Tải bản đầy đủ (.docx) (72 trang)

Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách trên địa bàn thị xã quảng yên, tỉnh quảng ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (521.16 KB, 72 trang )

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nền kinh tế Việt Nam từ khi gia nhập WTO từ năm 2006 đã có những bước phát
triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu trên nhiều mặt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng suy thoái toàn cầu vừa
qua, tuy cũng có những thiệt hại nặng nề như hầu hết các quốc gia trên thế giới nhưng
nền kinh tế vĩ mô Việt Nam vẫn cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng, tiềm
lực và quy mô kinh tế tiếp tục tăng lên. Việt Nam đã bước ra khỏi tình trạng là một
nước kém phát triển. Có được những thành tích đó một phần lớn công lao là do công
tác quản lý NSNN ngày càng được nâng cao từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Bởi
nền kinh tế nước ta xây dựng theo mô hình nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
NSNN với những chức năng và nhiệm vụ của nó đã đóng vai trò tích cực trong việc
đầu tư phát triển kinh tế trên mọi mặt đặc biệt là ở các lĩnh vực then chốt và bảo đảm
an sinh xã hội.
Hiện nay, tuy Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng việc nâng cao hiệu quả công tác
quản lý thu chi NSNN nhưng thực tế cho thấy việc quản lý còn bộc lộ nhiều khó khăn
bất cập, gây lãng phí thất thoát tiền của của nhân dân.
Là một trong những hạt nhân của NSNN, NS thị xã đóng vai trò quan trọng
trong phát triển kinh tế địa phương. Từng địa phương giàu mạnh sẽ là động lực cho sự
phát triển vững mạnh của cả quốc gia.
Thị xã Quảng Yên là một trong những địa phương có tốc độ phát triển nhanh của
tỉnh Quảng Ninh. Là một địa phương giàu truyền thống lịch sử trong đấu tranh dựng
nước và giữ nước, hiện nay nhân dân Quảng Yên đang ra sức thi đua phát huy nội lực
xây dựng quê hương giàu đẹp văn minh. Tuy nhiên tốc độ phát triển của Quảng Yên
chưa tương xứng với những tiềm năng và thế mạnh của thị xã mà một trong những
nguyên nhân là do công tác quản lý NSNN tại địa phương chưa thực sự hiệu quả. Vì
vậy, xuất phát từ sự cần thiết phải tăng cường quản lý NS địa phương trong giai đoạn
hiện nay, cụ thể là ngân sách thị xã và mong muốn góp phần nhỏ công sức để công tác



2
quản lý NSNN ở thị xã Quảng Yên được tốt hơn, em đã chọn đề tài “Biện pháp hoàn
thiện công tác quản lý ngân sách trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ”
làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đế lý luận cơ bản về NSNN và NS huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là NS cấp huyện).
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý NS thị xã trên địa bàn thị xã
Quảng Yên trong thời gian qua.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu góp phần củng nâng cao hiệu quả công tác
quản lý NS thị xã trên địa bàn thị xã Quảng Yên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của bài khóa luận là công tác quản lý thu - chi NSNN
của thị xã Quảng Yên.
- Phạm vi nghiên cứu của bài khóa luận là NSNN của Thị xã Quảng Yên trong
thời kỳ 2013 - 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác –
Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Dựa vào phương
pháp này để phân tích các vấn đề về quản lý ngân sách Nhà nước theo tư duy logic
biện chứng mang tính chất khách quan.
- Bài khóa luận sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh,
đánh giá dựa trên lý thuyết về ngân sách Nhà nước, tình hình quản lý số liệu thực tiễn
về ngân sách thị xã Quảng Yên, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
ngân sách Nhà nước của thị xã Quảng Yên.
5. Kết cấu của bài khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận,danh mục bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt,
danh mục tài liệu tham khảo, bài khóa luận được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý NSNN và ngân sách thị xã



3
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ngân sách của Ủy ban nhân dân thị xã
Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2013 – 2015
Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách của Ủy ban
nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2013 – 2015


4

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC VÀ NGÂN SÁCH THỊ XÃ
Khái quát về ngân sách nhà nước (NSNN)
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm
Có rất nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước theo những quan điểm khác
nhau thể hiện sự khái quát hiện tượng ngân sách nhà nước ở những phương diện khác
nhau. Để có cách hiểu đầy đủ về ngân sách nhà nước, chúng ta tìm hiểu khái niệm này
từ 2 phương diện:
Một là, do ngân sách là một phạm trù kinh tế, vậy nên, ngân sách nhà nước sẽ
được xem xét về mặt bản chất và cả về phương diện vật chất. Xét về mặt bản chất,
NSNN thể hiện hệ thống các quan hệ kinh tế được hình thành trong quá trình tạo lập,
phân phối và sử dụng các nguồn vốn tiền tệ phục vụ cho các chức năng, nhiệm vụ của
bộ máy nhà nước, thể hiện mối quan hệ xã hội giữa nhà nước và các chủ thể khác nhau
trong quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Xét về phương diện vật
chất, NSNN tồn tại dưới dạng vật chất là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước.
Quỹ tiền tệ này gắn liền với việc đảm bảo cho chức năng, nhiệm vụ của tất cả các cơ
quan chính quyền nhà nước các cấp.
Hai là, xuất phát từ việc ngân sách vốn là một trong những phạm trù pháp lý,
trong điều kiện nhà nước pháp quyền, các khoản thu chi của nhà nước được công khai
và thể chế thành pháp luật nhằm tránh hiện tượng lạm quyền.

