Tải bản đầy đủ (.pdf) (41 trang)

sáng kiến kinh nghiệm khai thác kênh hình trong dạy học tích cực môn địa lí 10

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 41 trang )

Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông các nước trong khu
vực và trên thế giới, từ nhiều năm nay, nước ta đã đề cập đến việc đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học.
Các phương pháp dạy học truyền thống – lấy giáo viên làm trung tâm đang
dần được thay thế bằng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực – lấy học sinh
làm trung tâm. Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi về phương pháp trong công tác
giảng dạy của người giáo viên, trong đó phương pháp trực quan và phương pháp thực
hành là các phương pháp dạy học tích cực đang được nhiều giáo viên quan tâm áp
dụng. Bởi vì:
- Trước đây, các nhà phương pháp dạy học địa lí và các nhà địa lí học nổi tiếng
của Liên Xô như: N.Nbaranxiki, A.C Barcov, V.P Buđanov...và nhiều người khác cho
rằng: muốn dạy học địa lí có kết quả tốt thì tính trực quan trong dạy học là điều rất cần
thiết.
- Gần đây, các nhà phương pháp nổi tiếng của các nước khác như: I.I.Alecne,
I.D.Dvere...và các nhà phương pháp của Việt Nam nói chung, cũng như các nhà
phương pháp dạy học địa lí nói riêng, khi nghiên cứu về phương pháp dạy học tích
cực cũng cho rằng, phương pháp trực quan tích cực hơn phương pháp dùng lời,
phương pháp thực hành tích cực hơn phương pháp trực quan trong dạy học địa lí. Như
vậy phương pháp trực quan, phương pháp thực hành trên kênh hình được các nhà
phương pháp đánh giá rất cao trong giảng dạy địa lí, vì nó có ý nghĩa rất lớn trong
việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Ngoài kiến thức địa lí được tàng trữ ở kênh chữ
dưới dạng các khái niệm, thì các kiến thức địa lí còn được tàng trữ trong kênh hình rất
đa dạng, Số hóa bởi chúng có tính trực quan cao và tính diễn giải logic các hiện tượng


trong dạy học địa lí.
- Trong chương trình sách giáo khoa địa lí lớp 10, hệ thống kiến thức địa
lí tàng trữ ở kênh hình bao gồm:
+ Các loại hình bản đồ: Quả Địa Cầu, bản đồ treo tường, bản đồ trong sách giáo khoa,
bản đồ trong át lát, bản đồ câm
+ Các loại tranh ảnh, hình vẽ và bảng biểu
+ Các loại phim ảnh, video clip, phim hình chiếu...
Khi lên lớp, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh khai thác hết kiến thức ở
kênh chữ và kênh hình. Do đó, học sinh cần phải hiểu rõ và nắm chắc kiến thức mà
giáo viên đã hướng dẫn ở trên lớp. Sự phối hợp biểu hiện kiến thức trên kênh chữ của
các nhà biên soạn sách giáo khoa và sự khai thác triệt để kiến thức ở kênh chữ và kênh
hình của giáo viên và học sinh đã tạo điều kiện cho hoạt động nhận thức kiến thức địa
lí trực quan sinh động hơn, giúp cho việc tiếp thu kiến thức địa lí dễ dàng hơn và lưu
giữ kiến thức trong kí ức bền chặt hơn, chắc chắn hơn.
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 1


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

Thực tiễn việc dạy học địa lí tại các trường trung học phổ thông hiện nay cho
thấy: việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa mới chỉ dừng lại ở mức độ đơn
thuần là minh họa cho bài giảng mà chưa hướng dẩn cho học sinh khai thác hết nguồn
tri thức phong phú và bổ ích này. Vì vậy, học sinh tiếp thu bài giảng một cách máy
móc, hời hợt, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế còn hạn chế. Vì vậy tôi lựa
chọn đề tài : “ Khai thác kênh hình trong dạy học tích cực môn địa lí 10”


2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận của việc sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí lớp 10 theo
hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh.
- Nêu những nguyên tắc sử dụng kênh hình trong dạy học đia lí.
- Xây dựng quy trình sử dụng bản đồ, tranh ảnh, biểu đồ, hình vẽ và bảng biểu trong
việc hình thành kiến thức địa lí cho học sinh lớp 10, ở trường THPT Chu Văn An

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tham khảo các tài liệu khoa học đã công bố ở trong và ngoài nước để xây dựng cơ
sở lí luận cho đề tài
- Điều tra và khảo sát, xây dựng quy trình sử dụng kênh hình trong việc giảng dạy Địa
lí 10
- Thực nghiệm sư phạm ở học sinh lớp 10 trường THPT Chu Văn An để khẳng định
tính đúng đắn và tính khả thi của đề tài

4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Để đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước, góp phần đổi
mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, nhiều nhà khoa học giáo dục trong và
ngoài nước đã nghiên cứu việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa địa lí theo
hướng tích cực:
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy học địa
lí, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương pháp sử dụng các phương tiện dạy học
địa lí ở trường phổ thông, NXB Giáo Dục, năm 1998.
- Tiến sĩ Hoàng Việt Anh, Vận dụng phương pháp Graph vào giảng dạy địa lí
lớp 6 và lớp 8, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, năm 1993.
- PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương pháp sử dụng số liệu thống kê trong
dạy học địa lí kinh tế- xã hội, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 1997.
Nghiên cứu các đề tài của các nhà khoa học giáo dục, chúng ta nhận thấy rằng
việc hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình trong sách giáo khoa địa lí đã tạo điều

kiện cho hoạt động nhận thức kiến thức địa lí trực quan, sinh động hơn, việc tiếp thu
kiến thức địa lí dễ dàng và khắc sâu kiến thức trong trí nhớ học sinh hơn, giúp học
sinh say mê, hứng thú trong việc học tập môn địa lí.
Các công trình nghiên cứu trên đây đã giúp cho tôi về cơ sở lí luận, những định
hướng, những tư liệu quý giá, những gợi ý để xây dựng và thực hiện đề tài trên cơ sở
kế thừa và phát triển kiến thức của những người đi trước.

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 2


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm, do thời gian hạn hẹp, tôi giới hạn
phạm vi nghiên cứu phương pháp sử dụng kênh hình trong việc giảng dạy Địa lí 10 cơ
bản nói chung và thực nghiệm ở trường THPT Chu Văn An.

6. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, bao gồm việc nghiên cứu hệ thống và
phương pháp phân tích hệ thống.
- Phương pháp thực địa, bao gồm việc điều tra và khảo sát tình hình sử dụng
kênh hình ở lớp 10, trao đổi với đồng nghiệp về vấn đề này.
- Phương pháp thống kê toán học, bao gồm thống kê và xử lí kết quả điều tra
thực tế, thống kê và xử lí kết quả thực nghiệm phục vụ đề tài.
- Phương pháp thực nghiệm nhằm minh chứng tính đúng đắn và tính khả thi
của đề tài.


Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 3


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận dạy học
1.1.1.Khoa học Địa lí - Môn học Địa lí
- Bài học địa lí là một hệ thống khoa học Địa lí ngày nay đã trở thành một hệ
thống gồm nhiều ngành khoa học có đối tượng và nhiệm vụ khác nhau, trong đó có
hai ngành chủ yếu là Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội. Hai ngành này tuy có
mục đích, đối tượng và phương pháp nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau nhưng
chúng không thể tách rời nhau, vì cùng có đối tượng nghiên cứu chung về mặt không
gian là “sự tổ chức lãnh thổ các cấp”. Tương ứng với Khoa học Địa lí là môn học Địa
lí trong nhà trường phổ thông. Môn Địa lí phổ thông cũng gồm có hai ngành khoa
học: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội và được phản ánh trong chương trình
gồm cả hai phần: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội.
+ Trong Địa lí tự nhiên, học sinh được học hệ thống kiến thức địa lí tự nhiên.
+ Trong Địa lí kinh tế - xã hội, học sinh được học hệ thống kinh tế - xã hội.
- Toàn bộ hệ thống kiến thức địa lí đã được chọn lọc, sắp xếp theo một hệ
thống trong từng lớp học từ dưới lên trên: từ Địa lí tự nhiên học đến kinh tế - xã hội,
hệ thống kiến thức đại cương được cung cấp làm cơ sở cho địa lí khu vực. Hệ thống
kiến thức trong từng lớp học lại được sắp xếp logic trong các bài học địa lí. Hệ thống

