Tải bản đầy đủ (.doc) (7 trang)

Phát triển sản phẩm du lịch văn hóa gắn với di sản văn hóa PHẬT GIÁO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (260.93 KB, 7 trang )

1
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA GẮN VỚI
DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ
ThS. Vũ Thị Thu Huyền
Bộ môn: Quản trị dịch vụ Khách sạn – Du lịch
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg, ngày 30 tháng
12 năm 2011 xác định quan điểm, mục tiêu và các giải pháp phát triển, trong đó du
lịch văn hóa là một định hướng ưu tiên phát triển. Phát huy giá trị di sản văn hóa
Phật giáo Việt Nam sẽ làm tăng giá trị và đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
Lâu nay chúng ta vẫn biết văn hóa là một phần không thể thiếu đối với hoạt
động du lịch và mối quan hệ này ngày càng gắn chặt hơn trong xu hướng toàn cầu hóa
hiện nay. Chúng ta đang cảm nhận tiến trình hội tụ này một cách tự nhiên, như một
quy luật phát triển tất yếu.
Có thể thấy rằng, mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch trong quá
trình vận động phát triển là rất rõ. Du lịch khai thác các giá trị văn hóa làm nền tảng
cho mục đích của các chuyến đi và dựa vào văn hóa để phát triển. Sự phát triển của du
lịch đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại ở một số vùng địa phương
được khôi phục và phát triển. Do đó, có thể nói, chính văn hóa là một chìa khóa then
chốt để mở đường cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp du lịch.
Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa
bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục... gần đây du lịch văn hóa được xem là loại
sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế.
Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống
dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng... để tạo sức hút đối với khách du lịch bản
địa và từ khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới. Đối với khách du lịch có sở thích
nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ
hội để thỏa mãn nhu cầu của họ và du lịch văn hóa gắn với di sản văn hóa Phật giáo
cùng không nằm ngoài mục đích đó.
Những giá trị di sản văn hóa Phật giáo thể hiện trong giáo lý, đạo đức Phật giáo,
không gian văn hóa, cảnh quan các ngôi chùa, lễ hội và nghệ thuật Phật giáo ở các


vùng, miền trên phạm vi cả nước đã và đang làm phong phú thêm sản phẩm du lịch
Việt Nam và làm hài lòng khách du lịch, đặc biệt là du khách với mục đích văn hóa
tâm linh gắn với đạo Phật.
1. Giá trị của di sản văn hóa Phật giáo


2
Có thể khẳng định, di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam đã có những đóng góp to
lớn vào kho tàng di sản văn hóa phong phú và độc đáo của dân tộc và ngày càng chiếm
giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của đại bộ phận nhân dân các
dân tộc trên các vùng, miền cả nước. Không những thế, di sản văn hóa Phật giáo Việt
Nam đã và đang trở thành nhưng giá trị hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong nước và
cả khách quốc tế đến Việt Nam.
Những giá trị hấp dẫn du lịch của di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam có thể
thấy được ở 5 điểm dưới đây:
Một là, giáo lý Phật giáo từ khi du nhập vào Việt Nam đã được kết tinh, thăng
hoa luôn gắn kết nhuần nhuyễn với tín ngưỡng, phong tục, tập quán văn hóa bản địa
các dân tộc, vùng miền Việt Nam. Sự hòa đồng, tính khoan dung và tinh thần dân chủ,
bình đẳng của Phật giáo đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho tất cả mọi người bất kể
thành phần nào, địa vị nào trong xã hội, dù giàu hay nghèo. Sự hiện diện của Phật giáo
luôn gắn liền với cuộc sống của nhân dân với hình ảnh những ngôi chùa thờ Phật gắn
với làng xã Việt Nam. Sự quần chúng hóa ấy tạo lên sức mạnh vô biên của Phật giáo,
có ảnh hưởng rộng rãi tới xã hội và hấp dẫn du khách thập phương. Khách hành hương
đến với Phật giáo ở bất cứ đâu đều tìm thấy tâm hồn mình hòa đồng trong thế giới Phật
giáo. Tinh thần hòa đồng quần chúng ấy là cơ sở quan trọng thu hút du khách trong
các chương trình du lịch gắn với Phật giáo.
Hai là, giá trị phi vật thể của di sản văn hóa Phật giáo thể hiện ở khía cạnh giá
trị văn hóa, đạo đức. Đạo đức Phật giáo thể hiện ở nguyện vọng mang lại hạnh phúc và
an lạc cho nhân sinh mà phải tự lực phấn đấu, đề cao lòng từ bi, vô ngã - vị tha, làm
điều thiện, ngừa điều ác. Phật giáo luôn khuyến khích chúng sinh “tự độ độ tha, tự giác