Từ những quan điểm trên, ta có thể xác định:
NSNN là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân
phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước
trên cơ sở luật định [3, Tr.15].
Với nguồn gốc sự hình thành như trên, NSNN có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Đặc điểm 1: Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN gắn với quyền lực chính trị
của Nhà nước và được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định, nhằm thực hiện các


5
chức năng của Nhà nước.
- Đặc điểm 2: NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước nhưng nhằm phục vụ
lợi ích chung của cả quốc gia, thể hiện trong việc tập trung một phần thu nhập của các
chủ thể trong xã hội và phân bổ các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu kinh tế - xã
hội, an ninh - quốc phòng của quốc gia.
- Đặc điểm 3: Quỹ NSNN luôn được phân chia thành các quỹ tiền tệ nhỏ hơn
trước khi đưa vào sử dụng bằng việc cấp phát và phân cấp quản lý NSNN nhằm thoả
mãn các nhu cầu chi tiêu của các lĩnh vực, các ngành theo yêu cầu quản lý của Nhà
nước.
- Đặc điểm 4: Các khoản thu Ngân sách nhà nước phần lớn mang tính cưỡng
bức (bắt buộc) còn các khoản chi lại mang tính cấp phát (không hoàn lại trực tiếp).
Việc hiểu rõ đặc điểm của ngân sách Nhà nước giúp ta nhận thức và phát huy tốt
hơn vai trò của NSNN và có những biện pháp quản lý hiệu quả.
1.1.2 Vai trò của NSNN
Trong nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, vai trò của
NSNN được thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất: Vai trò huy động nguồn tài chính của NSNN để đảm bảo nhu cầu chi
tiêu và thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước.
Bộ máy Nhà nước tổ chức từ trung ương đến địa phương muốn tồn tại đòi hỏi

phải có nguồn tài chính để chi tiêu cho các hoạt động và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế
xã hội nhất định. Các nhu cầu chi tiêu này được thỏa mãn bằng các nguồn thu dựa trên
quyền lực chính trị cũng như uy tín của Nhà nước thông qua nhiều công cụ khác nhau,
trong đó công cụ thuế là chủ yếu.
Thứ hai: Vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của NSNN:
NSNN là một trong những công cụ của Nhà nước để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Vai trò này của NSNN có sự khác nhau tùy theo từng thời kỳ nhưng chủ yếu trên
những mặt sau:
- NSNN đóng vai trò quan trong trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế thông
qua chính sách thuế và chi đầu tư phát triển. Một hệ thống chính sách thuế hợp lý sẽ


6
góp phần kích thích sản xuất phát triển, khuyến khích được các doanh nghiệp và tư
nhân đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực mà Nhà nước muốn điều tiết, thu hút được
nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Thuế cũng tạo ra môi trường cạnh tranh, tạo sức ép buộc
các doanh nghiệp phải cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngoài ra các
chính sách về chi đầu tư phát triển của NSNN tạo ra cơ sở hạ tầng thuận lợi để thu hút
các nhà đầu tư vào những khu vực, những ngành nghề mà Nhà nước muốn khuyến
khích phát triển.
- NSNN góp phần điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát. Thị
trường, giá cả thường xuyên biến động là do nhiều nguyên nhân như cung cầu mất cân
đối, hiện tượng đầu cơ, tác động của thị trường thế giới…Để đảm bảo lợi ích của người
sản xuất và người tiêu dùng, Nhà nước sử dụng NSNN tác động điều tiết thị trường
thông qua các khoản chi NSNN dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ
dự trữ tài chính. Với mục tiêu chống lạm phát, một trong những phương pháp mà nhà
nước thực hiện là chính sách tài chính thu hẹp: cắt giảm chi tiêu công, thắt chặt chi đầu
tư, điều chỉnh chính sách thuế phù hợp để vừa kiềm chế lạm phát nhưng vẫn đảm bảo
tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba: Vai trò bù đắp khiếm khuyết của thị trường, bảo đảm công bằng và an

sinh xã hội, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế.
Đi liền với kinh tế càng phát triển là tình trạng mất cân bằng xã hội, phân hóa
giàu nghèo, ô nhiễm môi trường…ngày càng gia tăng. Những vấn đề này chỉ có Nhà
nước và công cụ NSNN với bản chất là quỹ chi tiêu công không vì mục tiêu lợi nhuận
mới khắc phục được. Thông qua các khoản chi tiêu cho hàng hóa công cộng, dịch vụ
công ích, y tế, giáo dục, văn hóa, vệ sinh môi trường, ưu đãi thuế, trợ cấp an sinh xã
hội…của Nhà nước đã góp phần phân phối lại một phần thu nhập, cải thiện đời sống
của người dân, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
1.1.3 Hệ thống NSNN
Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyền nhà
nước. Tổ chức hệ thống ngân sách chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trước hết đó là
chế độ xã hội của một nhà nước và phân chia lãnh thổ hành chính. Thông thường ở các


7
nước hệ thống ngân sách được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính. Ở nước ta với
mô hình nhà nước thống nhất, hệ thống ngân sách được phân chia thành: ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách các cấp tỉnh, huyện, xã được gọi
chung là ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị
hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân theo quy định của Luật
Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Hệ thống ngân sách Nhà nước hiện hành của Việt Nam được mô tả theo sơ đồ sau:
Hệ thống ngân sách nhà nước

Ngân sách trung ương

Ngân sách địa phương

Ngân sách tỉnh, thành phố
Thuộc trung ương


Ngân sách quận, huyện

Ngân sách xã, phường, thị trấn

Sơ đồ 1.1: Hệ thống NSNN Việt Nam
Theo quy định hiện hành, hệ thống NSNN bao gồm :
a) Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách
tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh;
b) Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách
huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn;


8
c) Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã);
Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN được lập dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến
pháp của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, hệ thống NSNN được tổ chức theo các
nguyên tắc thống nhất và tập trung dân chủ:
- Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành
một thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng định mức chi tiêu, quản lý thu
chi thống nhất thông qua mục lục NSNN, cùng thực hiện một quá trình ngân sách (lập
dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách).
- Tính tập trung: thể hiện ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung
các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng. NS cấp dưới chịu sự chi phối của
NS cấp trên và được điều tiết một phần nguồn thu từ NS cấp trên nhằm đảm bảo cân
đối của ngân sách cấp mình.
- Tính dân chủ: Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân
sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền địa phương có HĐND và UBND thì sẽ
có một ngân sách và được quyền chi phối ngân sách cấp mình.