bài học trong từng lớp và cả chương trình địa lí phổ thông là một hình thức tổ chức
dạy học địa lí. Bài học là một đơn vị kiến thức của nội dung dạy học, có vị trí xác định
trong hệ thống chương trình, sách giáo khoa và có quan hệ chặt chẽ với các bài học
khác trong mỗi chương trình và trong cả hệ thống chương trình. Bài học chứa đựng
một khối lượng kiến thức, kĩ năng nhất định trong chương trình. Nó được cấu thành
bởi một hệ thống các khái niệm, được sắp xếp một cách logic, có quan hệ chặt chẽ với
nhau, tác động lẫn nhau để làm rõ một đơn vị kiến thức.
1.1.2. Hệ thống bài học là hệ thống phát triển
Nếu như ta coi môn học là một đối tượng nghiên cứu thì cần phải nhìn nhận nội
dung môn học được diễn đạt bởi một hệ thống khái niệm. Hệ thống này phát triển
theo lôgic của nó. Logic nội dung của hệ thống cũng chính là lôgic tiếp thu kiến thức
của người học. Muốn vậy hệ thống khái niệm có trong nội dung môn học phải là hệ
thống phát triển. Nói rộng ra, hệ thống bài học trong môn học và hệ thống bài học
trong cả chương trình Địa lí phổ thông là hệ thống phát triển từ thấp lên cao, từ đơn
giản đến phức tạp. Để hình thành hệ thống khái niệm địa lí phổ thông, ngoài nội dung,
còn cần phải có hệ thống phương tiện dạy học và các phương pháp tương ứng.
1.1.3.Nội dung của bài học địa lí là khái niệm
Khoa học Địa lí là một hệ thống khái niệm được xây dựng như một cơ cấu dựa
trên một nền tảng thực tế địa lí. Môn học Địa lí phổ thông phải lấy Khoa học Địa lí
làm cơ sở. Các nhà biên soạn chương trình và sách giáo khoa đã tìm hiểu những thành
tựu mới nhất, đáng tin cậy của Khoa học Địa lí rồi chuyển hoá nó thành môn học
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 4


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí


trong nhà trường. Như vậy, các nhà sư phạm đã thực hiện chức năng thứ nhất, biến
khoa học lớn thành môn học, từ đó giáo viên mới thực hiện chức năng thứ hai, biến tri
thức của môn học ấy thành tài sản riêng của mỗi học sinh.
1.1.4. Khái niệm là một hệ thống
Mỗi đối tượng, hiện tượng đều là một khái niệm vật chất, nó có nội dung và
hình thức diễn đạt trong hiện thực. Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng, giữa
hình thức và nội dung của các đối tượng và hiện tương địa lí, đó là lôgic phát triển bên
trong của khái niệm được diễn đạt một cách trung thực qua các hình thức của nó. Nội
dung và hình thức có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời. Trong hiện thực, ta
không thể tách nội dung khái niệm ra khỏi hình thức của nó, vì vậy có thể nghiên cứu
nội dung ấy thông qua việc theo dõi các hình thức tất yếu của nó. Đây là sự nhận thức
cảm tính đầu tiên. Sau đó tiếp tục nhận thức bằng cách phân chia đối tượng làm hai,
phần tồn tại trong hiện thực và phần diễn đạt nó trong tư duy, một cách nhân tạo võ
đoán (võ đoán chính là dùng kí hiệu, ngôn ngữ...tổ hợp lại thành khái niệm). Cuối
cùng, phải xác định xem bài học thể hiện khái niệm ở hình thức nào. Mỗi bài học là
một quá trình hình thành khái niệm. Khái niệm là hình thức của tư duy, là cơ sở hoạt
động của tư duy, trong đó phản ánh các dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn
nhất hay lớp các sự vật đồng nhất. Trong khái niệm, thứ nhất, bản chất của sự vật
được phản ánh; thứ hai, sự vật hay lớp sự vật nổi bật trên cơ sở của các dấu hiệu cơ
bản khác biệt. Khái niệm không chỉ là công cụ tư duy mà còn là kết quả của quá trình
tư duy. Khái niệm không chỉ là điểm xuất phát trong sự vận động của nhận thức mà
còn là sự tổng kết của quá trình vận động đó. Nhận thức khoa học càng phát triển thì
các khái niệm khoa học có nội dung ngày càng đổi mới, càng tiếp cận với bản chất của
sự vật, hiện tượng.
Trong nghiên cứu khoa học địa lí, mỗi khái niệm luôn gắn liền với một đối
tượng, hiện tượng địa lí cụ thể nào đó. Để hình thành khái niệm, người ta phải nghiên
cứu phân tích đối tượng, tìm ra những dấu hiệu bản chất, đặc thù của đối tượng để
phân biệt với các đối tượng khác.Khái niệm địa lí là sự phản ánh trong tư duy những
đối tượng và hiện tượng địa lí đã được trừu tượng hoá và khái quát hoá, dựa vào các
dấu hiệu bản chất sau khi đã tiến hành các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng

hợp...). Khái niệm địa lí cũng giống như tất cả các khái niệm khác, là kết quả của tư
duy trừu tượng. Nó là đơn vị cơ sở của tri thức địa lí. Khái niệm địa lí có tính chất
không gian, có quan hệ với sự phân bố không gian. Đó chính là dấu hiệu phân biệt
chúng với các khái niệm khoa học khác.
Khái niệm địa lí được phân ra ba nhóm:
- Khái niệm địa lí chung là những khái niệm chỉ toàn bộ một loạt các sự vật,
hiện tượng địa lí cùng loại có những thuộc tính giống nhau
- Khái niệm địa lí riêng là những khái niệm chỉ những sự vật, hiện tượng địa lí
riêng biệt, cụ thể. Mỗi khái niệm địa lí riêng chỉ liên quan đến một đối tượng, phản
ánh tính độc đáo của nó.
- Khái niệm địa lí tập hợp là khái niệm địa lí trung gian giữa khái niệm địa lí
chung và khái niệm địa lí riêng.

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 5


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

Mỗi khái niệm trên đây bao gồm một hệ thống các dấu hiệu, các bộ phận để
chứng tỏ nó là nó chứ không phải cái khác. Những dấu hiệu này biểu hiện ra ở các
hình thức diễn đạt có thể bằng bản đồ, hình vẽ, tranh ảnh, video clip... Khái niệm có
nội dung hiện thực tự nhiên, nội dung đó là quy luật tồn tại trong các đối tượng, hiện
tượng địa lí, nó tồn tại ở hình thức khái niệm tinh thần, trong đầu và ở bên ngoài, là
hình thức vật chất “tàng hình” trong đối tượng, hiện tượng địa lí và hình thức nhân tạo
võ đoán “tàng hình” trong các dạng ngôn ngữ, mô hình, kí hiệu.... Nhờ có thao tác tư
duy mà lôgic tồn tại của các đối tượng, hiện tượng ở “dạng tĩnh, ẩn tàng” chuyển

thành “dạng động, hiện thực” và nhờ tách được nó ra khỏi đối tượng, hiện tượng mà
chủ thể (học sinh) nạp được chúng vào trong đầu óc của mình (bộ nhớ), để lĩnh
hội (hình thành) khái niệm.
1.1.5.Phương pháp hình thành khái niệm địa lí
Quá trình dạy học một bài học địa lí là quá trình hình thành khái niệm và kĩ
năng, kĩ xảo tương ứng với nó. Đó là quy trình dạy học tích cực, quy trình nhận thức.
Đặc điểm cơ bản của quy trình nhận thức là:
- Người học, chủ thể của hoạt động nhận thức, tự mình tìm ra kiến thức bằng
chính hoạt động của mình
- Người học tự thể hiện mình và hợp tác với bạn học
- Nhà giáo – chuyên gia về việc học – là người tổ chức và hướng dẫn quá trình
kết hợp cá nhân với xã hội hoá việc học tập của người học.
- Người học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
Từ đặc điểm nhận thức kiến thức trên đây, có thể nói hoạt động nhận thức là
một loại hoạt động tinh thần, không làm biến đổi các đồ vật thực, quan hệ thực…Dưới
sự hướng dẫn của GV, HS hoạt động chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển
năng lực, hình thành nhân cách. Quá trình đó được diễn ra theo con đường nhận thức
chung của loài người, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện
thực khách quan. Muốn vậy đòi hỏi HS phải tích cực hoá hoạt động nhận thức của
mình. Tích cực hoá là một hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ
động sang chủ động. Từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để
nâng cao hiệu quả học tập. Người học được cuốn hút tham gia vào các hoạt động học
tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự khám phá, tìm tòi kiến thức không thụ
động trông chờ vào việc truyền thụ của GV.
Dạy học chính là quá trình tổ chức cho HS tự lĩnh hội tri thức. HS có vai trò
chủ động tích cực, tự giác tham gia vào các hoạt động học tập, tự khám phá ra “cái
chưa biết”, tìm ra kiến thức, tìm chân lí dưới sự chỉ đạo của GV. GV không còn là
người truyền đạt tri thức có sẵn mà là người định hướng, đạo diễn, điều khiển, chỉ đạo
hoạt động học tập cho HS chiếm lĩnh tri thức. HS tham gia tích cực vào các hoạt động
học tập, tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề về lí thuyết cũng như thực hành

trên các hình vẽ, biến hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo chung thành tài sản riêng của
mình.
Hiện nay, trong chương trình của tất cả các môn học trong nhà trường nói
chung, trong chương trình Địa lí lớp 10 nói riêng, đều có những hình vẽ, tranh ảnh và
bảng biểu. Phải làm cho HS hiểu được các hình trong mỗi bài học địa lí đi kèm với
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 6


