Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN VÀO CÔNG TÁC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (229.91 KB, 26 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Hồng Mơ

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀO CÔNG TÁC ĐỔI
MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN
ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Hồng Mơ

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀO CÔNG TÁC ĐỔI
MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN
ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Địa lý học
Mã số: 60 31 05 01

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
GIẢNG VIÊN:


PGS. TS. Nguyễn Ngọc Khá
TS. Nguyễn Chương Nhiếp

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016


MỤC LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

TỪ VIẾT TẮT

TỪ ĐẦY ĐỦ

1

GV

Giáo viên

2

HS

Học sinh

3


PPDH

Phương pháp dạy học


LỜI MỞ ĐẦU
Ra đời trong hoàn cảnh cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản diễn ra mạnh mẽ, triết
học Mác – Lê-nin đã thực sự tạo nên bước ngoặc mang tính cách mạng trong lịch sử
nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là “kim
chỉ Nam” và là “vũ khí tinh thần” vững chắc của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động trên toàn thế giới. Nhờ có chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh soi đường, dân tộc ta đã giành thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc chiến tranh
giành độc lập dân tộc. Những tư tưởng ấy, cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Một trong những nội dung tư tưởng quan trọng của triết học Mác – Lê-nin chính
là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, mà Đảng và Nhà nước ta đã và
đang vận dụng trên con đường xây dựng và đổi mới đất nước, trong đó có giáo dục
và đào tạo. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong công tác
giáo dục và đào tạo là yêu cầu cần thiết, nhằm đảm bảo xây dựng một nền giáo dục
vững mạnh, đào tạo ra một đội ngũ trí thức và nguồn nhân lực đáp ứng được nhu
cầu phát triển của đất nước trong thời đại công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
Trong những năm qua, công tác giảng dạy ở trường trung học phổ thông nói
chung và môn Địa lý nói riêng đã có những bước tiến đáng kể. Việc vận dụng
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn luôn là một trong những vẫn quan
trọng, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, nhằm đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn trên cơ sở đảm bảo tính khoa học, cung cấp cho học sinh những kiến thức
cần thiết để trở thành một công dân có ích cho xã hội.
Với vai trò là một người giáo viên phụ trách bộ môn Địa lý, và là công dân của
chế độ xã hội chủ nghĩa, muốn tìm hiểu rõ hơn về việc vận dụng nguyên tắc trên
trong công tác giảng dạy, tác giả đã nghiên cứu đề tài “Vận dụng nguyên tắc thống

nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin vào công tác đổi mới
phương pháp giảng dạy môn Địa lý ở trường phổ thông”. Thông qua đề tài, tác giả
muốn đem đến cái nhìn tổng quan nhất về thực trạng dạy học môn Địa lý và việc
vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy môn Địa
lý ở trường phổ thông, từ đó rút ra những kinh nghiệm quý báo cho bản thân trong
hoạt động chuyên môn để trở thành người giáo viên giỏi, góp phần vào sự nghiệp
giáo dục chung của nước nhà.
Nội dung đề tài gồm 2 chương chính:
- Chương 1 gồm cơ sở lý luận về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong triết học Mác – Lê-nin.

5


- Chương 2 bàn về việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong việc giảng dạy môn Địa lý ở trường phổ thông, và một số kết luận, kiến nghị.
Do thời gian nghiên cứu và phạm vi kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi
những thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của mọi người để đề tài được hoàn thiện
hơn. Xin chân thành cảm ơn!

6


CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊ-NIN
I. PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ PHẠM TRÙ LÝ LUẬN
1. Phạm trù thực tiễn
Thực tiễn là một trong những phạm trù cơ bản, nền tảng của triết học Mác-Lênin,
tuy nhiên trong lịch sử triết học không phải mọi trào lưu đều có quan niệm đúng đắn
về phạm trù này.

1.1. Một số quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước Mác
Với các nhà triết học theo chủ nghĩa duy tâm, họ coi thực tiễn như là một hoạt
động tinh thần, sáng tạo ra thế giới con người, chứ không xem thực tiễn là một hoạt
động vật chất, là hoạt động lịch sử xã hội. Heghen, nhà triết học duy tâm Đức cuối
thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đã có một số tư tưởng hợp lý sâu sắc về thực tiễn, tuy
nhiên ông chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ở hoạt động tư tưởng và một “suy lý
logic”.
Chủ nghĩa duy vật trước mác, mặc dù đã nhìn nhận thực tiễn dưới vai trò là hoạt
động vật chất, tuy nhiên vẫn mắc phải khuyết điểm là chưa thấy hết vai trò của thực
tiễn đối với nhận thức. Nhà triết học duy vật Anh, Ph.Bêcơn, người đặt nền móng
cho chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỉ XVII – XVIII, được xem là người đầu tiên
thấy được vai trò của thực tiễn. Tuy nhiên, ông cùng với nhà triết học Đ.Điđơrô…
chỉ đề cao vai trò của thực nghiệm khoa học, chưa đề cập đến vai trò của các hình
thức khác của thực tiễn đối với nhận thức.
L.Phoiơbăc, nhà triết học duy vật Đức thế kỉ XIX, đã đề cập đến thực tiễn, nhưng
ông chỉ coi lý luận mới là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét
ở khía cạnh biểu hiện là con buôn bẩn thỉu mà thôi.
1.2. Quan điểm của triết học Mác- Lênin về thực tiễn
1.2.1. Khái niệm thực tiễn
Khi đánh giá nhận thức về thực tiễn của các nhà triết học duy vật trong lịch sử,
C.Mác cho rằng khuyết điểm chủ yếu của quan điểm triết học trước đây là “sự vật,
hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhìn nhận dưới hình thức khách thể hay hình
thức trực quan chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là
thực tiễn” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.3,
tr.9)