Các khâu trong hệ thống ngân sách được quản lý theo cơ chế phân cấp quản lý
ngân sách của từng quốc gia, tương ứng với cơ chế phân cấp quản lý hành chính hiện
nay để bảo đảm có sự chuyển giao nguồn tài chính giữa cấp trên và cấp dưới nhằm đáp
ứng nhiệm vụ thuộc thẩm quyền phân cho từng cấp. Đây được xem như một phương
thức để tăng tính dân chủ, linh hoạt, hiệu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền
trong việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cộng.
Phân cấp quản lý NS là quá trình Nhà nước trung ương giao nhiệm vụ, quyền hạn,
trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý NS. Việc phân
cấp quản lý NS giải quyết các mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước trung ương và các
cấp chính quyền nhà nước địa phương trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động
của NSNN, bao gồm: Quan hệ về mặt chế độ, chính sách; Quan hệ vật chất về nguồn thu
và nhiệm vụ chi; Quan hệ về quản lý chu trình NS.
Phân cấp về nguồn thu và nhiệm vụ chi NS là phần cốt lõi trong giải quyết mối
quan hệ giữa các cấp NS. Để phân cấp NS đạt hiệu quả cần xác định phạm vi, quyền


9
hạn, trách nhiệm của các cấp NS trong việc quản lý các nguồn thu và quản lý các
khoản chi của NSNN từng cấp nhằm thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà
nước ở từng cấp, tạo điều kiện về tài chính cho chính quyền nhà nước các cấp tham gia
vào quá trình tổ chức, huy động, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của nhà
nước để thực hiện các chức năng nhiệm vụ xác định, nhiệm vụ chi của NS cấp nào do
NS cấp đó tự đảm bảo, phân định nguồn thu đảm bảo hợp lý công bằng giữa các địa
phương.
1.1.4 Chu trình ngân sách Nhà nước
Chu trình ngân sách Nhà nước hay còn gọi là chu trình ngân sách Nhà nước
dùng để chỉ toàn bộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho đến
khi kết thúc chuyển sang một ngân sách mới.Chu trình ngân sách Nhà nước bao gồm 3
khâu nối tiếp nhau, đó là: lập dự toán ngân sách Nhà nước, chấp hành ngân sách Nhà
nước và quyết toán Ngân sách Nhà nước.

 lập dự toán ngân sách Nhà nước
Trong chu trình ngân sách Nhà nước, lập dự toán ngân sách Nhà nước là công
việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý ngân
sách. Lập dự toán ngân sách thực chất là dự toán các khoản thu – chi đúng đắn, có cơ
sở khoa học, cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế hoạch phát triển kinh
tế, xã hội nói chung và thực hiện ngân sách nói riêng.
Yêu cầu lập ngân sách Nhà nước:
- Bảo đảm việc xây dựng dự toán thu chi ngân sách Nhà nước dựa trên hệ thống
chế độ, chính sách và tiêu chuẩn định mức đúng đắn, phù hợp với thực tiễn kinh tế, xã
hội đang vận động.
- Bảo đảm việc xây dựng dự toán thu chi ngân sách tiến hành đúng với trình tự
và thời gian quy định.
- Bảo đảm mối quan hệ đúng đắn giữa kế hoạch hiện vật và kế hoạch giá trị
thông qua việc thiết lập dự toán thu chi của ngân sách Nhà nước trong bối cảnh cung
cầu, giá cả có sự biến động.
Căn cứ lập ngân sách Nhà nước:


10
- Lập dự toán ngân sách trước hết phải dựa vào phương hướng, chủ trương,
nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng và Nhà
nước. Dựa vào căn cứ này, đảm bảo cho việc lập dự toán ngân sách Nhà nước xác định
mục tiêu và nhiệm vụ cần động viên khai thác nguồn thu của ngân sách cũng như việc
phân phối và sử dụng quỹ ngân sách có trọng tâm, trọng điểm, đảm bảo bảo được yêu
cầu tiết kiệm và hiệu quả.
- Lập dự toán ngân sách còn phải dựa vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển
kinh tế, xã hội của Nhà nước trong niên độ kế hoạch.
- Lập dự toán ngân sách phải dựa vào hệ thống các chính sách, chế độ, tiêu
chuẩn, định mức thu chi của ngân sách Nhà nước. Đây là căn cứ cụ thể đảm bảo việc
lập dự toán có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý.

- Ngoài ra, việc lập dự toán ngân sách Nhà nước phải căn cứ vào kết quả phân
tích thực hiện dự toán ngân sách trong thời gian qua. Đây là căn cứ quan trọng bổ sung
những kinh nghiệm cần thiết cho việc lập dự toán trong kỳ kế hoạch.
Trình tự lập ngân sách Nhà nước: Lập ngân sách là công việc quan trọng, song
việc hình thành ngân sách còn phải thực hiện xét duyệt, phê chuẩn và thông báo ngân
sách.
 Chấp hành ngân sách Nhà nước
Sau khi ngân sách được phê chuẩn và năm ngân sách bắt đầu, việc thực hiện
ngân sách được triển khai. Nội dung của quá trình này là tổ chức thu ngân sách Nhà
nước và bố trí cấp kinh phí của ngân sách Nhà nước cho các nhu cầu đã được phê
chuẩn. Việc chấp hành ngân sách Nhà nước thuộc về tất cả pháp nhân và thể nhân dưới
sự điều hành của Chính phủ, trong đó Bộ Tài Chính có vị trí quan trọng.
Tổ chức chấp hành dự toán thu:
Mục tiêu của chấp hành dự toán thu là trên cơ sở không ngừng bồi dưỡng phát
triển nguồn thu, tìm mọi biện pháp động viên khai thác, đảm bảo tỷ lệ động viên chung
mà Quốc hội đã được phê chuẩn, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đã được
hoạch định trong dự toán chi.
Để đạt được mục tiêu đó, việc tổ chức chấp hành dự toán thu phải thực hiện


11
đồng bộ các biện pháp sau đây:
-Xác lập, hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ động viên thích hợp, đảm bảo
khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo mức động viên của nhà
nước.
- Nâng cao công tác tuyên truyền chính sách, chế độ thu làm cho mọi thành viên
thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà
nước.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy theo nguyên tắc thống nhất, nâng cao hiệu lực của
bộ máy, đảm bảo gọn nhẹ, hiệu quả cao.

- Đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý thu từ khâu kế hoạch, giao kế hoạch thu
đến khâu tổ chức công tác đôn đốc thu nộp, công tác kế hoạch kế toán thu.
- Tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ của cán bộ quản lý thu,
đồng thời xử lý các mối quan hệ giữa các cơ quan chức năng liên quan đến công tác
thu nộp của ngân sách Nhà nước.
Tổ chức chấp hành dự toán chi:
Mục đích của việc chấp hành dự toán chi là đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn
kinh phí của ngân sách cho hoạt động của bộ máy Nhà nước và thực hiện các chương
trình kinh tế - xã hội đã được hoạch định trong năm kế hoạch. Thực chất của việc chấp
hành dự toán chi là tổ chức việc cấp phát kinh phí sao cho tiết kiệm và đạt hiệu quả
cao.
Để đạt được mục đích đó, trong việc chấp hành dự toán chi cần phải thực hiện
các yêu cầu và nội dung cơ bản sau đây:
- Thực hiện cấp phát kinh phí trên cơ sở hệ thống các định mức, tiêu chuẩn.
Nhằm đạt được các yêu cầu này, cần rà soát bổ sung những định mức mới, xóa bỏ
những định mức lạc hậu, đảm bảo cho hệ thống định mức, tiêu chuẩn có tính khoa học,
tính thực tiễn cao.
- Bảo đảm việc cấp phát kinh phí theo kế hoạch được duyệt. Do đó, cần phải
quy định lại chế độ lập và duyệt kế hoạch cấp phát hàng quý vừa đơn giản, vừa khoa
học đảm bảo cấp phát theo kế hoạch với thứ tự ưu tiên được quy định bằng pháp luật.


12
Đồng thời phải thực hiện nghiêm ngặt khoản dự trữ kinh phí để xử lý khi có nhu cầu
đột xuất hoặc mất cân đối giữa thu chi trong quá trình chấp hành.
- Đổi mới phương thức cấp phát vốn của ngân sách nhà nước theo hướng nhanh
gọn, dễ kiểm tra.
- Đổi mới cơ chế cấp phát theo hướng giảm các kênh cấp phát, tập trung vào một ít
đầu mối. Đặc biệt là cải tiến cơ chế cấp phát vốn xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo gọn nhẹ,
dễ kiểm tra, nâng cao trách nhiệm của các đơn vị làm nhiệm vụ cấp phát và đơn vị sử dụng

vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Xây dựng dự toán thu chi quý, tháng
- Dự toán thu chi quý, tháng thực chất là kế hoạch tiến độ thực hiện nhiệm vụ
của dự toán thu – chi năm. Dự toán thu chi quý, tháng có ý nghĩa quan trọng trong việc
chấp hành ngân sách. Thông qua việc lập dự toán thu chi quý, tháng có thể đánh giá
được khả năng hoàn thành dự toán ngân sách nhà nước, tìm ra được những mặt yếu
kém, tồn tại để tìm biện pháp khắc phục.
- Yêu cầu xây dựng dự toán thu chi quý, tháng có thể đánh giá được khả năng
phát triển nguồn thu quý, tháng trên cơ sở phân tích các hoạt động kinh tế, dự kiến khả
năng hình thành các nguồn thu mới, đồng thời xác định được tiến độ, phạm vi mức độ
cần tiến hành cấp phát phạm vi vốn của ngân sách nhà nước trong điều kiện kha năng
thu còn bị hạn chế.
 Quyết toán ngân sách nhà nước
Quyết toán ngân sách nhà nước là khâu cuối cùng trong ngân sách nhà nước.
Thông qua quyết toán ngân sách nhà nước có thể cho ta thấy bức tranh toàn cảnh về
hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước trong thời gian qua, hình dung được hoạt động
ngân sách nhà nước với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước. Từ đó rút ra
những kinh nghiệm cần thiết trong việc điều hành ngân sách nhà nước. Do đó, yêu cầu
của quyết toán ngân sách nhà nước làm đảm bảo tính chính xác, trung thực và kịp thời.
Để đáp ứng được các yêu cầu đó, cần tập trung cải tiến, hoàn thiện các công
việc sau đây:
- Soát xét toàn bộ chế độ hiện hành về kế toán và quyết toán ngân sách, đảm bảo
cho quyết toán nhanh gọn, chính xác, trung thực.


13
- Đổi mới quá trình lập, báo cáo, phê chuẩn quyết toán và tổng quyết toán ngân
sách nhà nước theo hướng tăng cường trách nhiệm của các đơn vị, cơ quan, địa phương
nâng cao vai trò của cơ quan tài chính, Chính phủ và quyền lực của Quốc hội. Thực
hiện việc quyết toán từ cơ sở lên. Gắn chặt giữa cơ quan chuẩn chi, cơ quan cấp phát,
cơ quan quản lý trong quá trình thực hiện và tổng quyết toán ngân sách nhà nước đảm