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

kiến thức địa lí là những dấu hiệu, những biểu tượng khác nhau của các kiến thức
trong bài học, do đó cần phải khai thác đầy đủ các hình trong bài học. Khi khai thác
các hình trong bài học, một mặt nắm vững kiến thức địa lí, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo;
mặt khác, để bồi dưỡng cho HS có được năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn
trong học tập. Quá trình thực hiện khai thác kênh hình diễn ra theo hai giai đoạn: trang
bị tri thức về khai thác kênh hình; tổ chức cho HS hoạt động khai thác kênh hình phục
vụ bài học. Nói một cách khác, thực chất của quá trình này là thầy tổ chức, trò thi
công sử dụng kênh hình địa lí. Đó là đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Học sinh
Học sinh nhìn chung năng động, ham học hỏi, phụ huynh quan tâm, đầu tư
thích đáng cho việc học của con em mình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các em tỏ ra có
hứng thú học tập nhưng thiếu say mê với bộ môn địa lí. Nhiều học sinh cho rằng “địa
lí là môn học phụ, môn học thuộc lòng”, do vậy các em rất ít đầu tư cho môn học. Khi
gặp các dạng bài đòi hỏi tư duy như : phân tích bản đồ, bảng số liệu, biểu đồ... phần

lớn học sinh rất lúng túng.
1.2.2 Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học khá đảm bảo, HS trong lớp đều có SGK. Bản
đồ giáo khoa treo tường, tập bản đồ và Atlat địa lí đã được trang bị, các thiết bị dạy và
học địa lí đã được nhà trường mua sắm. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu khá nhiều và chất
lượng các thiết bị chưa đảm bảo.
1.2.3. Tình hình giảng dạy và học tập địa lí hiện nay ở trường THPT
Phần lớn các GV vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống như thuyết
trình, diễn giảng... do thiếu phương tiện học nên hiệu quả học tập chưa cao. Nhiều GV
và HS chưa tiếp cận được với các thiết bị hiện đại hoặc còn xem nhẹ kênh hình, nên
việc rèn luyện kĩ năng địa lí còn hạn chế so với việc rèn luyện kĩ năng toán, văn... có
GV, HS và gia đình các em còn cho rằng môn Địa lí là môn phụ, nên ít đầu tư thời
gian học tập.
1.2.4. Tình hình thực tế sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí 10 ở trường
THPT Chu Văn An
Đại đa số giáo viên và học sinh đều sử dụng kênh hình truyền thống như: lược
đồ, biểu đồ, bản đồ, sơ đồ, tập atlat, tranh ảnh sưu tầm... Việc sử dụng CNTT còn hạn
chế vì trường chỉ có một phòng dạy CNTT chung cho tất cả các môn học do đó không
đáp ứng đủ yêu cầu về cách dạy học trực quan của môn Địa Lí.
Phần lớn giáo viên sử dụng các kênh hình như: bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu...
mới chỉ dùng ở chức năng trực quan, minh hoạ cho bài giảng chứ chưa khai thác nội
dung, chưa hướng dẫn cho học sinh khai thác các kiến thức từ kênh hình đó.

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 7


Trường THPT Chu Văn An


Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC KÊNH HÌNH
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10
2.1 Quan niệm về kênh hình trong các sách giáo khoa địa lí
Trong sách giáo khoa địa lí nói chung và trong sách giáo khoa địa lí lớp 10 nói
riêng, kiến thức được trình bày bằng nhiều loại ngôn ngữ: ngôn ngữ văn học, ngôn
ngữ đồ hoạ, ngôn ngữ toán học... Ngôn ngữ văn học (chữ viết) được trình bày thông
qua kênh chữ, ngôn ngữ toán học được trình bày thông qua công thức, bảng biểu, số
liệu... còn các ngôn ngữ khác được trình bày thông qua kênh hình. Tất cả các hình vẽ,
bao gồm các sơ đồ, lược đồ, bản đồ, và các sản phẩm khoa học của bản đồ, tranh ảnh
và các hình vẽ, các bảng biểu( biểu đồ, đồ thị hoặc bảng sồ liệu gắn với biểu đồ, với
bản đồ hoặc được diễn giải gắn với một quá trình tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định,
gọi chung là bảng biểu) trong sách giáo khoa được gọi chung là kênh hình. Chúng
cótính trực quan cao và diễn giải logic các hiện tượng trong dạy học địa lí.
Hệ thống các kiến thức chứa đựng trong kênh chữ giúp học sinh hình thành
kiến thức cơ bản , phát triển tư duy địa lí, tư duy trừu tượng, hình thành thế giới quan
khoa học và nhân sinh quan cách mạng. Hệ thống kiến thức này được xích lại gần
thực tế hơn nếu biết khai thác những kiến thức trong kênh hình phục vụ bài học địa lí.
Ngoài kiến thức địa lí minh hoạ cho kênh chữ, những kiến thức tàng trữ trong kênh
hình có khả năng nâng cao và mở rộng tầm hiểu biết của học sinh mà kênh chữ chưa
đề cập đến hoặc điều kiện thời gian không cho phép.

2.2 Các loại hình, tranh ảnh và bảng biểu trong dạy học Địa lí 10
2.2.1 Các loại hình:
- Các hình vẽ, sơ đồ (gồm các sơ đồ có nguồn gốc từ tài liệu bản đồ hoặc sơ đồ
không có nguồn gốc từ tài liệu bản đồ), lược đồ, bản đồ và các sản phẩm của khoa học
bản đồ để bàn hoặc treo tường.
- Các loại hình trong sách giáo khoa trình bày sự phân bố không gian và các

mối quan hệ của đối tượng, hiện tượng được đề cập đến trong sách giáo khoa mà
thầyvà trò học tập, nghiên cứu. Tuỳ từng qui mô nghiên cứu và tính chất của các đối
tượng, hiện tượng mà hình được vẽ theo một tỉ lệ nhất định tương ứng với nội dung
địa lí cần biểu hiện.
- Dựa vào tính chất của các hình và cách sử dụng mà chia ra:
+ Các sơ đồ có nguồn gốc tài liệu từ bản đồ, các lược đồ và bản đồ treo tường
hoặc để bàn.
+ Các sơ đồ không có nguồn gốc tài liệu từ bản đồ, các sơ đồ graph và các sơ
đồ khác nhìn gần hoặc nhìn xa.
+ Các hình vẽ không theo tỉ lệ, trình bày các mối quan hệ không gian hai chiều,
ba chiều, các mối quan hệ thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai của các đối tượng,
hiện tượng; các hình vẽ treo tường hay để bàn.
 Khi sử dụng các hình vẽ nên phối hợp giữa chúng, phối hợp giữa hình
vẽ với các tranh ảnh và bảng biểu dùng trong chương trình địa lí 10.
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 8


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

2.2.2 Các loại tranh ảnh và bảng biểu
- Nhận rõ được vai trò to lớn của tranh ảnh và bảng biểu, nước ta và
nhiều nước khác đã có quy định số lượng tranh ảnh và bảng biểu cho từng
chương trình địa lí. Các loại tranh ảnh treo tường hoặc để bàn( nhìn xa hoặc
nhìn gần; các loại tranh ảnh phản ánh nội dung tự nhiên, kinh tế, xã hội; các
loại tranh ảnh toàn phần hay trích đoạn một phần sự vật, hiện tượng... hoặc
phân biệt theo ngôn ngữ đồ họa, hội họa hay nghệ thuật( tranh vẽ, ảnh chụp,

các sơ đồ, mặt cắt...)
- Các loại bảng biểu bao gồm: bảng biểu minh hoạ, sơ đồ, đồ thị, mặt cắt, biểu
đồ, số liệu thống kê... nằm ở trong sách giáo khoa hay treo ở trên tường dùng cho giáo
viên giảng dạy.
- Trong sách giáo khoa địa lí 10, tranh ảnh và bảng biểu cũng có đủ loại như đã
trình bày ở trên. Song mỗi loại có cách khai thác riêng hoặc khai thác kết hợp với bản
đồ, với hình vẽ, với biểu đồ, sơ đồ, mặt cắt... phục vụ từng bài học địa lí.

