Tải bản đầy đủ (.pdf) (79 trang)

Cô đơn thời gian trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.87 MB, 79 trang )

B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2

ĐỖ NĂNG HUẤN

CÔ ĐƠN THỜI GIAN TRONG TIỂU THUYẾT
N Ỗ I B U Ồ N CH IẾN TRANH CỦA BẢO NINH

LUẬN YĂN THẠC s ĩ
NGÔN NGỮ YÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2015


B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2

ĐỖ NĂNG HUẤN

CÔ ĐƠN THỜI GIAN TRONG TIỂU THUYẾT
N Ỗ I B U Ồ N CH IẾN TRANH CỦA BẢO NINH

Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC s ĩ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Ngưòi hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG YẢN DUNG

HÀ NỘI, 2015




LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học thạc sĩ cũng như đề tài luận vãn này là nhờ sự
giảng dạy, giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong tổ Lí luận văn học Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong Viện Văn học, các thầy cô Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân vãn. Tôi xin gửi đến các Thầy Cô lời cảm ơn chân
thành và biết ơn sâu sắc nhất!
Tôi xin được gửi lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Trương Đăng Dung,
người thầy mẫu mực đã dành nhiều thòi gian và tâm huyết hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình tìm tài liệu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn
bên tôi chia sẻ với tôi những khó khăn và giúp đỡ tôi để tôi có thành quả như
ngày hôm nay.

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2015
Tác giả

Đỗ Năng Huấn


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và không trùng lặp với các tài liệu khác. Tôi cũng xin cảm đoan rằng mọi sự
giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn
trong luận vãn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2015
Tác giả


Đỗ Năng Huấn


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

1. Lí do chọn đề tài

1

2. Mục đích nghiên cứu

4

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4

4. Phưcmg pháp nghiên cứu

5

5. Dự kiến đóng góp mới của luận vãn

5

Chương 1. CON NGƯỜI CÔ ĐƠN THỜI GIAN TRONG TRIẾT HỌC


6

VÀ VẢN HỌC
1.1. Con người cô đơn thời gian trong triết học

6

1.2. Con người cô đơn thời gian trong văn học

11

1.3. Bảo Ninh và Nỗi buồn chiến tranh
Chương 2. CON NGƯỜI CÔ ĐƠN VỚI QUÁ KHỨ - HIỆN TẠI -

27
33

TƯƠNG LAI TRONG TIÊU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
2.1. Con người khắc khoải với quá khứ

33

2.2. Con người bất an với thực tại

47

2.3. Con người xa lạ với tqơng lai
Chương 3. NGHỆ THUẬT THÊ HIỆN NỖI CÔ ĐƠN TRONG TIÊU


61
66

THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
3.1. Nghệ thuật miêu tả lịch sử song hành
3.2. Kỹ thuật dòng ý thức

66
71

3.3. Sự thay đổi điểm nhìn trần thuật

78

KẾT LUẬN

90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

94


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chon
■ đề tài
1.1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã kết thúc thắng lợi, cả dân tộc
hân hoan trong niềm hạnh phúc: non sông nối liền một dải, Bắc Nam xum họp

một nhà. Lịch sử đã sang trang, nhưng đằng sau ánh hào quang của những chiến
công, vẫn còn đó những mất mát, đau thương, khắc khoải về thân phận con
người. Chiến tranh - một đề tài tưởng như đã cũ, vẫn là mảnh đất mỡ màu cho
những cây bút thực tài bén rễ, không ngừng sáng tạo để đặt ra những trăn trở,
suy tư về văn hóa, về giá trị con người ở một chiều sâu triết học thực sự.
1.2. Là nhà văn đã từng bước ra từ khói lửa chiến tranh, Bảo Ninh cùng với
các cây bút thời hậu chiến viết, nhìn lại quá khứ với những chiêm nghiệm sâu
sắc về số phận con người ở khía cạnh mà trước đây luôn bị “gác lại” trước số
phận dân tộc: khía cạnh bi kịch cá nhân. Cảm hứng bi kịch là cội nguồn cho sự
xuất hiện của một loại nhân vật mang diện mạo tinh thần hoàn toàn mới trong
tiểu thuyết về chiến tranh sau 1975, nhất là sau 1986 nhờ nỗ lực đổi mới và dân
chủ hóa đời sống văn hóa vãn nghệ. Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết hậu
chiến được đánh dấu từ Thời xa vẳng (1986) của Lê Lựu. Tiếp theo, cảm hứng
bi kịch vẫn được tập trung thể hiện sâu đậm hơn, đa dạng hơn trong những tiểu
thuyết hậu chiến, cắt nghĩa, lí giải, nhận thức lại hiện thực bằng cảm hứng bi
kịch, tiểu thuyết hậu chiến đã thực sự đem lại cho người đọc những suy ngẫm
sâu sắc: Mảnh đất tình yêu (Nguyễn Minh Châu), Chim én bay (Nguyễn Trí
Huân), Bến không chồng (Dương Hướng), Vòng tròn bội bạc, Ẩn mày dĩ vãng
(Chu Lai)...Sự xuất hiện của kiểu nhân vật mới trong tiểu thuyết chiến tranh con người suy tư, con người bi kịch - là dấu hiệu quan trọng khẳng định sự đổi


2

mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết và xác lập lộ trình mới của văn học Việt Nam
hiện đại. Đọc các sáng tác của Bảo Ninh, người đọc ấn tượng mạnh bởi lối viết
độc đáo được định hình bởi cái nhìn sâu sắc vào những vỉa tầng của kí ức chiến
tranh. Bằng kỹ thuật dòng ý thức, lối miêu tả lịch sử song hành, ngôn ngữ nhân
vật đa giọng điệu, Bảo Ninh đã tạo nên những trang văn xúc động và ảm ảnh về
chiến tranh, về thân phận con người. Có thể nói, nếu Nguyễn Minh Châu là nhà
văn mở đường tinh anh và tài năng nhất (Nguyên Ngọc), thì Bảo Ninh là cây bút

