LUẬT THƯƠNG MẠI LÀNH MẠNH VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ ĐỘC QUYỀN
CỦA HÀN QUỐC
Chương 1
Quy định chung
Điều 1: Mục đích
Mục đích của luật là nhằm khuyến khích cạnh tranh kinh tế tự do và lành
mạnh bằng việc cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh và tập trung sức mạnh kinh tế quá
mức luật pháp cho phép và bằng việc điều chỉnh những hành động thông đồng
không chính đáng và các hành vi thương mại không lành mạnh, từ đó thúc đẩy
hoạt động kinh doanh sáng tạo, bảo vệ người tiêu dùng, đẩy mạnh sự phát triển
cân đối của nền kinh tế quốc dân.
Điều 2: Giải thích từ ngữ
1. "Doanh nghiệp" là bất kỳ người nào tham gia vào một trong những hình
thức kinh doanh được liệt kê dưới đây. Bất kỳ một công chức, nhân viên, đại lý
hay bất kỳ một người nào khác hành động vì lợi ích của doanh nghiệp, vì muốn
áp dụng các quy định liên quan tới hiệp hội thương mại.
1-2. "Công ty mẹ" là bất kỳ công ty nào mà mục tiêu chủ yếu trong kinh
doanh là nhằm kiểm soát các công ty trong nước với tổng số tài sản vượt quá số
lượng quy định trong Nghị định của Tổng thống. Các lĩnh vực kinh doanh chủ
yếu của công ty mẹ sẽ được xác định theo Nghị định của Tổng thống.
1.3. "Công ty con" là những công ty trong nước mà hoạt động kinh doanh
của chúng bị kiểm soát bởi một công ty mẹ.
2. "Tập đoàn kinh doanh" là một nhóm các công ty mà trong thực tế chịu sự
kiểm soát của một người được quy định trong Nghị định của Tổng thống và
thuộc một trong những trường hợp dưới đây:
1
a. người đó là một tổng công ty, là một nhóm các công ty có cả người đó và
những công ty do người đó kiểm soát; và
b. người đó không phải là một tổng công ty, là một nhóm hai công ty trở lên
do người đó kiểm soát.
3. "Tổng công ty do sáp nhập" là Tổng công ty có từ hai công ty trở lên tạo
nên một tập đoàn kinh doanh duy nhất.
4. "Hiệp hội thương mại" là một tập hợp hay liên đoàn các doanh nghiệp,
bất kể cơ cấu như thế nào, được hình thành bởi hai hay nhiều doanh nghiệp
nhằm tăng cường, củng cố lợi ích chung.
5. "Viên chức" là giám đốc, giám đốc đại diện, đối tác điều hành với trách
nhiệm vô hạn, kiểm toán viên hay bất kỳ người nào giữ thuê mướn lao động
thương maị như trưởng phòng được uỷ quyền quản lý công việc kinh doanh
chung tại trụ sở hay chi nhánh.
6. "Duy trì giá bán lại" là hành vi trong đó một doanh nghiệp sản xuất và bán
những hàng hoá nhất định, ấn định giá bán lại của những hàng hoá đó từ trước,
và ép buộc các doanh nghiệp khác mua và bán lại những hàng hoá đó phải bán
lại những hàng hoá đã nói ở mức giá đã được ấn định từ trước hoặc áp đặt đối
với những doanh nghiệp mua hàng đó những hạn chế và các điều kiện khác đối
với các vụ giao dịch nhằm đạt được mục đích này.
7. "Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường" là bất kỳ người mua,
người bán trong một lĩnh vực thương mại nhất định và nắm giữ vai trò thống lĩnh
thị trường để ấn định, duy trì, hoặc thay đổi giá cả, khối lượng, chất lượng và các
điều kiện thương mại khác hoặc trên cơ sở độc lập hoặc trên cơ sở câu kết với
các doanh nghiệp khác. Khi xét đoán các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường,
cần phải tính đến các yếu tố như thị phần, sự tồn tại và quy mô của các hàng rào
đối với việc thâm nhập thị trường và quy mô tương đối của các doanh nghiệp
cạnh tranh. Tuy nhiên, một doanh nghiệp có doanh thu hàng năm hoặc lượng
mua hàng hàng năm trong lĩnh vực mậu dịch có liên quan ít hơn 10 tỷ won sẽ
được miễn trừ.
2
8. "Lĩnh vực thương mại nhất định" có nghĩa là một lĩnh vực kinh doanh
trong đó tồn tại một mối quan hệ cạnh tranh hoặc một mối quan hệ cạnh tranh có
thể được hình thành theo mục tiêu, giai đoạn hoặc khu vực thương mại.
8-2. "Hành vi làm hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể" là hành vi gây ảnh
hưởng hoặc được cho là sẽ gây ảnh hưởng tới giá cả, khối lượng, chất lượng và
các điều kiện thương mại khác dựa trên những ý kiến của một doanh nghiệp
nhất định hay một hiệp hội thương mại nhất định và kết quả là giảm cạnh tranh
trong một lĩnh vực thương mại nhất định.
9. "Cấp tín dụng" là việc cho vay, bảo lãnh hay bảo đảm về các trách nhiệm
tài chính của một công ty từ một thiết chế tài chính trong nước.
Chương 2
Cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Điều 3: Cải tiến cơ cấu thị trường độc quyền và độc quyền theo nhóm.
1. Uỷ ban Thương mại lành mạnh sẽ đưa ra và thi hành những biện pháp
nhằm để thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường cung, cầu sản phẩm hay dịch vụ
còn tồn tại cơ cấu thị trường độc quyền và độc quyền nhóm trong một thời gian
dài.
2. Khi thấy cần thi hành các biện pháp tại khoản 1, Uỷ ban Thương mại lành
mạnh có thể giải trình ý kiến của mình với người đứng đầu cơ quan quản lý có
thẩm quyền về sự cần thiết của cạnh tranh, hoặc cải tiến cơ cấu thị trường.
3. Uỷ ban Thương mại lành mạnh sẽ khảo sát cơ cấu thị trường nhằm thiết
lập và thi hành các biện pháp quy định tại khoản 1 và phải thông báo công khai
về vấn đề này.
4. Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể yêu cầu các doanh nghiệp đệ trình
các tài liệu cần thiết cho việc khảo sát cơ cấu thị trường và thông báo tiếp sau
đó như quy định tại khoản 3.
3
5. Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể uỷ quyền những công việc quy định
tại khoản 3 và khoản 4 cho một cơ quan khác theo Nghị định của Tổng thống.
Điều 3-2: Cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
(1)- Cấm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường tham gia vào những hành vi được
liệt kê dưới đây (gọi chung là "hành vi lạm dụng"):
1. ấn định, duy trì hoặc thay đổi một cách bất hợp lý giá cả hàng hoá hay phí
dịch vụ (gọi chung là "Giá cả" );
2. Kiểm soát một cách bất hợp lý việc bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ;
3. Can thiệp một cách bất hợp lý vào những hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp khác;
4. Ngăn cản một cách bất hợp lý việc thâm nhập thị trường của những đối
thủ cạnh tranh mới; hoặc
5. Tham gia vào hoạt động thương mại bất hợp lý nhằm loại trừ các đối thủ
cạnh tranh hoặc hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể hoặc xâm hại quyền lợi
của người tiêu dùng.