2.3. Ý nghĩa của việc khai thác kênh hình trong dạy học địa lí
- Trong việc dạy học địa lí ở lớp 10, giáo viên đã sử dụng nhiều đồ dùng dạy
học khác nhau như tranh ảnh, bảng biểu, băng hình, bản đồ,...mỗi loại đồ dùng có một
giá trị nhất định trong dạy học địa lí. Bản đồ giáo khoa, bao gồm các bản đồ giáo khoa
treo tường ; bản đồ, sơ đồ, lược đồ trong SGK; các bản đồ câm và át lát địa lí. Trong
số các loại hình bản đồ giáo khoa kể trên, các sơ đồ, lược đồ và bản đồ trong sách giáo
khoa được học sinh tiếp xúc nhiều nhất và đây cũng là loại hình duy nhất gần như học
sinh nào cũng có thể có, các em thường dùng để học ở nhà, học ở trường (các loại
hình treo tường, bản đồ câm, át lát địa lí nhiều học sinh không có). Hơn nữa loại hình
này gắn bó với các bài học địa lí rất khăng khít không thể tách rời, nó giúp học sinh tư
duy địa lí gắn liền với từng lãnh thổ. Các kiến thức địa lí được chọn lọc và trình bày
trong bài học bằng ngôn ngữ viết, còn các sơ đồ, lược đồ, bản đồ phản ánh chúng bằng
ngôn ngữ bản đồ. Sự phối hợp giữa ngôn ngữ viết và ngôn ngữ bản đồ làm cho việc
phản ánh thực tế địa lí sinh động hơn, đầy đủ hơn, giúp cho việc nhận thức thực tế địa
lí dễ dàng hơn, sâu sắc hơn. Các sơ đồ, lược đồ, bản đồ trong sách giáo khoa còn giúp
học sinh nhìn bao quát được các hiện tượng diễn ra trong các khoảng không gian rộng
lớn trên Trái Đất mà học sinh không thể tri giác trực tiếp được. Chúng cũng mở rộng
khái niệm không gian cho học sinh, cho phép các em thiết lập các mối quan hệ tương
hỗ và nhân quả giữa các hiện tượng, trong các quá trình tự nhiên, kinh tế, xã hội phát
triển tư duy logic, năng lực quan sát, đồng thời hình thành trong các em thế giới quan
duy vật biện chứng.
- Các sơ đồ, lược đồ, bản đồ còn tham gia hình thành trong học sinh các quy

luật phân bố của các đối tượng địa lí, quy luật phân bố lực lượng sản xuất, quy luật
phân công lao động theo lãnh thổ, khai thác hợp lí nguồn tài nguyên và chống ô
nhiễm môi trường... Loại hình này nếu được phối hợp sử dụng với các loại hình bản
đồ khác như bản đồ giáo khoa treo tường, át lát, bản đồ câm thì kết quả học tập địa lí
còn tăng lên gấp bội.
- Các sơ đồ không có nguồn gốc tài liệu từ bản đồ và các hình vẽ, biểu đồ,
tranh ảnh... trong SGK có giá trị không nhỏ trong việc hình thành các mối quan hệ địa
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 9


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

lí, các biểu tượng và khái niệm địa lí tự nhiên, kinh tế, xã hội. Các loại đồ dùng trên
đây, khi tiến hành giảng dạy nhất thiết phải liên hệ với bản đồ, lãnh thổ có biểu đồ,
tranh ảnh, hình vẽ đó tồn tại. Không liên hệ với bản đồ thì các phương tiện trên không
có giá trị thực tiễn và các biểu tượng, khái niệm không được củng cố vững chắc trong
học sinh.

2.4. Các phương pháp khai thác kênh hình trong dạy học Địa lí 10
2.4.1 Phương pháp khai thác kiến thức trên Quả Địa Cầu
- Quả Địa Cầu là mô hình thu nhỏ của Trái Đất mà trong đó tất cả các yếu tố
của nó như bán kính Trái Đất, hệ thống kinh vĩ tuyến, diện tích các lục địa, đảo và đại
dương... đều giảm đi theo một tỉ lệ nhất định. Quả Địa Cầu biểu hiện đúng các đối
tượng quan trọng trên bề mặt Trái Đất và giữ được tính chất địa lí của chúng. Khoảng
cách và diện tích, góc và hình dạng đối tượng không có sai số chiếu hình. Tỉ lệ của
Quả Địa Cầu như nhau tất cả mọi điểm. Quả Địa Cầu cho ta một khái niệm đúng và

trực quan về hình dạng Trái Đất, về kích thước, hình dạng và vị trí tương quan của các
phần trên bề mặt Trái Đất; đồng thời cụ thể hoá các yếu tố của Trái Đất- trục quay,
các cực và mạng lưới địa lí (thường gọi là hệ thống kinh vĩ tuyến). Trục quay của quả
cầu là trục quay tưởng tượng của Trái Đất. Cực của quả Địa Cầu là giao điểm giữa
trục quay và mặt elipxôit của Trái Đất. Kinh tuyến Trái Đất là giao tuyến giữa mặt
phẳng đi qua trục và mặt elipxoit trái Đất, biểu hiện trên quả Địa Cầu là đường nối hai
cực Trái Đất. Đường xích đạo có chiều dài L=2πR (R là bán kính Trái Đất được công
nhận bằng 6378, 245 km) tính gần đúng bằng 40.000 km, chia Trái Đất ra làm hai
phần bằng nhau. Nửa trên có cực Bắc của Trái Đất gọi là Bắc Bán Cầu. Nửa dưới có
cực Nam của Trái Đất gọi là Nam Bán Cầu. Tất cả những đường song song với đường
xích đạo là các đường vĩ tuyến được tính bằng công thức: l=2πr(r là bán kính vĩ tuyến
ở vĩ độ φ) hoặc l=2π RCosφ(r = R.Cosφ). Hệ thống kinh vĩ tuyến trên quả Địa Cầu
vuông góc với nhau.
- Nói chung, tỉ lệ quả Địa Cầu dùng trong thực tiễn thay đổi từ 1/100.000.000
đến 1/25.000.000.Quả Địa Cầu dùng trong nhà trường thường có tỉ lệ 1/50.000.000,
tức là 1cm trên quả Địa Cầu tương ứng với 500 km trên bề mặt Trái Đất. Các loại quả
Địa Cầu gồm: quả Địa Cầu tự nhiên, quả Địa Cầu địa hình, quả Địa Cầu chính trị...
Sử dụng quả Địa Cầu để hình thành khái niệm cơ bản như kinh, vĩ tuyến, các cực,
bán cầu Bắc, bán cầu Nam, bán cầu Đông, bán cầu Tây, các đại lục và châu lục trên
thế giới.
2.4.2. Phương pháp khai thác kiến thức trên một số loại hình bản đồ Địa lí 10
- Trong nhà trường đã dùng các loại phương tiện: bản đồ, sơ đồ và lược đồ có
nguồn gốc tài liệu bản đồ, vì vậy trong đề tài này tôi dùng thuật ngữ “bản đồ” để chỉ
chung cho các phương tiện trên.
- Trong chương trình và sách giáo khoa Địa lí 10 đã sử dụng các bản đồ, sơ đồ
và lược đồ sau:
Bài 2. Một số phương pháp biểu hiện bản đồ.
 Hình 2.2 – Công nghiệp điện Việt Nam
 Hình 2.3 – Gió và bão ở Việt Nam
 Hình 2.4 – Phân bố dân cư châu Á

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 10


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

- Hình 2.5 – Diện tích và sản lượng lúa Việt Nam
- Hình 2.6 – Một số cách khác nhau thể hiện vùng thuốc lá.
Bài 5 – Hình 5.3 – Các múi giờ trên Trái Đất
Bài 7 - Hình 7.3 – Các mảng kiến tạo lớn của thạch quyển
Bài 10 - Hình 10 – Các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ
Bài 11 - Hình 11.3 – Biên độ nhiệt độ năm thay đổi theo vị trí gần hay xa đại
dương
Bài 12 - Hình 12.2 – Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 7
- Hình 12.3 - Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 1
Bài 13 – Hình 13.2 – Phân bố lượng mưa trên thế giới
Bài 14 - Hình 14.1 – Bản đồ các đới khí hậu trên Trái Đất
Bài 16 - Hình 16.4 – Các dòng biển trên thế giới
Bài 19 - Hình 19.1 – Các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới
- Hình 19.2 – Các nhóm đất chính trên thế giới
Bài 22 - Hình 22.3 – Tỉ xuất gia tăng dân số tự nhiên thế giới hằng năm, thời
kì 2000 – 2005 (%)
Bài 24 - Hình 24.1 – Tỉ lệ dân thành thị trên thế giới, thời kì 2000 – 2005 (%)
Bài 25 - Hình 25.1 – Phân bố dân cư thế giới, năm 2000
Bài 28 - Hình 28.2 – Phân bố các cây lương thực chính trên thế giới
- Hình 28.5 – Phân bố các cây công nghiệp chủ yếu trên thế giới
Bài 29 - Hình 29.3 – Phân bố đàn gia súc trên thế giới

Bài 32 - Hình 32.3 – Trữ lượng dầu mỏ và sản lượng khai thác dầu mỏ trên thế
giới, thời kì 2000 – 2003
- Hình 32.4 – Phân bố sản lượng điện năng trên thế giới, thời kì 2000 –
2003
- Hình 32.5 – Khai thác quặng sắt và sản xuất thép trên thế giới, thời kì
2000 – 2003
- Hình 32.9 – Sản xuất ôtô và máy thu hình trên thế giới, năm 2000
Bài 33 - Hình 33 – Sơ đồ một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Bài 35 - Hình 35 – Tỉ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP của các nước năm 2001
Bài 37 - Hình 37.2 – Số ôtô bình quân trên 1000 dân, năm 2001
- Hình 37.3 – Các luồng vận tải hàng hoá bằng đường biển chủ yếu trên
thế giới
Bài 38 - Hình 38.1 – Kênh Xuy-ê
- Hình 38.2 – Kênh Pa-na-ma
Bài 39 - Hình 39 – Bình quân số máy điện thoại trên 1000 dân, năm 2001
- Các bản đồ, sơ đồ và lược đồ trên đây trong SGK Địa lí 10 đã được sử dụng
triệt để; đồng thời phối hợp khai thác kiến thức ở trên bản đồ treo tường. Khi sử dụng
từng bản đồ cụ thể, giáo viên cần thống nhất sử dụng quy trình chung.