giác tha”, không phân biệt giữa ngã nhân (ta) và tha nhân (người khác). Tứ đại vô
lượng tâm: từ, bi, hỉ, xả của Phật giáo là liều thuốc làm trong sáng hơn đời sống tinh
thần. Với tư tưởng khoan dung, hòa bình, khuyến thiện, ngừa ác, Phật giáo góp phần
thức tỉnh lương tri con người, làm cho con người được sống trong hòa bình, nhân ái,
chủ động phòng ngừa cái ác, giúp cho con người gần gũi nhau hơn và dễ tìm đến với
nhau hơn.
Đồng thời Phật giáo giúp cho con người hiểu hơn về ý nghĩa và giá trị cuộc
sống, tạo ra động lực cho cuộc sống. Giáo lý nhà Phật giúp cho con người biết tạo lập
được nếp sống, lối sống chân, thiện, mỹ, đặc biệt là cách nhìn nhận và giải quyết đúng
đắn những vấn đề cốt lõi trong đời sống của con người về “sinh, lão, bệnh, tử”, chỉ dẫn
cho chúng sinh cách thức làm sao để có thêm ý nghĩa của hạnh phúc, an vui về mặt
tinh thần bên cạnh các giá trị vật chất thông thường. Hơn thế nữa, giáo lý Phật giáo
còn hướng con người trong quan hệ xã hội với con người và quan hệ với thiên nhiên
một cách hài hòa và an lành, không làm tổn hại tới thiên nhiên, chúng sinh xung


3
quanh. Ở khía cạnh này Phật giáo mang đến những giá trị tích cực cho cuộc sống về
nhận thức, tư duy, sức khỏe và sự an lành, cực lạc trong tâm hồn của con người gắn
với thiên nhiên và vì thế nó có sức hấp dẫn mạnh mẽ thu hút khách du lịch.
Ba là, không gian văn hóa truyền thống của ngôi chùa kết tinh giá trị văn hóa
vật thể và phi vật thể của Phật giáo. Hiện nay, cả nước có 465 ngôi chùa được xếp
hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia trong tổng số 3.058 di tích cấp quốc gia của
Việt Nam. Hầu hết các ngôi chùa được lựa chọn xây dựng vị trí vô cùng “đắc địa”,
trong một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ đầy biểu cảm, tạo nên những danh lam
thắng cảnh độc đáo, môi trường thanh tịnh đậm chất thiên nhiên. Chùa là một phức
hợp kiến trúc nghệ thuật gắn bó hữu cơ và tác động tương hỗ với cảnh quan thiên
nhiên thơ mộng, gợi cảm, gắn bó con người với thiên nhiên mà nhà chùa là trung gian
cầu nối, như: các khu thắng cảnh Yên Tử (Quảng Ninh), Hương Sơn (Hà Tây), Ngũ
Hành Sơn (Đà Nẵng), núi Bà Đen (Tây Ninh), núi Sam (An Giang)... Đây chính là

