu khó rèn luyện và học hỏi kinh nghiệm,
làm việc chưa hết khả năng,…Những GV này tự mặc cảm mình kém cỏi nên
không phấn đấu, họ tự nghĩ nếu có cố gắng thì cũng vẫn thua các bạn đồng
nghiệp và cũng chẳng bao giờ được ai khen…và cứ như vậy họ càng ngày càng
chán nản, xa đà xuống dốc.
- Đa số phụ huynh HS của trường đều làm nông nghiệp nên thu nhập thấp,
kinh tế gia đình tạm ổn vả lại thời gian cũng không rảnh nên ít có điều kiện cho
con cái được đi giao lưu học hỏi ở ngoài xã hội. Chính vì thế mà đại đa các em
đều nhút nhát, kĩ năng giao tiếp chậm, điều này có ảnh hưởng một phần chất
lượng giáo dục.
2.5.Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
- Phân tích biện pháp chỉ đạo của Ban giám hiệu đối với giáo viên
Đồng chí Hiệu trưởng nhà trường là người có bản lĩnh, giàu kinh nghiệm
trong lĩnh vực quản lý giáo dục; đồng chí đã lãnh đạo, chỉ đạo tập thể hội đồng
sư phạm đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học. Trong hai năm qua nhà
trường đều đạt danh hiệu tập thể lao động Tiên tiến. Tuy nhiên trong công tác
chỉ đạo vẫn còn một lỗ hổng nhỏ mà ban giám hiệu làm chưa làm triệt để dẫn
đến hiệu quả công tác quản lý chưa cao đó là: Công tác kiểm tra lại chưa kỹ; Đôi
khi trong giải quyết công việc còn nặng về tình cảm. Động viên GV có thành
tích cao trong hoạt động giáo dục bằng vật chất còn chậm, hạn chế.

-Trình độ chuyên môn, nhận thức của giáo viên
Trường có đủ về số lượng GV và GV bộ môn, 100% GV có trình độ đạt
chuẩn, trong đó GV trên chuẩn đạt 85%. Đội ngũ GV có năng lực chuyên môn
tương đối đồng đều, vững vàng nhiệt tình trong giảng dạy và các hoạt động khác
của nhà trường, có đạo đức tốt, tác phong sư phạm nhà giáo chuẩn mực, chấp
hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hầu hết

Người viết : Vũ Thị Chín
7


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

các đồng chí GV đều nắm rõ mục tiêu của giáo dục tiểu học, gương mẫu, nhiệt
tình trong các hoạt động giảng dạy.
Trường có 10/22 GV đã tham gia dự thi và đạt giáo viên dạy giỏi cấp
huyện. Bên cạnh đó có 20% GV mới ra trường tuổi nghề còn ít, tuổi đời còn trẻ
chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy và công tác; một bộ phận GV có tuổi đời
cao, có thâm niên trong nghề nghiệp, tuy nhiệt tình trong công tác nhưng chưa
phát huy hết nội lực bản thân, chưa đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.
Nguyên nhân ảnh hưởng đến năng lực chuyên môn là:
Thứ nhất, một vài GV trong trường, kinh tế gia đình còn khó khăn, chồng
làm nông nghiệp hoặc làm nghề tự do lại phải nuôi nhiều con ăn học (con riêng
của chồng, con riêng của vợ và con chung)….
Thứ hai, đa số GV nữ, đang trong thời kỳ mang thai và nuôi con nhỏ, sinh
con một bề nên phải chịu hủ tục lạc hậu có con trai, con gái mới là gia đình có
phúc. GV sinh con một bề đã phải sinh con thứ 3 (3 GV).
Thứ ba, có GV nhiều năm liền chỉ dạy có một khối lớp đó chính là một
trong nguyên nhân dẫn đến sự mai một kiến thức toàn cấp; có GV từ lúc ra
trường cho đến khi về nghỉ hưu cũng chỉ dạy một khối lớp. Vì vậy họ thụ động

trong quá trình phê và tự phê; khi dự giờ đồng nghiệp những giáo viên này
thường không có ý kiến về chuyên môn (vì tôi không bao giờ dạy lớp đó…).
Như vậy càng cực kỳ khó khăn cho việc phân công chuyên môn.
-Thực trạng về thiết bị phục vụ cho giảng dạy của trường TH Nguyễn Viết
Xuân
Trường có hai điểm trường, tuy nhiên số HS tại điểm lẻ lại nhiều hơn
trong điểm chính, mà số HS được học Tin học chỉ có điểm chính (phòng máy
đặt tại điểm chính). Trường có 2 máy tính xách tay; Một dành cho kế toán; một
dành cho chuyên môn. Máy dành cho hoạt động chuyên môn do cài đặt quá
nhiều phần mền vả lại sử dụng đã lâu năm nên thường xuyên bị lỗi, hiện không
còn sử dụng được. Mỗi lần chuyên môn đi tập huấn hay thực hiện các chuyên đề
tại trường đều phải đi mượn máy của GV. Mặt khác thiết bị dùng để nghe phụ

