Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2008

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.32 MB, 123 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THÚY HÀ

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2008

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THÚY HÀ

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2008

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN ĐÌNH LÊ

HÀ NỘI - 2012



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS. TS. Nguyễn Đình Lê.
Các số liệu trong luận văn là trung thực,
chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2012.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy Hà


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1

Chương 1. ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2000 ...................................................... 7

1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng
nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trước ngày tái lập tỉnh ............................ 7
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội .................................... 7
1.1.2. Thực trạng nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trước ngày tái lập tỉnh ........ 13
1.2. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh vận dụng chủ trương của Trung ương Đảng
lãnh đạo phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong những năm 1997 - 2000 ..................................... 17
1.2.1. Chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn của Đảng cộng sản Việt Nam.................................................. 17

1.2.2. Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện phát triển nông nghiệp
của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh ............................................................. 23
Chương 2. ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2008............................................ 35

2.1. Chủ trương và biện pháp lãnh đạo phát triển nông nghiệp của Đảng
bộ tỉnh Bắc Ninh............................................................................. 35
2.1.1. Chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam............................ 35
2.1.2. Chủ trương đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh............. 43
2.2. Quá trình chỉ đạo đẩy mạnh phát triển nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh
Bắc Ninh ........................................................................................ 51
2.2.1. Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp .................................... 51
2.2.2. Phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác xã trong nông
nghiệp .................................................................................................... 60
2.2.3. Thực hiện cơ khí hóa, thủy lợi hóa và ứng dụng khoa học
công nghệ vào sản xuất nông nghiệp .............................................. 65


Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ .......................... 77
3.1. Một số nhận xét ......................................................................................... 77
3.1.1. Những thành tựu và nguyên nhân .................................................... 77
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân ................................................................. 87
3.2. Một số kinh nghiệm lịch sử ....................................................................... 91
3.2.1. Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng và vận dụng sáng
tạo, phù hợp với thực tiễn ............................................................... 92
3.2.2. Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững
mạnh, thực hiện tốt vai trò lãnh đạo ở địa phương .......................... 92

3.2.3. Trong quá trình chỉ đạo phải xác định đúng phương hướng,
mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp từng địa phương ................ 94
3.2.4. Phát triển nông nghiệp phải xuất phát từ lợi ích, phát huy vai
trò, sức mạnh tổng hợp của nông dân ............................................. 94
3.2.5. Đảng bộ các cấp phải đặc biệt coi trọng lãnh đạo ứng dụng
tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất ....................................... 95
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 99
PHỤ LỤC

..................................................................................................... 109


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Kết quả gieo trồng cây lương thực qua các năm ............................... 28
Bảng 1.2: Kết quả sản xuất lâm nghiệp ............................................................ 30
Bảng 2.1: Diện tích chuyển từ ruộng trũng sang nuôi trồng thủy sản ................ 59


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế,
sản xuất ra tư liệu tiêu dùng thiết yếu nhất cho con người như lương thực,
thực phẩm mà không một ngành sản xuất nào có thể thay thế được. Phát triển
nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia đặc biệt là những nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
như nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là một nước
nông nghiệp, muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải
lấy nông nghiệp làm gốc. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ

sở phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực
cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của công nghiệp làm ra” [62, tr.180].
Chú trọng phát triển nông nghiệp là một chủ trương nhất quán của
Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trước đây cũng như trong sự
nghiệp xây dựng đất nước hôm nay. Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay cùng với
quá trình đổi mới đất nước, Đảng đã có rất nhiều những chỉ thị, nghị quyết
nhằm đổi mới chính sách phát triển nông nghiệp. Chính vì vậy, trong thời
gian qua nông nghiệp nước ta đã đạt được những kết quả rất quan trọng đóng
góp vào thành tựu kinh tế xã hội của cả nước.
Bắc Ninh có xuất phát điểm từ một tỉnh mà nền kinh tế chủ yếu dựa
vào sản xuất nông nghiệp. Những năm qua nền kinh tế của Tỉnh phát triển
năng động đặc biệt đang có sự chuyển dịch mạnh theo hướng tăng quy mô, tỷ
trọng các ngành kinh tế phi nông nghiệp, thu hẹp dần quy mô, tỷ trọng ngành
nông nghiệp. Đây là xu hướng chung của các địa phương trong cả nước, đánh
dấu sự chuyển biến tích cực nền kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Tuy vậy,
nông nghiệp của Tỉnh vẫn chiếm tỷ trọng lớn và luôn khẳng định vị trí quan
trọng trong nền kinh tế, tạo cơ sở cho sự phát triển các ngành kinh tế khác,