những nơi có giá trị hấp dẫn du lịch cả về văn hóa và cảnh quan và được quy hoạch trở
thành những khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia trong Quy hoạch tổng thể
phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Bốn là, lễ hội Phật giáo là những sinh hoạt văn hóa với các nghi thức tôn giáo
như: Lễ Vu Lan, Đại lễ Phật Đản, Đàn Tràng giải Oan, chạy đàn cầu mưa cho tới tụng
kinh niệm Phật tuần rằm, hàng ngày... Lễ hội Phật giáo là nơi tích hợp các mặt giá trị
văn hóa phi vật thể rất phong phú và đa dạng, nơi giao lưu, cộng cảm và liên kết tình
thân trong các cộng đồng Phật tử ở từng đạo tràng nói riêng, cộng đồng cư dân ở các
làng xã, vùng miền nói chung. Ngoài phần nghi lễ Phật giáo, nhiều hoạt động văn hóa
nghệ thuật độc đáo như: diễn Chèo, hát Văn gắn với các tích Phật, tích truyện giàu tính
nhân văn, múa Phật giáo (Lục cúng hoa đăng), âm nhạc Phật giáo, các phẩm phục...
làm cho lễ hội trở lên vô cùng hấp dẫn về giá trị văn hóa, nghệ thuật, tâm linh. Đặc
biệt đối với khách du lịch ở khía cạnh này, lễ hội Phật giáo trở thành những sự kiện
thu hút những dòng khách đến tìm hiểu, chia sẻ, cùng sinh hoạt và trải nghiệm với
cộng đồng Phật tử và người dân bản địa. Một số lễ hội trở thành động cơ đi du lịch
(mục đích chính) của các dòng khách hành hương như lễ hội Chùa Hương, lễ hội Yên
Tử...
Năm là, nghệ thuật âm nhạc và mỹ thuật Phật giáo cũng trở thành yếu tố vô
cùng hấp dẫn du lịch. Âm nhạc với những phức điệu và âm thanh là những hợp tấu âm
thanh rung động trầm lắng, mang sức mạnh mầu nhiệm, tác động tới cả “cõi giới xa
xăm”. Tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng tụng kinh, ánh sáng huyền ảo của nến, mùi và
khói hương không chỉ là phương tiện chuyển tải lời cầu nguyện của chúng sinh tới đức
Phật, mà còn có tác dụng thức tỉnh những năng lực vốn tiềm ẩn trong các Phật tử, đánh
thức tâm thiện, nhắc nhở và kêu gọi Phật tính trong con người.


4
Mỹ thuật Phật giáo có thể thấy rõ nhất trong phong cách nghệ thuật kiến trúc và
điêu khắc trong các ngôi chùa, xứng đáng được tôn vinh là những bảo tàng nghệ thuật
mà du khách có thể chiêm ngưỡng. Trong mỗi ngôi chùa ngoài vẻ đẹp, tinh tế của các