Người viết : Vũ Thị Chín
8


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

vụ cho môn Tiếng Anh cũng không rõ âm thanh nên đã ảnh hưởng đến chất
lượng dạy- học.
- Chất lượng đại trà thấp, tỷ lệ học sinh lưu ban cao
Do phương pháp dạy học của giáo viên.
Do một phần gia đình quan tâm chưa đúng mức đến con em. Vì một số
em do bố mẹ đi làm ăn xa nên đã gửi con cho ông bà nuôi nên ông bà có tâm lý
chiều cháu thái quá.
Các em ít có điều kiện được đi giao lưu nên rất nhút nhát, không dám thể
hiện mình.
3. Giải pháp, biện pháp:
Biện pháp chỉ đạo tổ chuyên môn, GV thay đổi ý thức, thái độ, nhận

thức, tình cảm trong công việc.
Biện pháp chỉ đạo làm thay đổi nhận thức của HS để nâng cao tinh thần
học tập góp phần nâng cao chất lượng.
3.1.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Các biện pháp giúp Ban giám hiệu nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng
năng lực GV đạt hiệu quả; GV nhận thức được tầm quan trọng của việc bồi
dưỡng năng lực chuyên môn, nâng cao ý thức tự học, tự rèn, tự sáng tạo; nâng
cao chất lược giáo dục của đơn vị và tạo uy tín trong nhân dân.
Giúp cho Ban giám hiệu nhà trường có kế hoạch chỉ đạo sát với thực tế để
đạt hiệu quả quản lý cao.
Giúp HS định hướng đúng mục đích học tập, tạo động cơ học tập bên
trong.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Chất lượng giáo dục trong nhà trường có được là kết quả hội tụ của rất
nhiều các yếu tố nhưng trong đề tài này tôi chỉ đề cập đến một số nội dung sau:

Người viết : Vũ Thị Chín
9


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

- Phương pháp quản lý, chỉ đạo của ban giám hiệu( Phần cứng là lãnh
đạo, chỉ đạo theo văn bản chỉ đạo của cấp trên; Phần mềm: chỉ đạo thông qua
các kỹ năng của cuộc sống như: sự cảm thông, thấu hiểu, chia sẻ,…
- Chất lượng đội ngũ giáo viên (Năng lực, phẩm chất đạo đức nhà giáo,
kỹ năng sư phạm trong giảng dạy, phương pháp giảng dạy)
- Tác động đến ý thức học tập của học sinh.
* 1. Phương pháp quản lý, chỉ đạo của ban giám hiệu
Việc làm này đòi hỏi Ban giám hiệu luôn đi đầu trong mọi hoạt động để

làm gương cho đội ngũ GV. Xác định đây là việc khó nhưng không thể không
làm, mà coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu của hiệu trưởng, phó hiệu
trưởng cùng với sự cộng tác của các thành viên, tổ khối trưởng.
- Thành lập một số tổ tư vấn hỗ trợ các hoạt động giáo dục:
Trong nhà trường ngoài các tổ chuyên môn theo quy định, tôi đã tham
mưu với hiệu trưởng thành lập thêm các tổ tư vấn các hoạt động giáo dục trong
đó chuyên môn là nòng cốt và trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo các tổ hoạt động có
hiệu quả. Nhiệm vụ của tổ là tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp cho tất cả GV có
những vấn đề liên quan đến chuyên môn của tổ.
Ví dụ: Tổ toán gồm những thành viên có kinh nghiệm lâu năm trong
giảng dạy và kinh nghiệm ôn thi HS năng khiếu môn toán đạt giải cao như cô Lê
Thị Hồng Gấm, Cô Lê Thị Oanh,…Và tôi trực tiếp làm tổ trưởng. Tổ có nhiệm
vụ tư vấn, giải đáp những thắc mắc về phương pháp giảng dạy các dạng, bài
toán khó hoặc những khúc mắc trong khi dạy môn toán. (Kể cả những bài toán
trên mạng). Tổ tiếng Việt có trách nhiệm tư vấn những vấn đề liên quan đến
phương pháp giảng dạy môn tiếng Việt hoặc những nội dung về khái niệm,..
hướng giải quyết giữa các phân môn trong tiếng Việt; Tổ này cũng quy tụ những
GV có kinh nghiệm trong giảng dạy và có năng lực sở trường như thầy Nguyễn
Duy Kỳ Diệu làm tổ trưởng và hai cô: Bùi Thị Luyến và Phạm Thị Việt Hoài
(GV tốt nghiệp Đại học ngữ văn) là tổ phó. Các tổ tư vấn công nghệ thông tin,
Tổ thể dục thể thao,…cũng có nhiệm vụ riêng và hoạt động tương tự như các tổ
toán và tổ tiếng Việt. Tổ trưởng lập kế hoạch hoạt động cho tổ, chia khu vực cho
Người viết : Vũ Thị Chín
10