1


góp phần đưa Bắc Ninh trở thành một tỉnh phát triển năng động, có chỉ số
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở vị trí cao trong cả nước.
Trong thời gian qua, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã vận dụng đường lối
phát triển nông nghiệp của Đảng vào tình hình thực tiễn của địa phương và
đạt được những kết quả quan trọng. Tuy vậy, nông nghiệp Bắc Ninh vẫn còn
tồn tại những hạn chế cần khắc phục. Việc tìm hiểu quá trình Đảng bộ tỉnh
Bắc Ninh lãnh đạo phát triển nông nghiệp, tổng kết những thành công, rút ra
những bài học kinh nghiệm là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Với ý nghĩa đó, tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo

phát triển nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2008” làm Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nông nghiệp là một vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu. Trên phạm vi cả nước đã có rất nhiều những công trình, hội thảo
của các cơ quan lãnh đạo, quản lí hay các nhà khoa học đề cập. Đến nay,
chúng ta có thể chỉ ra những công trình tiêu biểu theo các nhóm:
Các cuốn sách: “Thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước
ta”(1999) của Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê, Hà Nội; “Đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp, thành tựu, vấn đề và triển vọng” (1995) của Nguyễn Văn
Bách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn” (1998) của Lê Mạnh Hùng, Nxb Thống kê, Hà Nội; “Con đường
CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn” (2001) của Chu Hữu Quý và Nguyễn
Kế Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
nông nghiệp ở Việt Nam” (1999) của Trương Thị Tiến, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội; “Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở các nước
Châu Á và Việt Nam” (1994) của Nguyễn Điền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” (1998) của Hồng Vinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
2


“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền
kinh tế quốc dân” (1994) của Đỗ Đình Giao, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
“Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, thành tựu, vấn đề và triển vọng” (1994)
của Nguyễn Văn Bích, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Chính sách phát triển
nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị” (2000) của Lê
Đình Thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
công, nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng thực trạng và triển vọng” (2003)
của Đặng Văn Thắng - Phạm Ngọc Dũng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

“Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” (2003) của Nguyễn Sinh
Cúc, Nxb Thống kê, Hà Nội; “Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ở Việt
Nam” (2008) của Nguyễn Hữu Tiến, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
Các công trình này đã tập trung nghiên cứu thực trạng nông nghiệp, vấn
đề đổi mới cơ chế quản lý chính sách kinh tế nông nghiệp nước ta cũng như
chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết như quản lý sử dụng đất đai,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực trạng của quá trình CNH, HĐH
nông nghiệp, những bài học và hạn chế cần khắc phục. Tuy nhiên các công
trình đó nghiên cứu trên một địa bàn lớn, đề xuất những vấn đề ở tầm vĩ mô,
không mang đặc thù chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các Luận án: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp CNH,
HĐH nông nghiệp nông thôn từ 1991 - 2002” (2006), của Lê Quang Phi,
Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quân sự Hà Nội; “CNH, HĐH
nông thôn ở các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh” (2003), của Mai Thị Thanh Xuân,
Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; “Sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, thực
trạng và giải pháp” (2002) của Phạm Ngọc Dũng, Luận án tiến sĩ Kinh tế,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội... Những nghiên cứu này
đề cập vấn đề phát triển nông nghiệp mang đặc thù của từng địa phương góp
phần gợi mở nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn.

3


Những công trình trên là nguồn tài liệu quý báu, là cơ sở để tác giả kế
thừa, tiếp tục nghiên cứu. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa
học nào nghiên cứu một cách toàn diện về chủ trương phát triển nông nghiệp
của tỉnh Bắc Ninh trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự vận
dụng của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong phát triển kinh tế nông nghiệp.
- Làm sáng tỏ vai trò của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong quá trình chỉ
đạo thực hiện phát triển nông nghiệp.
- Đúc kết kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo
phát triển nông nghiệp trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2008.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát tình hình KTXH và thực trạng nông nghiệp của Bắc Ninh
trước ngày tái lập tỉnh.
- Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam và Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển nông nghiệp.
- Trình bày những thành tựu và hạn chế trong phát triển nông nghiệp
Bắc Ninh trong những năm 1997 - 2008.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những chủ trương và biện
pháp về lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh.
* Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phát triển nông
nghiệp của tỉnh Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh.
- Thời gian: Từ năm 1997 đến năm 2008.
- Không gian: Địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