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 11


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

2.4.3. Qui trình sử dụng bản đồ địa lí 10
2.4.3.1 Đọc bản đồ:

- Đọc bản đồ giống như đọc sách. Sự khác nhau giữa đọc bản đồ và đọc sách ở
chỗ, đọc sách sử dụng ngôn ngữ viết, còn đọc bản đồ sử dụng ngôn ngữ bản đồ.
- Khái quát chung về bản đồ có qui trình đọc như sau:
 Đọc tên bản đồ:
 Đọc tên bản đồ để hiểu ba nội dung:
 Nội dung địa lí.
 Không gian bao quát trên bản đồ.
 Thời gian thành lập biểu đồ.
 Đọc lưới chiếu, tỉ lệ và bố cục:
 Đối với bản đồ:
 Đọc lưới chiếu để hiểu các khu vực biến dạng( sai số) nhiều hay ít.
 Nhận dạng khung kinh, vĩ tuyến để xác định phương hướng trên bản
đồ.
 Đọc tỉ lệ để hiểu mức độ thu nhỏ của các đối tượng địa lí trên thực tế
biểu hiện trên bản đồ và ước tính khi cần thiết.
 Đọc bố cục để hiểu rõ các bộ phận cấu thành bản đồ.
- Nội dung chính được biểu hiện nổi trội trên bản đồ chính. Nội dung phụ
được biểu hiện ở tầng sau nội dung chính hoặc đặt bên ngoài bản đồ có nhiệm vụ giải
thích rõ các khía cạnh khác nhau của nội dung chính.
- Đối với lược đồ, sơ đồ, do chúng không có kinh vĩ tuyến nên đọc tỉ lệ và bố
cục để hiểu mục đích cuả chúng có mặt trên lược đồ, sơ đồ mà sử dụng tránh những
sai lầm đáng tiếc. Do đặc điểm biểu hiện của lược đồ, sơ đồ mà khi sử dụng không
nên đo đạc trên chúng theo tài liệu ghi trên sơ đồ, lược đồ.
 Đọc bản chú giải:
 Cấu trúc chung của bản chú giải: nội dung chính, nội dung phụ, các
yếu tố khác.
 Đọc nội dung chính lần lượt theo thứ tự từ trên xuống, đọc đến đâu
xác định phương pháp biểu hiện tương ứng với mỗi nội dung ghi trong
bản chú giải.
 Đọc nội dung phụ, xác định mối quan hệ giữa nội dung chính và nội

dung phụ. Mỗi nội dung phụ thiết kế trên bản đồ nhằm giải thích khía
cạnh nào của nội dung? Vì sao?
2.4.3.2. Hiểu bản đồ
- Khi đọc mỗi nội dung trên đây, người đọc đã hiểu các nội dung riêng rẽ biểu
hiện ở từng kí hiệu, từng đối tượng, hiện tượng địa lí giống như đọc sách đọc ý nào
hiểu ý đó.
 Ví dụ: Khi đọc bản đồ khoáng sản Việt Nam. Người đọc kí hiệu hình
tam giác, nếu tam giác đều màu đen hiểu đó là mỏ sắt, đọc kí hiệu
hình vuông màu đen hiểu đó là mỏ than, đọc kí hiệu hình chữ nhật màu
đen hiểu đó là đồng... Sau khi đọc xong cần phải tổng hợp lại xem bản
đồ đã biểu hiện nguồn tài nguyên khoáng sản của nước ta đến đâu, mức
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 12


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

độ phân bố các loại khoáng sản như thế nào, số lượng, chất lượng của
các loại khoáng sản đó ra sao và hướng sử dụng chúng. Đây cũng
chính là ý đồ của người thiết kế muốn truyền đạt nội dung địa lí đến
người dùng bản đồ.
- Trong quá trình đọc và hiểu bản đồ, chúng ta cần chú ý nội dung sâu xa mà
tác phẩm bản đồ muốn truyền đạt thông qua các phương pháp biểu hiện bản đồ. Để
khai thác đầy đủ lượng thông tin trên bản đồ, người dùng bản đồ cần hiểu “ đằng sau ”
mỗi kí hiệu bản đồ có một lượng thông tin ẩn chứa. Vì vậy khi đọc một kí hiệu bản đồ
(chúng giống nhau về hình thức nhưng bản chất khác nhau ), cần phải xem kí hiệu đó
nằm trong phương pháp biểu hiện nào, kí hiệu đó phản ánh đối tượng phân bố theo

vùng, theo đường hay theo điểm; kí hiệu phản ánh cấu trúc, phản ánh số lượng, chất
lượng như thế nào. Cùng là kí hiệu biểu đồ (biểu đồ cột, biểu đồ tròn, biểu đồ đường..)
nhưng nếu chúng nằm trong các phương pháp khác nhau thì mang ý nghĩa khác nhau:
- Kí hiệu biểu đồ nằm trong phương pháp kí hiệu có thể biểu hiện vị trí đối
tượng, số lượng (quy mô lớn, nhỏ), chất lượng, cấu trúc, và động lực phát triển hiện
tượng.
- Kí hiệu biểu đồ nằm trong phương pháp bản đồ- biểu đồ lại thể hiện tổng giá
trị hiện tượng có trong một lãnh thổ nhất định, hay sự biến đổi của hiện tượng (ví dụ:
sự gia tăng tự nhiên của dân số qua một năm) theo thời gian trên lãnh thổ đó.
- Kí hiệu biểu đồ nằm trong phương pháp biểu đồ định vị lại thể hiện sự biến
đổi của hiện tượng trong một thời gian nhất định, trên một vùng rộng lớn.
 Có thể lấy ví dụ khác: kí hiệu các cây trồng, vật nuôi biểu hiện trên bản
đồ có các ý nghĩa rất khác nhau:
 Nếu kí hiệu cây trồng, vật nuôi đặt trên bản đồ thì điều đó biểu
hiện vùng phân bố chăn nuôi và trồng trọt sơ lược.
 Nếu kí hiệu cây trồng, vật nuôi đặt trong đường viền đứt đoạn thì
điều đó biểu hiện vùng phân bố không thể xác định chính xác được
trong tự nhiên.
 Nếu kí hiệu cây trồng, vật nuôi đặt trong đường viền liền nét thì
điều đó biểu hiện vùng phân bố đã được xác định chính xác trong
tự nhiên...
2.4.3.3 Sử dụng bản đồ
- Trên bản đồ tàng trữ một lượng thông tin lớn, lượng thông tin này còn lớn gấp
bội khi người dùng nhất thể hóa kiến thức trình bày trên bản đồ với kiến thức địa lí.
Do đó mục đích sử dụng bản đồ là đề tài không có giới hạn.
- Có thể dùng bản đồ giáo khoa với mục đích đo tính khoảng cách, đo tính độ
cao, độ dài, đo tính tọa độ, đo tính biểu đồ, … cũng có thể sử dụng bản đồ để phân
tích một hiện tượng, phân tích hiện trạng, phân tích thông qua biến đổi hiện trạng, kết
hợp phân tích các hiện tượng trên nhiều bản đồ được thành lập trên cùng một địa
phương,… Dựa vào bản đồ có thể xác định các mối quan hệ địa lí (mối quan hệ tương

tác, mối quan hệ nhân quả) của một hiện tượng, của nhiều hiện tượng trên một bản đồ
hoặc trên nhiều bản đồ; đồng thời cũng dựa vào bản đồ để giải thích nguyên nhân của
các mối quan hệ đó…. và giải thích các hiện tượng có trong thực tế.
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 13


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

- Căn cứ vào một hoặc nhiều bản đồ và kiến thức đã học để tiến hành :
 Phân tích hiện trạng (hoặc mô tả, viết báo cáo đánh giá...) dựa vào bản
đồ
 Đo tính trên bản đồ để tìm cứ liệu chứng minh cho việc phân tích bản bồ
 Khai thác các biểu đồ trên bản đồ để lấy số liệu và nêu nhận xét hoặc
giải thích hiện tượng
 So sánh hai quốc gia khác nhau về một lĩnh vực nào đó (so sánh từng
yếu tố địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật, dân cư, công nghiệp,
nông nghiệp...)
 Nhận xét và giải thích một hiện tượng tự nhiên, kinh tế, xã hội
2.4.4. Phương pháp sử dụng bản đồ câm
- Bản đồ câm còn được gọi là bản đồ công tua hay bản đồ trống. Trên bản đồ
này thường chỉ có lưới bản đồ, đường ranh giới của các lãnh thổ, mạng lưới thuỷ văn,
các tuyến đường giao thông và các điểm dân cư quan trọng. Trên bản đồ không ghi
địa danh. Bản đồ trống có tỉ lệ lớn hơn thường được giáo viên địa lý dùng trong các
giờ học; dạy đến đâu giáo viên điền nội dung đã chuẩn bị ở nhà vào đó. Đây là
phương pháp giới thiệu kiến thức mới độc đáo, hấp dẫn, thu hút học sinh theo dõi bài
giảng mới.