C.Mác và Ph.Ăngghen đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạng trong triết
học nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng, với việc đưa phạm trù thực tiễn
7



vào lý luận nhận thức. Bằng cách khắc phục những yếu tố sai lầm, kế thừa và phát
triển sáng tạo những yếu tố hợp lý trong những quan niệm về thực tiễn của các nhà
triết học trước đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra một quan
niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như
đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Lênin nhấn mạnh: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ
nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”
Như vậy, thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích mang tính
xã hội - lịch sử của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người.
1.2.2. Đặc điểm của thực tiễn
Là một phạm trù triết học nền tảng, thực tiễn có những đặc điểm sau:
- Thực tiễn là hoạt động vật chất
Hoạt động con người bao gồm hai hình thức cơ bản là hoạt động vật chất và hoạt
động tinh thần. Trong đó, thực tiễn được xem là hoạt động vật chất, hay nói theo
thuật ngữ của Mác là hoạt động “cảm tính” của con người. Khác với hoạt động tư
duy, trong hoạt động vật chất, con người sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất,
sức mạnh vật chất của mình tác động vào tự nhiên, xã hội để cải tạo, biến đổi chúng
phù hợp với nhu cầu của mình. Bằng hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi
bản thân sự vật trong hiện thực, từ đó làm cơ sở để biến đổi hình ảnh của sự vật
trong nhận thức.
- Thực tiễn là hoạt động mang tính lịch sử, cụ thể
Về nội dung, đối tượng, mục đích cũng như phương thức thực hiện, thực tiễn có
tính chất lịch sử - xã hội. Mỗi hoạt động của con người đều diễn ra trong một giai
đoạn lịch sử nhất định. Thực tiễn cũng có quá trình hình thành, vận động và phát
triển của nó. Hoạt động thực tiễn có thể kết thúc hoặc được thay thế bằng một hoạt
động khác trong lịch sử phát triển, không có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh
viễn. Trình độ phát triển của thực tiễn cũng nói lên trình độ chinh phục giới tự
nhiên, trình độ làm chủ xã hội của con người.
- Thực tiễn là hoạt động mang tính xã hội sâu sắc

Thực tiễn là một hoạt động có tính chất cộng đồng, không phải chỉ là hoạt động
của một vài cá nhân riêng lẻ, của một nhóm người, mà là hoạt động của đông đảo
quần chúng nhân dân trong xã hội. Hoạt động thực tiễn của con người phải thông
qua từng cá nhân nhưng không thể tách rời các quan hệ xã hội, được thực hiện trong
cộng đồng, do cộng đồng , vì cộng đồng.

8


- Thực tiễn là hoạt động mang tính tất yếu, nhưng là tất yếu có ý thức
Bằng hoạt động thực tiễn, trước hết là sản xuất vật chất, con người và xã hội loài
người được cung cấp những nhu cầu thiết yếu để tồn tại và phát triển. Hoạt động
thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, đặc trưng cho con người. Nếu động
vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới
bên ngoài, thì con người nhờ vào thực tiễn – như là một hoạt động có ý thức, ý thức
về đối tượng, ý thức về phương pháp và nhất là ý thức về mục đích. Mục đích của
thực tiễn là cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con
người, giúp con người thích nghi một cách có chủ động, tích cực với thế giới và để
làm chủ thế giới.
1.2.3. Các hình thức cơ bản của thực tiễn
Thực tiễn có cấu trúc phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố và nhiều dạng hoạt động.
Bất kỳ quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng gồm các yếu tố như nhu cầu, lợi ích,
mục đích phương tiện và kết quả. Các yếu tố đó liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau
mà nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể diễn ra được. Thực tiễn biểu
hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ
bản
- Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực
tiễn. Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác
động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải và các điều kiện thiết yếu nhằm
duy trì sự tồn tại và phát triển của mình và xã hội.

- Hoạt động chính trị-xã hội là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính
trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm
địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng
đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
- Thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của thực tiễn. Đây là hoạt
động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần giống, giống
hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật
biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu. Dạng hoạt động thực tiễn này ngày
càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời
kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng
khác nhau, không thể thay thế được cho nhau song giữa chúng có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất
9


vật chất là hoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động
khác. Ngược lại, hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học có tác động
kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển.
Đồng thời, trên cơ sở những hình thức cơ bản, những hình thức khác, không cơ
bản của thực tiễn được hình thành, chúng là các hình thức thực tiễn phát sinh ngay
trong các hình thức cơ bản. Đó là mặt thực tiễn của các hoạt động trong một số lĩnh
vực như đạo đức, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo, ...
2. Phạm trù lý luận
Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh những
mối liên hệ bản chất, những quy luật của các sự vật, hiện tượng.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người,
là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”.
Để hình thành lý luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh
nghiệm. Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại diễn biến của

các sự vật hiện tượng. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm.
Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh
nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở trình độ thấp
nhưng nó là cơ sở để hình thành lý luận. Như vậy, quá trình hình thành lý luận là
một quá trình đi từ thấp đến cao, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
nhận thức kinh nghiệm đến nhận thức lý luận, từ giả thuyết đến lý thuyết (lý luận).
Lý luận là kết quả của quá trình phát triển cao, là trình độ cao của nhận thức.
Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó, có
thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý luận triết học:
-

-

Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một
ngành. Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động của
ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật…
Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và con người,
là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người.
II. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người luôn tác động đến thế
giới khách quan, cải biến giới tự nhiên và xã hội bằng thực tiễn. Trong quá trình đó,
luôn có sự thống nhất biện chứng giữa thực tiễn và lý luận:
1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận
hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
10