đi xa hơn cả trên con đường hiện đại hóa và đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương
đại (Bích Thu). Các sáng tác của Bảo Ninh góp phần đưa văn học Việt Nam hội
nhập cùng văn học hiện đại thế giới.
1.3. Trong những năm qua, tên tuổi của Bảo Ninh gắn liền với tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh. Hơn hai thập kỷ kể từ khi Nỗi buồn chiến tranh xuất hiện,
nhiều cuộc đối thoại, tranh luận diễn ra sôi nổi, gay gắt trên các diễn đàn vãn
nghệ, nhiều công trình khoa học, luận văn, khóa luận của các thế hệ về cuốn tiểu
thuyết này. Tuy nhiên chưa có công trình nào khai thác giá trị tác phẩm qua tâm
thức cô đơn thời gian - một trạng thái sống của con người hậu chiến trong tương
quan với quá khứ, hiện tai tương lai.
1.4. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng cho rằng: Vãn học và cuộc sổng là
hai vỏng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người. Sứ mệnh cao cả của vãn
chương là phản ánh một cách sinh động và trung thực về con người. Con người
cô độc, lạc lõng xuất hiện trong văn học nhân loại từ thập niên 50, 60 của thế kỉ
XX, phổ biến trong văn học phi lý Tây Âu với những kiệt tác như: Người xa lạ,
Huyền thoại Sisyphe của A.Camus; Hóa thân, Vụ án của F.Kapka; Buồn nôn
của J.P.Sartre...ở Việt Nam, con người cô đơn được nói tới nhiều trong văn


3

chương hậu hiện đại. Cuộc sống hậu hiện đại ngổn ngang tiềm ẩn những bất trắc,
những đổ vỡ, đứt gãy và con người chỉ là những mảnh số phận, những cá thể cô
đơn. Nếu các cây bút hậu hiện đại chủ yếu xoáy sâu vào nỗi cô đơn không gian,
thì Bảo Ninh - nhà vãn đi ra từ chiến tranh viết về chiến tranh lại đào sâu vào
tầng vỉa của nỗi cô đơn thời gian - nỗi cô đơn bản thể.
Khác với cái cô đơn không gian, khi xa cách nhau, cô đơn thời gian là cô đơn
bản thể: Con người một mình trong cái khoảnh khắc của hiện tại, xa cách với
quá khứ, đối diện với tương lai mờ mịt. Đây là nguyên nhân để con người không
chỉ thấy xa lạ với môi trường sổng của mình mà cả với chính mình, cảm nhận

được sự lạc lõng trước chính mình của quá khứ và tương lai [12, tr.508]. Nổi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh với con người cô đơn trong thời gian đã khắc
chạm đến những vấn đề mang tính nhân loại với những cuộc vật lộn trong hành
trình cuộc đời để tìm bản ngã đích thực của mình.
1.5.

Là một giáo viên giảng dạy Ngữ văn, dõi theo quá trình tiếp nhận tác

phẩm, chúng tôi nhận thấy: Cho tới nay, chưa có công trình nghiên cứu hay bài
viết nào đề cập tới vấn đề cô đơn thời gian - một khía cạnh vô cùng quan trọng
của tác phẩm. Bởi vậy, chủng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: Cô đơn thời gian
trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà vãn Bảo Ninh. Lựa chọn đề tài
này, chủng tôi mong muốn khám phá những giá trị độc đáo của tác phẩm, khẳng
định tài năng của nhà vãn đồng thời cảm thông, thấu hiểu về số phận, nỗi cô đơn,
sự mất mát của con người trong chiến tranh, để càng chân quý cuộc sống hòa
bình và tri ân những con người đã làm nên lịch sử.


4

2. Mục đích nghiên cứu.
2.1. Luận vãn đi vào làm rõ nỗi cô đcm thời gian của con người trong tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Đối sánh với những tác phẩm văn học viết về đề
tài chiến tranh, về nỗi cô đơn của người lính thời hậu chiến, nỗi cô đơn trong tác
phẩm Nỗi buồn chiến tranh không chỉ có nguồn cội từ sự chia xa, ly biệt, với
những trở ngại vì ngăn sông, cách núi giữa những miền không gian. Nỗi cô đơn
của con người trong tác phẩm là nỗi cô đơn thời gian, cô đơn của con người hậu
hiện đại. Sống ở hiện tại, con người mang tâm trạng hoang mang, hoài nghi và
bất an; nhìn về quá khứ với tâm trạng khắc khoải giằng xé; hướng đến tương lai
trong cảm giác xa lạ, mênh mông.

2.2. Từ những khám phá về nỗi cô đơn thời gian, chúng tôi mong muốn tìm ra
những nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện nỗi cô đơn của nhà vãn Bảo Ninh ở
tác phẩm. Qua đó, khẳng định tài năng của nhà văn và giá trị độc đáo của tác
phẩm.
3. Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đổi tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh dưới sự soi chiếu của các tư tưởng triết học về con người cùng lý
thuyết hậu hiện đại. Bằng các thao tác so sánh, đối chiếu với một số tác phẩm
mang dấu ấn hậu hiện đại, người viết chỉ ra nỗi cô đơn thời gian, cô đơn bản thể
của nhân vật Kiên - một cựu chiến binh trở về sau chiến tranh mang theo nỗi cô
đơn khắc khoải.


