Tải bản đầy đủ (.docx) (53 trang)

skkn một số KINH NGHIỆM đọc HIỂU văn bản văn học TRUNG đại VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH lớp 10

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 53 trang )

MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 10
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Văn học viết Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX còn gọi là văn học
trung đại - tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến. Hai thành phần chủ yếu
của văn học trung đại là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Hai thành phần
văn học này đều đạt được những thành tựu đặc sắc về nội dung và nghệ thuật.
Trong trường phổ thông, văn học trung đại Việt Nam được giảng dạy từ bậc trung
học cơ sở (THCS) đến trung học phổ thông (THPT). Nó đã góp phần hình thành
những phẩm chất tốt đẹp cho thế hệ trẻ, giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, yêu
quê hương thiết tha, lòng nhân ái, nhạy cảm trước cái đẹp, đồng cảm với những
con người bất hạnh, biết vượt qua khó khăn, thử thách để vươn tới lý tưởng cao
đẹp.
Văn học trung đại là một trong những thành tựu rực rỡ của nền văn học Việt
Nam. Văn học trung đại Việt Nam không chỉ đa dạng về đề tài, thể loại, phong phú
về số lượng tác phẩm mà còn đạt đến trình độ nghệ thuật tinh tế, điêu luyện. Văn
học trung đại Việt Nam thể hiện hai nội dung lớn là yêu nước và nhân đạo, phát
triển theo quy luật tiếp thu và dân tộc hóa những tinh hoa của văn học nước ngoài,
chủ yếu là văn học Trung Quốc, tiếp thu những thành tựu của văn học dân gian.
Văn học trung đại Việt Nam đã xuất hiện các tài năng lớn như: Phạm Ngũ Lão,
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia
Thiều,… Các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam có một giá trị nhân bản rất cao,
chứa đựng những tư tưởng, tình cảm lớn, những nỗi niềm mà các tác giả muốn gửi
gắm. Đó là những tiếng lòng của các tác giả nên có sức truyền cảm mạnh mẽ, lắng
sâu trong lòng người, tồn tại mãi với thời gian, còn tỏa sáng đến muôn đời sau.
Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết bàn về việc nâng cao chất
lượng đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam, nhưng chưa trình bày được
các giải pháp cụ thể, thiếu những dữ liệu minh chứng trong thực tế giảng dạy bộ
môn Ngữ văn, chưa khảo sát đầy đủ chất lượng đọc - hiểu văn bản văn học trung
đại của học sinh THPT trong vài năm gần đây. Văn học trung đại Việt Nam được
giảng dạy trong chương trình lớp 10 và lớp 11, đặc biệt là đối với học sinh lớp 10,


các em vừa vào học năm đầu bậc THPT, còn nhiều bỡ ngỡ về nội dung và phương
pháp giảng dạy mới.
Từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới phương pháp kiểm
tra, đánh giá, thực hiện yêu cầu của chuẩn kiến thức - kỹ năng và chương trình
giảm tải, phát triển phẩm chất năng lực học sinh, tôi biên soạn đề tài Một số kinh
nghiệm đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam trong chương trình lớp 10,
góp thêm một ý kiến nhằm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản văn học trung
đại Việt Nam trong chương trình lớp 10 trung học phổ thông.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
1. Cơ sở lý luận:
1


Trong nhà trường phổ thông, mục tiêu của môn Ngữ văn là hình thành và phát
triển ở học sinh năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản. Môn Ngữ
văn có một vị trí quan trọng: “Sở dĩ ở nhà trường phổ thông, môn Văn được đặt ở
vị trí hàng đầu, trước hết, đó là công cụ cho tất cả các môn, công cụ tư duy, công
cụ diễn đạt, công cụ học tập” (Lê Trí Viễn). Người giáo viên dạy môn Ngữ văn ở
trường THPT có nhiệm vụ truyền đạt những tri thức từ bộ môn Ngữ văn đến học
sinh, gồm 3 phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn. Trong phân môn Đọc
văn, hoạt động đọc - hiểu văn bản Ngữ văn có vai trò rất quan trọng đối với việc
phát triển tư duy, diễn đạt cho học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục. Những tri thức
được học sinh lĩnh hội, được trình bày dưới dạng nói hay dạng viết mà dùng từ
chính xác, diễn đạt chặt chẽ, trật tự, mạch lạc, đúng cấu trúc ngữ pháp thì mới đáp
ứng được nhu cầu đào tạo trong nhà trường phổ thông.
Hiện nay chúng ta đang thay đổi quan niệm dạy học Văn, đổi thay mô hình và
phương pháp dạy học Văn. Dạy học Đọc văn, khác với mô hình truyền thống lấy
giáo viên làm trung tâm, học sinh chỉ thụ động nghe thầy cô giáo giảng bài và ghi
chép. Nay lấy học sinh làm trung tâm nghĩa là lấy việc đọc văn của học sinh làm
trung tâm. Thầy cô giáo là người hướng dẫn học sinh đọc văn. Học sinh là người

chủ động kiến tạo kiến thức văn học trong giờ học dưới sự tác động của giáo viên,
chứ không phải giáo viên nhồi nhét kiến thức cho học sinh.
Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8
Ban chấp hành Trung ương khóa XI của Đảng: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một
chiều, ghi nhớ máy móc… Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm
tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan”,
chúng ta thấy việc nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản văn học, trong đó có
đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam trong chương trình lớp 10, nhằm
phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh trong quá trình dạy và học là mục
đích của giáo dục trong nhà trường phổ thông hiện nay.
2. Cơ sở thực tiễn:
Qua thực tế giảng dạy, người viết nhận thấy năng lực đọc - hiểu văn bản văn
học trung đại Việt Nam trong chương trình lớp 10 không đồng đều. Có nhiều học
sinh có hứng thú học tập, chuẩn bị bài kỹ ở nhà, sưu tầm các tư liệu học tập, tìm
tranh ảnh phục vụ cho bài học… Nhưng cũng có học sinh chưa hứng thú học tập,
ngại tìm hiểu ý nghĩa các từ Hán Việt, từ Việt cổ, các điển cố, điển tích, chuẩn bị
bài mới còn mang tính chất đối phó, thụ động… nên khi làm bài còn tình trạng
dừng từ sai, hiểu sai ý nghĩa của điển cố. Ví dụ: Có học sinh viết: Bình Ngô đại
cáo của Nguyễn Trãi là một tác phẩm bất hữu của nền văn học dân tộc (từ sai: bất
hữu, sửa lại là bất hủ).
- Nhiều học sinh còn học thuộc các ý, các đoạn văn trong sách tham khảo,
ngại suy nghĩ, dành nhiều thời gian cho các môn học tự nhiên, chưa thực sự yêu
thích môn Ngữ văn.
2


- Một số giáo viên chưa phát huy tốt vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Vẫn còn tình trạng đọc chép, truyền thụ một chiều.

- Một số giáo viên dạy bám sát phân phối chương trình nhưng chưa chú ý so
sánh, liên hệ, mở rộng nâng cao kiến thức với những tác phẩm cùng đề tài, cùng
chủ đề đã học ở THCS hoặc ngoài chương trình sách giáo khoa.
- Việc dạy học theo các chủ đề của văn học trung đại Việt Nam được vận dụng
vào việc kiểm tra, đánh giá trong các bài viết tại lớp và kiểm tra tập trung nhưng
chưa chuyên sâu.
- Rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam cho học
sinh lớp 10 góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi, nâng cao chất
lượng bộ môn. Ngoài ra, còn tạo điều kiện cho học sinh lĩnh hội văn bản văn học
trung đại Việt Nam được tiếp tục giảng dạy và học tập trong chương trình lớp 11.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP:
1. Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức về lịch sử văn
học:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Trong chương trình lớp 10, sau khi ôn tập văn học dân gian Việt Nam cho học
sinh, có bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (được gọi là
văn học trung đại) dạy và học trong 2 tiết. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nắm
vững kiến thức về thời kỳ văn học trung đại Việt Nam một cách có hệ thống, có
một cách nhìn nhận và đánh giá khái quát, đúng đắn các giai đoạn phát triển, các
đề tài, thể loại chính, các tác giả và các tác phẩm tiêu biểu, những đặc điểm lớn về
nội dung và nghệ thuật.
Qua việc học sinh chuẩn bị bài ở nhà theo hệ thống câu hỏi, qua việc trả lời,
hoạt động tại lớp học, giáo viên định hướng cho học sinh nắm vững kiến thức
trọng tâm:
- Văn học trung đại Việt Nam gồm hai thành phần: Văn học chữ Hán và văn
học chữ Nôm.
- Văn học trung đại Việt Nam phát triển qua bốn giai đoạn:
+ Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV.

+ Từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII.
+ Từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX.
+ Nửa cuối thế kỷ XIX.
- Những đặc điểm lớn về nội dung:
+ Chủ nghĩa yêu nước.
3


+ Chủ nghĩa nhân đạo.
+ Cảm hứng thế sự.
- Những đặc điểm lớn về nghệ thuật:
+ Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm.
+ Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị.
+ Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
Học xong phần Tìm hiểu bài, giáo viên nêu câu hỏi luyện tập tại lớp và hướng
dẫn tự học ở nhà.
Trong quá trình đọc - hiểu tác phẩm văn học trung đại, phải luôn gắn với việc
tìm hiểu giai đoạn văn học mà tác phẩm ra đời, hòan cảnh lịch sử, xã hội, những
tác giả, tác phẩm ra đời trong cùng giai đoạn hoặc các tác phẩm có cùng đề tài, chủ
đề, thể loại, khuynh hướng sáng tác,… Hoặc so sánh với các tác phẩm ở giai đoạn
trước (hoặc giai đoạn sau) để thấy được sự phát triển, kế thừa, tiếp biến về nội
dung tư tưởng và nghệ thuật.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Trước khi học bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX,
giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà. Các câu hỏi hướng vào
trọng tâm bài học, giúp học sinh phát triển năng lực, tư duy:
1. Các thành phần của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX?
2. Các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
XIX?
3. Những đặc điểm lớn về nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết

thế kỷ XIX?
4. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến
hết thế kỷ XIX?
Học sinh trả lời, trình bày tại lớp, giáo viên định hướng, chốt ý. Ở phần Luyện
tập, giáo viên hướng dẫn học sinh lập bảng khái quát theo mẫu sau:
Giai đoạn văn học

Nội dung

Nghệ thuật

Sự kiện văn học, tác
giả, tác phẩm

Sau khi Luyện tập, đến phần Hướng dẫn tự học¸giáo viên hướng dẫn học sinh
tự học, củng cố lại bài học, nâng cao kiến thức bằng hệ thống câu hỏi. Ví dụ:
1. Nêu tên một số tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm mà anh (chị) đã học hoặc đã
đọc (chú ý xếp theo cụm thể loại kết hợp với tiến trình lịch sử văn học).
4


2. Chọn một tác phẩm văn học trung đại và chỉ rõ sự tuân thủ và phá vỡ tính
quy phạm của tác giả trong sáng tác.
Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học, so sánh, liên hệ, củng cố kiến thức:
1. Bảng xếp loại các tác phẩm văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm đã học
hoặc đã đọc theo cụm thể loại kết hợp với tiến trình văn học.
Thể loại
Trữ tình

Nghị luận


Tự sự

Chữ Hán
- Sông núi nước Nam (Nam quốc
sơn hà) - tương truyền của Lý
Thường Kiệt.
- Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn
kinh sư) - Trần Quang Khải.
- Tỏ lòng (Thuật hoài) - Phạm
Ngũ Lão.
- Phú sông Bạch Đằng (Bạch
Đằng giang phú) - Trương Hán
Siêu.
- Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) Nguyễn Trãi.
- Đọc Tiểu Thanh ký (Độc Tiểu
Thanh ký) - Nguyễn Du.
- Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) Lý Công Uẩn.
- Hịch tướng sĩ - Trần Quốc
Tuấn.
- Đại cáo bình Ngô (Bình Ngô
đại cáo) - Nguyễn Trãi.
-Tựu “Trích diễm thi tập” (Trích
diễm thi tập tự) - Hoàng Đức
Lương.
- Truyền kỳ mạn lục - Nguyễn
Dữ
- Vũ trung tùy bút - Phạm Đình
Hổ.
- Thượng kinh ký sự - Lê Hữu

Trác.
- Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô
gia văn phái.

Chữ Nôm
- Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh
giới - Bài 43) - Nguyễn Trãi.
- Nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Bánh trôi nước - Hồ Xuân
Hương.
- Qua đèo Ngang - Bà Huyện
Thanh Quan.
- Bản dịch Chinh phụ ngâm của
Đoàn Thị Điểm (?)
- Bạn đến chơi nhà - Nguyễn
Khuyến.

- Truyện Kiều - Nguyễn Du
- Truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn
Đình Chiểu.

5


2. Từ bảng sau, có thể thống kê việc tác giả vừa tuân theo vừa phá vỡ tính quy
phạm trong sáng tác qua chùm thơ viết về mùa thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm)
của Nguyễn Khuyến:
Tuân theo tính quy phạm
- Thu thiên (trời thu).
- Thu thủy (nước thu).

- Thu nguyệt (trăng thu).
- Thu hoa (hoa thu).
- Thu điểu (chim mùa thu).
- Thu sương (sương thu).
- Ngư ông (người câu cá, ông chài).
- Túy ông (người uống rượu).

Phá vỡ tính quy phạm
- Trời thu xanh ngắt điểm cần trúc lơ
phơ.
- Ao thu lạnh lẽo nước trong veo.
- Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
- Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái.
- Ngỗng trời bay đi tránh rét.
- Làn khói phất phơ lưng giậu, sương
như tầng khói phủ.
- Thu nhỏ hình hài, mang tâm sự thời
thế.
- Say nhưng tỉnh: “Rượu tiếng rằng hay,
hay chẳng mấy”.

Khi giảng dạy bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên nêu câu hỏi để học
sinh liên hệ đến hoàn cảnh lịch sử, giai đoạn văn học mà tác phẩm ra đời, nội dung
của văn học giai đoạn văn học mà tác phẩm ra đời so sánh với các tác phẩm khác
cùng giai đoạn văn học, cùng thể loại, cùng chủ đề nội dung… Ví dụ một số câu
hỏi và gợi ý trả lời khi tìm hiểu bài thơ Tỏ lòng (gợi ý trả lời sau khi học sinh trình
bày tại lớp, giáo viên định hướng, chốt ý).
Câu hỏi

Gợi ý trả lời


- Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tỏ lòng - Bài thơ ra đời trong không khí quyết
(Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão?
chiến quyết thắng của quân dân đời Trần
khi giặc Mông - Nguyên xâm lược nước
ta.
- Tác phẩm ra đời trong giai đoạn văn - Tác phẩm ra đời vào thế kỷ XIII, trong
học nào?
giai đoạn văn học từ thế kỷ X đến hết
thế kỷ XIV.
- Nội dung của văn học giai đoạn từ thế - Văn học giai đoạn này mang nội dung
kỷ X đến hết thế kỷ XIV?
yêu nước với âm hưởng hào hùng.
- Tìm một số tác phẩm tiêu biểu trong - Một số tác phẩm tiêu biểu:
giai đoạn văn học từ thế kỷ X đến hết + Vận nước (Quốc tộ) - Pháp Thuận.
thế kỷ XIV mang nội dung yêu nước với + Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) - Lý
âm hưởng hào hùng?
Công Uẩn.
+ Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn
hà)
+ Hịch tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn.
+ Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh
sư) - Trần Quang Khải.
6


+ Tỏ lòng (Thuật hoài) - Phạm Ngũ Lão.
+ Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng
giang phú) - Trương Hán Siêu.
 Tiêu biểu cho nội dung yêu nước

mang hào khí Đông A.
b. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả giải pháp:
Để đọc - hiểu tác phẩm văn học trung đại có hiệu quả, học sinh phải nắm
vững kiến thức về lịch sử văn học thời trung đại. Văn học trung đại có vị trí rất
quan trọng trong nền văn học Việt Nam, vì từ đây đã hình thành ngôn ngữ văn học,
các thể loại văn học và có được những thành tựu to lớn, làm nền tảng phát triển của
văn học dân tộc sau này. Văn học trung đại gắn bó với vận mệnh đất nước và số
phận con người; tiếp thu nguồn mạch văn học dân gian, tiếp thu và dân tộc hóa văn
học nước ngoài, tạo nên những giá trị văn học đậm đà bản sắc Việt Nam. Các tác
phẩm văn học trung đại được học trong chương trình lớp 10 đều gắn với những nội
dung trên.
Việc nắm vững kiến thức khái quát về lịch sử văn học trung đại giúp cho học
sinh tìm ra phương pháp học tập có hiệu quả, cách đọc - hiểu tác phẩm văn học
trung đại khác với cách đọc - hiểu tác phẩm văn học hiện đại. Tác phẩm văn học
trung đại có tính quy phạm sâu sắc, lối diễn đạt thường mang tính ước lệ, tượng
trưng, lời ít ý nhiều, do đó không thể đọc - hiểu tác phẩm văn học trung đại một
cách dễ dãi, qua loa mà phải suy nghĩ, nghiền ngẫm để hiểu thấu đáo tác phẩm.
Giáo viên cũng nên cung cấp cho học sinh biết vắn tắt vài nét về chế độ phong kiến
nước ta, đặc biệt là cấu trúc ý thức xã hội, hệ tư tưởng phong kiến để lĩnh hội tác
phẩm văn học trung đại được tốt.
2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh nắm được những tri thức văn hóa,
tri thức về thể loại của văn bản văn học trung đại:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam là đi sâu tìm hiểu văn bản với
cấu trúc, hình tượng, ngôn ngữ của văn bản. Nhưng nếu giáo viên cung cấp cho
học sinh những tri thức về văn hóa, về thể loại thì việc đọc - hiểu văn bản sẽ đạt
hiệu quả cao hơn. Thơ trữ tình lấy tâm trạng, cảm xúc làm đối tượng, khác với văn
xuôi tự sự lấy sự kiện, hành động làm đối tượng. Khi đọc - hiểu văn bản thơ trữ