bảo cho số quyết toán là số thực thu, thực chi theo đúng mục lục ngân sách nhà nước.
- Nâng cao vai trò của Quốc hội trong việc xem xét, phê chuẩn quyết toán và
tổng quyết toán ngân sách nhà nước. Để có một chu trình ngân sách hợp lý, phản ánh
đầy đủ quá trình hoạt động của ngân sách nhà nướccần phải coi trọng và không ngừng
cải tiến các khâu trong chu trình đó nhằm làm cho hoạt động của ngân sách nhà nước
ngày càng lành mạnh.
1.2 Khái quát về ngân sách thị xã
1.2.1 Khái niệm và vai trò của NS thị xã
So với NSNN được ra đời từ rất sớm thì NS thị xã chỉ mới được hình thành khi
có sự phân cấp quản lý tài chính, ngân sách ở các cấp chính quyền địa phương từ năm
1978. Trước đó, do nền kinh tế tập trung bao cấp và để phục vụ cho kháng chiến thắng
lợi, NSNN chỉ được chia thành hai cấp là NS trung ương và NS Tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, NS thị xã chỉ là một cấp dự toán. Từ khi đổi mới nền kinh tế, tiến
hành công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cách phân chia NS như vậy
bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu tính công bằng giữa các địa phương, không đáp ứng kịp
nhu cầu tăng trưởng kinh tế cũng như không kích thích được sự chủ động sáng tạo của
từng địa phương. Nhận ra được những khuyết điểm này, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
một loạt những chủ trương, chính sách nhằm xây dựng thị xã thành một cấp có cơ cấu
kinh tế hoàn chỉnh và có NS riêng và là một bộ phận của NS địa phương thuộc hệ
thống NSNN. Như vậy, NS thị xãlà một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bànthị xã.
Là một bộ phận của NSNN, NS thị xã vừa mang những đặc điểm và vai trò
chung như NSNN, vừa có ảnh hưởng riêng, thể hiện chức năng nhiệm vụ quản lý của
chính quyền thị xã:


14
- Thị xã là một cấp trung gian giữa cấp xã và cấp Tỉnh, vì vậy NS thị xã cũng có
vai trò trung gian vừa nhận điều tiết từ nguồn NS tỉnh, vừa điều tiết lại cho NS cấp xã.
- Ngân sách thị xã huy động nguồn thu và thực hiện các nhiệm vụ chi trên địa

bàn huyện, từ đó phát huy tối đa các nguồn lực và lợi thế của địa phương và thu hút
nguồn lực bên ngoài, kịp thời đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương.
1.2.2 Nguồn thu và nhiệm vụ chi của NS thị xã



Nguồn thu của NS thị xã:
Theo quy định của luật NSNN năm 2002, nguồn thu của NS thị xã gồm:
(1) Thu NS thị xã hưởng theo phân cấp (chủ yếu là các khoản thu thuế, phí, lệ
phí, thu cấp quyền sử dụng đất):
- Các khoản thu ngân sách nhà nước thị xã hưởng 100%.
- Các khoản thu phân chia NS thị xã hưởng theo tỉ lệ phần trăm. Tỷ lệ phần trăm
phân chia cụ thể các nguồn thu đó do HĐND Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
quy định và được duy trì ổn định trong thời kỳ ổn định NS địa phương từ 3 đến 5 năm
phù hợp tình hình của địa phương.
(2) Nguồn bổ sung từ NS cấp trên:
- Thu bổ sung cân đối: được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa số chi lớn hơn
nguồn thu NS thị xã từ các khoản thu được phân chia giữa các cấp ngân sách địa
phương. Số thu này được ổn định trong thời kỳ ổn định ngân sách 3 đến 5 năm, hàng
năm được tăng thêm một số phần trăm trên cơ sở trượt giá và tốc độ tăng trưởng kinh
tế.
- Thu bổ sung có mục tiêu: nhằm hỗ trợ cho ngân sách cấp dưới thực hiện các
nhiệm vụ: hỗ trợ thực hiện các chính sách, chế độ mới do cấp trên ban hành chưa được
bố trí trong dự toán ngân sách của năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách; hỗ trợ các
chương trình dự án cấp trên giao cho địa phương; hỗ trợ thực hiện các mục tiêu, công
trình, dự án có ý nghĩa lớn đối với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương,
nằm trong quy hoạch và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định
pháp luật, ngân sách cấp dưới đã bố trí nhưng chưa đủ nguồn; hỗ trợ để xử lý khó khăn



15
đột xuất; hỗ trợ để thực hiện một số nhiệm vụ cần thiết cấp bách khác...



Nhiệm vụ chi của NS thị xã:
Cũng như NSNN, NS thị xã có những nhiệm vụ chi thể hiện ở những khoản chi
sau:
- Chi thường xuyên: Là quá trình phân phối, sử dụng ngân sách thị xã để đáp
ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của
chính quyền thị xã, bao gồm: chi sự nghiệp kinh tế, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa xã
hội, thông tin liên lạc, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ, môi trường,
quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội, chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, tổ chức
nghề nghiệp, chi cho các hoạt động của các cơ quan Đảng và các tổ chức chính trị xã
hội do thị xã quản lý, chi khác.
- Chi đầu tư phát triển: Là quá trình phân phối, sử dụng một phần vốn ngân sách
thị xã để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất của Nhà
nước nói chung và của thị xã nói riêng nhằm ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
nâng cao đời sống xã hội.
- Chi bổ sung cho NS cấp xã
- Chi chuyển nguồn ngân sách năm trước sang năm sau.