họa tiết kiến trúc, điêu khắc còn thấy được nghệ thuật cấu trúc bày trí theo thuyết lý
của Phật giáo trong mối tương quan con người trong vũ trụ “thiên - địa - nhân” mang
tính hệ thống và tổng hợp, gắn bó hữu cơ giữa kiến trúc, điêu khắc, hội họa và cảnh trí
thiên nhiên. Sự sắp xếp theo một trật tự nhằm chuyển tải lịch sử tư tưởng Phật giáo sao
cho mọi tín đồ có thể vừa chiêm bái, vừa được tiếp nhận nhiều tri thức về đạo Phật.
Không gian tạo hình trong chùa Phật chứa đựng hàm lượng thông tin phong phú, mang
tính khái quát, hình tượng cô đọng, tinh tế. Nhờ kết hợp giữa lý trí và tình cảm, giữa trí
tuệ và cảm xúc, nhờ những hình tượng nghệ thuật vừa khái quát mang tính biểu trưng
mà không gian văn hóa trong chùa Phật thường xuyên có tác dụng giáo dục, hun đúc
nhận thức và tình cảm của chúng sinh, qua đó mang lại cho con người cảm giác hạnh
phúc đầy nhân tính, thánh thiện. Đây là yếu tố hấp dẫn mang lại giá trị thụ hưởng, giá
trị trải nghiệm cho du khách mỗi khi chiêm bái và tiếp nhận thần thái của không gian
nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, kết cấu bày trí, âm điệu và hương sắc trong không gian
văn hóa các ngôi chùa Phật giáo.
2. Sản phẩm du lịch văn hóa gắn với di sản văn hóa Phật giáo vùng Đông Bắc Bộ
Những yếu tố hấp dẫn đặc trưng nêu trên của hệ thống di sản văn hóa Phật giáo
Việt Nam có thể nói là nguồn tài nguyên vô giá để có thể thiết kế lên những sản phẩm
du lịch thông qua đó mà con người (du khách) được tham gia, tham quan, tìm hiểu,
chiêm bái, chiêm ngưỡng, thưởng thức, cùng trải nghiệm hòa đồng trong không gian
văn hóa, cảnh quan các ngôi Chùa, lễ hội và nghệ thuật gắn với giáo lý, đạo đức Phật
giáo.
Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và
tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định quan điểm, tầm nhìn và những giải pháp phát triển
sản phẩm du lịch văn hóa. Trong đó, việc phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo gắn
với các di tích lịch sử văn hóa nhằm nâng cao giá trị và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
sẽ tập trung vào 3 nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, quy hoạch phát triển các khu điểm du lịch trên sơ sở khai thác các giá
trị nổi bật về di sản văn hóa Phật giáo và cảnh quan như: Yên Tử, Hương Sơn, Tràng
An (Bái Đính), Đền Trần - Phủ Dầy, Chùa Keo, Côn Sơn - Kiếp Bạc,... Quy hoạch
vùng du lịch, quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh và quy hoạch phát triển du

lịch tại các khu, điểm du lịch này phải đồng thời gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa Phật giáo trong không gian văn hóa, cảnh quan chung của khu và kết nối
với các khu, điểm du lịch khác trong vùng.


5
Thứ hai, thiết kế các chương trình du lịch chuyên đề văn hóa tâm linh gắn với
phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo; đồng thời lồng ghép các hoạt động tham
quan, tìm hiểu, trải nghiệm cho du khách đến với không gian văn hóa, nghệ thuật các
ngôi chùa, lễ hội Phật giáo trong tuyến du lịch.
Thứ ba, tổ chức các hoạt động dịch vụ tạo thuận lợi, tiện nghi cho du khách tại
các khu, điểm du lịch trong không gian văn hóa Phật giáo để trở thành các sản phẩm
đặc trưng phục vụ khách du lịch có mục đích văn hóa tâm linh gắn với Phật
giáo. Chuỗi cung ứng các dịch vụ từ việc thông tin, đi lại, nghỉ ngơi cho tới dịch vụ
hướng dẫn và phục vụ tham quan, tham gia, tìm hiểu, chiêm bái, chiêm ngưỡng những
giá trị văn hóa, tâm linh gắn với các di sản văn hóa Phật giáo.
Sản phẩm du lịch cụ thể bao hàm tổ hợp nhóm các dịch vụ chủ yếu sau đây:
Dịch vụ chính đóng vai trò là động cơ thu hút khách đó là chuỗi hoạt động dịch
vụ phục vụ khách văn hóa tâm linh, gồm: tổ chức hướng dẫn tham quan danh thắng,
chiêm ngưỡng cảnh quan trong không gian văn hóa khu vực chùa và phụ cận; các dịch
vụ phục vụ cúng bái, tế lễ; phục vụ bán, cho thuê hoặc mượn hoặc vật dụng, phương
tiện tế lễ; các dịch vụ phục vụ lễ hội và hướng dẫn khách tham gia lễ hội; phục vụ
thưởng thức nghệ thuật âm nhạc, múa, diễn tích truyện, diễn chèo, hát văn; các dịch vụ
hướng dẫn, cung cấp thông tin, tra cứu, hội thảo phục vụ nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa,
nghệ thuật Phật giáo và các dịch vụ phục vụ hoạt động thiền, yoga, tụng kinh niệm
phật và phục vụ các bữa ăn chay... Tất cả những dịch vụ phục vụ phật tử và du khách
tạo thuận lợi và thoải mái nhất để mục đích đến với cửa phật của họ được toại nguyện.
Hơn thế nữa, những dịch vụ đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp cho hoạt động
cúng tế, cầu nguyện được diễn ra thuận tiện, may mắn, mát mẻ và làm cho bất cứ ai
đến với cửa Phật, vãn cảnh chùa sẽ có được tinh thần thoải mái, mãn nguyện.