tình phải chú ý đến thế giới nội tâm nhân vật. Khi đọc - hiểu thể loại sử ký, truyền
kỳ phải chú ý đến cách xây dựng nhân vật qua lời nói và củ chỉ, hành động, cách
kể chuyện, lựa chọn các chi tiết,…
Các văn bản văn học trung đại Việt Nam ra đời cách đây khá lâu nên thường
có nhiều từ Hán Việt, từ cổ, điển cố, điển tích. Điều này góp phần vào việc nâng
cao khả năng biểu hiện và tính chất hàm súc của ngôn ngữ văn học, hình tượng văn
học. Điển cố, điển tích thường không xa lạ với những trí thức thời xưa thì lại khó
7


hiểu đối với người đọc và học sinh ngày nay. Cho nên khi đọc - hiểu văn bản văn
học trung đại Việt Nam, cần giúp cho học sinh hiểu rõ các từ cổ, các điển cố, điển
tích, được giới thiệu trong phần chú thích hoặc giáo viên giảng giải thêm khi đọc hiểu văn bản văn học trung đại. Cần lĩnh hội ý tứ sâu xa của điển cố, điển tích và
chú ý sắc thái biểu đạt cổ kính của từ ngữ.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Khi đọc - hiểu bài thơ Độc Tiểu Thanh ký, giáo viên cung cấp cho học sinh tri
thức văn hóa: Tiểu Thanh là một người phụ nữ tài sắc có số phận bi thảm, thuộc đề
tài người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong thơ Nguyễn Du. Nhưng đề tài này lại nằm
trong một phạm vi quan tâm rộng hơn, đó là vấn đề thân phận của những người tài
năng nói chung. Nguyễn Du đã viết về Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Giả Nghị,… những
nhân vật có tài mà bất hạnh trong lịch sử. Nguyễn Du viết về Đỗ Phủ, một nhà thơ
nổi tiếng thời Đường: Nhất cùng chí thể khởi công thi (Một đời ông cùng khổ như
thế há phải vì tài thơ). Như vậy, Nguyễn Du đã đề cập đến một vấn đề rất mới
nhưng cũng rất quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học. Ông đòi hỏi xã
hội phải biết tôn trọng tài năng, trân trọng những người làm ra các giá trị tinh thần.
Đó là điều cần nắm vững qua bài thơ này. Tri thức về thể loại: Bài thơ Độc Tiểu
Thanh ký của Nguyễn Du là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật nên cũng được tổ
chức theo công thức chung là cảnh và sự gợi nên tình. Hai câu thơ đầu tả cảnh và
kể sự, sáu câu thơ sau dành cho suy tư, cảm xúc.
Khi đọc - hiểu bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới - Bài 43) của

Nguyễn Trãi, giáo viên hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu ý nghĩa của các từ cổ rồi,
tiễn, dắng dỏi, dẽ có, điển cố Ngu cầm, các từ Hán Việt làng ngư phủ, lầu tịch
dương, … Khi đọc - hiểu bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo viên hướng
dẫn học sinh tìm hiểu điển tích trong hai câu thơ cuối: Rượu đến cội cây, ta sẽ
uống - Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Trong văn học trung đại Việt Nam thường
dùng các từ giấc hòe, giấc Hòe An, giấc Nam kha để chỉ giấc mộng của Thuần Vu
Phần dưới gốc cây hòe. Truyện đời Đường kể về Thuần Du Phần là một viên tướng
tài, tính tình phóng khoáng, do xúc phạm thống soái bị quở mắng nên từ chức về
nhà lấy uống rượu làm vui. Một hôm, Thuần Vu Phần say rượu ngủ bên gốc cây
hòe, mơ thấy mình được làm phò mã cho vua Nam Kha, được hưởng giáu sang phú
quý, tỉnh dậy mới biết đó chỉ là một giấc mơ. Tác giả mượn điển tích này để thể
hiện sâu sắc triết lý nhân sinh bằng thái độ xem thường phú quý, coi công danh
phú quý chỉ là giấc chiêm bao. Qua đó, tác giả khẳng định thêm sự lựa chọn
phương châm sống, cách ứng xử của riêng mình.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
Chương trình môn Ngữ văn bậc THPT hiện nay được xây dựng và thực hiện
đổi mới phương pháp theo tinh thần tích hợp. Trong đó trọng tâm của yêu cầu dạy
học phần văn học là học sinh phải xác định những nội hàm cụ thể để học sinh thực
hiện một chuỗi thao tác chiếm lĩnh giá trị tác phẩm , hướng tới hiệu quả thực hành
vận dụng và nối kết kiến thức với phần Tiếng Việt, Làm văn. Phần tri thức về văn
hóa và tri thức về thể loại cần được vận dụng linh hoạt. tùy theo nội dung bài học,
8


thời gian được phân phối và đối tượng học sinh mà cung cấp kiến thức cần thiết.
Ví dụ: Các đoạn trích Chí khí anh hùng, Thề nguyền (trích Truyện Kiều của
Nguyễn Du) thuộc thể thơ lục bát, chỉ được dạy trong một tiết, giáo viên có thể
cung cấp những tri thức về văn hóa, về thể loại ngắn gọn, chọn lọc, tránh sa đà, dài
dòng, lan man.
3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu phần Tiểu dẫn, nắm vững

kiến thức về tác giả, tác phẩm:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc - hiểu phần Tiểu dẫn, học sinh phải đọc rõ
ràng, chính xác những thông tin về cuộc đời tác giả, những tác phẩm tiêu biểu,
hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Giáo viên và những học sinh khác chú ý lắng nghe,
đối chiếu với sách giáo khoa. Nhận xét cách đọc, phát hiện, sửa chữa những chỗ
đọc sai dẫn đến những thông tin thiếu chính xác. Sau đó, giáo viên yêu cầu học
sinh tóm tắt những nội dung chính của phần Tiểu dẫn về tác giả, tác phẩm.
Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những tư liệu về tác giả tác phẩm:
tranh chân dung, tranh phong cảnh, những lời nhận định về tác giả, lời bình hay về
tác phẩm,… Mục đích giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về các tác giả, những đóng
góp về tư tưởng, nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, vị trí của đoạn trích,…
b. Các dữ liệu minh chứng:
Ví dụ: Khi đọc - hiểu bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, giáo
viên giới thiệu cho học sinh tư liệu về tác giả. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết về
Phạm Ngũ Lão: “Ngũ Lão thích đọc sách, người phóng khoáng, có chí làm việc
lớn, thích ngâm thơ, về việc võ hình như ít bận tâm. Nhưng đội quân của ông đều
một lòng thân yêu như cha con, đánh đâu được đấy”. Về hoàn cảnh ra đời của bài
thơ Cáo bệnh, bảo mọi người (Cáo tật thị chúng) của Thiền sư Mãn Giác, sách
Thiền uyển tập anh chép: “Ngày 30 tháng 11, thiền sư Mãn Giác cáo bệnh, có kệ
dạy rằng: “Xuân qua, trăm hoa rụng …. Từ đó sư ngồi kiết già và mất, thọ bốn
mươi lăm tuổi”.
Viết về Nguyễn Du, Mộng Liên Đường chủ nhân nói đến: “Tấm lòng nghĩ
suốt nghìn đời”, Hoài Thanh ca ngợi: “Sức cảm thông lạ lùng của đại thi hào dân
tộc”. Tố Hữu viết: “Tấm lòng thơ với tình đời thiết tha” (Kính gửi cụ Nguyễn Du)
đều là nói lên bản chất nhân đạo trong con người và cảm hứng nhân văn trong tâm
hồn Nguyễn Du. Về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Chinh phụ ngâm, Phan Huy
Chú trong Lịch triều hiến chương loại chi có viết “Sách Chinh phụ ngâm là bởi
hương cống Đặng Trần Côn biên soạn. Nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh nổi dậy,

người ta đi đánh phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra”.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá:
- Nắm vững những tri thức trong phần Tiểu dẫn giúp học sinh có cơ sở hiểu
sâu hơn nội dung tác phẩm hay đoạn trích.
9


