Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (77.34 KB, 11 trang )

Điều kiêên khởi kiêên vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiê ên pháp luâêt về
vấn đề này.
A. MỞ BÀI
Điều 50 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam quy định rằng: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và
xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy
đinh trong Hiến pháp và Luật”. Quyền công dân được bảo đảm
bằng sự cưỡng chế của Nhà nước. Để bảo hộ cho các quyền dân sự
của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều biện pháp, cách bảo vệ
khác nhau, nhưng đặc biệt có biện pháp khởi kiện vụ án dân sự
theo trình tự tố tụng dân sự. Trong bài tập học kì, em xin trình bày
vấn đề: “Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện
pháp luật về vấn đề này.”
B. THÂN BÀI
1. Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự:
Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các
chủ thể khác có quyền dân sự bị xâm phạm có quyền khởi kiện vụ
án dân sự để yêu cầu tòa án có thẩm quyền buộc người có hành vi
xâm phạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi trái pháp luật
hoặc phải bổi thường thiệt hại hoặc phải chịu chế tài phạt vi
phạm…Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi
kiện của các chủ thể. Điều 161 BLTTDS không chỉ ghi nhận quyền
khởi kiện dân sự mà còn quy định các điều kiện về thủ tục khởi
kiện, yêu cầu khởi
kiện.


a. Về chủ thể khởi kiện:
Điều 161 BLTTDS quy định:“Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự
mình hoặc thông qua người đại diện hợp phá kiện vụ án (sau đây


gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Chủ thể khởi kiện vụ
án dân sự là các chủ thể theo quy định của pháp luật được tham
giam vào quan hệ pháp luật TTDS. Các chủ thể này bao gồm cá
nhân, cơ quan hoặc tổ chức đáp ứng được những điều kiện do
pháp luật quy định. Cá nhân khi khởi kiện vụ án dân sự phải có
năng lực hành vi TTDS đồng thời phải có quyền lợi bị xâm phạm.
Đối với những cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng mà có
quyền lợi cần phải được bảo vệ thì họ không thể tự mình khởi kiện
vụ án được mà phải do người đại diện thay mặt để thực hiện việc
khởi kiện vụ án. Pháp luật cũng đòi hỏi cá nhân khi khởi kiện vụ án
dân sự phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều
161 BLTTDS). Quy định này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tự
định đoạt trong TTDS, nó không cho phép người không phải là chủ
thể của quan hệ pháp luật lợi dụng quyền khởi kiện để rồi lại xâm
phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Cá nhân khi đã
có năng lực chủ thể đầy đủ thì có thể tự mình khởi kiện hoặc làm
giấy ủy quyền cho một người khác có năng lực hành vi thay mặt
mình khởi kiện, trừ việc ly hôn.
Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình hoặc của người khác. Các cơ quan, tổ chức khởi
kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình


trong trường hợp bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Ngoài ra, các cơ
quan, tổ chức còn khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của người khác theo quy định của pháp luật. Ngoài
những trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác được khởi
kiện những vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định tại các
Điều 55, Điều 66 LHN&GĐ, BLTTDS còn quy định các cơ quan, tổ

chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền
khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng,
lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách (Điều 162). Để
có nhận thức thống nhất về các loại cơ quan, tổ chức được khởi
kiện vụ án dân sự cần có sự phân biệt như sau:
- Các bộ phận, đơn vị, văn phòng đại diện của các cơ quan nhà
nước thực hiện nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, phụ thuộc vào các
cơ quan nhà nước không phải là pháp nhân, không có quyền khởi
kiện vụ án dân sự.
- Các tổ chức quy định trong Điều 1 BLTTDS bao gồm các tổ chức
có tư cách pháp nhân và các tổ chức không có tư cách pháp nhân.
Các tổ chức không có tư cách pháp nhân được khởi kiện vụ án dân
sự phải là những tổ chức được pháp luật quy định có quyền tham
gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
b. Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền của Tòa án:
Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự đối với những tranh chấp thuộc
thẩm quyền giải quyết của mình. Việc xác định thẩm quyền là một
điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động bình thường và hợp
lý của bộ máy nhà nước. Đồng thời việc phân định thẩm quyền
giữa các Tòa án cũng góp phần cho các Tòa án thực hiện đúng