Dịch vụ phục vụ các nhu cầu cơ bản cần thiết phải có để đảm bảo cho khách
thực hiện tốt các hoạt động chính và các nhu cầu bổ sung giúp cho chuyến đi của
khách đạt được nhiều mục tiêu như: đón tiếp, nghỉ ngơi, lưu trú, ăn uống, thông tin
liên lạc, mua sắm... Tất cả những nhu cầu này được đáp ứng tại chỗ thông qua các nhà
cung cấp dịch vụ am hiểu mục đích của du khách.
Dịch vụ lữ hành thiết kế đưa ra chương trình du lịch, thông tin, quảng bá, gom
khách, đặt giữ chỗ, kết nối các dịch vụ cung ứng theo tuyến hành trình. Ở đây, đặc biệt
quan trọng cần nghiên cứu và phân biệt nhu cầu, mục đích du lịch văn hóa tâm linh
gắn với Phật giáo. Các chương trình du lịch được xây dựng gắn chặt với điểm đến là
không gian văn hóa Phật giáo (ngôi Chùa) đáp ứng đúng nhu cầu đặc trưng của loại
khách này.
Dịch vụ vận chuyển đưa, đón khách theo tuyến hành trình trong đó điểm đến là
các ngôi chùa đã xác định; dịch vụ bến đỗ và đi lại tại các điểm tham quan trong khu,


6
các dịch vụ hỗ trợ di chuyển bằng phương tiện nội bộ, phương tiện chuyên dùng như
xe điện, cáp treo, máng trượt, thuyền, đò, xuồng...;
3. Một số định hướng để phát triển sản phẩm du lịch văn hóa gắn với di sản văn
hóa Phật giáo vùng Đông Bắc Bộ
Đông Bắc Bộ là trung tâm của văn hóa Phật giáo ở nước ta với hệ thống di sản
văn hóa Phật giáo vô cùng dày đặc, phong phú và hấp dẫn có thể kể tên những địa
danh gắn với những ngôi chùa như: Yên Tử, Ba Vàng, Cái Bầu (Quảng Ninh), Côn
Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương), Hàm Long Phúc Lâm, Hải Ninh, Nguyệt Quang, Phổ
Chiếu, Tường Long (Hải Phòng)...
Vậy sản phẩm du lịch đến các điểm đến là di sản văn hóa Phật giáo vùng Đông
Bắc Bộ cần có những nét đặc sắc gì? Những định hướng dưới đây tập trung vào những
nỗ lực khai thác phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo vùng Đông Bắc Bộ, mà
không đề cập khía cạnh kinh doanh du lịch thuần túy (không đặt vấn đề tăng thu hút
lượng khách mà chú trọng thoả mãn nhu cầu của khách được thỏa nguyện khi đến cửa