- Tương ứng với bản đồ câm treo tường dành cho giáo viên là bản đồ câm
dành cho học trò. Bản đồ của học trò có tỉ lệ nhỏ hơn, thường được đóng thành tập gọi
là “tập bản đồ bài tập”. Trong giờ học, học sinh thường để chúng ở trên bàn. Học
sinh vừa nghe thầy giảng bài vừa ghi chép, vừa chuyển những nội dung mà giáo viên
trên bản đồ câm vào bản đồ của mình. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa thầy và trò khi sử
dụng các loại bản đồ câm ở trên lớp là phương pháp hình thành biểu tượng và khái
niệm cho học sinh một cách tích cực. Giáo viên cũng có thể ra bài tập cho học sinh về
nhà tự làm việc với bản đồ câm, giúp các em có thói quen làm việc với độc lập, nhằm
củng cố kiến thức đã học ở trên lớp, chuẩn bị bài để thu nhận kiến thức mới và rèn
luyện kĩ năng bản đồ cần thiết.
- Bản đồ câm có mối quan hệ chặt chẽ với sách giáo khoa, bản đồ trong sách
giáo khoa, bản đồ treo tường và atlat. Nếu giáo viên biết hướng dẫn cho học sinh khai
thác các mối quan hệ này thì sẽ tạo điều kiện để các em hoạt động nhận thức tự giác
và tích cực.
- Có thể lấy kết quả thực nghiệm khoa học của các nhà tâm lí về hoạt
động nhận thức để minh chứng hiệu quả khai thác mối quan hệ này khi thực
hành trên bản đồ câm: học sinh tự trình bày kết hợp với thực hành trên bản đồ
sẽ lưu giữ được 90% lượng tri thức của bài học.
2.4.5. Phương pháp khai thác các loại biểu đồ Địa lí 10
- Trong SGK Địa lí 10 đã sử dụng các biểu đồ sau:
Bài 6 - Hình 6. 1 – Đường biểu diễn chuyển động biểu kiến của Mặt Trời trong
năm
Bài 13 - Hình 13.1 – Phân bố lượng mưa theo vĩ độ
Bài 17 - Hình 14.2 – Biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa của một số địa điểm
Bài 22 - Hình 22.1 – Tỉ suất sinh thô thời kí 1950 – 2005
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 14



Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

- Hình 22.2 – Tỉ suất tử thô thời kì 1950 - 2005
Bài 23 - Hình 23.1 – Các kiểu tháp dân số cơ bản
- Hình 23.2 – Biểu đồ cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế của Ấn
Độ, Bra-xin và Anh, năm 2000 (%)
Bài 32 - Hình 32.6 – Cơ cấu sử dụng năng lượng trên thế giới (%).
- Khi khai thác hình vẽ là biểu đồ thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh xem xét
biểu đồ đó phản ánh cái chung của lãnh thổ hay đi sâu giải thích các khía cạnh khác
nhau về tự nhiên, dân cư, kinh tế của lãnh thổ đó. Trên cơ sở đó khắc sâu vào tâm trí
học sinh các khía cạnh tiêu biểu quan trọng này. Nhìn chung, các biểu đồ trong SGK
Địa lí 10, thể hiện một trong số vấn đề sau :
 Biểu đồ biểu hiện động thái phát triển (tăng, giảm) của một hiện tượng.
Sự tăng giảm này có thể liên tục, có thể gián đoạn, có thể đều đặn hoặc
không đều đặn tùy thuộc vào sự biểu hiện của biểu đồ.
 Biểu đồ biểu hiện cơ cấu của hiện tượng. Các hiện tượng biểu hiện có
thể là cơ cấu nền kinh tế, cơ cấu GDP, cơ cấu của một thành phần
trong tổng thể…
 Biểu đồ biểu hiện các mối quan hệ giữa dân số và sản lượng lương thực,
mối tương quan về độ lớn giữa các đối tượng, giữa dân số thành thị và
nông thôn…
 Biểu đồ biểu hiện kết cấu dân số theo độ tuổi và giới tính thì cần phân
tích và so sánh:
 Hình dạng của tháp tuổi
 Cơ cấu dân số theo độ tuổi, tính số lượng dân cư trong độ tuổi lao động,
dân cư ngoài độ tuổi lao động (tỉ lệ dân cư phụ thuộc).
 Nguyên nhân của hiện tượng
 Ảnh hưởng của cơ cấu dân số đến phát triển kinh tế đất nước.

- Quy trình chung sử dụng biểu đồ:
 Đọc biểu đồ: Quan sát hình dạng biểu đồ (dạng hình cột đơn, cột ghép
hay cột chồng, biểu đồ hình tròn: có cấu trúc hoặc phi cấu trúc, dạng
đường đơn hay nhiều đường biểu hiện nhiều hiện tượng, biểu đồ kết hợp
cột và đường, biểu đồ miền, biểu đồ thanh ngang…).
 Xem xét nội dung biểu hiện về nông nghiệp, công nghiệp, dân cư,… và
đọc bản chú giải (nếu có).
 Xem xét cấu trúc: biểu hiện các thành phần, các bộ phận hay biểu hiện
cơ cấu, biểu hiện một, hai hay nhiều hiện tượng có quan hệ chặt chẽ với
nhau.
 Xác định quy mô (độ lớn) của các thành phần, tỉ trọng (thị phần) của
chúng, xu hướng phát triển (tăng hay giảm) và tầm quan trọng của từng
thành phần.
 Nhận xét và giải thích: Dựa trên phân tích hình dạng, nội dung, cấu trúc,
độ lớn và thị phần của hiện tượng để nêu nhận xét. Giải thích nguyên
nhân.
 Kết luận: Nhận thức hiện tượng nghiên cứu
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 15


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

2.4.6. Phương pháp khai thác hình vẽ, tranh ảnh Địa lí 10
- Trong sách giáo khoa Địa lí 10 có các hình vẽ và tranh ảnh sau:
Bài 1 - Hình 1.1 – Mặt chiếu tiếp xúc với bề mặt Điạ Cầu
- Hình 1.2 – Ba vị trí của mặt chiếu trong phép chiếu phương vị

- Hình 1.3 – Phép chiếu phương vị
- Hình 1.4 – Ba vị trí của hình nón trong phép chiếu hình nón
- Hình 1.5 – Phép chiếu hình nón đứng
- Hình 1.6 – Ba vị trí hình trụ trong phép chiếu hình trụ
- Hình 1.7 – Phép chiếu hình trụ đứng
Bài 2 – Hình 2.1 – Các dạng kí hiệu
Bài 5 – Hình 5.1 – Vị trí Mặt Trời trong Dải Ngân Hà
- Hình 5.2 – Các hành tinh trong hệ Mặt Trời và quỹ đạo chuyển động
của chúng
- Hình 5.4 – Sự lệch hướng chuyển động của các vật thể trên bề mặt Trái
Đất
Bài 6 – Hình 6.2 – Các mùa theo dương lịch ở bán cấu Bắc
- Hình 6.3 – Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và
theo vĩ độ
Bài 7 – Hình 7.1 – Cấu trúc của Trái Đất
- Hình 7.2 – Lớp vỏ Trái Đất. Thạch quyển
- Hình 7.4 – Hai mảng kiến tạo tách rời nhau
- Hình 7.5 – Hai mảng kiến tạo xô vào nhau
Bài 8 – Hình 8.1 – Hiện tượng uốn nếp
- Hình 8.2 – Nếp uốn của các lớp đá trầm tích ở vùng núi
- Hình 8.3 – Địa luỹ và địa hào
Bài 9 – Hình 9.1 – Đá nứt vỡ do nhiệt độ thay đổi đột ngột
- Hình 9.2 – Hang động – kết quả của sự hoà tan đá vôi do nước
- Hình 9.3 – Rễ cây làm cho lớp đá rạn nứt
- Hình 9.4 – Xói mòn đất do dòng chảy tạm thời
- Hình 9.5 – Nấm đá
- Hình 9.6 – Vách biển và bậc thềm sóng vỗ
- Hình 9.7 – Phi – o
Bài 11 – Hình 11.1 – Các tầng khí quyển
- Hình 11.2 - Phân phối bức xạ mặt trời