5

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Văn học viết về đề tài chiến tranh chiếm số lượng lớn các tác phẩm, tác giả.
Để tìm hiểu, khám phá những thành công và đóng góp to lớn của văn học viết về
đề tài này là một công việc đòi hỏi sự kiên trì và dày công cần thực hiện ở những
công trình nghiên cứu lớn. Với quy mô của một luận văn, chúng tôi chỉ có thể
khảo sát, nghiên cứu và làm sáng tỏ một khía cạnh đặc sắc, tiêu biểu, độc đáo
nhất trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là nỗi cô đơn thời
gian. Ngoài ra, để đảm bảo cho việc phân tích, so sánh chúng tôi còn tìm cứ liệu
trong một số tác phẩm khác trong văn học Phương Tây và văn học Việt Nam để
luận văn thêm sâu sắc.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích - hệ thống
- Phương pháp loại hình

- Phương pháp lịch sử - xã hội...
5. Đóng góp mới của luận văn
Kế thừa những quan điểm, cách khám phá, đánh giá của các nhà nghiên cứu,
phê bình đi trước về tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, tác giả luận văn bằng
những hiểu biết, nỗ lực của bản thân và sự hướng dẫn, bồi đắp tận tình của người
hướng dẫn khoa học mong muốn có những kiến giải thấu đáo về nỗi cô đơn thời
gian của con người trong triết học và văn học. Từ đó, chủng tôi làm sáng tỏ nỗi
cô đơn thời gian như là một giá trị cốt lõi, quan trọng của tác phẩm này.


6

Chương 1
CON NGƯỜI CÔ ĐƠN THỜI GIAN TRONG TRIẾT HỌC VÀ VĂN HỌC
1.1. Con người cô đơn thời gian trong triết học.
Vấn đề con người, thân phận con người luôn luôn là sự quan tâm phân
tích, luận bàn trực tiếp hay gián tiếp của các trường phái triết học xưa nay. Tuy
nhiên, tùy theo mỗi thời kỳ lịch sử mà sự phát hiện và nghiên cứu về con người
có góc độ và khía cạnh khác nhau.
Triết học phương Đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú về vấn đề
con người trong mối quan hệ chính trị, đạo đức có pha trộn tính chất duy vật chất
phác, ngây thơ. Nỗi cô đơn của con người, con người cá thể với những ẩn ức hầu
như không nhận được sự quan tâm. Phật giáo quan niệm: Con người là sự kết
họp giữa sắc và danh, vật chất và tinh thần. Khổng Tử cho rằng: Bản chất của
của con người là do “thiên mệnh” chi phối, “đức, nhân” là giá trị cao nhất của
con người, đặc biệt là người quân tử. Mạnh Tử quy tính chất con người vào năng
lực bẩm sinh, do ảnh hưởng của phong tực, tập quán xấu, xa rời cái tốt đẹp. Vì
vậy phải thông qua tư tưởng, rèn luyện để giữ được đạo đức của mình...
Đến triết học Phương Tây trước Mác, các nhà triết học lại xem xét con
người một cách trừu tượng, hoặc tuyệt đối hóa tinh thần, hoặc tuyệt đối hóa mặt

thể xác, có khi tuyệt đối hóa mặt tự nhiên - sinh học của con người mà không
thấy mặt xã hội trong đời sống. Triết học Hy Lạp cho rằng: Con người là một
tiểu vũ trụ bao la. Thời trung cổ nhận thức: Con người là sản phẩm sáng tạo của
thượng đế. Triết học cổ điển Đức, V. Hegel cho rằng: Con người là hiện thân của
“ý niệm tuyệt đối”. L. Feuerbach lại cho rằng: Con người là kết quả của sự phát


7

triển tự nhiên. Con người và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời.. .Những
quan điểm này thay vì giúp con người suy nghĩ về thân phận và định mệnh của
mình đã khuyến khích con người quên mình để mãi tìm hiểu những lẽ huyền vi
của tạo hóa. Vì thế, triết học giai đoạn này không giúp con người trong việc giải
quyết những vấn đề nhân bản.
Sự ra đời của Triết học Mác đã tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử
triết học, đã chinh phục được trái tim và khối óc của nhân loại tiến bộ trên toàn
thế giới. Mác khẳng định: Giới tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người. Đòi
sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền khăng khít với tự nhiên vì con
người là bộ phận của tự nhiên, là giai đoạn cao nhất trong quá trình phát triển
của giới tự nhiên, con người tuân theo các quy luật của tự nhiên và hòa vào tự
nhiên. Con người hoàn toàn không thể thống trị tự nhiên như một người sống
bên ngoài tự nhiên. Con người có khả năng cải tạo tự nhiên và đồng thời giữ vị
trí chủ động trong mối quan hệ với tự nhiên.
Bước sang thế kỷ XX, cùng với những tiến bộ mới của khoa học hiện đại
nhất là vật lý lượng tử, thuyết tất định, thuyết hỗn độn, tinh thần của chủ nghĩa tư
bản cũng có nhiều thay đổi, từ chủ nghĩa lạc quan sang chủ nghĩa bi quan, do
chuyển đổi từ thế cách mạng sang thế ngược lại. Cuộc khủng hoảng tinh thần
mới của thời đại ngày càng trầm trọng. Cho nên nhà triết học E. From đã cảnh
báo: Vấn đề của thế kỷ XIX là “Chúa đã chết”, còn vấn đề của thế kỷ XX là “con
người đã chết”. Thế kỷ XIX sự tàn bạo chống lại con người, ở thế kỷ XX sự tha

hóa mang tính thần kinh phân liệt. Trong quá khứ, tai hoạ là ở chỗ con người là
nô lệ, trong tương lai, tai họa là ở chỗ con người thành robot, thành cái máy
không tư duy, không tình cảm, không nhân tính. Nhưng, con người đang sống