(2)- Loại hình và tiêu chuẩn đối với các hành vi lạm dụng sẽ do Nghị định của
Tổng thống quy định.
Điều 4: Đánh giá các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường trên cơ sở
nhìn lại các hoạt động trước đó
Doanh nghiệp có thị phần trong một lĩnh vực thương mại nhất định rơi vào
một trong những trường hợp dưới đây sẽ bị xem là doanh nghiệp thống lĩnh thị
trường như được xác định tại điều 2, khoản 7.
1. Thị phần của một doanh nghiệp lớn hơn 50%
2. Thị phần kết hợp của 3 doanh nghiệp lớn hơn 75%. Tuy nhiên, trong trường
hợp như vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào có thị phần ít hơn 10% sẽ không
được tính đến.
4
Điều 5: Các biện pháp điều chỉnh
Nếu doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường phạm phải một trong những
hành vi liệt kê tại điều 3-2 (Cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường), Uỷ ban
Thương mại lành mạnh có thể ra lệnh cho doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường đang có hành vi vi phạm phải hạ giá, đình chỉ hành vi đó, công bố công
khai việc vi phạm luật hoặc tiến hành các biện pháp điều chỉnh cần thiết khác đối
với hành vi nói trên.
Điều 6: Tiền phạt
Nếu một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có hành vi lạm dụng vị
trí của mình, Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể phạt tiền doanh nghiệp nói
trên không qúa 3% doanh thu theo Nghị định của Tổng thống (Đối với các doanh
nghiệp được quy định theo Nghị định của Tổng thống, phần doanh thu đó là
những khoản lợi nhuận hoạt động. Từ nay trở đi, doanh thu sẽ được hiểu là như
vậy); tuy nhiên, nếu một khoản doanh thu như vậy không tồn tại hoặc có khó
khăn trong việc tính toán doanh thu cuả doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của
Nghị định của Tổng thống (gọi chung là "trong trường hợp không có doanh thu"),
Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể phạt tiền không quá 1 tỷ won.
Chương 3
hạn chế thông đồng trong kinh doanh
và tập trung kinh tế
Điều 7: Hạn chế thông đồng trong kinh doanh
(1)- Không người nào, dù trực tiếp hay qua người có liên quan đặc biệt được
quy định trong Nghị định của Tổng thống (gọi chung là "người có liên quan đặc
biệt") được tham gia bất kỳ hành vi nào thuộc một trong những loại sau đây (gọi
chung là "thông đồng trong kinh doanh") gây ra hạn chế cạnh tranh đáng kể
trong một lĩnh vực thương mại nhất định; tuy nhiên, quy định "người có liên quan
đặc biệt" sẽ không được áp dụng khi hành vi quy định trong tiết 2 được tiến hành
bởi một người chứ không phải là doanh nghiệp mà tổng tài sản hay doanh thu
5
của nó (tổng tài sản hay doanh thu của các công ty kết hợp) đáp ứng những tiêu
chuẩn như quy định trong nghị định của Tổng thống (gọi chung là "Doanh nghiệp
quy mô lớn")
1. Thu mua hoặc sở hữu cổ phiếu của một Tổng công ty khác;
2. Đồng thời giữ vị trí là viên chức của một công ty trong khi đã là viên chức
hay nhân viên (có nghĩa là một người chứ không phải một viên chức thường
xuyên tham gia vào hoạt động kinh doanh của công ty) của một công ty khác (gọi
chung là "sự kiêm nhiệm");
3. Sáp nhập với một công ty khác;
4. Tiếp quản hoặc cho thuê toàn bộ hoặc một phần lớn hoạt động kinh
doanh, thực hiện việc quản lý một công ty khác, hoặc tiếp quản toàn bộ hoặc
một phần lớn những tài sản cố định đang hoạt động của một công ty công ty
khác (gọi chung là việc tiếp quản kinh doanh); hoặc
5. Tham gia vào việc thành lập một công ty mới, ngoại trừ những trường hợp
được liệt kê dưới đây
a. khi bất kỳ một người nào khác chứ không phải người có liên quan đặc biệt
(ngoại trừ những người được quy định trong Nghị định của Tổng thống) không
tham gia
b. khi một công ty mới được thiết lập theo cách thức phân tách từ một công ty
hiện có theo những quy định của điều 530-2 (Phân tách hoặc Sáp nhập sau khi
phân tách các công ty), điều 1 của Bộ luật Thương mại.)
(2)- Khi Uỷ ban thương mại lành mạnh nhận thấy việc thông đồng trong kinh
doanh phù hợp với một trong những loại dưới đây, các quy định của tiết 1 sẽ
không được áp dụng. Trong trường hợp như vậy, các doanh nghiệp có liên quan
sẽ phải chịu trách nhiệm chứng minh liệu việc thông đồng trong kinh doanh đó
có đáp ứng được những tiêu chuẩn đặt ra hay không.
6
1. khi tác động của việc nâng cao hiệu quả được xem là khó có thể đạt được
nếu không thông đồng trong kinh doanh và hiệu quả này lớn hơn những tác hại
tiềm tàng từ việc làm giảm cạnh tranh;
2. khi việc thông đồng trong kinh doanh liên quan tới một doanh nghiệp mà
số vốn đã góp của doanh nghiệp đó ít hơn so với tổng số tài sản trên bảng cân
đối tài sản trong một khoảng thời gian dài, do vậy việc tiếp tục tồn tại của doanh
nghiệp là không thể được và đồng thời, đáp ứng những điều kiện đặt ra trong
Nghị định của Tổng thống.
3. Không ai được thông đồng trong kinh doanh với các công ty khác thông
qua hình thức ép buộc hoặc các biện pháp không lành mạnh khác.
4. Bất kỳ việc thông đồng trong kinh doanh nào rơi vào một trong những loại
dưới đây sẽ được xem là một tập hợp hạn chế đáng kể cạnh tranh trong một lĩnh
vực thương mại nhất định.
(3)- Tổng thị phần (có nghĩa là tổng thị phần của tất cả các công ty thành viên)
của các bên tham gia thông đồng trong kinh doanh đáp ứng tất cả các điểm dưới
đây:
a. Thị phần kết hợp đáp ứng được những tiêu chuẩn của doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh thị trường;
b. Tổng thị phần là cao nhất trong một lĩnh vực thương mại nhất định;
c. Sự chênh lệch giữa tổng thị phần và thị phần của công ty có số thị phần
lớn thứ hai (công ty với số thị phần cao nhất, không kể công ty là một phía tham
gia vào tập hợp kinh doanh) là nhiều hơn 25% trong tổng số thị phần đã nói.