- Hình 11.4 – Nhiệt độ thay đổi theo độ dốc và hướng phơi của sườn núi
Bài 12 – Hình 12.1 – Các đai khí áp và gió trên Trái Đất
- Hình 12.4 – Gió biển và gió đất
- Hình 12.5 – Quá trình hình thành gió fơn
Bài 15 – Hình 15 – Sơ đồ tuần hoàn của nước
Bài 16 – Hình 16.1 – Chu kì tuần trăng
- Hình 16.2 – Vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất và Mặt Trời vào các
ngày “triều cường”
- Hình 16.3 – Vị trí của Mặt Trăng vào các ngày “triều kém”
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 16


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

Bài 17 – Hình 17 – Vị trí lớp phủ thổ nhưỡng ở lục địa
Bài 18 – Hình 18 – Các vành đai của thực vật theo độ cao ở núi An-pơ (châu
Âu)
Bài 19 – Hình 19.3 – Đài nguyên
- Hình 19.4 – Rừng lá kim
- Hình 19.5 – Rừng lá rộng ôn đới
- Hình 19.6 – Thảo nguyên ôn đới
- Hình 19.7 – Rừng cận nhiệt ẩm
- Hình 19.8 – Rừng và cây bụi lá cứng cận nhiệt
- Hình 19.9 – Xavan;
- Hình 19.10 – Rừng nhiệt đới ẩm
- Hình 19.11 – Sơ đồ các vành đai thực vật và đất ở sườn Tây dãy

Cáp-ca
Bài 20 - Hình 20.1 - Sơ đồ lớp vỏ địa lí của Trái Đất
- Hình 20.2 – Bề mặt đất bị rửa trôi, xói mòn sau khi rừng bị tàn phá
Bài 28 – Hình 28.1 – Bông lúa mì và cánh đồng lúa mì
- Hình 28.3 – Cây ca cao và quả ca cao
- Hình 28.4 – Cây củ cải đường
- Hình 28.6 – Thanh niên tích cực tham gia trồng rừng ngập mặn
Bài 29 – Hình 29.1 – Chăn nuôi bò ở Nam Mĩ
- Hình 29.2 Chăn nuôi dê ở châu Phi
- Hình 29.4 – Đồi mồi và trai ngọc
Bài 32 – Hình 32.1 – Khai thác dầu trên biển ở Việt Nam
- Hình 32.2 – Nhà máy điện khí đốt ở Ấn Độ
- Hình 32.7 – Sản xuất ôtô ở Hàn Quốc
- Hình 32.8 – Nhà máy hoá dầu ở Nhật Bản
Bài 37 – Hình 37.1 – Tầu cao tốc TGV của Pháp, có tốc độ chạy tàu tới
260km/giờ
Bài 40 – Hình 40 Tỉ trọng buôn bán hàng hoá giữa các vùng và bên trong các
vùng, năm 2004 (theo WTO)
Bài 41 – Hình 41.1 – Khai thác than
Bài 42 – Hình 42 – Bãi rác ở Ma-ni-la (phi-lip-pin).
- Khi dạy đến các tranh ảnh, các hình vẽ trên đây giáo viên cần dừng lại hướng
dẫn học sinh khai thác kiến thức địa lí tàng trữ ở trong đó:
 Đối với hình là tranh ảnh – Những hình ảnh tiêu biểu của một quốc gia
hay là hiện tượng thiên nhiên, xã hội kì thú đặc biệt thì giáo viên nên
khai thác để các hình ảnh đó, các biểu tượng địa lí, in đậm trong tâm trí
học sinh trên nền kiến thức chung về lãnh thổ đang học tập, nghiên cứu.
- Quy trình chung khái thác một bức tranh ảnh :
 Đọc tên bức tranh ảnh
 Xác định vị trí địa lí của bức tranh ảnh, thời gian, không gian (trên bản
đồ) của bức tranh ảnh

 Giá trị của bức tranh :
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 17


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

 Giá trị của bức tranh trong học tập địa lí
 Giá trị về lịch sử
 Giá trị về kiến trúc, văn hóa, khoa học, nhân văn
 Giá trị về kinh tế, chính trị...
- Đối với hình vẽ mô phỏng về cấu trúc, về quy luật của một hiện tượng tự
nhiên thì giáo viên cần phân tích để làm rõ bản chất của hiện tượng.
 Ví dụ: các vận động của Trái Đất và hệ quả của nó, cấu tạo của Trái Đất,
của lớp vỏ thạch quyển, các mảng kiến tạo, các quá trình uốn nếp, đứt
gãy; các tầng khí quyển, quy luật phân phối năng lượng Mặt Trờì, phân
bố các đai cao hạ áp, quy luật của gió; quy luật tuần hoàn của nước, quy
luật thuỷ triều, các vành đai thực vật và đất trên các núi cao và cấu trúc
của lớp vỏ địa lí của Trái Đất.
 Quy trình chung khai thác một hình vẽ:
 Đọc tên hình vẽ
 Xác định hình vẽ đó mô phỏng cái gì ? (Ví dụ: Bài 6 – Hình 6.4 – Mô
phỏng các mùa theo dương lịch ở Bắc bán cầu; Bài 14 – Hình 14.1 –
Mô phỏng sự phân phối năng lượng Mặt Trời; Bài 19 - Hình 19.1 –
Mô phỏng sự tuần hoàn của nước trên Trái Đất... )
 Giá trị của hình vẽ đó trong việc diễn giải các dấu hiệu của khái niệm
địa lí tự nhiên hay diễn giải các quy luật địa lí tự nhiên

 Giá trị về tự nhiên, danh thắng.
2.4.7. Sử dụng phối hợp các loại hình trong việc hình thành kiến thức địa lí 10
2.4.7.1. Kiến thức chung
- Khi sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí nói chung, dạy học địa lí 10 nói
riêng thông thường các giáo viên ít chú ý đến việc phối hợp sử dụng các loại hình bản
đồ với nhau, phối hợp bản đồ với tranh ảnh và bảng biểu. Đây là một tồn tại trong dạy
học địa lí. Bởi vì mỗi loại hình bản đồ có chức năng riêng: bản đồ trong sách giáo
khoa có chức năng chính của nó là giúp học sinh tư duy gắn liền với lãnh thổ; bản đồ
giáo khoa treo tường là loại dùng chung cho thầy và trò ở trên lớp, thầy diễn giải kiến
thức trên bản đồ, trò theo dõi, nhận thức,ghi chép...; atlat địa lí giúp học sinh tham
khảo, mở rộng kiến thức; bản đồ trống giúp học sinh rèn luyện kĩ năng địa lí và bản
đồ. Sự phối hợp này diễn ra trong từng bài học địa lí, liên tục xuyên suốt chương trình
địa lí 10, cũng như sự phối hợp kế tiếp từ lớp dưới lên lớp trên. Ngoài ra, các hình vẽ,
tranh ảnh và bảng biểu bao giờ cũng có địa chỉ rõ ràng trên lãnh thổ địa lí mà thầy và
trò đang giảng dạy và học tập. Lãnh thổ này đã được bản đồ phản ánh rất đầy đủ và rõ
ràng. Các tác giả viết sách tách tranh ảnh, biểu đồ và các bảng biểu ra một cách tương
đối để diễn giải các hiện tượng cụ thể, khắc sâu trong kí ức học sinh. Do đó, người
giáo viên cần liên kết và phối hợp kênh hình một cách hợp lí, chặt chẽ sẽ giúp học
sinh nắm bắt kiến thức hoàn chỉnh, có cơ sở khoa học chắc chắn. Kinh nghiệm cho
hay, muốn sử dụng kênh hình thành công người giáo viên phải nhất thể hoá kiến thức
trong đầu của mình với kiến thức tàng trữ trong kênh hình để truyền đạt kiến thức cho
học sinh.