4


5. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tư liệu
Để thực hiện Luận văn, tác giả đã khai thác nhiều nguồn tư liệu khác
nhau: các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam;
các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng; các Nghị định, Quyết định của Chính phủ

về nông nghiệp; các tài liệu thể hiện lí luận về nông nghiệp; các báo cáo điều
tra của các nhà khoa học, các cơ quan; các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh, các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân
Tỉnh; các tài liệu, báo cáo tổng kết về tình hình nông nghiệp của các ban
ngành chức năng trong Tỉnh.
Đây là những nguồn tư liệu cơ bản của luận văn. Những nguồn tư liệu
đó được tác giả khai thác từ Trung tâm Lưu trữ của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân
dân Tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh; Thư viện
Quân đội; Thư viện Quốc gia Việt Nam...
* Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lí luận, phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử; cơ sở lí luận chung của Chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp; các quan điểm và đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
* Phương pháp nghiên cứu
Để xem xét vấn đề phát triển nông nghiệp một cách khách quan, sát
thực tiễn, luận văn đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp lịch sử, lôgic để làm sáng tỏ đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam và sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đạo phát
triển nông nghiệp.
Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, xử lý số liệu để
làm rõ những thành tựu, hạn chế, lý giải nguyên nhân và rút ra những kinh
nghiệm để tiếp tục phát triển nông nghiệp của Tỉnh.
5


6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hóa, quan điểm, chủ trương, chính sách
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển nông
nghiệp.

- Trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo tổ chức thực hiện
phát triển nông nghiệp trong thời gian 1997 - 2008.
- Từ những kết quả nghiên cứu, luận văn rút ra một số kinh nghiệm để
tiếp tục phát triển nông nghiệp của Tỉnh.
- Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm
phong phú thêm tài liệu tham khảo cho giảng dạy một số chuyên đề Lịch sử
Đảng về nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm 3 chương, 6 tiết:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển nông nghiệp
theo hướng CNH, HĐH trong những năm 1997 - 2000.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp theo hướng CNH, HĐH trong những năm 2001 - 2008.
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử.

6


Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2000

1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và thực
trạng nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trước ngày tái lập tỉnh
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội
Bắc Ninh là một tỉnh nằm ở đồng bằng Bắc Bộ, trong khu vực kinh tế
trọng điểm phía Bắc. Bắc Ninh là vùng đất được hình thành sớm trong thời
đại đồ đá. Cùng với nhiều biến thiên thăng trầm của lịch sử, vùng đất này có

những thay đổi về tên gọi, địa giới hành chính. Thời Hùng Vương - An
Dương Vương, đây là đất thuộc bộ Vũ Ninh trong nhà nước Văn Lang - Âu
Lạc. Dưới thời Lý, có tên là Lộ Bắc Giang. Thời Hồ lại tách ra thành Lộ Bắc
Giang và Lộ Lạng Giang. Sang thời Lê đổi thành trấn Kinh Bắc. Trên 4 thế
kỷ, trấn Kinh Bắc ổn định với 20 huyện nằm trong 4 phủ. Năm 1931, trấn
Kinh Bắc đổi thành tỉnh Bắc Ninh với 21 huyện. Đến thời thuộc Pháp, Bắc
Ninh được chia làm hai tỉnh là Bắc Ninh và Bắc Giang.
Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Quốc hội khóa II ra Nghị quyết hợp nhất
hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc với 14 huyện và 2 thị xã.
Tháng 11 năm 1996, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã ra Quyết định
phê chuẩn việc tái lập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Ngày 1 tháng 1 năm
1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới. Bắc
Ninh ngày nay bao gồm thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, 6 huyện là Gia
Bình, Lương Tài, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Du và Yên Phong.

7


* Điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý
Tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 822,7km2, là tỉnh có diện tích tự
nhiên nhỏ nhất cả nước, cửa ngõ thủ đô Hà Nội, nằm trong tam giác kinh tế
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang ở phía Bắc và
Đông Bắc, với tỉnh Hải Dương và Hưng Yên ở phía Nam và Đông Nam, với
thủ đô Hà Nội ở phía Tây và Tây Bắc. Bắc Ninh nằm trên nhiều tuyến đường
giao thông quan trọng như quốc lộ 1A, 1B, 18, 38, đường sắt xuyên Việt đi
Trung Quốc. Bắc Ninh nằm gần sân bay quốc tế Nội Bài. Trong Tỉnh còn có
nhiều sông lớn nối Bắc Ninh với các tỉnh lân cận và cảng Hải Phòng, Cái Lân.
Vị trí đó là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế từ trong tỉnh đến các
tỉnh khác và nước ngoài đặc biệt là phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản

xuất hàng hóa.
Về điều kiện địa hình
Địa hình tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc
xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt
đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình
trên toàn Tỉnh không lớn. Địa hình chia làm hai vùng: vùng đồng bằng chiếm
phần lớn diện tích toàn Tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 - 7m so với mực nước
biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài,
Quế Võ; vùng đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 0,53% so với tổng diện tích
tự nhiên của Tỉnh và được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã
Từ Sơn, huyện Quế Võ. Các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60- 100m. Địa
hình của Bắc Ninh thuận lợi cho phát triển sản xuất các loại cây lương, thực
thực phẩm với năng suất cao và một số loại cây công nghiệp ngắn ngày.
Về khí hậu
Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hàng
năm là 23,50C, lượng mưa đạt 1.100mm - 1.200mm/năm. Độ ẩm trung bình là
8