(4)- Việc thông đồng trong kinh doanh của một Tổng công ty quy mô lớn, trực
tiếp hoặc thông qua một người có liên quan đặc biệt, đáp ứng tất cả các điểm
dưới đây:
a. Một tập hợp kinh doanh trong một lĩnh vực thương mại nhất định tại đó thị
phần của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 2/3 theo Luật khung về
doanh nghiệp vừa và nhỏ;
7
b. Nắm hơn 5% thị phần do kết quả của việc thông đồng trong kinh doanh nói
trên.
(5)- Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể xây dựng và ban hành những tiêu
chuẩn đối với việc thông đồng trong kinh doanh làm hạn chế cạnh tranh một
cách đáng kể trong một lĩnh vực thương maị nhất định theo tiết 1; và việc thông
đồng trong kinh doanh là ngoại lệ của tiết 1 theo quy định tại tiết 2; và việc thông
đồng trong kinh doanh được hình thành theo cách thức bắt buộc hoặc bất kỳ
những hành vi kinh doanh không lành mạnh khác theo tiết 3.
Điều 7-2: Tiêu chuẩn mua lại hoặc sở hữu cổ phiếu
Tiêu chuẩn để mua lại hoặc sở hữu cổ phiếu theo các quy định tại luật này
tuỳ thuộc vào quyền sở hữu thực tế, bất kể những quy định về tên của người
nắm giữ hoặc sở hữu là như thế nào.
Điều 8: Báo cáo về việc thành lập hoặc chuyển đổi trở thành công ty
mẹ
Nếu một doanh nghiệp có ý định thành lập hoặc chuyển đổi trở thành công
ty mẹ, doanh nghiệp đó phải lập hồ sơ báo cáo lên Uỷ ban Thương mại lành
mạnh theo đúng những thủ tục quy định trong Nghị định của Tổng thống.
Điều 8-2: Cấm những hoạt động của công ty mẹ
(1)- Cấm công ty mẹ có hoạt động liệt kê dưới đây:
1. Có số nợ lớn hơn số tài sản theo điều lệ (bằng tổng số tài sản thuộc trách
nhiệm của công ty); tuy nhiên, với điều kiện là khi một công ty trở thành một
công ty mẹ, thực hiện đầu tư bằng hiện vật sử dụng toàn bộ hay một phần lớn
số tài sản của mình đưa vào một công ty khác, nó có thể nắm giữ số nợ vượt
quá số tài sản tịnh trong khoảng thời gian một năm kể từ ngày chuyển đổi.
2. Sở hữu ít hơn 50% trong tổng số cổ phiếu được ban hành của một công ty
con (hoặc ít hơn 30% đối với công ty con đã đăng ký trên thị trường chứng
khoán kể từ ngày 1.4.1999); tuy nhiên, với điều kiện là khi một công ty nắm giữ
cổ phiếu của công ty con tại thời điểm chuyển đổi sang công ty mẹ, thực hiện
8
việc đầu tư bằng hiện vật sử dụng toàn bộ hay một phần lớn số tài sản của
mình, quy định nói trên sẽ không được áp dụng trong khoảng thời gian là 2 năm
kể từ ngày chuyển đổi.
3. Sở hữu cổ phiếu của các công ty trong nước, ngoài các công ty con với
mục đích kiểm soát như quy định trong Nghị định của Tổng thống; tuy nhiên, với
điều kiện là khi một công ty sở hữu cổ phiếu của các công ty trong nước tại thời
điểm chuyển đổi thành một công ty mẹ, thực hiện việc đầu tư bằng hiện vật sử
dụng toàn bộ hay một phần lớn số tài sản của mình, nó có thể sở hữu cổ phiếu
của các công ty trong nước có liên quan đó trong khoảng thời gian là hai năm kể
từ ngày chuyển đổi.
4. Bất kỳ công ty mẹ nào sở hữu cổ phiếu của các công ty con tham gia vào
hoạt động kinh doanh tài chính hoặc bảo hiểm (gọi chung là "công ty mẹ tài
chính") sẽ không được nắm giữ cổ phiếu của các công ty trong nước, ngoại trừ
những công ty tham gia vào ngành kinh doanh tài chính hoặc bảo hiểm (kể cả
những công ty có liên quan chặt chẽ với ngành kinh doanh tài chính hoặc bảo
hiểm và đáp ứng những tiêu chuẩn khác được quy định trong Nghị định của
Tổng thống)
5. Bất kỳ công ty mẹ nào không phải là công ty mẹ tài chính (gọi chung là
"công ty mẹ loại chung") sẽ không được nắm giữ cổ phiếu của các công ty trong
nước tham gia vào ngành kinh doanh tài chính và bảo hiểm.
(2)- Bất kỳ công ty con nào thuộc một công ty mẹ loại chung sẽ không được nắm
giữ cổ phiếu của các công ty trong nước khác (ngoại trừ các công ty có liên quan
chặt chẽ với hoạt động kinh doanh của công ty con đã nói hoặc đáp ứng những
tiêu chuẩn được quy định trong Nghị định của Tổng thống, và các công ty con
khác nằm trong công ty mẹ nắm quyền kiểm soát công ty con nói trên) với mục
đích kiểm soát như quy định trong Nghị định của Tổng thống; tuy nhiên, với điều
kiện là khi công ty nói trên đã tham gia vào việc sở hữu cổ phiếu của các công ty
trong nước tại thời điểm khi công ty đã nói chuyển thành công ty con của công ty
mẹ loại chung, công ty đó có thể nắm giữ cổ phiếu của các công ty trong nước
(kể cả những cổ phiếu có được thông qua việc thi hành quyền đối với cổ phiếu
9
hoặc cổ tức) trong khoảng thời gian 2 năm kể từ ngày công ty đó trở thành công
ty con của một công ty mẹ .
(3)- Bất kỳ một công ty mẹ nào cũng phải báo cáo Uỷ ban Thương mại lành
mạnh về hoạt động kinh doanh của mình và của các công ty con về những vấn
đề liên quan tới quyền sở hữu cổ phiếu và tình trạng tài chính theo đúng với
Nghị định của Tổng thống.
Điều 8-3. Hạn chế tập đoàn kinh doanh lớn thành lập công ty mẹ vì hạn
chế với việc bảo lãnh nợ
Nếu bất kỳ người nào nắm quyền kiểm soát một doanh nghiệp thuộc các
tập đoàn kinh doanh lớn theo những quy định của Điều 14 (Mô tả các tập đoàn
kinh doanh lớn...), khoản 1, hoặc bất kỳ một người có liên quan đặc biệt nào có ý
định thành lập hoặc chuyển đổi thành công ty mẹ, người đó sẽ phải từ bỏ một
trong các hình thức bảo lãnh nợ dưới đây được xác định như những bảo lãnh nợ
hiện có phù hợp với điều 10-3 (Từ bỏ việc bảo lãnh những khoản nợ hiện có)
1. Bảo lãnh các khoản nợ giữa một công ty mẹ và công ty con;
2. Bảo lãnh các khoản nợ giữa một công ty mẹ và các công ty thành viên
khác trong nước (ngoại trừ bất kỳ một công ty con nào do công ty mẹ nói trên
kiểm soát);
3. Bảo lãnh các khoản nợ giữa các công ty con;
4. Bảo lãnh nợ giữa bất kỳ một công ty con nào và các công ty thành viên
trong nước khác (ngoại trừ bất kỳ một công ty mẹ nào kiểm soát công ty con đã
nói và các công ty con khác chịu sự kiểm soát của công ty mẹ đã nói).