1.1. Thực tiễn là cơ sở của lý luận
Lý luận là kết quả của quá trình khái quát kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn của

con người và nâng chúng lên một trình độ mới. Thông qua kết quả của hoạt động
thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính
chất và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn
để hình thành lý luận. Thực tiễn cũng là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh các lý luận
đã được khái quát. Lý luận phải lấy thực tiễn làm cơ sở, nếu đứng ngoài thực tiễn sẽ
không có lý luận khoa học. Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy
sinh những vấn đề mới và đề ra những nhiệm vụ mới, đòi hỏi quá trình nhận thức
phải tiếp tục giải quyết. Từ đó, lý luận được bổ sung và ngày càng mở rộng. Chính
vì vậy, V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu
của nó, trong những quan hệ toàn diện cuả nó, trong sự vận động mâu thuẫn cuả nó
tự nó và vì nó”
1.2. Thực tiễn là động lực của lý luận
Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà
còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội.
Trong quá trình này, lý luận trở thành phương pháp, định hướng cho hoạt động thực
tiễn, đáp ứng được nhu cầu và mang lại lợi ích cho con người. Khi nhu cầu con
người được thỏa mãn, càng kích thích cho con người bám sát thực tiễn để khái quát
thành lý luận. Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm
cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn. Nhờ vậy, hoạt động của
con người không bị hạn chế trong không gian và thời gian. Ngoài ra, hoạt động thực
tiễn cũng không ngừng biến đổi và phát sinh các mâu thuẫn, đòi hỏi phải phát triển
lý luận để giải quyết. Hoạt động thực tiễn cũng tạo điều kiện để lý luận phát triển,
bằng việc tạo ra các phương tiện kĩ thuật hiện đại phục vụ việc nghiên cứu lý luận.
Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của một ngành khoa học
mới– khoa học lý luận.
1.3. Thực tiễn là mục đích của lý luận
Lý luận trước hết cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để đáp ứng những
nhu cầu hiểu biết của con người. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tri
thức, mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao những hoạt động của con người
trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng

cao của cá nhân và xã hội. Bản thân lý luận không thể tạo ra những sản phẩm để
đáp ứng nhu cầu của con người. Những sản phẩm đó chỉ được thực hiện trong hoạt
11


động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất. Hoạt động thực tiễn sẽ tác động vào
tự nhiên và xã hội, biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người. Như
vậy, mục đích thực chất của lý luận là giải quyết các vấn đề thực tiễn, đáp ứng nhu
cầu hoạt động thực tiễn của con người.
1.4. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
Chân lý là tri thức của con người về thế giới khách quan có nội dung phù hợp với
thế giới đó và đã được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn. Đó cũng chính là giá trị
phương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con người. Do đó mọi lý
luận cần phải được thực tiễn kiểm nghiệm. Chính vì thế mà C. Mác nói : “vấn đề để
tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến chân lý của khách quan không
hoàn toàn không phải vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực
tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Thông qua thực tiễn, những lý luận
đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại, những kết luận
chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại. Giá trị
của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn. Tuy thực
tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu
chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến
mức toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình
tồn tại, hoạt động, phát triển và chuyển hóa trong một lịch sử lâu dài. Đó là chu kỳ
tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Nếu lý luận
không khái quát hết các giai đoạn phát triển của thực tiễn thì lý luận có thể mang
tính phiến diện, xa rời thực tiễn. Do đó, chỉ những lý luận nào phản ánh được tính
toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý. Chính vì vậy mà V.I.Lênin cho
rằng :“Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được in vào ý thức
của con người bằng những hình tượng logic. Những hình tượng này có tính vững

chắc của một thiên khiến, có một tính chất công lý, chính vì sự lặp đi lặp lại hàng
nghìn triệu lần ấy”
2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vân dụng
vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng
mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện. Lý luận còn giúp
con người hiểu rõ bản chất, quy luật vận động, xu thế và dự báo được khả năng phát
triển của sự vật, hiện tượng cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được
những rủi ro đã xảy ra, những hạn chế những thất bại có thể có trong quá trình hoạt
động. Như vậy, lý luận không chỉ tạo ra hiệu quả trong hoạt động của con người mà
12


còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và nâng cao năng lực hoạt động của con
người.
Mặt khác, lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá nhân
thành cộng đồng tạo thành sức mạnh vô cùng to lớn của quần chúng trong cải tạo tự
nhiên và cải tạo xã hội. Chính vì vậy, C. Mác đã cho rằng: “Vũ khí của sự phê phán
cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có
thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”. Nói
về vai trò của lý luận trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
“Lý luận quan trọng đối với Đảng như thế nào? Lênin, người thầy vĩ đại của chúng
ta đã tóm tắt tầm quan trọng của lý luận trong mấy câu như sau: “Không có lý luận
cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và chỉ có Đảng nào có lý luận tiên
phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiên phong” (Hồ Chí
Minh, Toàn tập, tập 8, tr 495)
Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, song nó còn mang tính lịch sử, cụ thể.
Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta còn phân tích mỗi tình hình cụ thể. Nếu vận
dụng lý luận máy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những hiểu sai giá trị của lý
luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa

lý luận và thực tiễn.
Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của
con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa
dạng nhưng cũng có tính quy luật của nó. Tính quy luật của thực tiễn được khái
quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn
định hướng cho hoạt động thực tiễn về mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định
hướng giải quyết các mối quan hệ và định hướng mô hình của hoạt động thực tiễn.
Do đó, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, phục vụ thực tiễn và không ngừng
được bổ sung, phát triển trong thực tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn,
trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau
của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến các mối quan hệ, lực lượng tiến hành
và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích
cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Lý luận tuy là
logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với thực tiễn, vì thực tiễn luôn luôn
vận động và không ngừng biến đổi. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta
phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm
khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Khi vận
dụng lý luận vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả có thể không, hoặc kết
quả chưa rõ ràng. Trong trường hợp đó, giá trị của lý luận phải do thực tiễn quy
13


định. Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn.
Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn lý luận, vì nó có ưu điểm không những
của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”.