8

lại, không chịu đánh mất mình. Từ trong cuộc khủng hoảng và bước ngoặt đó,
triết học nhân loại với vô số trào lưu, trường phái và hàng trăm các triết gia để lại
những dấu ấn khác nhau tạo ra một thời đại phát triển rực rỡ.
Nếu như triết học tự nhiên xem nhẹ vai trò của chủ thể, đề cao vai trò của
khách thể thì triết học hiện tượng học mà đại diện ưu tú nhất là Husserl lại đề
cao vai trò của chủ thể, coi chủ thể có vai trò kiến tạo khách thể, khách thể và
chủ thể tương tác lẫn nhau. Với quan niệm coi ý thức là cái “tạo dựng” nên bản
thân sự vật, Husserl đã coi toàn bộ thế giới hiện thực và các sự vật là do ý thức, ý
đồ chủ quan của con người sắp đặt, “tạo dựng”. Ông viết: Cả thế giới thòi gian
và không gian, bao gồm con người và tính tự ngã của con người, xét về ý nghĩa
mà nói, là một thứ tồn tại của ý đồ. Nói thế cũng có nghĩa là, thế giới này đối với
ý thức chỉ là cái có sau, có ý nghĩa tồn tại tương đối. Nó là tồn tại của ý thức
được bố trí trong kinh nghiệm. Sự tồn tại như vậy, về nguyên tắc, chỉ là cái nhất
trí trong biểu tượng ý thức mà nhiều người có thể cảm nhận và quy định. Ngoài
cái đó ra, chẳng có gì khác”. Với hiện tượng học, Husserl muốn trả lại cho triết
học ý nghĩa nhân sinh đích thực của nó. Theo ông, triết học theo đúng nghĩa của
nó phải bàn đến việc con người cảm giác, nhìn nhận và xây dựng thế giới sống
của bản thân như thế nào và phải chỉ dẫn cho con người những phương pháp để
làm được điều đó.
Hiện tượng học của Husserl còn bàn đến một khái niệm quan trọng nữa đó là “thế giới sống”. Đối với ông, đời sống thường ngày với đa dạng các hoạt
động và biểu hiện của con người là thế giới “duy nhất chân thực”. Nhưng, thế
giới sống ấy đã dần bị khoa học hóa, số học hóa và được miêu tả bởi những ngôn
ngữ trừu tượng, những công thức, khái niệm chặt chẽ, chính xác và tuyệt đối. Do



9

vậy, bức tranh về cuộc sống mà khoa học tự nhiên tạo ra đã che lấp ý nghĩa chân
thực vốn có của cuộc sống thường nhật, đưa con người vào vòng xoáy của những
hiện tượng vật chất xung quanh. Với quan niệm này, mặc dù là người ủng hộ sự
phát triển của khoa học tự nhiên trong việc cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc
sống cho loài người, Husserl vẫn lên tiếng phản đối ảnh hưởng tiêu cực của khoa
học tự nhiên đối với cuộc sống con người. Ông cho rằng, khoa học tự nhiên chỉ
chú trọng đến khách thể, mà bỏ quên mất vị trí của chủ thể và do vậy, đã xem
nhẹ ý nghĩa và giá trị nhân sinh của con người. Vì thế, Husserl muốn thông qua
con đường “hoàn nguyên hiện tượng học” để đưa cuộc sống trở về với chủ thể,
tức là, mỗi người, bằng hành vi ý hướng và nội dung ý hướng, tự xây dựng cuộc
sống cho riêng mình. Chỉ như vậy, con người mới có quyền được sống với
những gì mà mình có, biết được thế giới này thực sự là gì và bao gồm những gì
trong nó. Do vậy, “thế giới sống” của Husserl không còn là thế giới khách quan
thụ động và vô tri, vô giác ở bên ngoài nữa, mà là thế giới đã đi vào chiều sâu
bên trong con người - một thế giới thuộc về cuộc sống thực sự của con người.
Như vậy, với luận thuyết hiện tượng học và con đường “hoàn nguyên hiện
tượng học”, Husserl đã trả lại cho con người vị thế chủ thể trong cuộc sống - cái
đã bị lãng quên suốt một thời gian dài, khi khoa học tự nhiên đóng vai trò chúa tể
chi phối toàn bộ cuộc sống loài người. Hiện tượng học của ông chính là cửa ngõ
để đi vào thế giới nhân sinh bên trong mỗi con người - cái mà triết học và khoa
học trước đó chưa thể làm được. Vì vậy, nó được coi là trào lưu tư tưởng đi tiên
phong trong việc giành lại ý nghĩa và giá trị nhân vãn cho cuộc sống của con
người.


10


Tiếp thu những tư tưởng ấy, Triết học hiện sinh không bàn những chuyện
xa xôi về những lẽ huyền vi của tạo hóa mà chú trọng đến thân phận của con
người, nỗi cô đơn bản thể của con người, tìm hiểu ý nghĩa của cuộc sống và cái
chết. Tiếng nói hiện sinh được các giới, nhất là lóp người mang nặng những ưu
tư về thân phận mình chào đón nồng nhiệt. Đại diện ưu tú nhất của trường phái
này là M. Heidegger. Phạm trù chính của triết học Heidegger là tính thời gian.
Trong tác phẩm Tằn tại và thời gian, ông đã trình bày những nét khái quát về ba
loại “bản thể luận khu vực” tương ứng với: (1) cái hữu dụng; (2) cái hiện có hay
hiện tồn; (3) tồn tại người. Trong đó, tồn tại người được xem là một bản thể độc
đáo duy nhất có khả năng tự vấn về mình. Phần quan trọng nhất của bản thể luận
này là chú giải học về tồn tại người và cấu trúc cơ bản của nó, đặc biệt là cấu
trúc thời gian và tính thời gian. Theo Heidegger, tồn tại người (Dasein) không
gắn với không gian, nhưng nó lại gắn liền với thời gian, với cấu trúc thời gian.
Nếu xa xưa, thời gian làm tiêu chuẩn hữu thể học (hiện vật học) để phân biệt các
lãnh vực khác nhau của hiện vật thì Heidegger xem thời gian là cái gì đó cấu trúc
nên đời sống con người trước khi dùng để đo đếm. Bản chất con người là hiện
hữu: con người hiện diện với cái hiện nay, nhưng con người cũng hiện diện với
cái đã qua và cái chưa tới. Hiện tại không phải là hiện tại, nếu nó không là tương
quan giữa quá khứ và tương lai; và quá khứ sẽ không là quá khứ, nếu nó không
gắn liền với hiện tại; tương lai cũng thế, nó chỉ là là tương lai vì gắn liền với hiện
tại và quá khứ. Phương thức tồn tại của con người trong thế giới là nỗi ưu tư, sự
lo âu, nỗi cô đơn. Sự lo âu của con người hướng về những cái hiện hữu xung
quanh, về cách thức tồn tại của mình. Nỗi cô đơn của con người không chỉ là
trạng thái mà con người trải qua những biến cố của thời gian quá khứ, hiện tại,
tương lai mà đó là nỗi cô đơn thời gian. Thời gian bên trong, thời gian gắn liền