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

từng thành viên(vì trường có 2 điểm trường) tiếp nhận thông tin và xử lý thông
tin, phản hồi. Sau mỗi tuần, tháng đều có những ý kiến trao đổi với chuyên môn

thông
qua
hệ
thống
hộp
thư
điện
tử
của
trường.
()
- Truyền cảm hứng
Không phải người lãnh đạo phải giỏi toàn diện; giỏi hơn giáo viên mà nhà
quản lý phải giỏi truyền cảm hứng cho GV, thổi vào con người họ những ước
mơ, hoài bão tốt đẹp để họ tự cảm thấy đó là trách nhiệm mình phải làm để
xứng đáng với những gì tập thể, nhân dân mong đợi.
Quản lý, lãnh đạo bằng tấm gương của mình để thu phục mọi người.
chính vì vậy Ban giám hiệu luôn chấp hành nghiêm theo quy chế chuyên môn
trong đó kể cả những việc nhỏ nhất như là: trang phục đồng phục hay giờ giấc
làm việc. Bản thân tôi không dung túng, bao che cho bất kỳ một trường hợp nào
vi phạm quy chế chuyên môn; nghiêm khắc xử lý hợp tình, hợp lý. Ví dụ, nếu
thấy một GV đi muộn giờ thì tôi nhắc nhở luôn, nếu GV làm được việc tốt thì
tuyên dương kịp thời. Nếu GV chậm giờ quá 10 phút, trước tiên là tôi sắp
xếp tìm GV khác đứng lớp trong thời gian GV đó chưa đến lớp
hoặc tự mình đứng lớp thay. Sau đó sắp xếp thời gian hợp lý (giờ
ra chơi hay cuối buổi) tôi ân cần hỏi han lý do và tư vấn,
khuyên họ chân tình chứ không phải lập biên bản trước…Tôi
phải tìm hiểu rõ các nguyên nhân để khuyên răn hoặc ngăn
chặn nhẹ nhàng bằng nhân tâm của chính mình chứ không nên
áp đặt một chiều. Những việc tương tự như vậy xẩy ra đều được giải quyết

theo cách này chứ không có sự thiên vị một ai.
Trong những việc làm thường xuyên của tôi là luôn luôn giao tiếp trực
tiếp hoặc gián tiếp với đội ngũ GV và HS. Trong quá trình đó tôi đã rút ra cho
mình một số kinh nghiệm trong giao tiếp, chỉ đạo:
+ Luôn giữ lời hứa: Nói là làm; làm thì làm đến nơi. Nếu vô tình hoặc
cố ý quên hay bỏ qua điều mình đã nói (hứa) thì khiến cấp dưới
mất đi lòng tin và rõ ràng, giá trị của người lãnh đạo sẽ giảm đi
rất lớn.
Người viết : Vũ Thị Chín
11


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

+ Luôn công bằng: nếu có sự thiên vị dù cố ý hay vô tình
cũng đều có thể hủy hoại danh tiếng rất nhanh.
+ Luôn tin tưởng: Tin tưởng đội ngũ GV, nhân viên; tin vào
đội ngũ tổ khối trưởng, tổ tư vấn các hoạt động chuyên môn đó
chính là những nhân tố giúp việc tốt là những người bạn, người
đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ chung của đơn vị.
+ Trung thực: Luôn trung thực trong công việc, trong cuộc
sống. Sự không thẳng thắn luôn bị phát hiện dù sớm hay muộn
và điều tồi tệ hơn là làm mất đi lòng tin.
Tóm lại: bản thân tôi luôn luôn động viên, khuyến kích sự lao động sáng
tạo của mọi người, luôn tạo một môi trường làm việc thân thiện cho mọi người;
thuyết phục mọi người cam kết hoàn thành công việc đúng thời hạn và đáp ứng
được chất lượng cao công việc đề ra.
* 2. Bồi dưỡng chất lượng cho đội ngũ giáo viên
- Tham mưu với hiệu trưởng phân công chuyên môn dựa theo năng lực sở
trường và theo chiều hướng phát triển để có cơ sở bồi dưỡng thành hạt nhân