14


CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÝ Ở
TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Một số vấn đề lý luận về phương pháp dạy học Địa lý và đổi mới phương
pháp dạy học Địa lý
1.1. Phương pháp dạy học Địa lý
Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: “Methodos”, có nghĩa là con
đường, cách thức vận động của một sự vật, hiện tượng.
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ (2005), phương pháp dạy học được hiểu theo nghĩa
chung nhất là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học.
Hay nói cách khác, phương pháp dạy học (PPDH) là tổng hợp các cách thức làm
việc phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chỉ đạo, trò
đóng vai trò tích cực chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
PPDH bao giờ cũng gắn với việc dạy một tri thức nhất định hoặc một hoạt động
trí tuệ và thực hành nhất định. Bên cạnh đó phương pháp dạy học cũng gắn liền với
một hoặc nhiều phương tiện dạy học nhất định. Vì vậy, mỗi bộ môn với những nội
dung và phương tiện dạy học khác nhau sẽ có PPDH đặc trưng của bộ môn đó
(PPDH bộ môn).
Đối với bộ môn Địa lý, do có nhiều nội dung khác nhau về Địa lý tự nhiên và Địa
lý kinh tế xã hội nên đã hành thành các phương pháp dạy học đặc trưng của từng
nội dung như: PPDH Địa lý tự nhiên, PPDH Địa lý kinh tế - xã hội…Ngoài ra, do
đặc điểm nội dung của môn Địa lý luôn gắn với bản dồ và các quan sát trên thực tế
nên PPDH cũng có sự khác biệt khá rõ rệt so với PPDH của các bộ môn khác. Các
PPDH đặc trưng của môn Địa lý bao gồm: phương pháp bản đồ, phương pháp phân
tích số liệu thống kê kinh tế theo lãnh thổ, phương pháp thực địa…
Nhìn chung, phương pháp sử dụng trong giảng dạy môn Địa lý thường được
phân thành ba nhóm, theo ba nguồn tri thức gồm:
- Nhóm phương pháp dùng lời: Mục đích của nhóm phương pháp này là mô tả,
kể hoặc ghi chép lại những sự vật, hiện tượng, quá trình Địa lý xảy ra trên các lãnh
thổ khác nhau ở khắp nơi trên Trái Đất. Bao gồm các phương pháp như: giảng giải,

giảng thuật, diễn giảng, đàm thoại…

15


- Nhóm phương pháp trực quan: Bằng việc sử dụng các tranh ảnh, bản đồ, mô
hình v.v…giúp học sinh (HS) có thể hình dung được các sự vật, hiện tượng địa lý
mà các em không có điều kiện quan sát trực tiếp.
- Nhóm phương pháp thực tiễn: dựa vào việc quan sát trực tiếp các đối tượng địa
lý ngoài thực địa.
Ba nhóm phương pháp trên đã được sử dụng từ lâu trong quá trình dạy học bộ
môn Địa lý ở trường phổ thông và đã trở thành các phương pháp truyền thống, cho
đến nay vẫn còn được sử dụng phổ biến.
Trong những năm gần đây, cùng với những tiến bộ của lý luận dạy học, các
phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Địa lý nói riêng đã có
nhiều sự thay đổi theo hướng tích cực, quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển tư
duy cho HS.
1.2.

Vai trò và tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lý
Trong suốt một thời gian dài, giáo viên (GV) được trang bị PPDH theo phương
thức truyền thống – truyền thụ kiến thức. Với phương pháp giảng dạy này học sinh
chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, thiếu tính độc, sáng tạo trong quá trình
học tập.
Theo quan điểm dạy học hiện đại, dạy học là một quá trình tương tác giữa các
chủ thể GV – HS, HS – HS, HS - GV, HS với những người hiểu biết hơn. Trong đó,
“học” là hoạt động trung tâm, và “người học” – đối tượng của hoạt động “dạy”,
đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào trong các hoạt động
học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, HS tự tìm ra và khám phá kiến
thức. Muốn đạt được điều đó, nhất thiết phải đổi mới PPDH để HS chủ động, tích

cực, sáng tạo trong học tập vì có như vậy, chúng ta mới khắc phục được những biểu
hiện trì trệ trong giáo dục hiện nay. Chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới có thể góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục, đưa nền giáo dục nước nhà vươn ra tầm thế
giới. Vì thế, đổi mới PPDH không chỉ còn là phong trào mà là một yêu cầu bắt buộc
đối với tất cả giáo viên.
Không nằm ngoài mục tiêu chung, việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực trong
môn Địa lý là vấn đề cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Hiện nay, phương pháp dạy
học lấy HS làm trung tâm được xem là một định hướng tích cực, thể hiện một cách
tiếp cận mới về hoạt động dạy học. Việc chuyển từ dạy học với GV làm trung tâm
sang dạy học với HS làm trung tâm cũng là xu hướng tất yếu, theo lịch sử phát triển
của phương pháp giáo dục và dạy học của nhà trường. Phương pháp này giúp cho
người học có thể phát huy được trí tuệ, tư duy của mình, bên cạnh đó bồi dưỡng cho
HS phương pháp tự học và tính tự giác, chủ động trong học tập.
16


2. Thực tiễn giảng dạy môn Địa lý phổ thông hiện nay đòi hỏi phải vận dụng
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin để
đổi mới phương pháp dạy học
Môn Địa lý trong trường phổ thông là một trong môn học không quá khó, tuy
nhiên, phần nhiều kiến thức Địa lý lại gắn liền với thực tiễn, nếu GV không có
những bài giảng và phương pháp phù hợp với thế hệ học trò thì dễ làm cho học sinh
thụ động trong việc tiếp thu kiến thức. Trong việc dạy và học môn Địa lý hiện nay,
mặc dù đã có những thay đổi đáng kể về lối tư duy và phương pháp, HS đã được
tiếp cận với những câu hỏi, bài tập theo các cấp độ từ nhận biết đến hiểu và vận
dụng; HS cũng đã biết sử dụng alat Địa lý trong việc học tập dưới sự hướng dẫn của
GV.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, đa số HS vẫn chỉ “học vẹt”, học thuộc lòng
những kiến thức thầy cô cung cấp, mà chưa thấy được ý nghĩa của chúng trong thực
tiễn đời sống.