11


với sự tồn tại, sự mong manh của kiếp nhân sinh. Con người ngay từ khi sinh ra
đã mang sẵn trong mình nỗ cô đơn. Tiếng khóc của đứa trẻ khi mới trào đời là
một minh chứng. Đó là nỗi cô đơn bản thể, cô đơn tiền định. Con người sợ hãi
nỗi cô đơn, chạy trốn nỗi cô đơn và cái chết nhưng nghịch lí thay, càng trốn chạy
lại càng phải đối mặt và chịu sự đeo bám một cách dai dẳng, đau đớn. Trong tận
cùng cô đơn, không ít người rơi vào cái chết, sự hủy diệt. Theo Heidegger, để
thoát khỏi lo âu, nỗi cô đơn và tìm được ý nghĩa về sự tồn tại, con người cần
thường xuyên ý thức về sự hữu hạn về cái chết. Chỉ đối diện với thực chất của
kiếp phù sinh của mình, con người mới biết quý trọng các giá trị, tránh được
những tham vọng xô đẩy vào các hoạt động vô nghĩa.. .Chính những quan điểm
triết học này là những tặng phẩm vô cùng quý giá mà Heidegger để lại cho nền
văn học nhân loại.
1.2. Con người cô đơn thời gian trong văn học.
1.2.1. Con người cô đơn thời gian trong văn học nước ngoài
Nỗi cô đơn không phải là vấn đề mới, con người từ khi biết tư duy và ý
thức về thân phận của mình đã có nỗi cô đơn. Nhưng ở mỗi thời, sự nhận thức về
bản chất của nỗi cô đơn, đối diện với nỗi cô đơn của con người là khác nhau.
Trên những chặng đường của mình, không thời đại nào văn học lại thiếu vắng
cái cô đơn. Cô đơn như một nỗi niềm khắc khoải đeo bám nghệ sĩ của mọi thòi
đại. Và như thế, khoa nghiên cứu văn học coi nỗi cô đơn như một đối tượng của
sự khám phá. Nhìn lại văn học nhân loại, cái cô đơn luôn chiếm vị trí trọng yếu
trong sáng tạo nghệ thuật. Hầu hết các tác phẩm văn học thành công ít nhiều đều
có sự gắn bó với nỗi cô đơn.


12

Đọc hai thiên trường ca Ilỉad và Odyssey của Homer, gạt đi lớp vỏ hoang
đường, thần thánh ta có thể nhìn thấy ở đó những đường nét chân phương, thậm
chí thô sơ về một thế giới ở buổi rạng đông trong quá trình phát triển văn hóa

của loài người. Đằng sau cái bức tranh đẫm máu của chiến tranh, đọng lại trong
lòng độc giả là một cảm xúc sâu sắc, đầy nhân bản, nhưng không nói ra lời của
người viết. Không phải ngẫu nhiên mà Zeus, vị chúa tể của muôn loài đã phải
thốt lên: “Trong tất cả những vật biết thở, biết bò trong lòng mẹ đất, thì loài
người là sinh vật khốn khổ hơn cả!”. Và vị thần mang cung bạc Apollo cũng xót
xa: “Đời người khốn khổ như đám lá cây, đang xanh tốt nhờ sự nuôi dưỡng của
mẹ đất, phút chốc đã héo tàn, và rơi vào cõi hư vô!”. Ấy chẳng phải là nỗi bất
hạnh của kiếp người, sự mong manh, cô lẻ của phận người mà người nghệ sĩ
Homer đã dụng công thể hiện. Nỗi cô đơn hiện hữu trong hình tượng Ulysses người anh hùng mưu trí, đã được Homer chọn làm nhân vật trung tâm để miêu tả
trong cuộc hành trình trở về. Nỗi khát khao được về lại mái ấm của mình với
những người thân yêu luôn đau đáu trong tâm hồn chàng. Khó mà quên được
hình ảnh người đàn ông mạnh mẽ ấy cứ chiều đến lại ra bờ biển ngồi trông về
phía hòn đảo Itache thân yêu mà nước mắt đầm đìa. Nỗi nhớ nhà, nỗi cô đơn
quạnh quẽ ấy như phủ lên hình tượng người anh hùng một thứ ánh sáng nhân bản
dịu dàng, mềm mại.
Bước sang thời đại phục hưng, nỗi cô đơn được thể hiện sâu sắc trong các
tác phẩm như Don Quijote của Cervantes, Hamlet của Shakespeare ...Các nhân
vật Hamlet và Don Quixote đều là những nhân vật hành động. Mỗi người hành
động vì những lí do riêng, nhưng căn nguyên sâu xa của hành động ấy là khát
vọng khẳng định bản thể, sức mạnh cá nhân, sự dũng cảm đơn lẻ muốn biến
thành một ai đó đặc biệt, ai đó khác đi. Vì thế họ đang cô đơn hóa chính mình.