nòng cốt. Hàng năm, cuối năm học tập thể hội đồng sư phạm đánh giá xếp loại
cán bộ, viên chức trong nhà trường. Bản thân tôi đã dựa vào kết quả đó để tham
mưu với hiệu trưởng trong việc phân công chuyên môn sao cho vừa đảm bảo
tính phát triển của cá nhân và tính hiệu quả trong toàn đơn vị.
+ Mỗi tổ khối chọn ít nhất từ 1-2 GV có chuyên môn vững vàng của toàn
cấp, chí ít là có chuyên môn vững vàng của khối đó để làm nòng cốt. Những GV
này họ kèm cặp, giúp đỡ những GV trong tổ về chuyên môn cũng như các hoạt
động giáo dục khác. Người có nhiều kinh nghiệm tạo điều kiện giúp đỡ người có
ít kinh nghiệm họ cùng chia sẻ kinh nghiệm trong giảng dạy cũng như trong các
hoạt động giáo dục, nhằm giúp cho mỗi GV có cơ hội phát triển, học hỏi lẫn
nhau. Tạo cơ hội cho GV được khám phá bản thân. Ví dụ: Những GV chuyên
làm công tác chủ nhiệm khối lớp 3, nay được chuyển sang làm công tác chủ
nhiệm khối lớp 4; những GV chuyên dạy thay nay được giao làm công tác chủ
nhiệm lớp,…Tất nhiên lúc đầu họ sẽ gặp một chút khó khăn song được chuyên
Người viết : Vũ Thị Chín
12


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

môn nhà trường, tổ khối trưởng hỗ trợ, dần họ cũng đã quen, tự tin và hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn
+ Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng đều được sinh hoạt luân phiên một trong 3
tổ chuyên môn của trường. Với mục đích nhằm bồi dưỡng quán triệt sâu sắc
thêm các chỉ thị nghị quyết của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ năm học của các cấp
quản lý giáo dục nhất là nhiệm vụ năm học của cấp Tiểu học làm cho mỗi một
GV nắm được nhiệm vụ trọng tâm của năm học từ đó nâng cao nhận thức tầm
quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, học tập trong năm học.
Tổ chức tốt bồi dưỡng thường xuyên từng chu kì cho GV theo các modun

đã đăng kí (Tập huấn tập trung, tự học, tự bồi dưỡng…)
Tổ chức đánh giá, bình xét thi đua trong tổ thật khách quan, công bằng
trước khi đưa lên hội đồng thi đua nhà trường đánh giá xếp loại.
+ Bồi dưỡng -kĩ năng dạy học trên lớp
Chỉ đạo dự giờ thăm lớp theo hướng cắt lát kết hợp khảo sát HS. Đây là
hoạt động mang tính chất thường xuyên của tất cả GV, HS. Dự giờ thăm lớp
giúp người dự nhận thấy được ưu điểm của đồng nghiệp để học hỏi và những sai
sót để tránh. Dự giờ có chỉ định trước hoặc dự giờ đột xuất, dự hết tiết hoặc dự
một, hai,… hoạt động, sau khi dự giờ xong người dự nhận xét ưu, khuyết điểm
góp ý theo tiêu chí đánh giá xếp loại giờ dạy đã quy định và góp ý cho người
dạy để họ phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại. Thông qua dự giờ của GV mà tổ
tư vấn góp ý bồi dưỡng giúp đỡ cho giáo viên về kĩ năng dạy học trên lớp, đặc
biệt sự linh hoạt của giáo viên trong việc sử dụng các phương pháp dạy học theo
đặc trưng từng bộ môn, đồng thời giúp cho GV biết lựa chọn hình thức dạy học
cho phù hợp theo đối tượng HS của lớp mình.
+ Chỉ đạo các tổ sinh hoạt theo chiều sâu; thực hiện các tiết chuyên đề mà
GV trong khối yêu cầu, những khó khăn trong quá trình giảng dạy cần được tháo
gỡ.
Cách 1: Lợi dụng nhân tài trong khối để cùng Ban giám hiệu chuẩn bị nội
dung và tổ chức chuyên đề. Ví dụ chọn GV dạy giỏi cấp huyện thực hiện chuyên
Người viết : Vũ Thị Chín
13