82,5%. Khí hậu của Tỉnh rất thuận lợi cho việc sinh trưởng của lúa, màu, cây
công nghiệp, cây ăn quả đặc biệt là luân canh cây vụ Đông.
Về đất đai
Bắc Ninh thuộc vùng đồng bằng, được hình thành trên trầm tích sa bồi,
với loại đất chủ yếu là đất phù sa tương đối màu mỡ thuận lợi cho phát triển
nông nghiệp với hệ thống cây trồng đa dạng. Đặc biệt là đất phù sa được bồi
đắp bởi sông Cầu, sông Đuống với lượng phù sa trong nước lên đến 1,028 1,4kg/m3. Đất ngoài đê sông Đuống bồi tụ hàng năm lên đến hàng nghìn ha
thuộc các huyện Tiên Du, Thuận Thành, Quế Võ. Đất có tỷ lệ mùn, dinh
dưỡng cao phù hợp với nhiều loại cây trồng. Đất phù sa sông Thái Bình với
phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai
bị xói mòn nhiều nên hàm lượng phù sa lớn và bồi đắp phù sa tạo thành hàng

trăm ha soi bãi màu mỡ, thích hợp cho trồng rau màu và cây dâu.
Diện tích đất nông nghiệp là 49.936 ha, chiếm tỷ lệ lớn với 65,85%
trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ là 0,81%.
Khả năng mở rộng diện tích đất nông - lâm - ngư nghiệp của Tỉnh hạn
chế do diện tích đất chưa sử dụng chỉ còn chiếm tỷ lệ thấp khoảng 0,84%.
Về tài nguyên nước
Hệ thống sông ngòi của Tỉnh khá dày đặc. Sông Cầu bắt nguồn từ Bắc
Kạn đã tạo ra giao thông đường thủy thuận lợi. Sông Đuống nối sông Hồng
với sông Thái Bình là sông rộng và sâu, nước chảy xiết. Sông Thái Bình có
đoạn chảy qua Bắc Ninh dài 16km. Ngoài ra, Tỉnh còn có hệ thống sông nhỏ,
sông nội đồng phân bố khá dày đặc đảm bảo tưới tiêu cho một vùng rộng lớn
thuộc các huyện trong Tỉnh. Hệ thống sông ngòi dày đặc là điều kiện thuận
lợi cho ngành nuôi trồng thủy sản nước ngọt, cung cấp nguồn nước cho nhu
cầu sản xuất đồng thời cũng là những tuyến giao thông thủy, tạo điều kiện cho
việc giao lưu hàng hóa trong Tỉnh cũng như với các tỉnh khác trong vùng.

9


Cùng với nguồn nước mặt khá phong phú, trữ lượng nước ngầm của
Bắc Ninh cũng khá dồi dào. Lượng nước ngầm tại các giếng khoan có thể
khai thác từ 30 - 50m3/ngày đêm.
Tài nguyên khoáng sản
Bắc Ninh là tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật
liệu xây dựng như đất sét làm gạch, ngói, gốm với trữ lượng khoảng 4 triệu
tấn ở các huyện như Quế Võ, Tiên Du; đá cát kết trữ lượng 1 triệu tấn; đá sa
thạch với trữ lượng khoảng 300.000m3; than bùn với trữ lượng 60.000 200.000 tấn.
Như vậy, Bắc Ninh là một địa phương đồng bằng có điều kiện tự nhiên
khá thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế nhất là thực hiện đa dạng
hóa các mô hình sản xuất nông nghiệp để tận dụng những thế mạnh của Tỉnh.

* Điều kiện kinh tế - xã hội
Về truyền thống lịch sử
Bắc Ninh nổi tiếng là vùng quê văn hiến có truyền thống lịch sử và
cách mạng vẻ vang, rất giàu tiềm năng đã và đang vươn lên mạnh mẽ hòa
nhịp cùng với sự thay đổi của đất nước. Nơi đây từ lâu đã được xem là vùng
“địa linh” một trong những cái nôi của nền văn minh sông Hồng đã sinh
thành, nuôi dưỡng và quy tụ nhiều “nhân kiệt”, những anh hùng, những danh
nhân tiêu biểu cho truyền thống văn hóa lịch sử của dân tộc qua các thời đại
như Lý Thái Tổ, Hoàng hậu Ỷ Lan,Vạn Hạnh, Lê Văn Thịnh, Nguyễn Gia
Thiều, Đoàn Thị Điểm, Cao Bá Quát, Nguyễn Tư Giản, Ngô Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan, Nguyễn Văn Cừ...
Bắc Ninh còn là đất học, đất khoa bảng. Trong gần 1000 năm đào tạo,
tuyển chọn nhân tài từ khoa thi đầu tiên đến khoa thi cuối cùng của giáo dục
Nho học, Bắc Ninh có 700 người đỗ đại khoa. Nhiều tiến sĩ Nho học của Bắc
Ninh là những tác giả nổi tiếng trên các lĩnh vực như chính trị, quân sự, ngoại
giao, văn hóa... Truyền thống hiếu học là hành trang, là niềm tự hào, là cội
10