nhiệm vụ của mình và người dân dễ dàng thực hiện quyền khởi
kiện. Thẩm quyền của Tòa án được xác định một cách chính xác sẽ
tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa
án với các cơ quan nhà nước khác, giữa các Tòa án và các bộ phận
trong một Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho
các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình. Để vụ án được thụ lý, đơn khởi kiện phải gửi đến đúng
Tòa án có thẩm quyền giải quyết, xét xử. Cụ thể là:

- Vụ án mà chủ thể khởi kiện thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết
của Tòa án quy định tại các Điều 25, 27, 29 và 31 BLTTDS.
- Vụ án được khởi kiện phải đúng với cấp tòa án có thẩm quyền
quy định tại Điều 33, 34 BLTTDS.
- Vụ việc được khởi kiện đúng thẩm quyền của tòa án theo lãnh
thổ quy định tại Điều 35 BLTTDS.
- Trong trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án theo
Điều 36 BLTTDS thì yêu cầu đương sự cam kết không khởi kiện tại
các tòa án khác. Nếu do thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết thì
phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận.
- Đối với những việc pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác
gaiải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi
các cơ quan hữu quan đã giải quyết mà họ không đồng ý với việc
giải quyết của cơ quan đó.
Khi xác định thẩm quyền, Tòa án cũng phải xác định đó là loại
tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại


hay lao động để vào sổ thụ lý loại án đúng với quy định. Việc xác
định này có ý nghĩa rất lớn khi xác định các quy phạm pháp luật
nội dung để áp dụng. Chẳng hạn nếu đó là tranh chấp về hôn nhân
và gia đình sẽ áp dụng các quy định trong LHNGĐ, BLDS... Nếu là
tranh chấp lao động sẽ áp dụng BLLĐ...
c. Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện:
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các chủ thể có quyền khởi kiện
được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động để bảo vệ
quyền lợi ích bị xâm phạm. Hết thời hạn đó thì chủ thể khởi kiện
mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Theo quy định tại Điều 160 BLDS năm 2005, riêng đối với yêu cầu

hoàn trả tài sản thuộc sở hữu nhà nước; yêu cầu bảo vệ quyền
nhân thân thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Quy định thời
hiệu khởi kiện góp phần quan trọng vào việc ổn định các quan hệ
kinh tế – xã hội, hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện. Tùy thuộc
vào tính chất của mỗi loại tranh chấp pháp luật quy định thời hiệu.
Trên thực tế có nhiều nguyên nhân khách quan mà việc khởi kiện
không được thực hiện trong thời hạn quy định. Để đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của họ, pháp luật quy định không tính vào thời
hiệu khởi kiện khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng; trở
ngại khách quan; người có quyền khởi kiện chưa thành niên, bị
mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
mà chưa có người đại diện; người đại diện của họ bị chết mà chưa
có người thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp
tục đại diện (Điều 161 BLTTDS 2004)


Thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được quy định
cụ thể trong BLDS năm 2005, Luật Thương mại năm 2005, Luật
sửa đổi bổ sung một số điều của BLLĐ năm 2006. Theo Điều 159
BLTTDS đối với những tranh chấp mà trong văn bản quy phạm
pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì áp dụng quy định
tại khoản 3 Điều này “thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
các vụ án dân sự là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà
nước bị xâm phạm”.
d. Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết
định có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp có quy
định khác của pháp luật:

Nếu sự việc đã được tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
của Việt Nam giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có
hiệu lực pháp luật thì đương sự không được khởi kiện lại đối với vụ
án đó nữa, trừ các trường hợp sau đây:
- Bản án, quyết định của tòa án bác đơn xin ly hôn;
- Yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi
thường thiệt hại;
- Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho
mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ
điều kiện khởi kiện.