Điều 9: Cấm đầu tư vốn chéo
(1)- Không một công ty nào thuộc một tập đoàn kinh doanh đáp ứng những
tiêu chuẩn đặt ra trong Nghị định của Tổng thống, bao gồm cả tiêu chuẩn liên
quan đến tổng số tài sản (gọi chung là "Tập đoàn kinh doanh lớn") được nắm
giữ hoặc sở hữu cổ phiếu của bất kỳ công ty thành viên nào đã nắm giữ hoặc sở
10
hữu một phần cổ phiếu của công ty đó; tuy nhiên, sẽ không áp dụng quy định
trên trong những trường hợp dưới đây:
1. Sáp nhập với Tổng công ty đó hoặc tiếp quản toàn bộ hoạt động kinh
doanh; hoặc
2. Thực thi quyền bảo vệ hoặc tiếp nhận sự đồng ý và bồi thường.
(2)- Công ty thực hiện đầu tư theo những quy định trong điều 9(1) sẽ bán những
cổ phiếu như vậy trong khoảng thời gian 6 tháng kể từ ngày mua hoặc sở hữu
những cổ phiếu đã nói; với điều kiện là không áp dụng quy định này trong trường
hợp công ty thành viên có hoặc sở hữu cổ phiếu của công ty liên quan đã bán
những cổ phiếu như vậy.
(3)- Không công ty thành viên của một tập đoàn kinh doanh lớn được thiết lập
như một công ty để đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo đúng với Luật
Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ được mua hoặc sở hữu cổ phiếu trong một
công ty thành viên trong nước.
Điều 10: Đã bãi bỏ
Điều 10-2: Cấm bảo lãnh nợ cho công ty thành viên
(1)- Cấm Tổng công ty (ngoại trừ những công ty tham gia vào ngành kinh doanh
tài chính hoặc bảo hiểm) thuộc một tập đoàn kinh doanh lớn đáp ứng những tiêu
chuẩn đặt ra trong Nghị định của Tổng thống (gọi chung là "các tập đoàn kinh
doanh lớn phải chịu hạn chế về việc bảo lãnh nợ") bảo lãnh nợ cho các công ty
thành viên trong nước của nó; với điều kiện không áp dụng quy định này trong
các trường hợp dưới đây:
1. Bảo lãnh các khoản nợ của công ty được thực hiện theo kế hoạch hợp lý
hoá hoặc những tiêu chuẩn hợp lý hoá trong Luật Phát triển công nghiệp hoặc
Luật kiểm soát việc giảm và miễn thuế; hoặc
2. Đã bãi bỏ;
11
3. Bảo lãnh đối với nhưng khoản nợ được xem là cần thiết nhằm để củng cố
khả năng cạnh tranh của một công ty hoặc những khoản nợ được quy định trong
Nghị định của Tổng thống.
(2)- Thuật ngữ "Bảo lãnh nợ" trong khoản 1 dùng để chỉ sự bảo lãnh mà một
công ty thuộc một Tập đoàn Kinh doanh lớn Phải chịu Hạn chế về Việc Bảo lãnh
nợ thực hiện cho các công ty thành viên trong nước có liên quan tới khoản tín
dụng được cấp bởi một trong những định chế tài chính trong nước dưới đây:
1. Các định chế tài chính như quy định trong Luật Ngân hàng, Ngân hàng
Phát triển Hàn Quốc, Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc, Ngân hàng tín dụng
dài hạn Hàn Quốc và Ngân hàng công nghiệp Hàn quốc.
2. Đã bãi bỏ
3. Các công ty bảo hiểm như được xác định trong Luật Kinh doanh bảo hiểm;
4. Các công ty chứng khoán như quy định trong Luật Chứng khoán và Giao
dịch;
5. Các công ty ngân hàng đầu tư như quy định trong Luật về các công ty
ngân hàng đầu tư; và
6. Bất kỳ một định chế tài chính nào khác như quy định trong Nghị định của
Tổng thống.
(3)- Đã bãi bỏ.
(4)- Đã bãi bỏ.
Điều 10-3: Bỏ những bảo lãnh nợ hiện tại
(1)- Bất kỳ một công ty nào thuộc một tập đoàn kinh doanh được xác định là Tập
đoàn kinh doanh lớn phải chịu những hạn chế về bảo lãnh nợ theo điều 14,
khoản 1 sẽ phải bỏ số bảo lãnh nợ hiện có (gọi chung là bảo lãnh nợ hiện tại) tại
thời điểm được xác định là tập đoàn kinh doanh lớn như trên trước khoảng thời
gian được quy định cho từng loại hình công ty như phần dưới đây. Tuy nhiên,
đối với các công ty thuộc loại hình thứ nhất như quy định trong Nghị định của
12
Tổng thống, Trưởng ban Dịch vụ giám sát tài chính có thể yêu cầu gia hạn về
mặt thời gian. Nếu Uỷ ban thương mại lành mạnh thấy cần thiết, thời hạn cuối
cùng để bỏ nợ đối với các công ty có thể được gia hạn thêm một năm hoặc ít
hơn.
1. Những công ty thuộc bất kỳ một tập đoàn kinh doanh nào được xác định là
tập đoàn kinh doanh lớn phải chịu những giới hạn về bảo lãnh nợ trong năm
1997 và 1998 có thể bỏ những khoản bảo lãnh nợ trước thời điểm đã được gia
hạn là 31.3. 2000.
2. Những công ty thuộc bất kỳ một tập đoàn kinh doanh nào mới được xác
định là Tập đoàn kinh doanh lớn phải chịu những hạn chế về bảo lãnh nợ trong
khoảng thời gian từ năm 1998 tới năm 2000 có thể bỏ những khoản bảo lãnh nợ
trước thời điểm đã được gia hạn thêm là 31.3. 2001.
3. Những công ty thuộc bất kỳ một tập đoàn kinh doanh nào mới được xác
định là Tập đoàn kinh doanh lớn phải chịu những hạn chế về bảo lãnh nợ sau
năm 2001 có thể bỏ những bảo lãnh nợ trong vòng một năm sau khi được xác
định là tập đoàn kinh doanh lớn phải chịu những giới hạn về bảo lãnh nợ.
(2) - Việc bảo lãnh những khoản nợ hiện có như quy định tại khoản 1 nói trên
bao gồm những khoản nợ được đồng ý tiếp tục gia hạn thời hạn hoàn trả, trừ
việc bảo lãnh những khoản nợ thuộc loại hình đầu tiên quy định tại khoản 1
Điều 10-2.