16
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CỦA THỊ
XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH TRONG GIAI ĐOẠN 2013 - 2015
2.1 Tổng quan về Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Quá trình ra đời và phát triển của Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh
Quảng Ninh

- Tên đơn vị: Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Địa chỉ: Số 18 Trần Hưng Đạo, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, Quảng
Ninh.
- Điện thoại: 033.3875314
- Fax: 033.3875309 / 3875561
- Email:
- Website:
- Chức năng
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng
nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội
đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của
cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo
đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng,
an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.
Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần
bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung
ương tới cơ sở”.
- Nhiệm vụ
Trong lĩnh vực kinh tế, Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
+ Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
+ Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
+ Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương
Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và đất đai, Uỷ
ban nhân dân huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua các chương trình
+ Chỉ đạo Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện các biện pháp chuyển dịch cơ
cấu kinh tế



17
+ Thực hiện giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất đối với cá nhân và hộ gia đình,
giải quyết các tranh chấp đất đai, thanh tra đất đai theo quy định của pháp luật;
+ Xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn;
+ Xây dựng quy hoạch thuỷ lợi
Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, Uỷ ban nhân dân huyện thực
hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Tham gia với Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch
phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện;
+ Xây dựng và phát triển các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở
các xã, thị trấn;
+ Tổ chức thực hiện xây dựng và phát triển các làng nghề truyền thống, sản xuất
sản phẩm có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu; phát triển cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ
sản và các cơ sở công nghiệp khác theo sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải, Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện
những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Tổ chức lập, trình duyệt hoặc xét duyệt theo thẩm quyền quy hoạch xây dựng
thị xã
+ Quản lý, khai thác, sử dụng các công trình giao thông và kết cấu hạ tầng cơ sở
theo sự phân cấp;
+ Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng và kiểm tra việc thực hiện
pháp luật về xây dựng
+ Quản lý việc khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng theo phân cấp
của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch, Uỷ ban nhân dân huyện thực
hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Xây dựng, phát triển mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch và kiểm tra việc
chấp hành quy định của Nhà nước
+ Kiểm tra việc thực hiện các quy tắc về an toàn và vệ sinh trong hoạt động

thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn;
+ Kiểm tra việc chấp hành quy định của Nhà nước về hoạt động thương mại,
dịch vụ, du lịch trên địa bàn.
Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin và thể dục thể thao, Uỷ
ban nhân dân huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Xây dựng các chương trình, đề án phát triển văn hoá, giáo dục, thông tin, thể
dục thể thao, y tế


18
+ Tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phổ cập giáo
dục
+ Quản lý các công trình công cộng được phân cấp
+ Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp y tế
+ Kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động của các cơ sở hành nghề y,
dược tư nhân, cơ sở in, phát hành xuất bản phẩm;
+ Tổ chức, chỉ đạo việc dạy nghề, giải quyết việc làm cho người lao động; tổ chức
thực hiện phong trào xoá đói, giảm nghèo; hướng dẫn hoạt động từ thiện, nhân đạo.
Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường, Uỷ ban nhân
dân huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ phục vụ sản
xuất và đời sống nhân dân ở địa phương;
+ Tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên
tai, bão lụt;
+ Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường và chất
lượng sản phẩm
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, Uỷ ban nhân dân
huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Tổ chức phong trào quần chúng tham gia xây dựng lực lượng vũ trang và
quốc phòng toàn dân

+ Tổ chức đăng ký, khám tuyển nghĩa vụ quân sự; quyết định việc nhập ngũ,
giao quân, việc hoãn, miễn thi hành nghĩa vụ quân sự và xử lý các trường hợp vi phạm
theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội
+ Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý hộ
khẩu, quản lý việc cư trú, đi lại của người nước ngoài ở địa phương;
+ Tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an
ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Uỷ ban nhân
dân huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến chính sách, pháp luật về dân tộc và tôn giáo
+ Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
+ Quyết định biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo
hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo


19
Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện những nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
+ Chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp
hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật
+ Tổ chức thực hiện và chỉ đạo Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn
+ Chỉ đạo việc thực hiện công tác hộ tịch trên địa bàn
+ Tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác thi hành án theo quy định của pháp luật
+ Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra nhà nước; tổ chức
tiếp dân, giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo
Trong việc xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính, Uỷ ban nhân
dân huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Tổ chức thực hiện việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

theo quy định của pháp luật;
+ Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên
môn
+ Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương theo phân cấp của Uỷ
ban nhân dân cấp trên;
+ Quản lý hồ sơ, mốc, chỉ giới, bản đồ địa giới hành chính của huyện;
+ Xây dựng đề án thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ở
địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua để trình cấp trên xem xét,
quyết định.
- Lịch sử hình thành và phát triển
+ Theo những tư liệu lịch sử, do có địa thế giao thông thuỷ bộ thuận lợi, nên
Quảng Yên là nơi người Việt cư trú từ lâu đời, trước cả quá trình hình thành đảo Hà
Nam (năm 1434), xa hơn có thể từ thời Trần (1225-1400) khi vùng đất này được gọi là
trại An Hưng.
+ Chính quyền thị xã Quảng Yên được thành lập vào ngày 20/7/1945.
+ Là thị xã và lại có vị trí nằm giữa 3 thành phố lớn: Hạ Long, Uông Bí, Hải
Phòng nhưng với nhiều người khi đặt chân đến Quảng Yên, vẫn luôn có cảm giác thật
thanh bình, yên ả. Mọi thứ, từ cảnh vật đến nếp sinh hoạt của người dân ở đây dẫu đã
có sự pha trộn nét hiện đại nhưng vẫn đậm chất cổ xưa của vùng đô thị cổ. Điều ấy có
thể nhận thấy rõ qua những ngôi nhà kiến trúc kiểu Pháp hàng trăm năm tuổi nằm xen
kẽ với những ngôi nhà ống trên các con phố Hoàng Hoa Thám, Lê Lợi, Ngô Quyền…
Hay ở ngay chợ Rừng - chợ lớn nhất, sầm uất nhất thị xã vẫn còn đậm phong cách bán