- Các trường hợp khác pháp luật quy định.
Ngoài ra, trường hợp Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
theo quy định tại điểm c, e và g khoản 1 Điều 92 BLTTDS bao gồm:
người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc
người khởi kiện không có quyền khởi kiện; nguyên đơn được triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; đã có quyết định của
Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một
bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan
đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều
193 BLTTDS) thì đương sự có quyền khởi kiện lại.
Tòa án chỉ được thụ lý giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa
án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có
hiệu lực pháp luật. Điều kiện này nhằm đảm bảo hiệu lực của bản
án, quyết định, sự ổn định của các quan hệ xã hội, một việc đã
được giải quyết thì không giải quyết lại nữa để tránh tình trạng
chồng chéo cùng một sự việc mà nhiều cơ quan giải quyết và
tránh việc cố tình kéo dài việc khiếu kiện của
đương sự.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự:
a.Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và
tổ chức cán bộ:
- Để những quy định về quyền khởi kiện được thực thi trên thực tế,
Đảng và Nhà nước cần chú trọng đến công tác tuyên truyền, phổ
biến pháp luật cũng như hoàn thiện chế định quyền khởi kiện hiện


hành. Đối với các đương sự, nhiều người do không hiểu biết đầy đủ
quy định của pháp luật nên không thực hiện đúng được các quyền,
nghĩa vụ TTDS của họ. Trên thực tế, đã không ít trường hợp đương
sự khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự không đúng
thẩm quyền của Tòa án nên đã bị trả lại đơn khởi kiện. Trong nhiều
vụ việc dân sự, đương sự không thực hiện được đầy đủ nghĩa vụ
trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình
nên yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Trong điều kiện dân trí
nước ta còn hạn chế như hiện nay, để người dân hiểu biết pháp
luật và xác định đúng được tư cách bị đơn trong một số trường hợp
rất khó khăn. Vì vậy, cần có sự quan tâm của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cũng như các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Trên cơ sở các quy định pháp luật, chúng ta nên quan tâm hơn
nữa đến vấn đề phổ biến pháp luật ở cơ sở. Cụ thể là công tác đào
tạo đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn có năng lực cũng
như trình độ để hướng dẫn và giải đáp những thắc mắc của người
dân liên quan đến vấn đề khởi kiện, giúp cho họ thực hiện tốt
quyền khởi kiện của mình, khởi kiện đúng bị đơn theo quy định của
pháp luật. Tiếp theo là công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ
tư pháp trong bộ phận tiếp nhận hồ sơ ở Tòa án. Đây là một trong

những khâu khá quan trọng trong quá trình thực hiện quyền khởi
kiện của người dân. Có như vậy, quyền khởi kiện của người dân và
vấn đề xác định tư cách đương sự mới được thực hiện triệt để ngay
từ khâu đầu tiên là thụ lý vụ án.
- Từ thực tiễn cho thấy, việc xác định sai tư cách nguyên đơn dân
sự chủ yếu do lỗi của các Thẩm phán, không thận trọng trong việc
xác định quyền khởi kiện của người khởi kiện. Để xác định đúng