Điều 11: Giới hạn đối với quyền bỏ phiếu của công ty tài chính, công
ty bảo hiểm
Không công ty tài chính hay bảo hiểm nào thuộc một tập đoàn kinh doanh
lớn được thực hiện quyền bỏ phiếu liên quan tới cổ phiếu của công ty đó trong
các công ty thành viên trong nước mà nó đã thu mua hoặc sở hữu, trừ trường
hợp công ty này đã mua hoặc sở hữu cổ phiếu của các công ty thành viên trong
nước nhằm tham gia các hoạt động kinh doanh của những công ty đó hoặc
13
nhằm điều hành và quản lý một cách có hiệu quả các tài sản bảo hiểm của mình
sau khi nhận được sự phê chuẩn theo những đạo luật và quy định phù hợp.
Điều 12: Lập báo cáo về thông đồng trong kinh doanh
(1) - Một công ty có tổng tài sản hoặc doanh thu (nghĩa là tính cả tài sản hay
doanh thu của công ty thành viên) đáp ứng những tiêu chuẩn đặt ra trong Nghị
định của Tổng thống (gọi chung là "Các công ty phải báo cáo"; đối với việc thông
đồng trong kinh doanh được định nghĩa trong tiết 2 dưới đây, chỉ những tập
đoàn kinh doanh lớn phải báo cáo) hoặc những người có liên quan của các công
ty phải báo cáo mà tham gia vào các tập đoàn kinh doanh lớn rơi vào một trong
những loại hình dưới đây sẽ phải báo cáo Uỷ ban Thương mại lành mạnh theo
quy định tại Nghị định của Tổng thống. Quy định này cũng được áp dụng khi
những công ty, trừ các công ty phải báo cáo, tham gia vào các Tập hợp kinh
doanh với Những công ty phải báo cáo rơi vào một trong những loại hình dưới
đây:
1. Một công ty sở hữu hơn 20% (nhiều hơn 15% đối với những công ty có
đăng ký trên thị trường chứng khoán) trong tổng số cổ phiếu được phát hành bởi
một công ty khác (không kể những cổ phiếu không được quyền bỏ phiếu theo
điều 370 của Bộ luật Thương mại; từ nay trở đi, quy định này sẽ luôn được áp
dụng)
2. Một viên chức của công ty này đồng thời lại là viên chức của một công ty
khác
3. Một công ty tiến hành bất kỳ một hoạt động nào trong số những hoạt động
được liệt kê tại điều 7 (Những hạn chế đối với các tập hợp kinh doanh), khoản 1,
tiết 3 hoặc 4.
4. Một công ty góp từ 20% trở lên trong số cổ phiếu của một công ty mới sắp
được thiết lập.
(2)- Những quy định trong khoản 1 sẽ không được áp dụng nếu người đứng đầu
của cơ quan quản lý trung ương có liên quan đã tham vấn Uỷ ban Thương mại
lành mạnh về việc thông đồng trong kinh doanh nói trên.
14
(3)- Tỷ lệ sở hữu hoặc thu mua cổ phiếu theo tiết 1 hoặc 4 của khoản (1) sẽ
được tính theo số cổ phiếu được sở hữu bởi những người có liên quan đặc biệt
của công ty.
(4)- Báo cáo về Tập hợp kinh doanh theo khoản 1 sẽ được nộp trong vòng 30
ngày kể từ ngày thực hiện việc tập hợp kinh doanh; tuy nhiên, với điều kiện là
các tập hợp kinh doanh gắn với tiết 3 hoặc 4 của khoản 1, theo đó một hoặc
nhiều công ty trong tập hợp đó là một công ty lớn sẽ phải nộp báo cáo trong
vòng 30 ngày sau ngày thực hiện hợp đồng sáp nhập công ty hoặc hợp đồng
chuyển giao hoạt động kinh doanh hoặc ngày thực hiện nghị quyết tại đại hội cổ
đông (hay tại cuộc họp của Ban Giám đốc mà có thể thay thế cho đại hội cổ
đông) liên quan tới việc tham gia vào việc thành lập một công ty.
(5)- Cấm doanh nghiệp phải nộp báo cáo theo quy định tại Khoản 4 đăng ký việc
hợp nhất, thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển giao hoạt động kinh
doanh hoặc mua cổ phiếu trong vòng 30 ngày kể từ sau ngày nộp một báo cáo
như vậy; Tuy nhiên, Uỷ ban Thương mại lành mạnh nếu thấy cần thiết có thể rút
ngắn hoặc kéo dài thời hạn tối đa là 60 ngày.
(6)- Bất kỳ một công ty nào có ý định về một trong các loại hình tập hợp kinh
doanh quy định tại khoản 1 điều 7 (Những hạn chế về các tập hợp kinh doanh)
có thể yêu cầu Uỷ ban Thương mại lành mạnh, thậm chí trước cả giai đoạn báo
cáo như quy định trong khoản 4 nói trên, tiến hành xem xét trước khi hợp nhất
về việc liệu tập hợp kinh doanh đó có tác động làm hạn chế cạnh tranh đáng kể
hay không.
(7)- Uỷ ban Thương mại lành mạnh sẽ thông báo cho người có đơn yêu cầu về
kết quả của việc xem xét trong vòng 30 ngày sau khi nhận được yêu cầu về việc
xem xét trước khi hợp nhất theo khoản 6. Tuy nhiên, Uỷ ban Thương mại lành
mạnh, nếu thấy cần thiết, có thể kéo dài khoảng thời gian này tối đa là 60 ngày
tính từ ngày hết hạn khoảng thời gian nói trên.
15
(8)- Khi trách nhiệm lập báo cáo theo quy định tại khoản 1 thuộc về hai hoặc
nhiều công ty, những công ty này sẽ phải cùng nhau lập báo cáo. Tuy nhiên, quy
định nói trên sẽ không được áp dụng trong trường hợp Uỷ ban Thương mại lành
mạnh đã chỉ định rõ một công ty trong số những công ty thuộc cùng một tập
đoàn kinh doanh là người đại diện chịu trách nhiệm về việc lập báo cáo theo
tiêu chuẩn đặt ra trong Nghị định của Tổng thống (gọi chung là người đại diện)
và người đại diện này đã lập báo cáo.
Điều 13: Báo cáo về tình trạng sở hữu cổ phiều
(1)- Tất cả những công ty thuộc một tập đoàn kinh doanh lớn phải báo cáo Uỷ
ban Thương mại lành mạnh về địa vị của những cổ đông của công ty đó, tình
hình tài chính và việc sở hữu cổ phiếu ở những công ty trong nước khác theo
thủ tục quy định trong Nghị định của Tổng thống.