Phật).
Đầu tiên, quy hoạch cụ thể điểm du lịch quốc gia Yên Tử, Côn Sơn-Kiếp Bạc
và các điểm du lịch khác, tuyệt đối lấy giá trị văn hóa Phật giáo là yếu tố trung tâm,
yếu tố hấp dẫn chính của quy hoạch; xác định văn hóa tâm linh gắn với Phật giáo là
mục đích chính của du khách để quy hoạch tổ chức không gian du lịch điểm đến và
thiết kế các chi tiết sản phẩm du lịch đáp ứng đúng nhu cầu đó. Ví dụ nhà nghỉ, khách
sạn ở khu vực Yên Tử có sách giới thiệu về lịch sử Phật giáo Thiền phái Trúc lâm gắn
với Phật Hoàng Trần Nhân Tông...
Thứ hai, hình thành các tuyến du lịch, xây dựng các chương trình du lịch đến
Yên Tử, đến Công Sơn - Kiếp Bạc, Đền Cửa Ông và kết nối với các đền chùa ở Hải
Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương. Đồng thời kết nối với các điểm đến khác như Hạ
Long, Bái Tử Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Trà Cổ vào những thời kỳ thấp điểm, mùa hè.
Thứ ba, nghiên cứu, trùng tu, phục dựng, bảo quản gìn giữ những giá trị di sản
văn hóa Phật Giáo; biên tập và diễn giải những giá trị lịch sử Phật giáo gắn với những
danh nhân và văn hóa bản địa làng xã, những hoạt động văn hóa, nghệ thuật, chò trơi,
tích truyện dân gian... Tất cả những yếu tố đó xây dựng thành tài liệu nghiên cứu,
hướng dẫn tìm hiểu, quảng bá cho điểm đến với những giá trị văn hóa Phật giáo đặc
sắc.
Thứ tư, khuyến khích các tăng ny, phật tử hoạt động tích cực hướng tới mang
đến những giá trị chân thiện mỹ cho du khách; các hoạt động làm gương cho quần
chúng noi theo về tư duy và hành vi theo đạo đức Phật giáo trong quan hệ giữa người
với người và giữa con người với thiên nhiên, đặc biệt thích hợp với Thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử với các hoạt động thiền, yoga và tu luyện... Hình thành những bài, sách


7
hướng dẫn phương pháp tự tu tại gia, tự thiền...giúp cho người ta tìm thấy giá trị cực
lạc, từ, bi, hỉ, xả của Phật giáo;
Thứ năm, hướng cho cộng đồng dân cư địa phương hưởng ứng làm theo, sống
tốt đời đẹp đạo hướng thiện thông qua chính các hoạt động cung cấp dịch vụ: kinh

doanh có đạo đức (không chộp giật, chèo kéo, đeo bám, lừa đảo), giữ gìn vệ sinh, bảo
vệ môi trường, yêu quý và tận tâm với khách hành hương; tự hào, tôn vinh về nếp sống
văn hóa đầy chất nhân văn do Phật giáo mang lại cho địa phương.
Kết luận
Văn hóa Phật giáo vùng Đông Bắc Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung để lại
trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc với những giá trị vô cùng đặc sắc và hấp dẫn
du lịch. Hàng năm, du khách thập phương hành hương đến với cửa Phật ngày càng
nhiều; nhiều hoạt động đón tiếp và phục vụ du khách ngày càng tốt hơn, chu đáo hơn.
Với sự đóng góp tích cực của các tăng ny, phật tử mà hoạt động du lịch ngày càng
hoàn thiện cả về khía cạnh người cung cấp dịch vụ và cả đối với du khách tiếp nhận
được những giá trị tinh hoa từ văn hóa Phật giáo mang lại. Sản phẩm du lịch độc đáo
về văn hóa tâm linh gắn với Phật giáo do vậy đang hình thành rõ nét và sẽ góp phần
tích cực vào việc hình thành và định vị thương hiệu du lịch Việt Nam./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dương Văn Sáu (2004), Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, NXB Đại học
Văn hóa Hà Nội, Hà Nội.
2. Dương Văn Sáu (2004), Di tích lịch sử văn hóa và Danh thắng Việt Nam,, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
3. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Trẻ, Hồ Chí
Minh.
4. Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, NXB Trẻ,
TP. HCM.
5. Trần Quốc Vượng (2001), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
6. Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2011, Chiến lược phát triển du
lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.



×