13

Như vậy, nỗi cô đơn vừa là động lực để con người tồn tại, vừa là “xung năng hủy
diệt con người.
Ngày nay, con người hậu hiện đại không còn xem thế giới như một thực
tại khách quan duy nhất, đơn giản, đồng tuyến, có trật tự và tiến bộ. Trái lại, con
người cùng một lúc cảm nhận nhiều thực tại khách quan, đa tầng, bất định, phi

tuyến, hỗn độn. Lối sống hiện đại kéo theo sự đứt gãy các sợi dây liên hệ cộng
đồng và rạn vỡ các mối quan hệ xã hội. Con người hậu hiện đại chịu ảnh hưởng
của triết học hiện sinh. Họ nhận thấy trạng huống tinh thần của thế giới bản thể:
tính phi lý, tan vỡ, trống rỗng, vô nghĩa của đời sống; tâm thức cô đơn, lạc loài
mang tính bản thể của con người... khi đối mặt với những nguy cơ chiến tranh,
bệnh dịch, ô nhiễm môi trường như căn nguyên hủy diệt đời sống. Đó là điều
kiện kéo theo sụp đổ của những đại tự sự, sự tan rã những tượng đài tưởng chừng
vĩnh cửu trong văn học, thay vào đó là trạng huống mất niềm tin, tâm lý lo âu,
hoang mang. Trạng thức cô đơn, con người cô đơn bởi thế hiện diện rõ nét nhất
trong sác sáng tác của F. Kafka, Murakami, G.Marquez và rất nhiều các cây bút
khác.
Người mở đường cho chủ nghĩa hiện đai, trường phái văn học hiện sinh
không thể không nhắc tới F.Kafka. Trong thế giới nghệ thuật của ông, con người
bị lưu đày, đối diện với một thế giới của sự phi lí. Con người thừa nhận thế giới
này là phi lí nhưng không đầu hàng mà muốn khám phá cái thế giới ấy. Chính
trên con đường khám phá cái vô lí ấy, con người tiếp tục cảm nhận, sống và bị
lưu đày trong cái cô đơn thời gian và không gian. Đọc truyện ngắn Hoá thân,
nhà văn đã xây dựng được một hình tượng đầy ám ảnh về thân phận con người
cô đơn, lạc loài phải sống kiếp lưu đày ngay trong ngôi nhà thân yêu của mình.


14

Hình tượng đầy ám dụ G.Samsa bị biến thành bọ chính là biểu tượng bi đát về sự
tha hoá, lạ hoá của con người. Con người cô đơn, lạc lõng ngay trong những
không gian quen thuộc và gần gũi nhất. Con người xa lạ ngay giữa cuộc sống
cộng đồng, xa lạ với người thân, thậm chí với chính mình. Vì thế, dù hình ảnh
con người cô đơn, lạc lõng vốn không phải là hoàn toàn mới mẻ, lạ lẫm trong đòi
sống văn học song đến Kafka, nó vẫn tiếp tục tạo nên những xúc động lớn lao.
Nếu như các nhân vật trong sáng tác của F.Kafka khắc khoải trong cái phi

lý, thì các nhân vật trong sáng tác của G.Marquez cô đơn trong thời gian bằng
chiều dài của cả một thế kỷ - “Trăm năm cô đơn”. Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn
của G.Marquez là tiếng kêu đau đớn về thân phận cô đơn của con người, nỗi cô
đơn có tình chất vĩnh viễn, truyền kiếp. Nỗi cô đơn dằng dặc trong cuốn tiểu
thuyết không gói gọn trong một thân phận hay một vùng đất mà mở rộng biên độ
ra cả châu lục, biến toàn bộ châu lục ấy xứng họp với tên gọi “lục địa buồn”,
rộng hơn nữa là nỗi cô đơn của cả nhận loại. Và suy cho cùng, cả phi lý và hư vô
đều dung chứa trong nó trạng thức về nỗi cô đơn. Dù không phải là người đầu
tiên, duy nhất nói về nỗi cô đơn nhưng có lẽ trong văn học ông là người tạc được
bức chân dung ám ảnh.
Thừa nhận thế giới này là phi lí nhưng nhân vật trong thế giới nghệ thuật
của Haruki Murakami lại không khám phá, chấp nhận sự phi lí như sáng tác của
Kafka mà kiên quyết quay lưng, chống lại cái phi lí trở thành những kẻ xa lạ. Xét
đến cùng hai kiểu nhân vật ấy đều bị lưu đày trong cõi sống và bủa vây bởi nỗi
cô đơn. Nhân vật trong Rừng Na Uy tất tả ngược xuôi đi tìm bản ngã giữa biển
người mênh mông. Nhưng rồi chính sự cô đơn trong tâm hồn đã đưa bản ngã đến
gần tha nhân hơn. Bản ngã cô đơn phân mảnh cực đoan trong không gian văn
hóa Nhật Bản hậu hiện đại. Rừng Na Uy là thế giới của những con người cô đơn.