20
buôn của chợ quê… Hẳn là vậy, bởi Quảng Yên đã có quá trình hình thành và phát
triển hơn 2 thế kỷ. Và đây cũng là một trong những đô thị cổ nhất ở Quảng Ninh.
Quảng Yên hiện vẫn còn lưu giữ được khoảng hơn 200 di tích lịch sử - văn hoá các
loại, bao hàm rất nhiều giá trị vật thể và phi vật thể. Trong đó, Di tích lịch sử Bạch
Đằng vừa được công nhận là di tích cấp quốc gia đặc biệt; 38 di tích quốc gia và 12 di

tích cấp tỉnh. Chỉ riêng Di tích lịch sử Bạch Đằng đã có biết bao điều để nói. Vì đây là
nơi khắc ghi những chiến công oanh liệt trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm
của dân tộc ta qua các triều đại Ngô, Tiền Lê và Trần mà đỉnh cao là trận chiến chống
quân Nguyên năm 1288 của anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn ở thế kỷ XIII. Trong hệ
thống quần thể di tích này còn có Khu Bãi cọc Bạch Đằng; Đền thờ Trần Hưng Đạo;
Miếu Vua Bà; cây lim Giếng Rừng; Đình Trung Bản; Đền Trung Cốc; Đình Yên
Giang... Mỗi địa danh là niềm tự hào về truyền thống yêu nước, bất khuất chống giặc
ngoại xâm của cha ông ta xưa kia.
+ Những người con của mảnh đất này còn rất tự hào về quê hương khi mà
Quảng Yên là vùng đất có nhiều lễ hội với hệ thống đình, chùa, từ đường dày đặc. Chỉ
riêng khu vực đảo Hà Nam đã có hơn 20 ngôi đình, chùa, 80 từ đường. Cứ mỗi độ xuân
sang, người dân Quảng Yên và các vùng lân cận lại được nô nức tham gia vào hàng
chục lễ hội lớn, nhỏ như: Lễ ra cỗ họ (mùng 2 tháng Chạp), Lễ hội Tiên Công (mùng 6,
7 tháng Giêng), Lễ đại kỳ phước của các làng xã (ngày 15 tháng Giêng), Lễ hội xuống
đồng (vào dịp đầu tháng 6 âm lịch) và nhiều hội làng độc đáo khác... Cùng với đó là
những không gian văn hoá qua các làn điệu hát chèo, hát đúm, hát giao duyên. Rồi cả
những món ăn mang hồn quê, đất việt như: Bánh dày, bánh gio vùng đảo Hà Nam...
+Có rất nhiều ý kiến đều đã khẳng định, Quảng Yên là vùng đất “thiên thời, địa
lợi, nhân hoà” để phát triển. Theo Bí thư Tỉnh uỷ Phạm Minh Chính, Quảng Yên có
một tài nguyên rất giá trị đó là vị thế thuận lợi. Điều này có thể giúp Quảng Yên mở
rộng phát triển kinh tế ven biển; trở thành điểm kết nối giao thương giữa Quảng Ninh
với TP Hải Phòng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Còn theo GS.TS Trương Quang
Hải (Đại học Quốc gia Hà Nội), tài nguyên vị thế của Quảng Yên rất có giá trị về cả tự
nhiên, kinh tế, chính trị và quân sự… Có lẽ, vị thế cộng với những giá trị văn hoá,
truyền thống của mảnh đất này chính là lý do để ngày 25-11-2011, Chính phủ ra Nghị


21
quyết số 100/NQ-CP thành lập TX Quảng Yên. Điều này, thêm một lần nữa khẳng
định vị trí chiến lược của Quảng Yên trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung

của tỉnh.
+ Trải qua hơn 210 năm, Quảng Yên đã phát triển trở thành thị xã Quảng Yên
năng động và phát triển.
2.1.2 Cơ cấu tổ chứ bộ máy của thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh



Tổ chức bộ máy
Thị ủy
HĐND thị xã
UBND thị xã
Các phòng chuyên môn
Các đơn vị sự nghiệp
Các phường, xã
Các đơn vị khác
sơ đồ tổ chức
Chủ tịch UBND thị xã

Phó chủ tịch 1

Phòng TN - MT
Phòng TC - KH
Phòng Kinh Tế

Phó chủ tịch 2

Phòng GD - ĐT
Phòng Y Tế
Phòng Văn Hóa và
Thông Tin

Văn Phòng HĐND và
UBND
Phòng LĐ - TBXH
Phòng Tư Pháp

Phòng LĐ và TBXH

Phó chủ tịch 3

Phòng Quản Lý Đô Thị
Thanh Tra Thị Xã
Phòng Nội Vụ


22
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức UBND thị xã Quảng Yên
( Nguồn: UBND thị xã Quảng Yên)


Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận
- Chủ tịch UBND thị xã (Ông Nguyễn Văn Hồi)
Lãnh đạo quản lý toàn diện mọi hoạt động thuộc chức năng nhiệm vụ,

-

quyền hạn của Ủy ban nhân dân thị xã.
Phụ trách chỉ đạo các lĩnh vực công tác
Trực tiếp làm chủ tịch hội đồng và trưởng ban lãnh đạo
Trực tiếp chỉ đạo các cơ quan
Phụ trách chỉ đạo địa bàn các phường, xã

Phó chủ tịch 1(Ông Đặng Tiến Hải)
Phụ trách và chỉ đạo các lĩnh vực công tác văn phòng, công tác tổng hợp
tình hình kinh tế - xã hội của toàn thị xã, giúp việc, điều hành hoạt động thay

-

cho chủ tịch khi chủ tịch đi vắng
Phó chủ tịch 2(Ông Đỗ Mạnh Hùng)
Phụ trác chỉ đạo các lĩnh vực công tác bồi thường nhà nước, trợ giúp
pháp lý, giáo dục và đào tạo, y tế….Giúp chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã
theo dõi chỉ đạo.
Trực tiếp chỉ đạo các cơ quan: Phòng tư pháp, phòng giáo dục và đào tạo,
phòng y tế, phòng văn hóa thông tin, phòng Lao động - Thương binh xã hội,

-

văn phòng HĐND và UBND.
Phó chủ tịch 3(Ông Vũ Đức Hưởng)
Phụ trách các lĩnh vực công tác xây dựng cơ bản, phát triển đô thị, hạ
tầng kỹ thuật đô thị….Giúp việc cho chủ tịch: tiếp công dân, điều hành việc
giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, thanh tra,kiểm tra, kiểm toán…
Trực tiếp chỉ đạo các phòng: Phòng Quản lý đô thị, thanh tra thị xã, phòng