Nhiều GV Địa lý vẫn chưa thực sự thấm nhuần tích cấp thiết, tầm quan trọng,
bản chất phương hướng của việc đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn. Một số GV còn quá chú trọng giảng dạy theo kinh nghiệm, theo lối mòn,
mà chưa quan tâm đến lý luận, cũng như những yêu cầu về đổi mới PPDH phù hợp.
Bên cạnh đó, một số GV lại quá chú trọng đổi mới PPDH theo hướng dẫn, chỉ đạo
của Bộ Giáo Dục một cách rập khuôn, giáo điều mà chưa quan tâm đến thực tiễn
dạy học của nhà trường, cũng như của bộ môn và năng lực của HS.
Đa số GV vẫn chỉ chú trọng việc giảng dạy chương trình, nội dung trong sách
giáo khoa mà xem nhẹ việc liện hệ thực tế, mở rộng kiến thức. Hình thức tổ chức
dạy học còn đơn điệu, dạy trên lớp là chủ yếu. Các hình thức dạy học gắn với thực
tế chưa được thực hiện, hoặc thực hiện chưa có hiệu quả. Có những kiến thức Địa lý
có thể giúp HS giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị
đoan, hiểu được những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng
dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông
mà không gây nhàm chán, xa lạ. Là một môn học thuộc ngành khoa học xã hội,
trong xu thế hiện nay nhiều bậc phụ huynh và các em HS có tâm lý xem nhẹ môn
Địa lý, mà chú trọng vào các môn khoa học tự nhiên. Nếu người GV không đổi mới
phương pháp giảng dạy để kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn
học thì sẽ dễ gây tâm lý chán nản và học để “đối phó” của HS. Việc đổi mới PPDH
theo hướng gắn lý luận với thực tiễn sẽ làm cho HS thấy được giá trị của môn học,

17


tăng hiệu quả tiếp thu, không còn quá nặng về lý thuyết và ngán ngẫm khi cố gắng
học thuộc lòng quá nhiều kiến thức mang tính hàn lâm, đôi khi khô khan khó nhớ.
Nhiều GV chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục. Chưa đặt ra cho mình
nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu thực tiễn về trình độ, năng lực của học sinh để
lựa chọn nội dung và PPDH phù hợp. Hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách
dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò vẫn còn phổ biến. Do phương

pháp thường đi theo lối mòn, ít có sự đổi mới mà GV đã trở thành người cảm nhận,
truyền thụ tri thức một chiều. GV nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong
quá trình lĩnh hội tri thức Địa lý.
Trong thời đại siêu công nghiệp hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, nhất
là cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật đã làm gia tăng một lượng tri thức khổng lồ
cho nhân loại, theo đó nội dung dạy học trong nhà trường cũng phải không ngừng
được cập nhật, đổi mới. Bên cạnh đó, ngày nay, nhu cầu hiểu biết của HS có xu
hướng vượt ra ngoài phạm vi nội dung, tri thức, kỹ năng do chương trình quy định.
Xu hướng này thể hiện ở chỗ HS thường chưa thỏa mãn với hệ thống tri thức được
cung cấp trong chương trình sách giáo khoa và các tài liệu học tập được quy định.
Các em luôn muốn biết nhiều hơn, hiểu sâu hơn các vấn đề đã học cũng như các tri
thức xã hội khác. Chính điều đó, đòi hỏi người GV Địa lý cũng phải không ngừng
cập nhật những kiến thức mới từ thực tiễn, để tránh lạc hậu, lỗi thời trong giảng dạy.
Từ thực tiễn dạy học, tác giả nhận thấy rằng: “phải vận dụng sự thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn để đổi mới phương pháp dạy môn Địa lý ở phổ thông” mới có
thể đảm bảo được đặc thù của môn học là gắn với thực tiễn và từ đó những lý luận
về Địa lý học mới phát huy đúng giá trị của nó. Bên cạnh đó, đảm bảo sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn cũng sẽ tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê của HS, giúp
các em hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong việc học tập môn Địa lý. Để
thực hiện được, người GV cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thức
trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù hợp với từng học
sinh ở thành thị, nông thôn …. GV cũng cần quan tâm đến tính cách, sở thích, năng
lực của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ động của HS, phải mang tính hợp lý và hài hoà; đôi lúc có khôi hài nhưng sâu
sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn Địa lý.
II.

NỘI DUNG VẬN DỤNG SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN VÀO ĐỔI MỚI CÔNG TÁC GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÝ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG


18


Để vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới
phương pháp giảng dạy môn Địa lý ở trường phổ thông, người GV cần quán triệt
những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc này, từ đó vận dụng một cách linh hoạt, có
chọn lọc trong quá trình dạy học.
1. Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới phương
pháp giảng dạy của giáo viên
Trong quá trình dạy học để hoàn thành các chức năng và mục tiêu của giáo dục,
giáo dưỡng và phát triển nhằm giúp học sinh trở thành những người phát triển toàn
diện, mỗi GV cần quán triệt quan điểm thống nhất biện chứng giữa lý luận với thực
tiễn. Đó là dạy học kết hợp với đời sống và xã hội, với sản xuất; học phải đi đối với
hành. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt
đời phải gắn liền lý luận với thực tế, không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết
hết rồi”.
Nguyên tắc dạy học kết hợp với đời sống và xã hội, là dựa trên những luận điểm
quan trọng có tính chất quy luật của học thuyết Mác – Lênin về sự thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn, về những điều kiện và nhu cầu xã hội quy định quá trình dạy
học, về tính Đảng, tính giai cấp và nội dung học tập trong nhà trường, về sự cần
thiết phải kết hợp dạy và học với các nhiệm vụ của công cuộc xây dựng xã hội chủ
nghĩa. Việc thực hiện nguyên tắc dạy học này có một ý nghĩa thế giới quan vô cùng
to lớn, vì nó tạo điều kiện nắm vững tư tưởng duy vật biện chứng về mối quan hệ
giữa khoa học với thực tiễn. Trong bất cứ môn học nào cũng phải giúp cho học sinh
thấy được nhu cầu của sản xuất và đời sống xã hội quyết định sự phát triển những
học thuyết khoa học và ngược lại các học thuyết khoa học này cũng mở ra những
triển vọng mới để hoàn thiện thực tiễn sản xuất xã hội.
Để thực hiện nguyên tắc này, trước hết GV cần suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo và
lựa chọn PPDH phù hợp với từng bài dạy, trên cơ sở gắn kiến thức trên lớp với hoạt

động thực tiễn. Muốn vậy, GV phải hình dung được kế hoạch bài dạy của mình một
cách tường tận, chi tiết. Hạn chế việc giảng giải, thuyết trình, minh hoạ, hạn chế
đưa câu hỏi vụn vặt mà nên tập hợp các câu hỏi thành những gợi ý, hướng dẫn giải
quyết một vấn đề, một nội dung tương đối trọn vẹn. Dành thời gian cho học sinh
làm việc, bằng việc cho các em thảo luận theo cặp, theo nhóm, để các em có cơ
trình bày ý kiến cá nhân của mình. Sau mỗi hoạt động đó, giáo viên cần giúp học
sinh khẳng định lại từng kiến thức cơ bản của bài.
Ngoài ra, trong quá trình lên lớp, với một số kiến thức GV có thể liên hệ thực tế,
lấy ví dụ trong thực tiễn đời sống và sản xuất để minh họa cho nội dung bài học.
19


GV còn phải lựa chọn những ví dụ có sức thuyết phục cao, minh họa việc áp dụng
một khái niệm, một quy luật khoa học vào trong các lãnh vực công nghiệp, nông
nghiệp hay trong đời sống xã hội. Đặc biệt quan trọng là phải đưa ra các ví dụ mang
tính chất điển hình, có nghĩa là phải chọn trong vô số các ví dụ, ví dụ nào là phổ
biến nhất, có ý nghĩa khái quát nhất, tổng hợp nhất, có triển vọng nhất. Việc theo
dõi các thông tin mang nội dung chính trị xã hội hay các thông tin khoa học, các
thành tựu trong lao động sản xuất sẽ giúp GV làm tốt các yêu cầu trên. GV cũng có
thể yêu cầu HS lấy ví dụ của bản thân hay bổ sung cho minh họa của GV bằng
những quan sát của các em.
Người GV nên tạo cho học sinh một vị thế mới và những tiền đề, những điều
kiện thuận lợi để hoạt động. GV không còn là nguồn cung cấp thông tin duy nhất,
không phải là người hoạt động chủ yếu ở trên lớp như trước đây mà sẽ là người tổ
chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh. GV có thể cho các một số bài tập
gắn với thực tiễn, ví dụ giải thích các kinh nghiệm sản xuất, các câu ca dao tục ngữ
của ông cha để lại như “Ráng mỡ gà có nhà thì giữ”, “Cơn đằng Đông vừa trông
vừa chạy, cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi”, …hoặc giải thích các hiện trong trong
tự nhiên như thủy triều, nhật thực, nguyệt thực, sao băng… và cho HS nhận thấy
được vai trò của các hiện tượng đó đối với đời sống xã hội. Ngoài ra, GV có thể kết

hợp các môn học khác trong quá trình giảng dạy như Vật lí trong giải thích hiện
tượng cực quang, hay thơ ca, bài hát…để làm cho tiết dạy thêm sinh động, hấp dẫn.
Ví dụ, có câu hát “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, bên nắng đốt, bên mưa vây”
GV có thể cho HS giải thích tại sao lại có hiện tượng này, khi dạy về ảnh hưởng của
địa hình đến lượng mưa của khu vực.
Trong thực tế dạy học cho chúng ta thấy sự biến đổi của thưc tiễn dạy học thể
hiện ở hai mặt: Lượng tri thức của nhân loại và khả năng nhận thức của HS. Lượng
tri thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng trong những năm cuối của thập kỷ 20 cả
về số lượng và chất lượng. Vì thế, để giảng dạy hiệu quả, GV phải lien tục cập nhật
những thong tin mới nhất, đặc biệt trong giảng dạy Địa lý kinh tế xã hội, GV cần
cập nhật những số liệu, tin tức mới nhất về tình hình kinh tế của các quốc gia để tạo
cho HS luôn cảm thấy được sự mới mẻ trong học tập, tạo cho các em hào hứng học
tập để biết được những kiến thức mới. Thay vì, GV chỉ cung cấp kiến thức và số
liệu có sẵn trong sách giáo khoa thì HS trở nên nhàm chán và không có động lực để
học trên lớp.
Về mặt phương pháp, GV cũng phải nắm bắt được tâm lý của HS thì mới có thể
thực hiện PPDH một cách hiệu quả. Xã hội ngày càng phát triển, tâm lý và nhận
thức của HS cũng có nhiều thay đổi so với trước đây. Với sự phát triển của mạng xã
20