nguồn tạo nên sức sống mãnh liệt, sức bật mạnh mẽ của mảnh đất này để
không ngừng phát triển KTXH, xây dựng đất nước hôm nay.
Truyền thống đó đã được phát huy mạnh mẽ khi Đảng ra đời lãnh đạo
cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến giành độc lập dân tộc và tự do,
hạnh phúc cho nhân dân. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh tự hào là một Đảng bộ ra đời
sớm ngay sau Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Liền sau đó,
Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã lãnh đạo nhân dân giành nhiều chiến công hiển
hách trong việc giành và giữ chính quyền, trong hai cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những thắng lợi của nhân dân Bắc Ninh đã
góp phần làm nên những thắng lợi của cả dân tộc.
Thời kì đổi mới, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã nhận thức rõ những đặc

điểm KTXH, những thuận lợi và những khó khăn của Tỉnh để trên cơ sở đó
vận dụng năng động, sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng vào hoàn cảnh
cụ thể của địa phương nhằm phát huy các nguồn lực tạo nhân tố tích cực cho
sự nghiệp xây dựng, phát triển KTXH.
Về dân số, lao động
Theo kết quả điều tra năm 2008, Bắc Ninh có dân số là 1.024.151
người, mật độ dân số khá đông khoảng 1.200 người/km2. Trong đó dân cư
nông thôn chiếm trên 76,5%, dân số thành thị chiếm 23,5%. Thành phần dân
số này có xu hướng chuyển dịch theo cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm
dần dân số nông thôn. Trên địa bàn Tỉnh có nhiều dân tộc khác nhau cùng
sinh sống như dân tộc Kinh, Sán Dìu, Tày, Nùng... Trong đó, đông nhất là dân
tộc Kinh với trên 90% dân số của Tỉnh [4, tr.527].
Bắc Ninh là tỉnh có dân số trẻ. Năm 2008, tổng số lao động của Tỉnh là
hơn 600.000 người chiếm trên 60% dân số. Lao động trẻ của Tỉnh còn rất dồi
dào, lao động dưới 30 tuổi chiếm trên 50% tổng số lao động. Với chất lượng
ngày càng được nâng cao, đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao động hùng
hậu trong công cuộc xây dựng và phát triển KTXH của Tỉnh.
11


Về trình độ dân trí: Bắc Ninh đạt phổ cập giáo dục tiểu học năm 1996,
hơn 100% xã đạt tiêu chuẩn xóa nạn mù chữ. Năm 2002, Tỉnh đã hoàn thành
phổ cập Trung học cơ sở. Quy mô giáo dục phổ thông tăng nhanh, bình quân
100 người dân có 2,5 người đi học.
Lực lượng lao động đã qua đào tạo của Tỉnh chiếm khoảng 20% tổng
số lao động (năm 2003). Hàng năm số học sinh của Tỉnh thi đỗ vào các
trường đại học, cao đẳng, trung cấp chiếm khoảng 40% tổng số học sinh tốt
nghiệp trung học phổ thông.
Tuy vậy lực lượng lao động có chuyên môn kĩ thuật của Tỉnh còn chưa
đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH. Đặc biệt là

trong nông nghiệp, lực lượng lao động qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ rất thấp
chỉ đạt khoảng gần 4% tổng số lao động. Nông dân chủ yếu sản xuất theo
kinh nghiệm, không được đào tạo, nâng cao trình độ. Điều này gây khó khăn
cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất cũng như
tạo ra sự chuyển biến trong nông nghiệp theo hướng hiện đại.
Nhân dân Bắc Ninh cần cù, sáng tạo, thông minh, tích lũy được nhiều
kinh nghiệm trong sản xuất. Từ xa xưa, Bắc Ninh đã được biết đến là “vùng
đất trăm nghề” với rất nhiều làng nghề nổi tiếng như gò đúc đồng Đại Bái,
Trang Liệt, Quảng Bố; đồ hàng sắt Đa Hội, Đông Xuất; đồ gốm Phù Lãng;
dệt vải lụa Nội Duệ, Lũng Giang, Phù Ninh; tranh Đông Hồ...
Về tăng trưởng kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh, những năm qua kinh tế Bắc Ninh
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bắc Ninh nổi lên là một tỉnh đạt tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao nhất đặc biệt là có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đáng kể. Đây là những tiền đề KTXH quan trọng cho phát triển kinh tế của
Tỉnh nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng, đưa nền nông nghiệp của
Tỉnh phát triển theo hướng CNH, HĐH.