-

nội vụ.
Văn phòng HĐND và UBND
Chức năng của văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thị xã là tham
mưu tổng hợp cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân về hoạt động của Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân; tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân về chỉ đạo, điều

hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; cung cấp thông tin phục vụ quản lý và hoạt động
của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nước ở địa phương
Nhiệm vụ:


23
Tham mưu tổng hợp, giúp Hội đồng nhân dân và Thường trực Hội đồng nhân
dân.
Tham mưu tổng hợp, giúp Ủy ban nhân dân thị xã.
Tham mưu tổng hợp, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã.
Bảo đảm thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ủy ban
-

nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã.
Phòng Nội Vụ
Chức năng: Phòng Nội vụ là cơ quan tham mưu, giúp UBND thị xã thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về: Tổ chức bộ máy, biên chế các cơ quan hành chính;
chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước;
cán bộ, công chức xã, phường; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước;
tôn giáo; thi đua - khen thưởng.
Nhiệm vụ:
Tham mưu giúp UBND thị xã qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã theo hướng dẫn của UBND
tỉnh
Tham mưu giúp Chủ tịch UBND thị xã phân bổ chỉ tiêu biên chế hành chính, sự
nghiệp hàng năm
Giúp UBND thị xã triển khai, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn cùng
cấp và UBND cấp xã thực hiện công tác cải cách, hành chính ở địa phương
Tham mưu, đề xuất với UBND thị xã tổ chức các phong trào thi đua và triển
khai thực hiện chính sách khen thưởng của Đảng và Nhà nước trên địa bàn thị xã; làm


-

nhiệm vụ thường trực của Hội đồng Thi đua- Khen thưởng thị xã
Thanh tra thị xã
Chức năng: giúp Ủy ban nhân dân thị xã quản lý nhà nước về công tác thanh tra,
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, công tác phòng, chống tham
nhũng, lãng phí và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính trong phạm vi
quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân thị xã.
Nhiệm vụ:
Thanh tra việc thực chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc thẩm
quyền quản lý của Ủy ban nhân dân thị xã.
Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo.
Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp
luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí.


24
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử
-

lý về thanh tra của Thanh tra thị xã và Ủy ban nhân dân thị xã.
Phòng TC – KH
Chức năng:
Tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân thị xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về các lĩnh vực: tài chính, tài sản; kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh; tổng hợp,
thống nhất quản lý về kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ:
Trình Uỷ ban nhân dân thị xã ban hành quyết định, chỉ thị, văn bản hướng dẫn

thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật
Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, các quy
hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án đã được cấp
Lập dự toán thu ngân sách nhà nước đối với những khoản thu được phân cấp
quản lý
Phối hợp với cơ quan có liên quan trong việc quản lý công tác thu ngân sách

-

nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
Phòng kinh tế
Chức năng: tham mưu, giúp UBND thị xã thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về nông nghiệp; lâm nghiệp; thủy lợi; thủy sản; phát triển nông thôn; kinh tế
trang trại; kinh tế tập thể gắn với ngành nghề nông thôn; thường trực xây dựng nông
thôn mới tiểu thủ công nghiệp; khoa học và công nghệ; công nghiệp; thương mại
Nhiệm vụ:
Trình UBND thị xã dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, chương trình, kế
hoạch phát triển dài hạn, 5 năm và hàng năm
Trình Chủ tịch UBND thị xã dự thảo các văn bản về các lĩnh vực do phòng quản

Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính
sách, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án
Giúp UBND thị xã thực hiện và chịu trách nhiệm trong việc thẩm định, đăng ký,
cấp, gia hạn, điều chỉnh, thu hồi các loại giấy phép thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm

-

quyền của phòng
Phòng TN – MT
Chức năng:tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thị xã quản lý nhà nước về: đất

đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, biển, hải đảo.
Nhiệm vụ:


25
Trình Ủy ban nhân dân thị xã ban hành các văn bản hướng dẫn việc thực hiện
các quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý tài nguyên và
môi trường
Lập quy hoạch sử dụng đất, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thị xã
Thẩm định hồ sơ về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Theo dõi biến động về đất đai; cập nhật, chỉnh lý các tài liệu và bản đồ về đất
đai
Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan có liên quan trong
việc xác định giá đất, mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của địa phương; thực hiện
công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định của pháp luật.
Tổ chức đăng ký, xác nhận và kiểm tra thực hiện cam kết bảo vệ môi trường và
-

đề án bảo vệ môi trường trên địa bàn
Phòng văn hóa và thông tin
Chức năng: tham mưu, giúp UBND thị xã quản lý nhà nước về: Văn hoá; gia
đình; thể dục, thể thao; du lịch; Thông tin, tuyên truyền; phát thanh, báo chí; xuất bản;
bưu chính; viễn thông, internet và công nghệ thông tin (gọi tắt là Văn hoá và Thông
tin) trên địa bàn. Quản lý nhà nước về các hoạt động kinh doanh dịch vụ thuộc lĩnh vực
Văn hoá và Thông tin trên địa bàn thị xã.
Nhiệm vụ:
Trình UBND thị xã ban hành quyết định, chỉ thị; kế hoạch dài hạn, 05 năm và
hàng năm

Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, đề
án, chương trình đã được phê duyệt
Tham gia giúp ủy ban nhân dân thị xã thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy
phép thuộc các lĩnh vực về Văn hoá và Thông tin
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, thanh tra việc chấp hành

-

pháp luật của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn.
Phòng Quản lý đô thị
Chức năng: quản lý nhà nước về: xây dựng; kiến trúc, quy hoạch xây dựng; hạ
tầng kỹ thuật; phát triển đô thị; nhà ở và công sở; vật liệu xây dựng;giao thông vận tải
trên địa bàn thị xã theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ:


×