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

đề nội dung Phương pháp quan sát, lập dàn ý chi tiết cho tiết tập làm văn tả
cảnh hoặc chuyên đề về dạy thực hành tiết dạy kể chuyện chứng kiến hoặc tham
gia của lớp 5;…
Cách 2: Tổ chức chuyên đề theo cụm. Các trường trong cụm phối hợp với

nhau chọn nội dung, hình thức tổ chức phù hợp với địa phương, với GV để thực
hiện chuyên đề, cụ thể năm học 2014- 2015 trường đã tổ chức một tiết chuyên
đề cấp cụm về việc nhận xét, đánh giá HS theo Thông tư 30/2014, được Phòng
giáo dục huyện đánh giá là khá chi tiết. Bên cạnh đó tập thể sư phạm nhà trường
được dự giờ các trường trong cụm về các kỹ năng soạn giáo án điện tử, …Ngoài
ra trong sinh hoạt tổ còn thường xuyên chia sẻ những câu chuyện có thật, những
tình huống sư phạm mà đồng nghiệp mắc phải trong giảng dạy, trong làm công
tác chủ nhiệm; những câu từ nhận xét đánh giá HS cụ thể để mọi người ý kiến
trao đổi. Cách sinh hoạt này giúp giáo viên phát huy hơn tính tích cực của bản
thân, mạnh dạn hơn, nêu cao tinh thần học hỏi, tinh thần phê và tự phê.
- Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra đánh giá nhằm giúp giáo viên phát huy ưu điểm, khắc phục tồn
tại. Kiểm tra với nhiều nội dung như: giáo án, dự giờ, xem vở ghi của HS, khảo
sát chất lượng theo từng đối tượng HS…. Hình thức kiểm tra cũng phải phong
phú: kiểm tra thường xuyên theo quy định, kiểm tra đột xuất (đối với những GV
ý thức chưa cao). Trong năm 2014- 2015 đã tổ chức kiểm tra chuyên đề được
239 lượt tăng hơn so với năm học 2013- 2014 là 10 lượt …Không tính số lượt tư
vấn chia sẻ ngoài kiểm tra.
Trong quá trình kiểm tra, tổ kiểm tra (nay gọi là ban kiểm tra nội bộ) đã
chỉ ra những ưu điểm, tồn tại của người được kiểm tra; tư vấn những việc phải
làm ngay sau kiểm tra và những công việc sẽ phải làm để đáp ứng yêu cầu công
việc; không nhận xét chung chung, cào bằng làm thủ tiêu ý chí phấn đấu của
những GV có năng lực và ý thức trách nhiệm cao. Đặc biệt đã chú trọng đến
việc kiểm tra lại để thấy được mức độ tiến bộ của người được kiểm tra. Qua đó
có thể khen ngợi sự tiến bộ của họ khi họ đã chấp hành đúng theo yêu cầu của
ban kiểm tra nhằm khích lệ tinh thần phấn đấu vươn lên trong mỗi GV.
- Sử dụng các biện pháp kinh tế sư phạm và tâm lý xã hội
Người viết : Vũ Thị Chín
14



Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

Cuối cùng, một yếu tố không thể thiếu được là động viên, khen thưởng
kịp thời và thích đáng với những thành tích của GV dạy giỏi và GV chủ nhiệm
giỏi. Chúng tôi đã mạnh dạn phiên cách đánh giá của HS theo Thông tư 30/2014
sang đánh giá GV; trong tập thể GV, người nào có cố gắng vươn lên trong quá
trình tự học, tự rèn, phấn đấu trở thành GV dạy giỏi, tập thể lớp có nhiều HS
giỏi phải được tuyên dương khích lệ khịp thời, thậm chí có phần thưởng xứng
đáng nhằm nhân rộng điển hình trong đơn vị. Phần thưởng tuy nhỏ nhưng có tác
dụng động viên rất lớn, thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy và học. Để các thầy cô
giáo yên tâm, gắn bó hết mình với nghề nghiệp, đem hết khả năng và trí tuệ
phục vụ cho công tác giảng dạy, bồi dưỡng HS học tập đạt kết quả cao…
Mỗi GV đều có hoàn cảnh gia đình với những thuận lợi và khó khăn
riêng. Vì vậy, với khả năng và trách nhiệm của mình vừa là phó hiệu trưởng vừa
là trưởng ban nữ công công đoàn nhà trường, tôi đặc biệt quan tâm và tạo điều
kiện thuận lợi nhất để động viên, khích lệ GV yên tâm, phấn khởi hoàn thành
nhiệm vụ được giao. Ngoài ra nhà trường còn kết hợp chặt chẽ với ban đại diện
cha mẹ HS để thưởng cho những GV giỏi và HS giỏi nhân dịp cuối năm. Phần
thưởng đối với GV và HS rất có ý nghĩa; nhưng ý nghĩa hơn cả là khi được Ban
giám hiệu sướng tên mình trước tập thể và nêu lên những thành tích, những mặt
ưu điểm… đó chính là niểm tự hào, kiêu hãnh trước HS, trước phụ huynh, tạo
động lực lớn để GV, HS phấn đấu trong công tác dạy-học.
* 3. Tác động đến ý thức học tập của học sinh.
- Chỉ đạo bộ phận hoạt động ngoài giờ lên lớp lập kế hoạch chi tiết tổ
chức hiệu quả các buổi sinh hoạt chủ điểm, lồng ghép một số nội dung giáo dục
như: giáo dục kỹ năng sống, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục an toàn thực
phẩm; tổ chức các buổi thi dưới dạng rung chuông vàng với gói câu hỏi về các
nội dung kiến thức trong chương trình.
- Bản thân luôn tham gia giao lưu với HS thông qua các buổi chào cờ đầu