12


Giai đoạn 1991 - 1995, tốc độ tăng trưởng GDP của Tỉnh đạt 8,06%.
Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH, tỷ trọng công
nghiêp, xây dựng - dịch vụ - nông nghiệp tương ứng là 24,1% - 29,5% 46,6% [4, tr.520].
Về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
Bắc Ninh có đầy đủ các loại hình giao thông đường sắt, đường bộ,
đường sông thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế trong Tỉnh cũng như sang các
vùng lân cận. Trên địa bàn Tỉnh có 375km đường quốc lộ trải nhựa; 290
đường tỉnh phần lớn được trải nhựa và hơn 3000km đường huyện, xã, đường
thôn xóm trong đó có gần 2000km được trải bê tông và lát gạch; 100% xã có

đường ô tô đến trung tâm xã.
Bắc Ninh có mạng lưới cơ sở vật chất phục vụ sản xuất nông nghiệp
tương đối tốt đặc biệt là mạng lưới các công trình thủy nông với 230 trạm
bơm điện, 178 trạm bơm cục bộ, 82% diện tích canh tác có công trình tưới và
70% diện tích có công trình tiêu.
Như vậy, có thể thấy Bắc Ninh có những điều kiện tự nhiên, KTXH
tương đối thuận lợi cho phát triển. Đây là điều kiện tác động lớn, là cơ sở để
Đảng bộ Tỉnh hoạch định chủ trương, chính sách đúng đắn trong quá trình
lãnh đạo phát triển KTXH nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng.
1.1.2. Thực trạng nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trước ngày tái lập tỉnh
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) đã
mở đầu cho bước chuyển biến nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế tập trung bao
cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đại hội đã xác định đường lối đổi mới toàn diện đặt trọng tâm là
đổi mới kinh tế. Đại hội khẳng định: “Phải thật sự tập trung sức người, sức
của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [35, tr.47].

13


Quán triệt quan điểm của Trung ương Đảng coi nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu, Tỉnh ủy Hà Bắc đã có nhiều nghị quyết bổ sung vào phương hướng,
nhiệm vụ phát triển KTXH của Tỉnh. Báo cáo bổ sung Nghị quyết Đại hội VII
của Đảng bộ Tỉnh xác định: “nắm vững mục tiêu quan trọng hàng đầu là giải
quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm để ổn định đời sống nhân
dân” [4, tr.510]. Tỉnh ủy Bắc Ninh xác định nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất
nông nghiệp là nhiệm vụ trọng yếu nhất, vấn đề lương thực, thực phẩm được
đặt lên hàng đầu. Để thực hiện mục tiêu đặc biệt là quán triệt quan điểm của
Trung ương Đảng về kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Đảng bộ Tỉnh đã đề
ra nhiều biện pháp chỉ đạo phát triển nông nghiệp.

Để phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nói chung và kinh tế
nông nghiệp nói riêng, trước hết cần phải có cơ chế thích hợp. Cơ chế quản lý
kinh tế nông nghiệp đã được thực hiện và nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là
củng cố các HTX nông nghiệp cả về cơ cấu tổ chức và quy mô. Các HTX
trong Tỉnh đã từng bước nâng cao hiệu quả quản lý điều hành của ban quản lý
HTX và tăng cường quản lý việc sử dụng đất đai. Ban quản lý HTX chuyển
chức năng từ quản lý theo kế hoạch, khoán việc; bình quân chấm điểm sang
hướng dẫn kỹ thuật và dịch vụ các khâu làm đất, bảo vệ thực vật, tưới tiêu
nước...Bộ máy quản lý được tinh gọn đã làm giảm chi phí gián tiếp, tăng hiệu
quả điều hành. Đây là điều kiện mang tính tiên quyết thúc đẩy nông nghiệp
của Tỉnh có bước chuyển biến mới những năm trước tái lập.
Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 10 (1988), Luật đất đai (1993),
đến năm 1993, các huyện, thị xã trong Tỉnh đã cơ bản hoàn thành giao ruộng
đất cho nông dân, toàn bộ diện tích mặt nước, ao hồ, đầm lầy các địa phương
đều cho xã viên tham gia đấu thầu.
Những cơ chế mới được thực hiện đã tạo ra sự chuyển biến tích cực
trong nông nghiêp của Tỉnh về các mặt:

14


Cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển dịch. Năm 1995, trồng trọt chiếm
62,11%, chăn nuôi chiếm 37,89% tỷ trọng ngành nông nghiệp.
Về trồng trọt: năm 1995, tổng diện tích gieo trồng đạt 100.657 ha, tổng
sản lượng quy thóc đạt 308.553 tấn; lương thực bình quân đầu người đạt
339,7 kg/năm, cao hơn mức bình quân lương thực chung của cả nước.
Kinh tế vườn đồi được nhân rộng. Đến năm 1995, toàn Tỉnh có hàng trăm
vườn cây ăn quả, mỗi năm cho thu nhập hàng chục triệu đồng. Bên cạnh đó, mỗi
năm Tỉnh còn trồng thêm khoảng 2 triệu cây lấy gỗ, phủ kín các đồi trọc.
Về chăn nuôi: chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng được quan tâm và có bước

phát triển với nhiều mô hình làm kinh tế theo công thức VAC, áp dụng khoa
học, kỹ thuật và bước đầu đưa cây con giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản
xuất. Nhiều huyện trong Tỉnh đã phát triển mạnh đàn giá súc, gia cầm như
huyện Gia Bình, Lương Tài với khoảng hơn 300 hộ nuôi gà công nghiệp, 100
hộ chăn nuôi con đặc sản như ếch, ba ba, lươn... Các huyện như Quế Võ, Yên
Phong đã đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính. Đặc biệt, Tỉnh còn phát
triển mạnh nghề trồng dâu, nuôi tằm ở một số huyện như Yên Phong, thuận
Thành...
Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp: Bắc Ninh có một số
huyện nằm trong vùng trũng có bình độ thấp như Gia Bình, Lương Tài, Thuận
Thành. Để chủ động tưới tiêu, Tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng trong thời gian
từ 1991 - 1995, huy động hàng vạn dân công nạo vét kênh mương. Toàn Tỉnh
có trên 300 trạm bơm đảm bảo chủ động tưới tiêu cho trên 70% diện tích canh
tác.
Hệ thống đường giao thông phục vụ nông nghiệp từng bước được cải
thiện. Đến cuối năm 1996, hầu hết các tuyến đường giao thông liên huyện,
liên xã được trải nhựa, dải cấp phối. Một số đường thuộc khu trung tâm của
các xã đã được bê tông hóa, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn

15


phát triển. Đặc biệt là tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, sản phẩm nông
nghiệp trên địa bàn Tỉnh và với các địa phương khác.
Mạng lưới điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất được mở rộng. Tính đến
1996, toàn Tỉnh có 122/123 xã có điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong nông nghiệp, thực trạng nông
nghiệp tỉnh Bắc Ninh vẫn còn những hạn chế, yếu kém:
Sản xuất nông nghiệp của Tỉnh phát triển không đều, tốc độ tăng chậm,
bấp bênh. Sản xuất nông nghiệp chưa phát triển toàn diện, trồng trọt vẫn

chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tỷ trọng của ngành; chăn nuôi đặc biệt là nuôi
trồng thủy sản chưa được quan tâm đúng mức vì vậy sản lượng đạt được thấp
hơn rất nhiều so với tiềm năng. Trong trồng trọt, diện tích cây rau màu, cây có
hiệu quả kinh tế cao, cây công nghiệp có diện tích nhỏ không tận dụng được
hết lợi thế của Tỉnh so với các tỉnh khác ở đồng bằng sồng Hồng đặc biêt là
lợi thế về diện tích đất đồi.
Tuy nhiên nhìn chung nông nghiệp của Tỉnh vẫn còn trong tình trạng
manh mún, hiệu quả kinh tế thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật
vào sản xuất để tăng năng suất lao động còn rất hạn chế. Nông nghiệp của
Tỉnh vẫn được sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vì vậy hiệu quả thấp.
Tỷ lệ cơ giới hóa, điện khí hóa các khâu sản xuất còn thấp.
Lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhưng hầu hết là lao động
giản đơn, lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ thấp hơn
các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng. Chính vì vậy đã hạn chế đến
việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đem lại hiệu
quả kinh tế cao.
Sự chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của các ngành trong Tỉnh chưa thực sự
sát sao; thiếu những chủ trương, biện pháp cụ thể; thiểu kiểm tra, đôn đốc
chặt chẽ. Các Chỉ thị, Nghị quyết chưa được cụ thể hóa và vận dụng phù hợp
vào đặc điểm từng lĩnh vực của nông nghiệp, từng địa phương trong Tỉnh.
16


Thực trạng này đòi hỏi Đảng bộ Tỉnh phải tiếp tục có những giải pháp
phù hợp, sát thực tiễn để tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong nông nghiệp, tạo
tiền đề cho sự phát triển KTXH của Tỉnh trong tương lai.
1.2. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh vận dụng chủ trương của Trung ương
Đảng lãnh đạo phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong những năm 1997 - 2000
1.2.1. Chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông

thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam
Phát triển nông nghiệp là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự
phát triển KTXH đặc biệt ở những quốc gia đi lên từ điểm xuất phát thấp như
Việt Nam. Chính vì vậy, vấn đề nông nghiệp luôn được Đảng đặt lên vị trí
hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của mọi giai đoạn lịch sử. Đặc
biệt là trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
Về bản chất “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi
căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý
kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách
phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến,
hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ,
tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [39, tr.554]. Như vậy, có thể thấy mục
tiêu của quá trình CNH, HĐH là nâng cao hiệu quả KTXH, giữ nhịp độ tăng
trưởng nhanh và bền vững. Việt Nam là một quốc gia có đến gần 80% dân số
nông thôn, gần 70% lực lượng lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp,
tạo ra gần 1/3 tổng sản phẩm trong nước và hơn 40% giá trị xuất khẩu hàng
năm nên nông nghiệp có vai trò không thể thay thế trong sự nghiệp phát triển
KTXH của đất nước.
CNH nông nghiệp, nông thôn là nội dung quan trọng nhất trong quá
trình CNH đối với tất cả các quốc gia. Căn cứ vào điều kiện thực tiễn của
nước ta và vận dụng kinh nghiệm của các nước tiên tiến, Đảng đã khẳng định
17


phải đặc biệt coi trọng CNH nông nghiệp và nông thôn trong thời kì đầu của
quá trình CNH. Nước ta tiến hành CNH trong điều kiện một nền kinh tế thuần
nông, trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, chủ yếu là sản xuất tự cấp tự
túc vì thế cần nhanh chuyển sang nền kinh tế nông - công nghiệp và dịch vụ,
sản xuất nông sản hàng hóa, tạo cơ sở và tiền đề cho công cuộc CNH, HĐH
đất nước. Mặt khác, nông nghiệp và nông thôn là khu vực kinh tế có nhiều

tiềm năng về đất đai và lao động - hai nguồn lực quan trọng để xây dựng, phát
triển KTXH. Vì thế, sự nghiệp CNH, HĐH phải được bắt đầu từ CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, ngay từ thập niên 60 của
thế kỉ XX, Đảng đã xác định CNH là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kì quá
độ lên CNXH với đường lối CNH được xác định là xây dựng một nền kinh tế
cân đối và hiện đại, lấy nông nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lí đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ, biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước
công nghiệp, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến.
Quá trình CNH trong nông nghiệp, nông thôn lại được tiếp tục trong
thời kì 1976 - 1980 được thực hiện với nội dung chủ yếu là cơ giới hóa đồng
bộ và áp dụng các phương pháp công nghiệp trong trồng trọt và chăn nuôi.
CNH lúc đó được thực hiện theo công thức: cơ giới hóa + hợp tác xã quy mô
lớn = sản xuất nông nghiệp lớn. Sau một thời gian thử nghiệm, mô hình này
bộc lộ nhiều hạn chế. Từ thất bại đó, Đảng rút ra bài học là trong điều kiện
của Việt Nam, CNH, HĐH không thể chỉ có cơ giới hóa khi chưa xử lí được
các vấn đề khác.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 - dấu mốc
đánh dấu quá trình đổi mới toàn diện tình hình KTXH của đất nước đã một
lần nữa khẳng định vai trò quan trọng hàng đầu của nông nghiệp trong việc
đáp ứng những yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu sản

18


xuất hàng tiêu dùng với việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung
vào ba chương trình mục tiêu là: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu. Đại hội cũng chỉ rõ trong toàn bộ quá trình xây dựng CNXH
không thể tách rời nông nghiệp với công nghiệp những tùy theo từng giai

đoạn mà vị trí của hai lĩnh vực này có khác nhau.
Để tiếp tục đưa nông nghiệp phát triển, Đảng đã ra nhiều Nghị quyết
đổi mới trong nông nghiệp. Đặc biệt là nghị quyết “Về đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp” (thường gọi là Nghị quyết 10). Nghị quyết đề cập đến những
nội dung:
Sắp xếp và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên môn
hóa kết hợp với kinh doanh tổng hợp.
Củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất XHCN, sử dụng đúng đắn các
thành phần kinh tế.
Đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp với 3 nội dung:
Về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là giao ruộng đất ổn định lâu dài
trong khoảng 10 - 15 năm.
Về quan hệ quản lý là tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối
cùng đến nhóm hộ và hộ xã viên, đến người lao động và tổ, đội sản xuất.
Về quan hệ phân phối là xóa bỏ hạch toán và phân phối theo công
điểm, hộ xã viên được quyền tự chủ về kinh tế, được hưởng trên dưới 40%
sản lượng khoán.
Quán triệt quan điểm coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, “Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH” và “Chiến lược ổn
định phát triển KTXH đến năm 2000” của Đảng đã tiếp tục chủ trương phát
triển nông nghiệp: “Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp
chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn
định tình hình KTXH, bước đầu đưa nền kinh tế vượt khỏi tình trạng nông
nghiệp lạc hậu” [36, tr.311]. Tiếp đó, trên cơ sở đánh giá tình hình nông
19


×