- Giúp học sinh sử dụng tốt sách giáo khoa, tham khảo thêm tư liệu về tác giả,
tác phẩm.
- Rèn luyện tinh thần tự giác, ý thức tích cực học tập của học sinh. Các em có
thể đọc trước, suy nghĩ về nội dung của phần Tiểu dẫn trước khi đến lớp.
- Phần Tiểu dẫn còn giúp cho học sinh định hướng nội dung bài học, cung cấp
những tri thức khách quan, khoa học về phong cách nghệ thuật, sự thành công
trong các thể loại của tác giả, đặc điểm hồn thơ, nghệ thuật viết văn xuôi, vị trí của
đoạn trích, …
4. Giải pháp 4: Đọc - hiểu chính xác ngữ nghĩa của văn bản:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Đọc - hiểu tác phẩm văn học trung đại bằng chữ Hán, nếu đã được dịch ra chữ
quốc ngữ thì phải nắm vững các khái niệm, giải nghĩa từ trong phần chú thích. Vì
có nhiều từ Hán Việt được dùng trong văn bản văn học trung đại còn xa lạ với học
sinh. Để hiểu sâu hơn nghĩa của từ, giáo viên có thể tra cứu ở các cuốn Từ điển
Hán Việt, Tầm nguyên từ điển… giải thích ý nghĩa của các điển cố, điển tích.
Các bài thơ chữ Hán của văn học trung đại Việt Nam được dạy và học trong
chương trình phổ thông đều được phiên âm theo cách đọc Hán Việt, tiếp theo là
bản dịch và dịch thơ. Trong quá trình đọc - hiểu bài thơ, phải bám sát bản phiên âm
và bản dịch nghĩa, bản dịch thơ, phát hiện những chỗ bản dịch chưa sát với nội
dung hoặc bỏ sót từ trong phiên âm. Phải bám sát kết cấu và cảm xúc chủ đạo của
bài thơ. Nguyên tác bài thơ biểu hiện những tâm tư, tình cảm, ý chí, tài năng nghệ

thuật của bài thơ. Đọc - hiểu một bài thơ chữ Hán, giáo viên và học sinh phải xuất
phát từ nguyên tác. Có nhiều bản dịch thơ dùng từ hay, hình ảnh đẹp, nhịp điệu
uyển chuyển nhưng chưa thể hiện đầy đủ tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật điêu luyện
của tác giả. Khi bám sát nguyên tác, chúng ta tránh được sự suy diễn tùy tiện, thiếu
căn cứ.
Các bài thơ, đoạn thơ chữ Nôm được học trong chương trình lớp 10 đã được
phiên âm ra chữ quốc ngữ. Việc phiên âm thường có dị bản, một chữ Nôm có khi
đọc thành hai, ba cách khiến cho cách hiểu khác nhau. Giáo viên và học sinh cần
chú ý điều này để cân nhắc, lựa chọn khi đọc - hiểu văn bản thơ chữ Nôm. Nên
chọn cách phiên âm trong sách giáo khoa. Các sách báo nếu phiên âm các từ ngữ
trong văn bản khác với sách giáo khoa thì chọn cách phiên âm trong sách giáo
khoa, cách phiên âm trong sách báo khác chỉ để tham khảo nhằm làm phong phú
thêm vốn từ ngữ.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Ví dụ: Khi dọc - hiểu tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (đã dịch ra
chữ quốc ngữ), ngoài các chú thích, điển cố, điển tích đã được chú giải ngắn gọn
trong sách giáo khoa, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số khái niệm, từ
10


ngữ quan trọng, nhất là những khái niệm văn hiến, đế … Văn là “điển tích” trong
sách vở, hiến là người hiền tài. Câu “Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”, trong nguyên
văn chữ Hán là “Thực vi văn hiến chi bang” (Thực là một nước văn hiến). Câu văn
ngắn gọn, chắc nịch, khẳng định trình độ văn hiến của dân tộc là một sự thực (thực
nghĩa là sự thật). Trong bản dịch, từ thực được thay bằng từ xưng mất ý nghĩa thực
tế, sự thực. Vả lại, xưng mới chỉ là tự nhận. Người dịch đã giữ nguyên chữ đế khi
dịch câu văn biền ngẫu của Nguyễn Trãi:
“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”.
Các đế nhất phương được dịch là xưng đế một phương. Khái niệm đế chỉ xuất

hiện sau khi nhà Tần thống nhất được thiên hạ, mang tính tự tôn, nhà Hán thay thế
nhà Tần cũng tiếp tục xưng đế, phong cho những người cùng họ là vương, bắt đầu
thể chế đế cao hơn vương, “đế” chỉ có một, “vương” có thể có nhiều. Vì vậy, khi
Nguyễn Trãi dùng chữ đế có một ý nghĩa sâu sắc, thể hiện ý thức ngang hàng, bình
đẳng; cùng song song tồn tại của các triều đại phong kiến của nước ta với các triều
đại phong kiến phương Bắc.
Bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, câu thơ thứ nhất trong nguyên tác
“Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu” (Cầm ngang ngọn giáo giữ gìn non sông đã
mấy thu), bản dịch thơ của Bùi Văn Nguyên là “Múa giáo non sông trải mấy thu”
làm mất đi vẻ đẹp hiên ngang, vững chãi, lẫm liệt của con người mang hào khí
Đông A. Trong câu thơ thứ hai “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” (Ba quân như hổ
báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu”, bản dịch thơ đã bỏ mất chữ tì hổ (hổ báo).
Nhiều học sinh có ý thức học tập tốt, tham khảo thêm nhiều tư liệu, đã đặt câu hỏi
cho giáo viên: Tại sao khí thôn ngưu bản dịch trong sách giáo khoa là “khí mạnh
nuốt trôi trâu” mà không phải là “khí thế át sao ngưu”? Chúng ta phải giải thích
cho học sinh khí thôn ngưu có hai cách dịch: Khí thế nuốt trôi trâu và khí thế át sao
Ngưu. Theo các nhà nghiên cứu, ở đây nên hiểu khí thôn ngưu là khí thế nuốt trôi
trâu. Đỗ Phủ có câu thơ: “Tiểu nhi ngũ tuế, khí thôn ngưu” (Đứa trẻ năm tuổi đã có
khí thế mạnh mẽ nuốt trôi trâu). Nhà thơ Việt Nam Nguyễn Trung Ngạn cũng có
câu thơ “Mậu linh dĩ hữu thôn ngưu chí” (Thuở thiếu niên đã có chí nuốt trôi trâu).
Giáo viên còn phải hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, tìm hiểu nghĩa của
từ Hán Việt trong bản dịch thơ, liên hệ với thực tiễn lịch sử. Giáo viên đặt câu hỏi
cho học sinh tìm hiểu nghĩa của từ Hán Việt, điển tích. Ví dụ: Ý nghĩa của “nợ
công danh” là gì? Vũ Hầu là nhân vật nào? Tại sao tác giả lại cảm thấy “thẹn” khi
nghe kể chuyện Vũ Hầu? Có thể giải thích cho học sinh một số khái niệm như:
giang sơn, khí, nam nhi… thường xuất hiện trong thơ trung đại.
Trong bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới - Bài 43) của Nguyễn Trãi,
câu thơ thứ tư có bản phiên âm “Hồng liên trì đã tịn mùi hương”, “Hồng liên trì đã
tạn mùi hương”. Bản phiên âm trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 là “Hồng liên trì
đã tiễn mùi hương”. Tịn mùi hương là đã hết mùi hương, tạn mùi hương là mùi

hương thoang thoảng. Bản phiên âm trong sách giáo khoa là tiễn mùi hương (ngát
mùi hương) là hợp lý, vì thiên nhiên đang giữa mùa hè, rất sống động, màu sắc
11


đậm đà. Trong đoạn trích Trao duyên (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) có câu thơ
được phiên âm là “Bây giờ trâm gãy bình tan” và “Bây giờ trâm gãy gương tan”.
Chúng ta nên chọn cách phiên âm thứ hai, vì trâm và gương là những vật nam nữ
xưa thường tặng cho nhau để làm kỷ niệm của tình yêu. Trâm gãy gương tan là
hình ảnh nói về sự tan vỡ của tình yêu.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Khi bám sát nguyên tác, chúng ta sẽ tránh được sự suy diễn tùy tiện, thiếu
căn cứ. So sánh, đối chiếu nguyên tác với bản dịch thơ giúp chúng ta hiểu sâu sắc
giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật của tác phẩm, giúp học sinh phát triển tư duy độc
lập và sáng tạo.
- Dịch một tác phẩm văn học chữ Hán sang tiếng Việt vừa đảm bảo ý nghĩa, vừa
hay là một việc rất khó khăn. Vì người dịch phải có vốn từ ngữ phong phú, giỏi
chữ Hán, có khả năng cảm thụ tác phẩm, phát hiện ra cái hay, cái đẹp của tác
phẩm,… Trong quá trình dạy và học tác phẩm văn học chữ Hán, giáo viên phải
thường xuyên đối chiếu nguyên tác và bản dịch để lý giải sâu sắc, thuyết phục hơn
giá trị của tác phẩm. Đọc - hiểu tác phẩm thơ chữ Hán hoặc chữ Nôm cần bám sát
kết cấu và cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Đọc đúng, đọc diễn cảm một bài thơ chữ
Hán hoặc chữ Nôm là một việc không dễ dàng. Bởi vì mỗi học sinh có một giọng
đọc khác nhau, có sự cảm thụ khác nhau về văn bản. Việc rèn luyện năng lực đọc –
hiểu văn bản văn học trung đại cho học sinh là rất cần thiết, giúp cho các em chiếm
lĩnh các giá trị của tác phẩm.
5. Giải pháp 5: Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật, đọc – hiểu tư tưởng
tình cảm của tác giả:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.

- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Hình tượng trong văn bản văn học được xây dựng, biểu đạt, sáng tạo bằng
nghệ thuật ngôn từ, qua chi tiết, cốt truyện, hình ảnh, tâm trạng…tùy thể loại mà
có sự khác nhau về chất liệu ngôn tử. Khi đọc – hiểu một số tác phẩm văn học
trung đại, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh cảm nhận hình tượng nghệ thuật
từ các hình ảnh, chi tiết, hiểu và cảm nhận một cách tổng thể về hình tượng.
Đọc – hiểu ý nghĩa hình tượng trong một tác phẩm văn học, còn là phải biết
phát hiện được các mặt đối lập trong bản thân hình tượng, lôgic ẩn chứa bên trong
nó mà tác giả muốn gửi gắm.
Nhà văn sáng tác tác phẩm bao giờ cũng thể hiện tư tưởng, bộc lộ tình cảm về
cuộc đồi, về con người. Học sinh phải đọc – hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả vì
đó là linh hồn của tác phẩm, thể hiện qua ngôn ngữ, qua hình tượng nghệ thuật.
b. Các dữ liệu minh chứng:
12


Ví dụ: hình tượng người anh hùng Từ Hải trong đoạn trích Chí khí anh hùng
(trích Truyện Kiều – Nguyễn Du), phẩm chất anh hung của Từ Hải được bộ lộ qua
cách dùng từ ngữ: trượng phu, lòng bốn phương, thoắt, thẳng rong, dứt áo ra đi,
hình tượng chim bằng….. Các từ ngữ, câu thơ trong văn bản cho chúng ta thấy Từ
Hải là người không quên lý tưởng, hành động dứt khoát, quyết đoán, không do dự.
Từ Hải tỏ rõ phẩm chất phi thường của một người anh hùng muốn làm nên sự
nghiệp lớn. Từ Hải cũng là người trân trọng tài năng, nhân cách và sắc đẹp của
Thúy Kiều.
Tìm hiểu ý nghĩa hình tượng còn là tìm hiểu tài năng sử dụng ngôn ngữ, hình
ảnh, sự thống nhất giữa những mặt đối lập trong hình tượng. Các nhà thơ thời
trung đại thường tạo ra cách tiếp cận thế giới từ các quan hệ đối lập. Ví dụ hai câu
thơ mở đầu bài Cáo bệnh, bảo mọi người (Cáo tật thị chúng) của thiền sư Mãn
Giác.
Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai
(Xuân qua, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa nở)
Về nghệ thuật sử dụng và sắp xếp từ ngữ, mỗi từ ngữ đều chứa đựng khả năng
biểu hiện ý tứ sâu sắc. Bách hoa lạc (trăm hoa rụng), bách hoa khai (trăm hoa nở),
chỉ một từ hoa nhưng là biểu tượng cho vạn vật, biểu trưng cho mùa xuân đến,
mùa xuân đi. Nghệ thuật điệp, đối được phát huy cao độ để tạo nên tính hàm súc
cho hai câu thơ. Cách sắp xếp các hình ảnh đối nhau càng làm tăng sự đối lập giữa
sự mất đi và sinh ra của vạn vật, diễn tả quy luật tuần hoàn của tự nhiên.
Sau khi hiểu được vẻ đẹp của ngôn từ và hình ảnh nghệ thuật trong bài Hứng
trở về của Nguyễn Trung Ngạn: cây dâu già lá rụng, nong tằm vừa chin, lúa sớm
trổ bông thoang thoảng hương thơm, cua đang lúc béo….. giàu sức gợi cảm làm
nên những hương vị riêng của thôn quê, học sinh cảm nhận được lòng yêu nước và
niềm tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả. Tình yêu ấy thể hiện bằng nỗi nhớ quê
hương và sự gắn bó tha thiết với cuộc sống bình dị ở quê nhà. Nỗi nhớ quê hương
da diết thôi thúc tác giả quay về dù đang sống sung sướng giữa chốn phồn hoa.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Đọc – hiểu hình tượng văn học trong văn học trung đại đòi hỏi người đọc
dường như phải nhập thân vào hình tượng để tưởng tượng, cụ thể hóa tình cảnh để
hiểu điều mà ngôn ngữ văn học biểu đạt, khái quát.
- Đọc – hiểu tác phẩm văn học trung đại để nắm bắt được tư tưởng, tình cảm
của tác giả không phải là ở lời nói trực tiếp, ở nghĩa tường minh mà phần lớn ở
“ngoài lời”, ở hàm ý. Điều này đòi hỏi người đọc – hiểu văn bản phải có năng lực
khái quát, chính xác, phải đọc – hiểu có sáng tạo. Người đọc – hiểu phải suy nghĩ,
13


liên tưởng để khái quát thành những điều cao hơn, sâu sắc hơn: tài năng và phong
cách giá trị nhân văn, những nét đẹp tiềm ẩn trong văn bản, liên hệ những gì đang
đọc với những gì đã đọc, liên hệ mở rộng hiểu biết của bản thân. Macxim Gorki đã

nói đến việc làm cho người đọc “có khả năng xây dựng hình tượng”. “có khả năng
tưởng tượng bổ sung vào những bức tranh, những hình tượng, những bóng dáng,
những tích cực mà nhà văn đưa ra, bằng cách rút từ cái vốn kinh nghiệm của bản
thân, từ cái kho dự trữ ấn tượng và kiến thức của người đọc”.
6. Giải pháp 6: Đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam phải thấy
được sự kế thừa, phát triển thành tựu của văn học dân gian, tiếp thu và dân
tộc hóa tinh hoa văn hóa, văn học nước ngoài, văn học giai đoạn sau tiếp thu
những thành tựu nội dung tư tưởng, nghệ thuật của văn học giai đoạn văn học
trước:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Văn học trung đại Việt Nam luôn kế thừa, phát triển thành tựu của văn học
dân gian. Đó là sự kết tinh tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, tài hoa của nhân dân. Các tác
phẩm văn học lớn thường tiếp thu được nhiều nhất những tinh hoa văn học của
nhân dân, sáng tác dựa trên quan điểm về chuẩn mực đạo đức, tư tưởng của nhân
dân, vận dụng sáng tạo nghệ thuật của ca dao, tục ngữ,….
Văn học trung đại Việt Nam phát triển theo quy luật vừa tiếp thu, vừa dân tộc
hóa tinh hoa văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc.
- Tiếp thu tinh hoa văn học Trung Quốc.
+ Về ngôn ngữ: Dùng chữ Hán để sáng tác.
+ Về thể loại: Tiếp thu phú cổ thể, thơ Đường luật, thể cáo, truyền kỳ, sử ký,

+ Về thi liệu: sử dụng điển cố, thi liệu Hán văn.
- Quá trình dân tộc hóa hình thức văn học:
+ Sáng tạo ra chữ Nôm, dùng chữ Nôm để sáng tác văn học.
+ Việt hóa thể thơ Đường luật thành thơ Nôm Đường luật, thất ngôn xen lục
ngôn.
+ Sáng tạo ra các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, các thể ngâm
khúc, truyện thơ, hát nói.

+ Sử dụng lời ăn tiếng nói, cách diễn đạt của nhân dân trong sáng tác.
- Kế thừa, phát triển những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật trong các tác
phẩm giai đoạn trước, làm nên sự phong phú, đa dạng của văn học trung đại Việt
Nam.
b. Các dữ liệu minh chứng:
14


* Văn học trung đại kế thừa, phát huy những thành tựu của văn học dân gian:
Ví dụ: Đọc – hiểu đoạn trích Trao duyên (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du),
giáo viên và học sinh cùng tìm hiểu sự tiếp thu, phát triển những đặc sắc về nghệ
thuật trong văn học dân gian của tác giả.
Ca dao – Dân ca
Đoạn trích Trao duyên
- Đề tài tình yêu dang dở, đôi lứa chia
- Đoạn trích đi vào một đề tài truyền
lìa là một đề tài quen thuộc:
thống, nhưng được biểu hiện qua một
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò….”
tấm lòng nhân đạo có sự đồng cảm sâu
“Tóc mai sợi ngắn, sợi dài – Lấy nhau
xa, chứa đựng nhiều nhân tố mới mẻ,
chẳng đặng thương hoài ngàn năm”
vượt thoát khỏi sự hạn hẹp của thời đại.
- Vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ - Vẻ đẹp tâm hôn nhân vật Thúy Kiều:
Việt Nam: nhân hậu, vị tha, chung thủy, nỗi đau đớn khi duyên tình tan vỡ, hy
giàu đức hy sinh, khao khát tình yêu,
sinh quên mình vì hạnh phúc của người
hạnh phúc…
khác, khẳng định ý thức cá nhân, khẳng

định khát vọng tình yêu, hạnh phúc.
- Thể thơ lục bát
- Thể thơ lục bát.
- Các thành ngữ: tình máu mủ,lời nước
Ngày xuân em hãy còn dài,
non thề non hẹn biển, tan xương nát
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
thịt, ngậm cười chin suối….
Chị dù thịt nát xương mòn
- Các thành ngữ: bạc như vôi, hoa trôi
Ngậm cười chin suối hãy còn thơm lây
bèo dạt, nước chảy hoa trôi….
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
- Nghệ thuật tiểu đối trong ca dao – dân - Khi ngày quạt ước/ Khi đêm chén thề.
ca.
- Duyên này thì giữ/ Vật này của chung.
- Đốt lò hương ấy/ So tơ phìm này.
* Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài:
Ví dụ: Đọc – hiểu bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, học sinh cần cảm nhận
được bức tranh thiên nhiên ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi, nhận thức
được nghệ thuật thể thơ Nôm độc đáo của Nguyễn Trãi. Cảm thấy được sự tiếp thu
và dân tộc hóa thơ Đường luật của tác giả.
Thơ Đường luật Trung Quốc
Bài thơ Cảnh ngày hè
- Viết bằng chữ Hán.
- Viết bằng chữ Nôm.
- Thể thơ thất ngôn luật.
- Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn.
- Thơ để nói chí: thi dĩ ngôn chí.