nguyên đơn trong vụ án dân sự cụ thể thì các Thẩm phán phải
nghiên cứu kĩ đơn khởi kiện cũng như các tài liệu, chứng cứ mà
người khởi kiện đưa ra để chứng minh cho yêu cầu đó của họ là có
căn cứ và hợp pháp. Qua đó đối chiếu với pháp luật nội dung để
xem xét họ có quyền khởi kiện hay không.
b.Sửa đổi, bổ sung pháp luật về điều kiện về chủ thể khởi
kiện:
- Về nguyên tắc, nguyên đơn phải là chủ thể được giả thiết có
quyền lợi bị tranh chấp hay vi phạm, ngoài ra luật thực định thừa
nhận quyền khởi kiện vụ án dân sự của các cơ quan, tổ chức trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình để bảo vệ lợi ích công
cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh mình phụ trách và tư cách
nguyên đơn của các chủ thể . Tuy nhiên, trong trường hợp cơ quan
Dân số -gia đình và trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ yêu cầu hủy hôn
nhân trái luật giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, hôn
nhân vi phạm độ tuổi hoặc chế độ một vợ, một chồng (ngay cả khi
người được bảo vệ khước từ quyền được bảo vệ) thì thực chất việc
thực hiện quyền yêu cầu của các cơ quan này là vì lợi ích của pháp
luật. Theo pháp luật hiện hành thì những chủ thể này là người đại
diện hợp pháp của đương sự chứ không phải là nguyên đơn. Do
vậy, theo em nghĩ, nên sửa đổi pháp luật theo hướng quy định các

cơ quan tổ chức khởi kiện để duy trì trật tự của pháp luật cũng
được coi là nguyên đơn dân sự.
c.Hoàn thiện điều kiện về thẩm quyền giải quyết của Tòa
án:


- Thực tiễn cho thấy do không hiểu biết về pháp luật nên tình trạng
người đi khởi kiện đã xác định và khởi kiện không đúng người mà
mình có quyền khởi kiện theo quy dịnh của pháp luật là phổ biến.
Trong những trường hợp đặc biệt này thì vai trò đôn đốc và hướng
dẫn thủ tục tố tụng của Tòa án là hết sức cần thiết. Do vậy thiết
nghĩ nên bổ sung vào BLTTDS một quy định theo hướng là khi nhận
đơn khởi kiện thì bên cạnh việc kiểm tra các điều kiện thụ lý, Tòa
án có thể định hướng cho nguyên đơn xác định lại chủ thể mà họ
có quyền khởi kiện. Việc định hướng của Tòa án sẽ tránh được thời
gian giải quyết vụ kiện bị kéo dài và các tổn phí tố tụng không
đáng có mà nguyên đơn phải gánh chịu do hậu quả của việc xác
định không đúng bị đơn trong vụ kiện.
d.Hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự:
- Các quy định về thời hiệu khởi kiện trong pháp luật nước ta hiện
nay khá rắc rối, không tập trung tại một văn bản cụ thể, thống
nhất mà dàn trải ở nhiều văn bản khác nhau, gây khó khăn cho
người dân trong việc tìm hiểu vụ việc của mình. Việc xác định mốc
thời điểm bắt đầu tính thời hiệu hiện nay, luật cũng quy định khác
nhau, trong pháp luật dân sự, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tòa
giải quyết là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm
phạm; thời hiệu giải quyết việc chia thừa kế là 10 năm kể từ thời
điểm mở thừa kế; về tranh chấp lao động, thời hiệu khởi kiện là
một năm kể từ ngày mỗi bên tranh chấp thấy rằng quyền, lợi ích
của mình bị vi phạm...

Theo em, nên xác định mốc bắt đầu tính thời hiệu nên có quy định
lại là từ ngày đương sự nhận biết hoặc buộc phải nhận biết quyền
và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm như quy định của pháp


luật về lao động là hay hơn, bởi trên thực tế không phải lúc nào
người dân cũng nhận biết được quyền lợi của mình bị xâm phạm.
Đến khi họ biết để nhờ pháp luật xử lý thì đã hết thời hiệu khởi
kiện.
C. KẾT BÀI
Việc đề cập đến điều kiện khởi kiện vụ án dân sự không chỉ định
hướng cho quá trình giải quyết vụ án dân sự được nhanh chóng,
đúng đắn mà còn đảm bảo cho quá trình thực hiện các thủ tục tố
tụng khác của BLTTDS diễn ra thuận tiện. Ngoài ra điều này cũng
góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành.



×