tuần, Hoạt động tập thể … Thông qua một số câu hỏi giao lưu với HS phần nào
tôi có thể đánh giá được GV nhận xét đánh giá HS hàng ngày, biết được việc
học tập của các em có thực sự thoải mái không ? Mỗi ngày đến trường có là một
ngày vui không ? Qua việc sinh hoạt định kỳ như thế mà HS toàn trường (cả 2
Người viết : Vũ Thị Chín
15


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

điểm trường) đều biết và nhớ tên tôi; các em còn đặt cho tôi cái tên mới đó là
“cô vui tính”.
- Chỉ đạo GV chủ nhiệm trực tiếp ôn tập cho những HS năng khiếu, nhà
trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất: mở của phòng máy vào cuối 4 buổi chiều
(thứ 4, 5, 6) để phục vụ thầy cô và các em thi giải toán qua mạng. Tổ tư vấn môn
toán sẽ hỗ trợ giảng giải cho các em những dạng toán mới mà trong chương
trình học thường ngày không có. Chính vì vậy mà số lượng HS của trường tham
gia tự luyện giải toán trên mạng năm sau nhiều hơn năm trước, đạt nhiều giải
cao: Năm học 2014- 2015 đội giao lưu HS năng khiếu môn toán của trường đạt:
1 giải Nhì, 2 giải Ba, 3 giải KK … Tổ công nghệ thông tin có trách nhiệm mỗi
tháng một lần trực tiếp hỗ trợ GV trong trường biết cách xử lý các lỗi trong khi
soạn thảo văn bản hay hướng dẫn thầy cô truy cập mạng internet để tìm kiếm tài
liệu, thông tin phục vụ cho giảng dạy. Tổ Thể dục thể thao ngoài việc hướng dẫn
HS luyện tập để các em có thể lực tốt, tạo nguồn cho việc tham gia Hội khỏe
Phù Đổng còn thường xuyên luyện tập cho các cô tham gia đội bóng chuyền nữ
của trường. Tổ Tiếng Việt đã luyện tập cho đội tuyển HS năng khiếu tham gia
dự thi cấp huyện năm học 2014- 2015 đạt nhiều giải cao như: 1 giải Nhất, 2 giải
Nhì, 2 giải Ba và 2 giải KK; … ; Tư vấn cho GV ghi câu nhận xét trong vở của
HS, tư vấn phương pháp khai thác tranh trong sách giáo khoa,…
- Qua mỗi đợt tham gia hội thi nhà trường tổng kết, rút kinh nghiệm,

tuyên dương GV, HS có thành tích cao, nêu gương điển hình trong từng lĩnh vực
nổi trội, nhằm nhân rộng trong đơn vị.
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
- Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chi bộ Đảng
- Ban giám hiệu nhà trường phải đầu tàu gương mẫu trong việc nâng cao
ý thức tự học, tự rèn;
- Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn làm tốt công tác phối kết hợp
- Giáo viên thực hiện tốt công tác tự học, tự rèn, tự sáng tạo.
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp

Người viết : Vũ Thị Chín
16


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

Nếu như Ban giám hiệu nhà trường không đề cao tính tiền phong gương
mẫu, không công bằng trong xử lý công việc thì GV cũng không nhận thức đúng
vai trò trách nhiệm của mình và như vậy mục tiêu giáo dục ngắn hạn và dài hạn
chắc chắn hiệu quả thấp và việc lập kế hoạch bồi dưỡng, phân công GV bồi
dưỡng,…cũng không đạt hiệu quả. Có bồi dưỡng mà không kiểm tra đánh giá,
không khen thưởng cũng không có động lực thúc đẩy chất lượng; Nếu như GV
không nhận thức đúng vai trò trách nhiệm của mình thì cũng không đem lại
hiệu quả cao. Do đó các biện pháp có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ trợ cho
nhau; và phải cùng song song thực hiện. Nếu thiếu đi một trong các biện pháp
trên thì hiệu quả sẽ không như mong muốn.
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Bảng 1: Tổng hợp so sánh chất lượng học sinh trong 2 năm
Năm học