- Bộc lộ nỗi lòng, chí hướng của tác giả.
- Hình ảnh ước lệ, tượng trưng: mùa hè - Hình ảnh thực trong cuộc sống xung
có hoa lan, hoa sen,…
quanh: tán hòe xanh thẫm che rợp, thạch
lựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen
hồng trong ao ngát mùi hương, tiếng lao
xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như
tiếng đàn….
- Từ tiếng Hán, điển cố, điển tích.
- Từ Hán Việt: làng ngư phủ, lầu tịch
15


dương, điển cố Ngu cầm, các từ láy
tiếng Việt độc đáo: đùn đũn, lao xao,
dắng dỏi, các động từ mạnh: giương,
phun..
* Văn học giai đoạn sau tiếp thu những thành tựu về nội dung, tư tưởng, nghệ
thuật của văn học giai đoạn trước:
Ví dụ: Trong đoạn thứ nhất của tác phẩm Đại cáo bình Ngô, sau khi nêu tư
tưởng nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã nêu chân lý khách quan về sự tồn tại độc lập có
chủ quyền của nước Đại Việt. Giáo viên so sánh với bài thơ Sông núi nước Nam đã
học ở THCS để thấy được ý thức độc lập dân tộc ở Đại cáo bình Ngô toàn diện và
sâu sắc hơn.
Sông núi nước Nam

Đại cáo bình Ngô

- Ý thức độc lập dân tộc được xác định
chủ yếu trên hai yếu tố: lãnh thổ, chủ

quyền.

- Bổ sung thêm các yếu tố: Văn hiến,
phong tục tập quán, lịch sử. Sâu sắc
hơn: ý thức được văn hiến, truyền thống
lịch sử là yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân
để xác định dân tộc.
- Khẳng định “Nam đế” nhằm mục đích - Các triều đại phong kiến nước ta tồn
đối lập với “Bắc đế”.
tại, phát triển song song với các triều đại
phong kiến Trung Quốc.
- Khẳng định chủ quyền, độc lập dân tộc - Khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc
dựa vào “thiên thư” (sách trời)
dựa vào lịch sử.
=> Bước tiến của tư tưởng thời đại và
cũng là tầm cao của tư tưởng Nguyễn
Trãi.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Văn học trung đại Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với vận mệnh đất nước và
số phận nhân dân. Các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam đã góp phần làm nên
diện mạo văn học dân tộc, tạo tiền đề cho văn học hiện đại phát triển.
- Thấy được sự tiếp thu nguồn mạch văn học dân gian, tiếp thu và dân tộc hóa
tinh hoa văn học nước ngoài của văn học trung đại Việt Nam để càng trân trọng,
yêu quý các tác phẩm quý báu của cha ông để lại, có ý thức học tập say mê, sáng
tạo, góp phần bảo tồn và phát triển nên văn học dân tộc.
7. Giải pháp 7: Tổ chức thảo luận, thuyết trình, lĩnh hội tác phẩm văn
học trung đại Việt Nam.
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.

16


Việc cho học sinh thảo luận để lĩnh hội văn bản văn học trung đại Việt Nam,
tôi đã tiến hành nhiều năm trong các tiết đọc văn. Tổ chức tốt hoạt động thảo luận
sẽ giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, vừa nâng cao kỹ năng Đọc - hiểu văn bản,
vừa nâng cao hiểu biết một số tác phẩm ngoài chương trình Ngữ văn 10. Hoạt động
thảo luận tạo cho học sinh có hứng thú trong học tập văn học trung đại.
Có nhiều hình thức nêu câu hỏi thảo luận theo tổ nhóm. Có thể thảo luận về
cuộc đời tác giả, về vẻ đẹp tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm…. Câu hỏi thảo luận
phải hướng vào trọng tâm của bài học, phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo
của học sinh, phải hướng đến làm sáng tỏ cái “thần” của câu chữ, của hình ảnh,
cảm nhận được chiều sâu tâm hồn, tư tưởng của tác giả.
Bên cạnh việc nêu câu hỏi thảo luận, giáo viên có thể nêu câu hỏi để học sinh
tranh luận, giúp cho việc đọc - hiểu tác phẩm được sâu sắc hơn. Có thể tích hợp
với kiến thức đã học, kiến thức các phân môn Tiếng Việt, Làm văn để nêu câu hỏi
tranh luận, chỉ tranh luận khi có vấn đề mâu thuẫn, đối lập nhau hoặc có cách hiểu
chưa đúng. Tranh luận hướng vào trọng tâm bài học.
Khi trình bày vấn đề, phát biểu tranh luận, học sinh phải hướng tới chuẩn phát
âm, dùng từ ngữ chính xác, diễn đạt bằng lời nói rõ ràng, mạch lạc, có hệ thống.
Khi học sinh lên bảng làm bài tập, giáo viên nhận xét cách trình bày, chữ viết, bố
cục, sửa lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu cho học sinh.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Ví dụ: Khi đọc - hiểu phần thứ hai của bài Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán
Siêu, đoạn miêu tả hình tượng các vị bô lão, sau một câu hồi tưởng về việc Ngô
chúa phá Hoằng Thao, các bô lão kể cho “khách” nghe về chiến tích Trùng Hưng
nhị thánh bắt Ô Mã, giáo viên nêu các câu hỏi cho học sinh thảo luận.
1. Sông Bạch Đằng nằm ở địa phận nào? Trong lịch sử, dòng sông Bạch Đằng
là nơi diễn ra những trận đánh lớn của quân dân ta, làm cho kẻ thù cướp nước bao
phen khiếp sợ. Đó là những trận đánh nào?

2. Khi gợi kể lại các chiến tích của quân ta trên sông Bạch Đằng, vì sao các vị
bô lão lại nhắc đến chiến thắng của hai vua Trần (năm 1288) trước rồi mới nhắc
đến chiến thắng Ngô Quyền (năm 1938)?
3. Từ các câu Trận đánh được thua chửa phân - Chiến thắng Bắc Nam chống
đối, anh (chị) hình dung như thế nào về trận đánh giữa quân ta với quân giặc?
4. Nhận xét về thái độ, giọng điệu của các bô lão khi kể về chiến công của
Trùng Hưng nhị thánh trên sông Bạch Đằng?
Học sinh chia thành 4 nhóm thảo luận, lên bảng thuyết trình. Các câu hỏi và
câu trả lời đều hướng vào trọng tâm của đoạn văn, phát huy được năng lực chủ
động, sáng tạo của học sinh trong lớp.
Phát biểu thảo luận còn là hướng vào làm sáng tỏ cái “thần” của ngôn từ, hình
tượng, tìm từng hàm nghĩa của hình anh, ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản. Ví
dụ: Khi đọc - hiểu hai câu luận của bài thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Thu ăn
17


măng trúc, đông ăn giá - Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao, giáo viên nêu câu hỏi hướng
dẫn học sinh tìm hiểu vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của tâm hồn, tư tưởng của tác
giả:
1. Phân tích vẻ đẹp của bức tranh tứ bình được thể hiện ở hai câu thơ?
2. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã triết lý như thế nào về Nhàn trong hai câu thơ?
3. Phân tích điểm tương đồng trong quan niệm sống của các nhân vật trữ tình
được thể hiện trong hai câu thơ trên của Nguyễn Bình Khiêm và hai câu thơ sau
của Nguyễn Trãi:
Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu.
4. Trình bày ngắn gọn suy nghĩ của anh (chị) về mối liên hệ giữa con người
với thiên nhiên trong cuộc sống hiện nay?
Câu hỏi tranh luận giúp cho học sinh đọc - hiểu văn bản sâu sắc hơn, vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, phát huy được tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh.