(2)- Tất cả những công ty thuộc một tập đoàn kinh doanh lớn phải chịu những
hạn chế về việc bảo lãnh các khoản nợ phải báo cáo Uỷ ban Thương mại lành
mạnh về tình hình bảo lãnh nợ cho các công ty thành viên trong nước sau khi
được xác nhận từ một định chế tài chính trong nước theo Nghị định của Tổng
thống.
(3)- Những quy định trong điều 12 (Nộp báo cáo về việc tập hợp kinh doanh),
khoản 8 sẽ được áp dụng với những thay đổi tương ứng đối với việc báo cáo
trong các khoản (1) và (2).
Điều 14: Xác định các tập đoàn kinh doanh lớn
(1)- Uỷ ban Thương mại lành mạnh chịu trách nhiệm xác định một công ty là Tập
đoàn kinh doanh lớn hay là Tập đoàn kinh doanh lớn phải chịu hạn chế về việc
bảo lãnh các khoản nợ theo trình tự quy định tại Nghị định của Tổng thống và
thông báo cho những công ty đó về việc họ đã được xác định là những tập đoàn
kinh doanh lớn.
(2)- Quy định của Điều 9 (Cấm việc đầu tư vốn chéo) hoặc Điều 11 (Những hạn
chế đối với quyền bỏ phiếu của các công ty tài chính hoặc bảo hiểm) và Điều 13
16
(Báo cáo về tình hình sở hữu cổ phiếu) được áp dụng kể từ ngày có thông báo
theo khoản 1.
(3)- Mặc dù có khoản (2), nếu một công ty đã được thông báo theo quy định tại
khoản 1 vi phạm quy định của Điều 9 (Cấm việc đầu tư vốn chéo), khoản (1),
khoản (3), các quy định của khoản này sẽ không được áp dụng trong vòng 1
năm kể từ ngày có thông báo
(4)- Để quyết định xem liệu một công ty có cần phải được xác định là thuộc một
tập đoàn kinh doanh lớn hay không, Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể yêu
cầu bất kỳ một công ty nào hoặc bất kỳ người nào có mối liên hệ đặc biệt với
công ty này phải báo cáo những thông tin cần thiết.
(5)- Bất kỳ một công ty nào thuộc một tập đoàn kinh doanh lớn sẽ phải chịu kiểm
toán bởi một kiểm toán viên nhà nước có chứng nhận, và Uỷ ban Thương mại
lành mạnh sẽ sử dụng một bản cân đối tài sản được điều chỉnh theo đúng với
kết quả kiểm toán của kiểm toán viên đó.
Điều 14-2: Thành lâp công ty và tách công ty thành viên
1. Khi một công ty cần phải được thành lập hoặc loại bỏ khỏi một tập đoàn
kinh doanh lớn, Uỷ ban Thương mại lành mạnh sẽ xác định, tuỳ theo yêu cầu từ
công ty đã nói (kể cả những người có liên quan đặc biệt của công ty đó) hoặc tuỳ
thuộc vào biện pháp khởi xướng của chính Uỷ ban Thương mại lành mạnh, xem
liệu công ty đó có đáp ứng những tiêu chuẩn đối với một công ty thành viên hay
không và sẽ quyết định xem liệu có sáp nhập hoặc tách công ty đó ra khỏi các
công ty thành viên hay không.
2. Uỷ ban thương mại lành mạnh có thể, nếu thấy cần thiết cho việc xem xét
theo quy định tại khoản 1, yêu cầu công ty nói trên đệ trình các chứng từ cần
thiết, bao gồm tài liệu có liên quan tới cơ cấu của các cổ đông và các công chức,
mối quan hệ về bảo lãnh nợ, về nợ tài chính và những mối quan hệ thương
mại..
3. Khi nhận được yêu cầu xem xét theo khoản (1), Uỷ ban thương mại lành
mạnh sẽ thông báo kết quả của việc xem xét cho người có đơn yêu cầu trong
17
vòng 30 ngày kể ngày nhận được đơn yêu cầu. Tuy nhiên, nếu thấy cần thiết, Uỷ
ban Thương mại lành mạnh có thể kéo dài thời hạn đó tới tối đa là 60 ngày.
Điều 14-3 Giả thiết về việc lập thành công ty và khai báo của các công
ty thành viên
Trong trường hợp một công ty được yêu cầu đệ trình tài liệu theo điều 14
(xác định các tập đoàn kinh doanh lớn), khoản 4 hoặc điều 14-2 (Sáp nhập và
tách các công ty thành viên ), khoản 2 từ chối yêu cầu này mà không có một lý
do chính đáng hoặc đệ trình tài liệu sai trái khiến cho công ty đó không được sáp
nhập vào một tập đoàn kinh doanh lớn, Uỷ ban Thương mại lành mạnh sẽ giả
thiết rằng công ty đó đã được sáp nhập và được khai báo như một công ty thuộc
một tập đoàn kinh doanh lớn kể từ ngày quy định trong Nghị định của Tổng
thống.
Điều 14-4: Yêu cầu về việc xác nhận tài liệu của các cơ quan liên quan
Uỷ ban Thương mại lành mạnh, nếu thấy cần thiết cho việc thi hành những
quy định của các điều 9-11 và điều 13 tới điều 14-2, có thể yêu cầu một trong
những cơ quan dưới đây xác nhận hoặc kiểm tra các tài liệu cần thiết, bao gồm
những chứng từ về tình hình sở hữu cổ phiếu của các cổ đông của những công
ty thành viên của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc những tập đoàn kinh doanh
lớn phải chịu hạn chế về bảo lãnh các khoản nợ, tình hình bảo lãnh nợ, các
khoản nợ, các khoản thanh toán tạm thời, các khoản cho vay, đặt cọc, mua bán
hoặc cung cấp các loại bất động sản.
1. Cơ quan giám sát tài chính được thiết lập theo Luật về việc thiết lập các tổ
chức giám sát tài chính
2. Đã bãi bỏ
3. Các tổ chức tài chính trong nước theo đúng với những quy định trong các
tiết của điều 10-2, khoản 2.
4. Những cơ quan khác được chỉ định theo Nghị định của Tổng thống và
tham gia vào các giao dịch tài chính hoặc chứng khoán
18
Điều 15: Cấm lẩn tránh pháp luật
1. Không một ai được tiến hành bất kỳ một hành vi nào với ý định trốn tránh
những quy định của Điều 7 (Hạn chế về các tập hợp kinh doanh), khoản (1) và
(3); Điều 8-2, khoản (1) và (2); Điều 8-3, khoản 1; Điều 9; Điều 10-2, khoản (1);
Điều 10-3, khoản (1); hoặc điều 11.
2. Các loại hình và những tiêu chí để xác định việc lẩn tránh luật pháp trong
khoản (1) sẽ được quy định trong Nghị định của Tổng thống.