hội, nhiều xu hướng của giới trẻ được hình thành…GV cần tìm hiểu về những xu
thế đó để có thể gần gũi hơn với HS, tạo cho các em cảm giác thân thiện và thú vị
trong lớp học và dễ dàng tiếp thu hơn.
Ngoài ra, GV có thể tổ chức các hoạt động học tập thực tế bằng việc tham quan,
khảo sát thực tế, các hoạt động ngoại khóa… trong điều kiện cho phép. Để HS có
cơ hội tìm hiểu thực tế, trực tiếp trải nghiệm thực tế trên cơ sở kiến thức học tập
trên lớp và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Góp phần hình thành cho HS
quan điểm thực tiễn trong quá trình học tập, nâng cao chất lượng dạy và học.
Tuy nhiên, việc liên hệ thực tế và lựa chọn PPDH của GV vẫn phải đảm bảo yêu

cầu về mặt kiến thức. Nội dung liên hệ và phương pháp phải gắn với nội dung bài
học, đảm bảo mục tiêu của bài học, đồng thời, việc đổi mới PPDH của GV cũng cần
được chỉ đạo bởi những lý luận, những nguyên tắc chung nhất về giáo dục.
Tóm lại, việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi
mới phương pháp giảng dạy của GV là việc đưa thực tiễn vào trong giảng dạy; tìm
hiểu sự thay đổi thực tiễn từ đó hình thành nên lý luận và PPDH phù hợp, trên cơ sở
các lý luận về đổi mới PPDH.
2. Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới phương
tiện dạy học
Phương tiện dạy học là những dụng cụ, máy móc, thiết bị, vật dụng cần thiết cho
hoạt động dạy và học đạt được các mục tiêu dạy học có hiệu quả hơn.
Có thể hiểu đây các phương tiện hỗ trợ trong tiết học trên lớp nhằm làm sáng tỏ
những điều cần trình bày của GV, cung cấp kiến thức cho HS một cách trực quan,
sinh động, giúp HS dễ dàng tiếp thu kiến thức và tham gia học tập một cách chủ
động, tích cực. Như vậy, phương tiện dạy học là một trong những công cụ hỗ trợ
đắc lực cho GV trong việc gắn thực tế với lý thuyết trong giảng dạy.
Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và
phương tiện ngày càng hiện đại. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các phương tiện kỹ
thuật và máy móc hiện đại đã thâm nhập và ảnh hưởng tới mọi lĩnh vực đời sống xã
hội; mọi loại hình, ngành học, cấp học và trường lớp trong hệ thống giáo dục và đào
tạo làm chuyển biến mạnh mẽ chất lượng của cuộc sống và quá trình dạy học. Địa
lý là một môn học được xếp vào các ngành khoa học thực nghiệm, chính vì thế các
thiết bị và phương tiện dạy có vai trò và ý nghĩa rất lớn. So với thời gian trước, hiện
nay các phương tiện dạy học Địa lý đã phát triển và có khá nhiều loại, bao gồm cả
các phương tiện truyền thống và phương tiện hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc giảng dạy bộ môn như: phòng bộ môn Địa lý, vườn địa lý, máy móc, dụng cụ,
21


bản đồ, tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, projector, máy vi tính…Các phương tiện dạy

học Địa lý đảm nhận hai chức năng chủ yếu là “minh họa” và “nguồn tri thức”,
cùng với sự đổi mới phương pháp dạy học với HS là trung tâm thì chức năng nguồn
tri thức của các phương tiện này càng thể hiện đậm nét.
Đặc thù của môn Địa lý là môn học tìm hiểu kiến thức trên một phạm vi rộng
lớn, GV và HS không thể trực tiếp trải nghiệm thực tế. Chính vì thế, các phương
tiện dạy học giúp GV đưa thực tế đến gần với HS bằng hình ảnh, video…Thay vì,
chỉ dùng lời thì các phương tiện này sẽ giúp tiết dạy trở nên sinh động, thu hút hơn.
Hơn nữa, ở các trường học của Việt Nam hiện nay đã và đang được quan tâm đầu
tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, vật chất, phương tiện kỹ thuật theo hướng hiện đại nhằm
phục vụ cho công cuộc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học. Trước xu hướng
dó, yêu cầu người GV nói chung và GV Địa lý nói riêng phải tăng cường nâng cao
trình độ sử dụng các điều kiện và PTDH để tránh tình trạng lãng phí hoặc sử dụng
PTDH kém hiệu quả.
3. Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới phương
pháp tiếp thu của học sinh
Quá trình dạy học là sự tương tác đồng thời giữa GV và HS, chính vì vậy, muốn
quá trình dạy học đem lại hiệu quả, ngoài sự đổi mới về phương pháp giảng dạy của
GV thì việc đổi mới phương pháp tiếp thu hay phương pháp học tập của HS cũng
không kém phần quan trọng.
Chính vì vậy, trong việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong dạy học môn Địa lý, HS cũng cần được quán triệt những yêu cầu của nguyên
tắc này, nhằm tạo nên sự phối hợp đồng bộ giữa thầy và trò trong quá trình dạy học.
Bản thân HS phải thấm nhuần tư tưởng của triết học Mác – Lênin về lý luận và thực
tiễn để trang bị cho mình hệ thống lý luận làm cơ sở để vận dụng vào quá trình học
tập.
Theo cách truyền thống HS tiếp nhận kiến thức một chiều từ GV truyền tải một
cách khuôn sáo, máy móc. Khi đó, HS chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết, và sau một
thời gian ngắn các em sẽ quên đi những kiến thức đã học. Chính vì thế, đến mỗi khi
kiểm tra hay các kì thi quan trọng các em đều phải tập trung dồn rất nhiều thời gian
và sức lực vào để “nhồi nhét” tất cả những gì đã học vào trong đầu, làm cho việc