15

Cô đơn trước thời cuộc, các nhân vật đã hòa nhập trong tình dục.
Nagasawa gọi đây là những “cơ may”. Nhân vật buông thả “sẵn sàng ngủ với bất
kể người nào, bất kể là ai”. Vì vậy, tình dục cuối cùng cũng chỉ là sự nhạt nhẽo
vô vị: “những sự chung đụng thể xác không cứu vãn nổi tâm hồn của những con
người cô đơn”. Với họ, tình dục là cầu nối duy nhất để nhân vật đạt đến sự hài
hòa trong đời sống. Nhưng tình dục chỉ là nơi “tạm trủ” của những tâm hồn tuyệt
vọng. Các nhân vật lại đi tìm cho mình một lối thoát thực sự: cái chết. Kết thúc
tác phẩm, đầy rẫy những con người của niềm dam mê khao khát tự kết liễu đời

mình. Cái khó khăn nhất trong cuộc đời một con người là vượt qua chính mình.
Nhân vật không vượt thoát khỏi nỗi cô đơn. Kizuki chết vì không thể có được
khoảnh khắc thăng hoa bên Naoko. Naoko tuyệt vọng trước cuộc đời, chết một
cách nhẹ nhàng. Torn rút ra triết lý sau cái chết của Kizuki: “Sự chết tồn tại
không phải như một đối nghịch mà là một phần của sự sống ”. Chị của Naoko và
Hatsumi chết chỉ vì không sợ chết. Những người chết trong tác phẩm đều cố
gắng vượt thoát khỏi nỗi cô đơn. Và có lẽ bởi không còn đủ niềm tin, họ đã tìm
đến cái chết như một giải pháp nhẹ nhàng, đơn giản. Rừng Na-uy bởi vậy là
những ám ảnh về nỗi cô đơn, về sự sống, cái chết trong cuộc đời dằng dặc, vô
định và phù phiếm, là khúc bi ca sầu tư và hài hước về đòi sống tình dục, là
những khoảnh khắc hiện sinh ngắn ngủi thấm đượm triết lý về những gì bất biến
vẫn tồn tại trong cuộc đời con người. Nói cách khác, nỗi buồn bi cảm ấy thoát
thai từ sự cô đơn trống vắng khi con người muốn đi tìm ý nghĩa đích thực của
cuộc sống, tình yêu, tình dục và cái chết.
Có thể nói, trong thế giới nghệ thuật của F.Kafka, Murakami, G.Marquez
được soi chiếu bởi ánh sáng của chủ nghĩa hiện sinh. Các nhân vật đều bị lưu
đày trong cõi sống và mang trong mình nỗi cô đơn. Nỗi cô đơn bị chi phối bởi


16

nhiều hệ quy chiếu, mỗi hệ quy chiếu là một thế giới, qua đó các nhà vãn phát
hiện được nhiều bản thể trong con người. Con người vốn có nhiều bản ngã và họ
phải tự đấu tranh để chọn bản ngã hay nhất, tốt nhất phù hợp với thực tại.
1.2.2. Nổi cồ đơn thời gian trong văn học cồ trung đại
Chịu sự chi phối của các tư tưởng triết học cổ phương Đông, các nhà thơ
xưa có cái nhìn tĩnh tại với thời gian và cuộc sống. Họ cho rằng: thời gian là một
vòng tuần hoàn, lặp lại: sáng - trưa - chiều - tối; xuân - hạ - thu - đông, liên tục
tái diễn. Con người tồn tại ở kiếp này chỉ là sống “gửi”, thác mới “về”. Cái chết
ở kiếp này mở ra sự tái sinh của kiếp khác. Vì thế, chết chỉ là giới hạn có tính

mặc định mà thôi.
Trên con đường đi tìm, khẳng định cái bản thể, con người ngày càng ý
thức rõ nét về mình như một cá nhân. Văn học Việt Nam thế kỷ thứ XVIII có
nhiều chuyển biến trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống, các nhà thơ không
chỉ ngợi ca đạo lí, thể hiện tinh thần yêu nước mà quan tâm tới số phận của
những con người bình thường, lên tiếng đấu tranh đòi quyền sống, quyền mưu
cầu hạnh phúc. Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần
Côn, bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn, lẻ loi, buồn
khổ của người chinh phụ trong thời gian đằng đẵng đợi chờ người chồng đi
chinh chiến phương xa mà bặt vô âm tín.
Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh. Nàng tiễn chồng ra trận với
mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú
quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm
xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình
đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh


17

phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng
cô đơn ấy.
Gà eo óc gảy sương năm trổng
Hòe phất phơ rủ bóng bổn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa
Kinh Thi có câu ‘Nhất nhật bất kiến như tam thu hề’, Nguyễn Du gói gọn
lại thành ‘Ba thu dọn lại một ngày dài ghê’, Đặng Trần Côn để người chinh phụ
cảm nhận sự chảy trôi của thời gian trong sự đợi chờ “khắc giờ” thì “đằng đẵng
như niên”, còn mối sầu thì “dằng dặc tựa miền biển xa”. Thời gian tâm lí trôi đi
trong sự khắc khoải, còn mối sầu trải ra đến vô cùng, vô tận. Người chinh phụ

chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc.
Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, ta nhận thấy những nỗi niềm tâm sự của
một con người cô đơn, mệt mỏi u sầu. Sinh ra trong cảnh loạn ly, chứng kiến bao
nhiêu bi hoạn, tan hợp, bao cảnh thế sự thăng trầm. Hình ảnh một Nguyễn Du
gầy gò, ốm yếu với mái tóc bạc trở đi trở lại như là một nỗi ám ảnh về thời gian
chảy trôi.
...

Thư kiểm vô thành sinh kể xúc,

Xuân thu đại tự bạch đầu tân.
Hà năng lạc phát quy lâm khứ,
Ngoạ thỉnh tùng phong hưởng bán vân!
(Tự thán II)
Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang:
(Dở danh thư kiểm lại cùng quẫn
Lần lữa xuân thu tóc bạc rồi