TSHS

Hoàn thành
chương trình
lớp học

Lưu ban

Học sinh giỏi

SL

%

SL

%

Cấp
huyện

Cấp
tỉnh

Ghi chú

2013- 2014

284


281

98,9

3

1,1

37

0

Chưa áp dụng

2014- 2015

285

285

100

0

0

67

1


Đã áp dụng

Qua bảng tổng hợp số 1, ta thấy tỷ lệ HS lưu ban đã giảm, số lượng HS
đạt giải các cấp đã tăng khá cao khi đã áp dụng đề tài.
Bảng 2: Tổng hợp điểm môn Toán cuối năm học trong 2 năm
Năm học

TSHS

Học sinh đạt
điểm 9- 10

Học sinh đạt
điểm 5

Học sinh dưới
điểm 5

SL

%

SL

%

SL

%


Ghi chú

2013- 2014

284

108

38,0

65

22,9

3

1,1

Chưa áp dụng

2014- 2015

285

120

42,1

60


21,0

0

0

Đã áp dụng

Người viết : Vũ Thị Chín
17


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

Bảng 3: Tổng hợp điểm môn Tiếng Việt cuối năm học trong 2 năm
Năm học

TSHS

Học sinh đạt
điểm 9- 10

Học sinh đạt
điểm 5

Học sinh dưới
điểm 5

SL


%

SL

%

SL

%

Ghi chú

2013- 2014

284

80

28,2

75

26,4

2

0,7

Chưa áp dụng


2014- 2015

285

86

30,2

72

25,3

0

0

Đã áp dụng

Qua 2 bảng tổng hợp điểm số của 2 môn Toán và Tiếng Việt trong 2 năm
cho thấy tỷ lệ HS dưới điểm 5; đạt điểm 5 đã giảm, tỷ lệ học sinh đạt điểm 910 đã tăng gần 2%.
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
Trường TH Nguyễn viết xuân đóng trên địa bàn xã còn gặp nhiều khó
khăn, thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nên việc
quan tâm đến giáo dục rất hạn chế. Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng kết quả
học tập của học sinh ngày một nâng cao:
- Về học sinh
+ Tỷ lệ HS vào lớp 1 đúng độ tuổi đạt 100% trong 3 năm liền.
+ Tỷ lệ HS hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100% trong 3 năm liền,
trong đó đúng độ tuổi đạt tỷ lệ hơn 90%, duy trì phổ cập đúng độ tuổi mức độ 2

bền vững; hiệu quả sau 5 năm đào tạo đạt 96-97%.
+ Tỷ lệ HS giỏi năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt năm học 20142015 đội tuyển HS năng khiếu nhà trường đã đạt giải nhì toàn đoàn cấp huyện
27/28 em đạt giải. Hội khỏe Phù Đổng có1 em đạt Huy chương đồng cấp tỉnh
nội dung bật xa (năm 2013); Năm 2016 có 1 em đạt giải Nhất cấp huyện.
- Về giáo viên

Người viết : Vũ Thị Chín
18


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

+ Tham gia đầy đủ các phong trào do Ngành tổ chức và đều đạt giải: GV
chữ viết đẹp cấp huyện 2/2 đ/c (tỷ lệ 100%); Thi GV dạy giỏi cấp huyện đạt tỷ
lệ 75- 80% ; Tham gia viết sáng kiến kinh nghiệm đạt 70-75% cấp huyện.
Với những kết quả trên, trong những năm gần đây tập thể hội đồng sư
phạm nhà trường đã lấy được lòng tin của cha mẹ học sinh.
III. Phần kết luận, kiến nghị
1. Kết luận:
- Về phía giáo viên và học sinh:
Hiện nay, toàn ngành đang tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình giáo
dục phổ thông, vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị và trình độ nghiệp vụ
chuyên môn cho giáo viên ngày càng trở nên cấp bách. Có thực hiện tốt điều này
thì chất lượng giáo dục mới được nâng cao. Sản phẩm của nhà trường, kết quả
giáo dục của nhà trường thể hiện ở chất lượng dạy và học. Chính vì vậy mà
người giáo viên phải có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phải đáp ứng được
yêu cầu đổi mới, phải nhận thức được đầy đủ đường lối đổi mới đất nước do
Đảng ta khởi xướng trong đó có đổi mới giáo dục phổ thông. Bản thân giáo viên
phải tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện. Đồng thời phải nhận được sự chăm lo,
bồi dưỡng của tập thể nhà trường dưới sự chỉ đạo của hiệu trưởng.