Điều 16: Các biện pháp điều chỉnh
(1)- Nếu một doanh nghiệp vi phạm hoặc có thể vi phạm những điều khoản
của Điều 7, khoản (1) và (3); Điều 8-2, khoản (1) và (2); Điều 8-3, khoản (1);
Điều 9; Điều 10-2, khoản (1); Điều 10-3, khoản (1); Điều 11; hoặc Điều 15, Uỷ
ban Thương mại lành mạnh có thể ra lệnh thực hiện một trong những biện pháp
điều chỉnh dưới đây đối với doanh nghiệp đó hoặc đối với người đó (có nghĩa là
những doanh nghiệp có liên quan tham gia vào các tập hợp kinh doanh đối với
những trường hợp vi phạm các quy định của Điều 7, khoản (1). Trong trường
hợp như vậy, các biện pháp điều chỉnh buộc phải thực hiện sau khi nhận được
một báo cáo theo đúng quy định trong điều 12, khoản (4) phải được thực hiện
trong khoảng thời gian quy định bắt buộc trong cùng điều đó, khoản (5).
1.
Cấm một hành vi như vậy.
2.
Bán tất cả hoặc một phần cổ phiếu
3.
Từ chức của một công chức
4.
Chuyển giao hoạt động kinh doanh
5.
Huỷ những khoản bảo lãnh nợ
6.
Công bố công khai về việc vi phạm
7.
Hạn chế về các loại hình hoặc quy mô quản lý mà có thể ngăn ngừa
những tác động hạn chế cạnh tranh của những tập hợp kinh doanh nhất định
19
8.
Những biện pháp điều chỉnh cần thiết khác để điều chỉnh việc vi phạm
pháp luật
(2)- Nếu một công ty được thành lập hoặc các công ty được sáp nhập theo
cách thức vi phạm điều 7, khoản (1) và (3); Đìều 8-3; hoặc Điều 12, khoản (5),
Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể đưa sự vụ này ra toà để vô hiệu hoá việc
thành lập công ty hoặc việc sáp nhập các công ty đó.
Điều 17: Tiền phạt
(1)- Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể áp đặt một khoản tiền phạt đối với
bất kỳ một công ty nào đã thu mua hoặc nắm giữ cổ phiếu theo cách thức vi
phạm Điều 9 (Cấm Đầu tư vốn chéo). Số tiền phạt này không được vượt quá
10% giá mua vào các cổ phiếu đã được mua hoặc sở hữu.
(2)- Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể áp đặt một khoản tiền phạt đối với
bất kỳ một công ty nào tiến hành việc bảo lãnh nợ theo cách thức vi phạm Điều
10-2, khoản (1). Khoản tiền phạt này sẽ không được vượt quá 10% giá trị của
phần bảo lãnh nợ có liên quan.
(3)- Đã bãi bỏ
(4)- Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể áp đặt một khoản tiền phạt đối với
bất kỳ một người nào vi phạm Điều 8-2, khoản (1) hoặc khoản (2). Khoản tiền
phạt sẽ không được vượt quá 10% số tiền được xác định trong những đoạn
dưới đây.
1. Phần tài sản nợ vượt quá phần tài sản có trong các trường hợp vi phạm
Điều 8-2, khoản (1);
2. Đối với các trường hợp vi phạm Điều 8-2 khoản (1), số tiền được tính
bằng cách nhân tổng giá trị trên sổ sách của các cổ phiếu của công ty thành viên
với phần chênh lệch giữa 50% (đối với các công ty thành viên đã đăng ký trên
thị trường chứng khoán kể từ ngày 1.4.1999, con số này giảm xuống 30%) của
nhu cầu mà theo đó một công ty mẹ sẽ nắm giữ cổ phiếu của công ty thành viên
20
và phần sở hữu cổ phiếu thực tế, và lấy con số này chia cho phần nắm giữ cổ
phần thực tế của công ty thành viên của công ty mẹ;
3. Tổng giá trị sổ sách của các cổ phiếu được sở hữu trong những trường
hợp vi phạm Điều 8-2, khoản (1), tiết 3, hoặc những quy định cũng của điều này,
khoản 2.
Điều 17-2: Những khoản lệ phí thi hành bắt buộc
(1)- Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể áp đặt những mức phí thi hành
bắt buộc đối với những người vi phạm Điều 7, khoản (1) hoặc (3) và do đó, bị
buộc phải thực hiện các biện pháp điều chỉnh theo Điều 16 nhưng lại không thực
hiện những biện pháp điều chỉnh đó trong khoảng thời gian đã quy định. Những
khoản lệ phí này không được vượt quá một phần triệu số tiền dưới đây trên cơ
sở hàng ngày; tuy nhiên, với điều kiện là trong trường hợp bất kỳ một người nào
tham gia vào tập hợp kinh doanh xác định trong Điều 7, khoản 1, tiết 2, những
khoản phí này sẽ không được vượt quá 2 triệu won tính theo cơ sở hàng ngày.
1. Đối với các tập hợp kinh doanh có liên quan tới tiết 1 hoặc 5 của khoản
(1), điêu 7, số tiền tính sẽ là giá trị trên sổ sách của các cổ phiếu được thu mua
hoặc sở hữu và giá trị của các tài khoản nợ phải gánh chịu.
2. Đối với các tập hợp kinh doanh có liên quan tới tiết 3, điều 7, khoản 1, số
tiền tính sẽ là giá trị trên sổ sách của các cổ phiếu được phân bổ do kết quả của
việc hợp nhất và giá trị của các khoản nợ phải gánh chịu.
3. Đối với các tập hợp kinh doanh liên quan tới tiết 4, khoản 1, điều 7, số
tiền tính sẽ bằng giá trị của việc chuyển giao hoạt động kinh doanh.
(2)- Việc áp đặt tiền phạt, thanh toán, thu tiền, hoàn trả và những biện
pháp cần thiết khác liên quan tới những khoản lệ phí thi hành bắt buộc sẽ được
xác định theo nghị định của Tổng thống; tuy nhiên, với điều kiện là trong trường
hợp những khoản phí này bị quá hạn thì phí sẽ được thu theo đúng với cách
thức giải quyết trường hợp vi phạm nghĩa vụ về việc đóng thuế quốc gia.
21
(3)- Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể giao phó việc thu phí hoặc xử lý
những khoản phí quá hạn liên quan tới những quy định của khoản 1 và 2 nói trên
cho người đứng đầu Cục quản lý Thuế quốc gia.
Điều 18: Buộc phải tuân thủ theo các biện pháp điều chỉnh
1. Không một doanh nghiệp nào mà đã bị ra lệnh phải bán các cổ phiếu
theo đúng với khoản 1 của điều 16 (Các biện pháp điều chỉnh) được tiến hành
việc bỏ phiếu liên quan tới những cổ phiếu như vậy kể từ ngày nhận được lệnh
đó.
2. Không một doanh nghiệp nào mà đã tiến hành việc đầu tư vốn chéo vi
phạm vào điều 9 được tiến hành quyền bỏ phiếu liên quan tới những cổ phiếu
như vậy kể từ ngày nhận được lệnh điều chỉnh cho tới khi việc vi phạm đó đã
được điều chỉnh.