học đối với các em rất nặng nề và áp lực. Hơn bao giờ hết, HS cùng với GV phải
thay đổi phương pháp tiếp thu của HS, không chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết mà
phải cho các em hiểu được bản chất của vấn đề và vận dụng chúng vào trong cuộc
sống. Muốn vậy, GV phải tạo điều kiện và bản thân HS phải tự giác, tích cực trong
22


việc đưa thực tiễn vào trong bài học và vận dụng kiến thức vào trong đời sống. Với
phương châm: “nghe thì quên, nhìn thì nhớ, làm mới hiểu”, phải để HS chủ động,
tích cực trong việc học, làm quen dần với việc tự học, tự khám phá kiến thức. Có
như vậy, các em mới nắm vững những kiến thức được học, không ghi nhớ kiến thức
một cách máy móc, từ đó giúp cho việc học trở nên nhẹ nhàng hơn, HS cũng có
được hứng thú hơn trong việc học môn Địa lý.
Bên cạnh đó, HS cần biết rõ mục đích, yêu cầu của giờ học về kiến thức, kỹ năng
Địa lý và những thao tác tư duy cần vận dụng; dành thời gian thích đáng để tự làm
việc với sách giáo khoa (kênh chữ, kênh hình) tập bản đồ và các nguồn cung cấp
kiến thức khác dưới sự hướng dẫn của GV; rèn luyên kỹ năng làm việc độc lập, làm
việc theo nhóm, hợp tác với bạn để hoàn thành nhiệm vụ GV giao cho. Thông qua
quá trình hoạt động nhóm, HS có cơ hội trao đổi ý kiến lẫn nhau, giúp các em nhìn
nhận vấn đề với nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau, tránh được tư duy phiến
diện, một chiều. Ngoài ra, cần rèn luyện cho HS tư duy phản biện, mạnh dạn trình
bày ý kiến cá nhân, những vấn đề còn khúc mắc, chưa nắm vững… để GV giải
thích hoặc cùng cả lớp giải quyết. Từ đó, có thể hình thành nên kiến thức, thông qua
đó các vấn đề cũng được giải quyết một cách thấu đáo, HS cũng nắm vững kiến
thức hơn. Một tiết học mà HS đóng vai trò chủ đạo và hoạt động tích cực sẽ giúp
cho tiết học trở nên sinh động và lôi cuốn hơn; tuy nhiên, do nhiều HS, đặc biệt là
HS ở vùng sâu,vùng xa chưa có điều kiện tiếp xúc với những phương pháp hiện đại,
các em đã quen với phương pháp tiếp thu truyền thống, nên GV cũng cần căn cứ
vào tình hình cụ thể mà vận dụng lý luận về các biện pháp đổi mới PPDH một cách
từ từ, nhe nhàng, để HS tập quen dần với phương pháp hiện đại, từ đó nâng cao hiệu

quả dạy và học.

23


KẾT LUẬN
Để có được một tiết dạy hiệu quả, sinh động, thu hút được HS luôn là niềm trăn
trở và mục tiêu hướng tới của nhiều GV nói chung và GV Địa lý nói riêng có tâm
huyết với nghề. Để thực hiện được mục tiêu ấy, không phải là việc dễ dàng, trong
đó PPDH là vấn đề quan trọng nhất mà mỗi GV cần quan tâm để trang bị cho bản
thân trong sự nghiệp giảng dạy. Việc đổi mới PPDH không thôi chưa đủ, mà phải
đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì quá trình dạy học mới
thực sự đem lại hiệu quả. Để thực hiện nguyên tắc này, cả GV và HS đều cần phải
trang bị hệ thống lý luận cơ bản về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Chỉ khi có được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa lý thuyết và thực hành
thì việc giảng dạy môn Địa lý mới thực sự có giá trị và thực hiện đúng mục tiêu của
môn học. Người GV phải nhận thức rõ vai trò là người “thắp sáng ngọn lửa” chủ
động lĩnh hội tri thức trong từng HS.
Trong nội dung đề tài này, tác giả đã khái quát một số vấn đề lý luận về nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, về PPDH Địa lý cũng như thực trạng dạy
học Địa lý ở trường phổ thông; đồng thời, đề xuất những nội dung cần vận dụng
nguyên tắc này trong quá trình giảng dạy, với một số vấn đề xung quanh cuộc sống,
thậm chí có thể gặp, tiếp xúc hàng ngày. Tác giả hy vọng đây là vấn đề gợi mở ra
một quan niệm trong dạy học Địa lý, mặc dù trong đề tài này tác giả có thể không
đề cập mọi hiện tượng có liên quan.
Với thực trạng học Địa lý và yêu cầu đổi mới PPDH, có thể coi đây là một quan
điểm của tác giả đóng góp ý kiến vào việc nâng cao chất lượng dạy học Địa lý trong
thời kỳ mới.

24



TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Đặng Văn Đức (2006), Lí luận dạy học Địa lí phần đại cương, NXB Đại Học
Sư Phạm, Hà Nội.
[2]. Đặng Văn Đức, Nguyễn Thu Hằng (2003), Phương pháp dạy học địa lí theo
hướng tích cực, NXB Đại Học Sư Phạm, Hà Nội.
[3]. Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Hữu Vui và nhóm tác giả (2006), Giáo trình Triết
học Mác - Lênin (Dùng trong các trường cao đẳng, đại học), NXB Chính trị
quốc gia.
[4]. Viện Địa Lý (Viện Hàn Lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam), Hội thảo khoa
học “Các vấn đề trong nghiên cứu và giảng dạy địa lý”, 13/09/2013.
/>[5]. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường,
NXB Đại Học Sư Phạm, Hà Nội.
[6]. Lê Hoàng Sơn, Đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lý ở trường THPT theo
phương pháp dạy học tích cực.
/>[7]. Đoàn Quang Thọ và nhóm tác giả (2010), Giáo trình Triết học (Dùng cho học
viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), NXB
Chính trị - Hành chính.

25


×