Đối với HS: khi các em được thầy cô trao quyền tự chủ trong việc tự
chiếm lĩnh tri thức nghĩa là các em đã được đề cao trong quá trình học, mỗi ý
kiến của các em được thầy cô và bạn bè tôn trọng, phân tích, đánh giá, nhân xét,
từ đó các em thấu hiểu vấn đề một cách sâu sắc nhất, ghi nhớ lâu nhất có như
vậy mới phát huy năng lực sở trường của từng học sinh giúp các em ngày tiến
bộ.
- Về người quản lý
Ngoài năng lực quản lý nhà trường cán bộ quản lý phải có năng lực
chuyên môn thật vững vàng; Phải nắm bắt nhanh những thành tựu đổi mới của
giáo dục và khoa học để ứng dụng trong quản lý giáo dục. Có như vậy, chúng ta
mới đẩy mạnh công tác trí dục – Nhiệm vụ trung tâm của mỗi nhà trường.

Người viết : Vũ Thị Chín
19


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

Muốn đạt được hiệu quả trong quản lý giáo dục, người quản lý người biết
lãnh đạo, biết tổ chức công việc một cách khoa học, biết làm việc có phương
pháp; biết giao tiếp lịch thiệp, thân thiện… nắm vững nội dung nguyên tắc; Phải
có tầm nhìn xa và rộng không chỉ hiểu sâu về lý luận mà còn biết vận dụng sáng
tạo lý luận vào thực tiễn để đưa phong trào giáo dục của đơn vị đạt được thành
tích cao.
Mặt khác đối tượng bị quản lý là con người hơn nữa lại là chủ thể tích cực
của giáo dục(người dạy và người học) chịu sự tác động của nhiều mối quan hệ,
có nhiều mục tiêu, có nhiều nhu cầu khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau và
luôn luôn thay đổi theo thời gian và không gian. Do đó phải tùy theo đối tượng
cụ thể mà sử dụng phương pháp quản lý, chỉ đạo thích hợp. Điều này phụ thuộc
vào nghệ thuật quản lý của từng người.

Tóm lại: Muốn nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban. Ban
giám hiệu nhà trường phải có biện pháp toàn diện tổng hợp, vừa cụ thể vừa thiết
thực phù hợp với thực trạng đội ngũ nhà trường. Đây là một việc làm khó, đòi
hỏi người lãnh đạo phải có đủ phẩm chất, năng lực, sáng tạo, giám nghĩ, giám
làm, chịu trách nhiệm và thực sự tâm huyết.
2. Kiến nghị
- Đối với phòng GD&ĐT Krông Ana
Hàng năm mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ cán bộ quản
lý các trường học; Tham mưu với các cấp lãnh đạo quan tâm hơn nữa đến cơ sở
vật chất các trường học nói chung, các trường chuẩn Quốc gia nói riêng.
Eana, ngày 23 tháng 2 năm 2016
Người viết

Vũ Thị Chín

Người viết : Vũ Thị Chín
20


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM CẤP TRƯỜNG

HIỆU TRƯỞNG

Huỳnh Thị Biên

Người viết : Vũ Thị Chín
21



Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết đại hội Đảng
2. Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ quản lý giáo dục bao gồm:
+ Giáo trình bồi dưỡng hiệu trưởng trường tiểu học- Th.S Mai Quang
Tâm- NXB Hà Nội -2006.
+ Tâm lý học quản lý, lãnh đạo và một số ứng dụng trong quản lý nhà
trường - Tác giả thạc sĩ Mai Quang Sơn.
+ Và một số tài liệu liên quan.
3. Một số sáng kiến kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý giáo dục trên
Internet…

Người viết : Vũ Thị Chín
22


Đề tài: Một vài biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, giảm thiểu HS lưu ban trong trường TH NVX

MỤC LỤC

Mục
I
1
2
3
4
5
II

1
2
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
3
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
4
III
1
2

Nội dung
Phần mở đầu
Lý do chọn đề tài
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung
Cơ sở lý luận
Thực trạng (Cơ sở thực tiễn)
Thuận lợi - khó khăn
Thành công - hạn chế

Mặt mạnh - mặt yếu
Các nguyên nhân, các yếu tố tác động…
Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra
Giải pháp, biện pháp
Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
Phần kết luận, kiến nghị
Kết luận
Kiến nghị

Người viết : Vũ Thị Chín
23

Trang
1
1
2
2
3
3
3
3
4
5
5

6
6
7
9
9
9
16
16
17
18
19
19
20



×