Chương 4
Hạn chế những hành vi thông đồng không phù hợp
Điều 19: Hạn chế hành vi thông đồng không phù hợp
(1)- Không một doanh nghiệp nào được thoả thuận với một doanh nghiệp
khác bằng hình thức hợp đồng, thoả thuận, nghị quyết hoặc bất kỳ một biện
pháp nào khác để cùng nhau tham gia vào bất kỳ một hành vi nào trong số
những hành vi được liệt kê dưới đây mà sẽ làm hạn chế một cách đáng kể sự
cạnh tranh trong một lĩnh vực thương mại nhất định (gọi chung là "những hành
vi thông đồng không phù hợp")
1. ấn định, duy trì hoặc thay đổi giá cả
2. xác định các điều khoản, điều kiện đối với việc mua bán hàng hoá hoặc
dịch vụ hoặc đối với việc thanh toán hoặc trả tiền hàng
3. hạn chế việc sản xuất, vận chuyển hoặc mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ
4. hạn chế phạm vi mua bán hoặc khách hàng
22
5. cản trở hoặc hạn chế việc thiết lập hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất
hoặc lắp đặt các thiết bị cần thiết cho việc sản xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch
vụ
6. hạn chế loại hình hoặc quy cách phẩm chất của hàng hoá tại thời điểm
sản xuất hoặc mua bán hàng hoá đó
7. thành lập một công ty hoặc một tổ chức tương tự để cùng nhau tiến hành
hoặc quản lý những phần quan trọng của hoạt động kinh doanh; hoặc
8. cản trở hoặc hạn chế các hoạt động kinh doanh hoặc bản chất của hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp khác, bằng cách đó hạn chế một cách
đáng kể sự cạnh tranh trong một lĩnh vực thương mại có liên quan
(2)- Các quy định trong khoản (1) sẽ không được áp dụng đối với những
hành vi thông đồng không phù hợp được tiến hành vì một trong những lý do sau
đây và đáp ứng những chuẩn mực đặt ra trong Nghị định của Tổng thống và
được Uỷ ban thương mại lành mạnh cho phép thực hiện
1. hợp lý hoá ngành
2. đẩy mạnh sự phát triển nghiên cứu và công nghệ
3. vượt qua sự suy thoái về kinh tế
4. thúc đẩy việc cơ cấu hoá ngành
5. hợp lý hoá các điều khoản thương mại
6. củng cố tính cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(3)- Những vấn đề cần thiết liên quan tới chuẩn mực, phương pháp và các
trình tự để cấp phép theo các quy định của khoản (2) sẽ được xác định theo
Nghị định của Tổng thống.
(4)- Bất kỳ một hợp đồng nào trong đó có quy định cho phép doanh nghiệp
tham gia vào bất kỳ một hành vi thông đồng không phù hợp nào như quy định
trong khoản 1 sẽ bị coi là vô hiệu
23
(5)- Khi hai hoặc nhiều doanh nghiệp phạm phải bất kỳ một hành vi nào
trong số các hành vi được liệt kê trong khoản 1, từ đó làm hạn chế cạnh tranh
trong một lĩnh vực thương mại nhất định, các bên có liên quan sẽ bị coi là đã vi
phạm hành vi thông đồng không phù hợp mặc dù không có một thoả thuận rõ
ràng nào về việc tham gia vào một hành vi như vậy.
Điều 20: Đã bãi bỏ
Điều 21: Các biện pháp điều chỉnh
Nếu một hành vi thông đồng không phù hợp vi phạm Điều 19, Uỷ ban
Thương mại lành mạnh có thể ra lệnh cho các doanh nghiệp liên quan đình chỉ
một hành vi như vậy, công bố một cách công khai về hành vi vi phạm đã xảy ra
hoặc tiến hành các biện pháp điều chỉnh khác.
Điều 22: Tiền phạt
Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể áp đặt một khoản tiền phạt đối với
bất kỳ một doanh nghiệp đã tham gia vào các hành vi thông đồng không phù hợp
vi phạm vào các quy định của điều 19; khoản tiền phạt này không vượt quá 5%
doanh thu của doanh nghiệp quy định trong Nghị định của Tổng thống; tuy nhiên,
trong trường hợp doanh thu không tồn tại, Uỷ ban Thương mại lành mạnh có thể
áp đặt một khoản tiền phạt không vượt quá 1 tỷ won.
Điều 22-2 Miễn trách nhiệm đối với các trường hợp tự khai báo
1. Nếu một doanh nghiệp đã tham gia vào những hành vi thông đồng không
phù hợp tự nguyện thông báo cho Uỷ ban Thương mại lành mạnh, người tự khai
báo có thể phải chịu những biện pháp điều chỉnh nhẹ hơn theo điều 21 hoặc
được miễn trách; hoặc giảm các khoản tiền phạt theo điều 22 hoặc được miễn
tiền phạt.
2. Những vấn đề liên quan tới việc xác định mức độ hoặc tiêu chuẩn giảm
nhẹ mức án hoặc miễn trách nhiệm liên quan tới người tự khai báo như quy định
trong khoản 1 được quy định trong Nghị định của Tổng thống.
24
Chương 5
Cấm hành vi kinh doanh không lành mạnh
Điều 23: Cấm hành vi kinh doanh không lành mạnh
(1)- Không một doanh nghiệp nào được tham gia vào bất kỳ một hành vi nào
thuộc vào một trong những hành vi dưới đây và có thể cản trở thương mại lành
mạnh (gọi chung là "các hành vi kinh doanh không lành mạnh") hoặc có thể
khiến cho các công ty thành viên hoặc các doanh nghiệp khác phải tiến hành
một hành vi như vậy:
1. từ chối một cách bất hợp lý việc giao dịch hoặc đối xử phân biệt đối với
một đối tác giao dịch nhất định
2. loại bỏ một cách bất hợp lý các đối thủ cạnh tranh
3. xúi giục hoặc ép buộc một cách bất hợp lý khách hàng của các đối thủ
cạnh tranh phải giao dịch với mình
4. lợi dụng một cách bất hợp lý vị trí mặc cả của mình trong khi giao dịch với
những đối tác khác
5. giao dịch với những đối tác khác theo các điều kiện sẽ hạn chế hoặc gây
cản trở cho những hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác.
6. sử dụng quảng cáo (kể cả việc sử dụng tên nhãn hiệu) hoặc tiến hành
việc giới thiệu mang tính sai trái hoặc có thể lừa dối hay khiến cho người tiêu
dùng hiểu sai về doanh nghiệp hoặc các hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đó
(khoản này sẽ được huỷ bỏ vào ngày 1.7.1999)
7. cung cấp một cách bất hợp lý và tạm thời cho những người có liên quan
đặc biệt hoặc những công ty khác các khoản thanh toán, các khoản cho vay,
nhân lực, giấy tờ thương mại, hoặc quyền sở hữu vô hình... hoặc trợ giúp cho
những người có liên quan đặc biệt hoặc các công ty khác bằng cách mua bán
với những điều kiện thuận lợi .
25