18

Những ước cạo đầu vào núi ẩn,
Đàn thông nằm lẳng tiếng lưng trời)
Dễ thấy trong những vần thơ chữ Hán của ông, hình ảnh một con người
lặng im, "vô ngôn", cô độc, tự vùi chôn tâm sự vào tận đáy lòng mình. Hiếm khi
Nguyễn Du tâm sự với một ai, chỉ thấy những tấc lòng cô đơn không dễ gì lí
giải: Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ (Ta có tấc lòng không biết nói cùng ai) (My
trung mạn hứng). Nhất sinh u tứ vị tằng khai (Suốt đòi ôm mối u sầu chưa từng
gỡ ra được) (Thu chí). Nguyễn Du ôm trong mình một nỗi cô đơn của con người
đời thường luôn tự phản tỉnh, băn khoăn về lẽ sống đời mình với bao nhiêu mâu

thuẫn giằng xé, trăn trở, âu lo, thất vọng, buồn chán, tủi hận xót xa. Những câu
hỏi: mình là ai? làm gì? sống như thể nào? không đơn thuần phản ánh tâm trạng
cô đơn, nỗi băn khoăn, sự mất mát, đổ vỡ mà còn cho thấy nỗi cô đơn cùng cực
mang tính phổ quát của kiếp người trong thời gian. Đôi khi sự phản tỉnh ấy còn
được nâng lên ở cấp độ con người nhân loại mang ý nghĩa triết học, thi nhân tự
đối diện với đất trời vô tận, với dòng thòi gian vô thủy, vô chung mà nhận ra
"nỗi cô đơn thăm thẳm" của mình.
Đứng ở phương diện tiếp nhận văn học, cô đơn thời gian của cái tôi trữ
tình trong thơ ca cổ phương Đông cũng là nỗi buồn cô đơn chới với của cả một
giai đoạn, một thời đại đang oằn mình "trong trường dạ tối tăm trời đất", mang
trong mình nhiều bi kịch đau thương. Nó như những lóp trầm tích văn hóa
phương Đông xuôi chảy trong dòng thời gian cổ kim, thức tỉnh được sự đồng
vọng, cảm thông của biết bao người đời xưa, đời nay và cả mai sau.
1.2.3.
hiên đai

Con người có đơn thời gian trong văn học Việt Nam hiện đại, hậu


19

Nỗi cô đơn, con người cô đơn thời gian trong văn học theo dòng chảy lịch
sử văn học nhân loại không còn là đề tài mới lạ. Văn học hiện đại chủ trương đề
cao cái tôi cá nhân. Nền tảng triết học của nó nằm ở câu nói của R.Descartes:
“Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”. Ở Việt Nam, với một quan niệm nhân sinh, quan
niệm nghệ thuật mới mẻ, Thơ mới tạo nên một cuộc bứt phá ngoạn mục của thơ
Việt Nam, giã từ phạm trù văn học trung đại, gia nhập vào quỹ đạo vãn học hiện
đại. Thơ mới với nhiều gương mặt thơ ca đặc sắc tạo ra tiếng nói giải phóng cái
tôi cá nhân cá thể, một cái tôi nội cảm, cái tôi sáng tạo xuất phát từ mối bất hoà
trước thực tại trên cả hai phương diện nhân sinh và thẩm mỹ.

Nói đến cái tôi cá nhân là nói đến sự cô đơn. Biểu hiện thường trực của cô
đơn là nỗi buồn. Thơ mới ngập tràn nỗi buồn. Cô đơn thời gian trong thơ mới vì
thế về cơ bản vẫn là thời gian bên ngoài, thòi gian khách thể. Xuân Diệu, với
lòng yêu sống, ham sống nồng nàn đã có những cảm nhận sâu sắc về bước đi của
thời gian:
Mùi thảng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
( Vội Vàng)
Càng yêu sống, càng khát khao giao cảm mãnh liệt với cuộc đời Xuân
Diệu càng nhận ra cái hữu hạn, ngắn ngủi của cuộc đời. Thi sĩ nhận thấy mỗi
một khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ thực sự sẽ là một cuộc
ra đi vĩnh viễn. Nỗi âu lo, sự cô đơn vì thế hóa thành nỗi cô đơn muôn thủa trong
thơ Xuân Diệu.
Tôi là con nai bị chiều đảnh lưới
Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối
(Khi chiều giăng lưới)


20

Nếu như "con nai vàng" của Lưu Trọng Lư bước đi để lại đằng sau tiếng
chân trên lá vàng thu xào xạc, thì con nai chiều của Xuân Diệu không thể cất
chân vì hoàn toàn bị bủa vây "chân vướng rễ cây, lòng vướng muôn dây" giữa
rừng chiều tội nghiệp. Đã có lần thi sĩ nói rằng người kỹ nữ đánh đàn chính là
hóa thân của nhà thơ. Nỗi cô đơn của người kỹ nữ là nỗi cô đơn trong thời gian
của những đêm dài quạnh vắng, không người chia sẻ, thấu hiểu cảm thông, phải
tự đối diện với chính lòng mình.
Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn
Chớ để riêng em phải gặp lòng em
(Lời kỹ nữ)

Cô đơn, Xuân Diêu muốn chạy trốn tất cả:
Đi mau! trốn rét! trốn màu
Trốn hơi! trốn tiếng! trốn nhau! trốn mình
(Cặp hài vạn dặn)
Tột đỉnh của nỗi cô đơn là khi tự mình phải trốn mình. Đây là tâm trạng
của kẻ bị dồn đẩy vào tận cùng, vào đáy vực của nỗi cô đơn. Ngồn cội của nỗi cô
đơn trong thơ Xuân Diệu đến từ sự mâu thuẫn giữa ta và đời, giữa khát khao
sống trong cái vô biên tuyệt đích với dòng thời gian ngắn ngủi đang chảy trôi.
Nói như PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp: Xuân Diệu đã lẩy lòng yêu đời, ham sổng
của mình làm “vật thế chấp” trước sự tuôn chảy của thời gian...với Xuân Diệu,
sự sổng chẳng bao giờ chán nản!
Nếu như Xuân Diệu chạy đua với thời gian để tận hưởng từng phút giây
của sự sống thì Hàn Mặc Tử lại hối hả giành giật từng phút giây của sự sống, để
chạy trốn nỗi cô đơn, bệnh tật và cái chết. Nhà thơ muốn xối trộn những chiều
không gian và thời gian trong sinh thể nghệ thuật của mình:


×