Ví dụ, sau khi học xong bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên nêu câu hỏi để
học sinh phát biểu, tranh luận: Học bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ
Lão, có học sinh cho rằng: Sự hổ thẹn của tác giả là quá đáng, kiêu kỳ. Ngược lại,
có học sinh ngợi ca và cho rằng đó là hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu
nước. Anh (chị) hãy cho biết ý kiến của mình? Học sinh vận dụng kiến thức bài
học, kiến thức về thao tác lập luận phân tích, bác bỏ trong phân môn Làm văn để
bàn luận về những ý kiến trên.
Một số học sinh khi trình chiếu để bàn luận về những ý kiến trên, hoặc chép
trên bảng phụ, do vội vàng, thiếu cẩn thận nên còn viết sai dấu câu, sai chính tả,
dùng từ… cũng được giáo viên và học sinh trong lớp phát hiện, sửa chữa.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
Trong quá trình tổ chức cho học sinh thảo luận, thuyết trình, tranh luận, tôi có
một số ghi nhận sau:
- Không phải tiết học nào cũng tiến hành thảo luận. Trong một tiết học không
nên tổ chức thảo luận nhiều lần.
- Không đưa ra những vấn đề quá dễ, quá đơn giản để thảo luận. Vấn đề thảo
luận phải bám sát văn bản văn học.
- Trong khi thảo luận, giáo viên phải theo dõi và hỗ trợ học sinh kịp thời cũng
như nhắc nhở các em lơ là, thúc đẩy hứng thú học tập của học sinh.
- Thảo luận để cảm nhận được những giá trị đặc sắc về nội dung, nghệ thuật
của tác phẩm, tư tưởng, tình cảm của tác giả ẩn chứa sau những từ ngữ, hình ảnh
trong văn bản, thảo luận về những vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống hiện nay.
- Có những vấn đề thảo luận tại lớp, cũng có những vấn đề cho các nhóm
chuẩn bị ở nhà, lên lớp trình bày kết quả.
18


8. So sánh, liên hệ tác phẩm văn học và thực tiễn, tích hợp kiến thức bộ
môn và liên môn:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:

- Phạm vi đối tượng: Giáo viên - học sinh.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Hoạt động tích hợp giúp học sinh hiểu được tính hệ thống của văn bản, liên hệ
kiến thức đã học ở phần này hoặc sẽ học ở phần kia. Mặt khác, trong quá trình đọc
- hiểu văn bản văn học trung đại, giáo viên cần so sánh, liên hệ với các tác phẩm có
cùng đề tài, chủ đề, cảm hứng nghệ thuật để mở rộng, nâng cao kiến thức cho học
sinh. Từ đó, rèn luyện cho học sinh cách tư duy lôgic, chính xác, khoa học, giúp
học sinh tái hiện kiến thức cũ, tiếp cận với kiến thức mới.
Việc tích hợp, so sánh có thể tìm hiểu trong cùng một văn bản hoặc liên hệ
với văn bản khác, có thể với cùng một tác giả, hoặc các tác giả cùng thời kỳ văn
học, so sánh xưa với nay… Và điều quan trọng là phải vận dụng những kiến thức
đã học vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống. Còn phải
tích hợp với các môn học có liên quan đến bài học như: Giáo dục công dân, Lịch
sử, Địa lý… theo yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Ví dụ: Khi đọc - hiểu bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên so sánh
với các bài thơ Tỏ lòng (Ngôn hoài) của Không Lộ thiền sư, Nỗi lòng (Cảm hoài)
của Đặng Dung. Khi đọc - hiểu hai câu đề trong bài thơ Độc Tiểu Thanh ký của
Nguyễn Du, giáo viên cho học sinh tích hợp với tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn
Du mà học sinh đã được học ở THCS. Giáo viên gợi ý cho học sinh tích hợp kiến
thức: Nguyễn Du đến với Tiểu Thanh có phần giống với Thúy Kiều đến với Đạm
Tiên. Nấm mồ Đạm Tiên “Sè sè nấm đất bên đường” gợi lên ở Thúy Kiều bao nỗi
thương tâm, cái gò hoang sơ chôn Tiểu Thanh gợi lên ở Nguyễn Du bao điều thổn
thức. “Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang”. Khi tìm hiểu nỗi “thẹn” trong bài thơ Tỏ
lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên so sánh, liên hệ với nỗi thẹn của Nguyễn
Khuyến trong bài thơ Thu vịnh (Vịnh mùa thu) “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”.
Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi thẹn. Phạm
Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược lớn như Gia Cát Lượng thời Hán để trừ giặc
cứu nước. Nguyễn Khuyến bày tỏ nỗi thẹn khi nghĩ đến Đào Tiềm, một danh sĩ cao

khiết thời Tấn (Trung Quốc). Đó là nỗi thẹn có giá trị nhân cách.
Có thể thực hiện việc so sánh, tích hợp trong cùng một tác phẩm, cùng một
tác giả. So sánh để làm nổi bật nội dung, tư tưởng, chủ đề của văn bản, những nét
đặc sắc về nghệ thuật. Ví dụ, khi đọc - hiểu tác phẩm Bình Ngô đại cáo (Nguyễn
Trãi), có những từ ngữ, hình ảnh so sánh đặc sắc dùng để miêu tả khí thế chiến
thắng của ta và sự thất bại của giặc.
Khí thế chiến thắng của ta

Sự thất bại của giặc
19


sấm vang chớp giật

máu chảy thành sông

trúc chẻ tro bay

thây chất đầy nội

thừa thắng ruổi dài

Trần Hiệp đã phải bêu đầu

đất cũ thu về

Lý Lượng cũng đành bỏ mạng

hăng lại càng hăng


trí cùng lực kiệt

mưu phạt tâm công

chuốc tội gây oan

điều binh thủ hiểm

(bị) chặt mũi tiên phong

sai tướng chặn đường

(bị) tuyệt nguồn lương thực

ngày mười tám, trận Chi Lăng

Liễu Thăng thất thế

ngày hai mươi, trận Mã Yên

Liễu Thăng cụt đầu

ngày hăm lăm

Lương Minh bại trận tử vong

ngày hăm tám

Lý Khánh cùng kế tự vẫn


thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá

bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau

Bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu
đời, yêu cuộc sống nhưng trên hết vẫn là tấm lòng của ông tha thiết với dân với
nước. Nhìn cảnh sống của người dân lao động - những người dân chài lam lũ được yên vui, no đủ, Nguyễn Trãi mơ ước có được cây đàn của vua Thuấn để gảy
khúc Nam phong ca ngợi cảnh: Dân giàu đủ khắp đòi phương. Với Nguyễn Trãi,
vui hay buồn, lo âu hay thanh thản, tất cả đều xuất phát từ cuộc sống của nhân dân:
“Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn - Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền” (Tự thán
- Bài 43).
Trong quá trình giảng dạy tác phẩm văn học trung đại, tôi luôn chú ý cho
học sinh vận dụng kiến thức bài học vào thực tiễn cuộc sống hôm nay. Chẳng hạn,
khi giảng dạy bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, tôi liên hệ đến chí làm trai trong bài
thơ Nỗi lòng của Đặng Dung và chí làm trai trong văn học trung đại. Sau đó, liên
hệ đến chí làm trai của thanh niên hiện nay: Thế hệ trẻ hôm nay cần phải có chí
làm trai để sống có ý chí, có lý tưởng cao đẹp và biết phấn đấu thực hiện lý tưởng
đó. Muốn vậy, mỗi thanh niên, học sinh phải học tập và tu dưỡng đạo đức để mai
sau trở thành người có ích phục vụ cho đất nước và nhân dân. Nội dung này đã tích
hợp kiến thức bộ môn Giáo dục công dân.
20


Sau khi đọc - hiểu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích
Chinh phụ ngâm), tôi nêu câu hỏi cho học sinh liên hệ thực tế: Trình bày suy nghĩ
của anh (chị) về vẻ đẹp tình yêu đôi lứa trong xã hội hiện nay? Giáo viên hướng
dẫn học sinh tìm ý, trình bày trước lớp:
- Tình yêu gắn với nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt.
- Tình yêu gắn với lòng vị tha, đức hi sinh, trân trọng tình yêu và người mình
yêu.

- Tình yêu gắn với tình yêu quê hương, đất nước,…
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Việc so sánh, liên hệ, tích hợp kiến thức giúp học sinh hiểu bài sâu sắc hơn,
nhớ lại kiến thức đã học ở THCS và đã học ở THPT.
- Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, giúp cho bài học sinh động, mở ra nhiều
tầng lớp nghĩa. Làm cho bài học không phải là lý thuyết suông, mà gợi cho học
sinh cùng tìm hiểu, khám phá.
- Mỗi bài học trong chương trình văn học trung đại Việt Nam được học ở lớp
10 đều gắn với một giai đoạn lịch sử, một tác giả đầy tài năng và tâm huyết. Các
tác phẩm ngắn gọn, súc tích, có giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật cao, thể hiện
tinh thần “quý hồ tinh bất quý hồ đa” của văn học trung đại. Đọc - hiểu tác phẩm
văn học trung đại, học sinh càng thêm tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc, yêu
quý những địa danh đã từng ghi dấu chiến thắng của ông cha: Chương Dương,
Hàm Tử, Chi Lăng, Đông Đô, Bình Than, Lạng Sơn, … Giáo dục cho học sinh
lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc bằng tiết đọc - hiểu văn bản sinh động, bổ sung
nội dung cho những bài giảng chính trị khô khan.
- Trong quá trình trình bày quan điểm của bản thân bằng hình thức nói hoặc
viết, để nội dung trình bày thêm sinh động, học sinh có thể đan xen các yếu tố biểu
cảm, tự sự.
9. Giải pháp 9: Phát huy năng lực học tập của học sinh qua việc sử dụng
tốt trang thiết bị, đồ dùng dạy học, dạy học và ôn tập theo chủ đề:
a. Cách thức tổ chức và thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Giáo viên - học sinh.
- Thời gian thực hiện: Từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Các trang thiết bị, đồ dùng dạy học bộ môn Ngữ văn được trang bị tương đối
tốt: tivi, tranh ảnh, băng đĩa,… Tranh ảnh thì chủ yếu là chân dung, quần thể di
tích, tượng đài, các băng đĩa thì đã cũ, tư liệu chưa phong phú, chưa phục vụ trực
tiếp nội dung bài học. Vì vậy, giáo viên và học sinh phải sưu tầm thêm tranh ảnh,
hình vẽ, nguyên tác chữ Hán, các bản dịch thơ, làm bảng phụ, sưu tầm các đoạn
ngâm thơ,… Học sinh rất hào hứng, hăng say chuẩn bị ở nhà. Đồ dùng dạy học của

thầy trò tự làm là chính.
21


Từ năm học 2014 - 2015, tổ chuyên môn đã tổ chức việc dạy học theo chủ đề:
Trong chương trình văn học trung đại khối 10, tổ chuyên môn thống nhất các chủ
đề.
+ Thơ trung đại Việt Nam.
+ Văn nghị luận trung đại Việt Nam.
+ Truyện trung đại Việt Nam.
+ Truyện thơ Nôm.
Ở mỗi chủ đề, yêu cầu đọc - hiểu phái bám sát đặc điểm thể loại: thơ, truyền
kỳ, phú, cáo, … hiểu được đặc điểm thể loại. Yêu cầu giáo viên và học sinh hiểu
được những đặc sắc về nội dung, phải biết vận dụng những hiểu biết sau khi đọc hiểu các tác phẩm theo chủ đề vào việc làm văn (thuyết minh, nghị luận). Mỗi giáo
viên có thể có phương pháp vận dụng khác nhau, linh hoạt trong việc ra đề, nêu
câu hỏi ôn tập.
b. Các dữ liệu minh chứng:
- Học sinh đã tìm được tranh ảnh, tư liệu về các tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,… sưu tầm được tranh ảnh, bản chữ Hán, chữ Nôm và
bản dịch, ảnh các quần thể di tích: Côn Sơn, Kiếp Bạc,… Học sinh cũng chuẩn bị
bảng phụ ở nhà: đánh máy chữ khổ lớn hoặc chép văn bản, nội dung trả lời trên
giấy rôki,…
- Giáo viên bổ sung thêm một số tranh ảnh, tư liệu, lời bình về tác giả, tác
phẩm, so sánh với các tác phẩm khác của cùng một tác giả, tích hợp với các tác giả
trong và ngoài nước. Chẳng hạn, khi đọc - hiểu bài Đọc Tiểu Thanh ký, từ số phận
tài hoa bạc mệnh của Tiểu Thanh, giáo viên liên hệ đến đề tài người phụ nữ tài hoa
bạc mệnh trong thơ Nguyễn Du. Xót thương cho một giai nhân tuyệt sắc yểu mệnh
(Điểu La Thành ca giả), thương cô gái tài sắc bậc nhất đất kinh kỳ mà chìm nổi,
phong trần (Long Thành cầm giả ca) xót thương Dương Quý Phi tài sắc khó ai bì
mà phải chết oan uổng (Dương Phi cô lý),… Nhà thơ đã phát hiện những vẻ đẹp tài

hoa trí tuệ tuyệt diệu đằng sau những nhan sắc khuynh thành. Đặt trong hoàn cảnh
xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, đặc biệt là quan niệm phủ định tài hoa trú
tuệ của người phụ nữ, mới thấy được sự cao cả và chiều sâu nhân đậo trong ngòi
bút Nguyễn Du.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Sau khi thực hiện giải pháp này, kết quả hiểu văn bản của học sinh được
nâng cao. Có nhiều bài viết đạt điểm cao (điểm 9,0 đến 9,5).
- Học sinh chủ động tìm hiểu bài, nắm vũng kiến thức hơn, liên hệ với các tác
phẩm ngoài chương trình chuẩn khi làm bài. Thực hiện tốt các câu hỏi ôn tập, tích
hợp kiến thức sau khi học xong các chủ đề. Ví dụ:

22


+ Bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ qua một số tác phẩm văn học
trung đại đã học: Đọc Tiểu Thanh ký (Nguyễn Du), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần
Côn - Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)?
+ Bài học về nhân cách mà anh (chị) rút ra từ các câu chuyện về Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn và thái sư Trần Thủ Độ?
- Ngoài việc phát triển năng lực chung, học sinh còn được phát triển năng lực,
năng khiếu riêng: đọc diễn cảm, ngâm thơ, vẽ tranh, kể chuyện, sáng tác thơ văn.
10. Giải pháp 10: Củng cố kiến thức, hướng dẫn tự học qua sơ đồ, bảng
biểu, thống kê:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vị đối tượng: Giáo viên - học sinh.
- Thời gian: Từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu, thống kê giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một
cách logic, lý giải mối quan hệ nội tại của vấn đề, vận dụng các kỹ năng phân tích,
đối chiếu, tổng hợp kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Sau khi tiến hành đọc - hiểu văn bản, giáo viên hướng dẫn học sinh tổng kết

lại bà học, củng cố lại kiến thức. Giáo viên gọi học sinh nêu những đặc sắc về nghệ
thuật, ý nghĩa của văn bản. Sau đó, giáo viên nhận xét, chốt lại ý trọng tâm. Học
sinh có thể sơ đồ hóa, kẻ bảng biểu, bảng thống kê để củng cố lại kiến thức. Trong
phần Luyện tập về nhà, giáo viên có thể cho học sinh phân tích, tìm hiểu một vài
văn bản ngoài sách giáo khoa để nâng cao tri thức về văn học dân tộc và văn học
nước ngoài.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Một số ví dụ: Dạy bài Hứng trở về của Nguyễn Trung Ngạn, giáo viên nêu
câu hỏi: Lập sơ đồ những biểu hiện tình yêu quê hương của tác giả, từ đó nêu chủ
đề của bài thơ?
Giáo viên hướng dẫn học sinh lập sơ đồ như sau:

23


- Sau khi đọc - hiểu văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Thân Nhân
Tông), ở phần Hướng dẫn tự học, sách hướng dẫn chuẩn kiến thức, kỹ năng môn
Ngữ Văn lớp 10, trang 69 nêu bài tập: Phát hiện những luận điểm, luận cứ của văn
bản.
Giáo viên hướng dẫn học sinh sơ đồ như sau:

- Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện tâm trạng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích Nỗi
thương mình (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du), giáo viên hướng dẫn học sinh lập
bảng thống kê như sau:
Biện pháp nghệ
Dẫn chứng trong
Biểu hiện
Tác dụng
thuật
văn bản

Bút pháp ước lệ
- Những từ ngữ ẩn - Bướm - ong; lá - Miêu tả cuộc sống
dụ
gió - cành - chim; xô bồ ở lầu xanh,
gió tựa - hoa kề; - thân phận ô nhục
- Các điển tích
- Tống Ngọc - của Thúy Kiều
Trường
Khanh; nhưng tránh tả một
mưa Sở - mây Tần. cảnh tả một cách
- Các từ ngữ
- dập dìu, cuộc trần trụi, vẫn xót
say, trận cười, sớm xa, yêu thương
đưa - tối tìm,…
Thúy Kiều  Chủ
24


Nghệ thuật đối
xứng

- Tiểu đối trong - Bướm lả / ong
cấu trúc bốn chữ.
lơi, lá gió / cành
chim, dày gió /
dạn sương, bướm
chán
/
ong
chường, mưa Sở /

mây Tần, gió tựa /
hoa kề.
- Tiểu đối trong
phạm vi câu thơ.
- Cuộc say đầy
tháng / trận cười
suốt đêm; sớm sưa
Tống Ngọc / tối
tìm
Trường
Khanh; Khi tỉnh
rượu / lúc tàn
- Đối giữa hai câu canh.
thơ lục bát.
- Khi sao phong
gấm rủ là/ Giờ sao
tan tác như hoa
giữa đường; Mặc
người mưa Sở mây
Tần/ Những mình
nào biết cỏ xuân là
gì.

nghĩa nhân đạo của
Nguyễn Du.
- Nhấn mạnh, gây
chú ý hơn đến nội
dung của cụm từ
bốn chữ thông
thường (Ví dụ viết

bướm lả / ong lơi
nhấn mạnh cảnh
ngộ của Kiều hơn
là viết bướm ong
lơi lả).
- Gia tăng tính chất
hoàn cảnh của
cuộc sống ê chề
nơi lầu xanh: đau
khổ, chán chường
kéo dài ngày và
đêm, sớm và tối,
lúc tỉnh và say.
- Tạo điều kiện
nhìn nỗi thương
thân, xót phận của
nhân vật từ những
góc độ khác nhau.

c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Phương pháp này đối với một số bộ môn khác đã ứng dụng từ lâu như minh
họa bằng hình vẽ, biểu đồ, bản đồ, những mô hình thiết kế khác,…
- Đối với bộ môn Ngữ văn, do đặc trưng của bộ môn nên ít có minh họa bằng
sơ đồ, hình vẽ minh họa, bảng biểu,… Thường là do giáo viên tự tìm tòi, thực hiện,
phần nhiều thường sử dụng khi thao giảng, hội giảng.
- Nếu kỹ năng vận dụng không khéo léo, sẽ làm mất thời gian của người dạy
và người học. Vì vậy, không nhất thiết bài đọc - hiểu văn bản nào cũng sử dụng
phương pháp này.
- Vận dụng phương pháp này một cách linh hoạt, có chọn lọc, thì sẽ làm cho
tiết đọc - hiểu văn học trung đại trở nên sinh động, ghi nhớ kiến thức nhanh. Học

25


×