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 18


Trường THPT Chu Văn An


Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

2.4.7.2. Một số ví dụ phối hợp khai thác kênh hình trong việc dạy học Địa
lí 10
- Ví dụ 1: Bài 5, trang 18, SGK
 Khi giảng mục 1- Vũ Trụ, ngoài hình 5.1 trong SGK,GV có thể sử
dụng thêm hình chụp từ vệ tinh sau:
Hệ Mặt Trời trong Dải Ngân Hà

 Nội dung
 Đây là bức ảnh thể hiện vị trí Mặt Trời trong Dải Ngân Hà. Thiên
hà chứa Hệ Mặt Trời, được gọi là Ngân Hà đó là một trong hàng
trăm tỉ thiên hà trong khoảng không gian vô cùng vô tận. Khoảng
không gian vô tận mà con người nhận thức được gọi là Vũ Trụ.
Trong Dải Ngân Hà, Mặt Trời cũng chỉ là 1 trong khoảng 1, 5 tỉ
ngôi sao phát sáng.
 Qua hình , chúng ta thấy hệ Mặt Trời chỉ là 1 chấm sáng trong hàng tỉ chấm
sáng trong Dải Ngân Hà.
 Phương pháp sử dụng
 Hình 5.1 được sử dụng để giảng dạy mục I – Vũ trụ. Học thuyết
về sự hình thành Vũ Trụ. Khái niệm "Vũ Trụ", HS đã được học ở
lớp 6, ở đây GV cần hướng dẫn HS kết hợp quan sát ảnh và kiến
thức đã học để nắm được nội dung cơ bản của khái niệm này.
Mặt Trời chỉ là 1 ngôi sao trong rất nhiều ngôi sao (hàng tỉ) trong
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 19


Trường THPT Chu Văn An


Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

Dải Ngân Hà. Bằng kiến thức đã học, GV gợi cho HS nhớ lại:
Trái Đất của chúng ta là một khối cầu vĩ đại, nhưng Mặt Trời còn
lớn hơn rất nhiều. Từ đó các em có thể hình dung cụ thể về sự
bao la, vô cùng vô tận của Vũ Trụ.
 Qua hình 5.1, GV dẫn dắt hoặc đặt câu hỏi phát vấn để HS rút ra được nhận
xét: Mặt Trời trong Dải Ngân Hà chỉ như là một hạt cát trong sa mạc mênh
mông.
 Khi giảng mục I.2. Hệ Mặt Trời: ngoài hình vẽ 5.2 trong SGK giáo viên
có thể sử dụng hình chụp từ vệ tinh sau:

Hệ Mặt Trời
 Nội dung
 Hình 2.2 là hình vẽ minh họa về các hành tinh trong hệ Mặt Trời.
Quan sát hình, chúng ta thấy hệ Mặt Trời gồm: Mặt Trời ở trung
tâm và các hành tinh chuyển động xung quanh Mặt Trời là: Thủy
tinh, Kim tinh, Trái đất, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên
Vương tinh, Hải Vương tinh. Quỹ đạo chuyển động xung quanh
Mặt Trời của tám hành tinh này cùng chiều, đều từ trái sang phải.
Trái Đất của chúng ta là hành tinh thứ ba, tính theo thứ tự xa dần
Mặt Trời.
 Phương pháp sử dụng
 GV có thể dùng câu hỏi phát vấn: Quan sát hình 2.2, em hãy cho
biết Hệ Mặt Trời có mấy hành tinh, đó là những hành tinh nào,
quỹ đạo chuyển động của chúng ra sao? Bằng sự quan sát trực
tiếp, yêu cầu HS trả lời được như đoạn viết ở phần trên, từ "... Hệ
Mặt Trời gồm: Mặt Trời... và Hải vương tinh". Kết hợp với kênh
chữ trong SGK (mục II.2) và vốn kiến thức của HS, GV có thể

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 20


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

phát vấn, dẫn dắt để HS có hiểu biết đầy đủ hơn về Hệ Mặt
Trời.Ngoài các hành tinh đã được thể hiện trong hình 2.2, Hệ Mặt
Trời còn có các tiểu hành tinh, vệ tinh, sao chổi, thiên thạch và
các đám bụi khí. Để củng cố kiến thức của HS về Vũ Trụ ở mục
I.2, GV có thể mô tả để HS hình dung được Hệ Mặt Trời là một
hệ nhỏ trong Vũ Trụ bao la vô cùng, vô tận. GV cần lưu ý để HS
nắm được: Ngoài chuyển động xung quanh Mặt Trời, các hành
tinh còn tự quay quanh trục với hướng ngược chiều kim đồng hồ
(trừ Kim tinh và Thiên vương tinh).
 Khi giảng mục I.3. Trái đất trong Hệ Mặt Trời, GV có thể sử dụng
hình sau

Trái Đất trong hệ Mặt Trời
 Trái Đất của chúng ta có dạng hình cầu và kích thước rất lớn, bán
kính Trái Đất là 6370 km, chiều dài đường Xích đạo là 40.076
km. Trái Đất là một khối cầu vĩ đại, nhưng Mặt Trời còn lớn hơn
nhiều, đường kính Mặt Trời dài gấp 109 lần đường kính Trái Đất.
Thể tích Mặt Trời cũng lớn gấp 1.300.000 lần thể tích Trái Đất.
Khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời là 150 triệu
km, một máy bay phản lực tốc độ 1000 km /h phải bay gần 18
năm. Với tốc độ 300.000 km /s, ánh sáng từ Mặt Trời tới Trái Đất

phải mất 8, 3 phút. Hệ Mặt Trời rộng lớn và vĩ đại như vậy nhưng
trong Dải Ngân Hà thì hệ Mặt Trời lại rất nhỏ bé.
 Khi giảng II. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất, sử
dụng hình sau:

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 21


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

 Nội dung
 Trái Đất có hai chuyển động chính, chuyển động tự quay quanh
trục và chuyển động xung quanh Mặt Trời. Hình minh hoạ
chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất. Quan sát hình, ta
thấy Trái Đất tự quay quanh một trục tưởng tượng theo chiều từ
tây sang đông. Trục này nghiêng so với mặt phẳng quỹ đạo
chuyển động của Trái Đất xung quanh Mặt Trời. Trong khi Trái
Đất tự quay quanh trục, có hai điểm không thay đổi vị trí (cố
định) đó là: cực Bắc và cực Nam.
 Phương pháp sử dụng
 GV có thể dùng câu hỏi: Quan sát hình, em hãy mô tả chuyển
động tự quay quanh trục của Trái Đất. Dựa trên sự quan sát của
HS, GV hướng dẫn để các em mô tả đúng và kết hợp cung cấp
cho HS những kiến thức mới:
 Trục (tưởng tượng) của Trái Đất tạo với mặt phẳng quỹ đạo
chuyển động của Trái Đất xung quanh Mặt Trời một góc là

66033'.
 Thời gian Trái Đất tự quay một vòng quanh trục là một ngày đêm
(24 giờ)
- Ví dụ 2: Bài 11. Khí quyển. Sự phân phối nhiệt độ không khí trên Trái Đất.
 Khi giảng mục II.1, GV sử dụng hình 11.2: Phân phối bức xạ Mặt Trời

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 22


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

 Nội dung: Mặt Trời là một ngôi sao phát sáng khổng lồ, nguồn năng
lượng Mặt Trời được toả đi các hướng trong không gian.
 Hình 11.2. minh hoạ sự phân phối năng lượng Mặt Trời hướng
tới Trái Đất. Quan sát hình, chúng ta thấy nguồn bức xạ Mặt Trời
được phân phối như sau: 30% phản hồi vào không gian, 19%
khí quyển hấp thụ, 47% bề mặt Trái Đất hấp thụ, 4% tới bề mặt
Trái Đất rồi bị phản hồi vào không gian.
 Phương pháp sử dụng: Trái Đất là một hành tinh không tự phát sáng.
Nguồn cung cấp nhiệt chủ yếu cho bề mặt Trái Đất là bức xạ Mặt Trời.
Nội dung chủ yếu của mục II.1 là quan hệ giữa bức xạ và nhiệt độ
không khí, nhưng dựa vào hình, HS mới chỉ nêu được sự phân phối của
năng lượng Mặt Trời đến bề mặt Trái Đất. Câu hỏi phát vấn mà GV
dùng để khai thác hình là: Dựa vào hình 11.2, em hãy cho biết nguồn
bức xạ từ Mặt Trời đến bề mặt Trái Đất được phân phối như thế nào?
- Ví dụ 3: Bài 12. Sự phân bố khí áp. Một số loại gió chính

 Khi giảng mục I.1, GV sử dụng hình vẽ 12.1 và một số hình thực tế sau :

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 23


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

 Nội dung: Hình thể hiện các đai khí áp và gió trên Trái Đất, phân bố khí
áp. Một số loại gió chính. Tỉ trọng không khí có sự thay đổi ở các nơi
khác nhau trên Trái Đất nên khí áp cũng thay đổi theo. Trên Trái Đất, từ
cực Bắc đến cực Nam hình thành 7 vành đai áp cao và áp thấp xen kẽ
và đối xứng qua đai áp thấp xích đạo.
 Đai áp thấp xích đạo hình thành ở vùng xích đạo.
 Hai đai áp cao chí tuyến hình thành ở khoảng vĩ tuyến 300B và
300 N.
 Hai đai áp thấp ôn đới hình thành ở khoảng vĩ tuyến 600B và
600N.
 Hai đai áp cao cực, hình thành ở vùng cực Bắc và cực Nam.
 Một số loại gió chính được thể hiện trên hình 2.8 như sau:
 Gió Mậu dịch: thổi từ hai vùng áp cao chí tuyến về vùng áp thấp
xích đạo; hướng đông bắc ở bán cầu Bắc, hướng đông nam ở bán
cầu Nam.
 Gió Tây ôn đới: thổi từ hai vùng áp cao chí tuyến về hai vùng áp
thấp ôn đới; hướng tây bắc ở bán cầu Bắc, hướng tây nam ở bán
cầu Nam.
 Gió Đông cực: phạm vi hoạt động từ hai cực tới vĩ tuyến 600B và

600N ; hướng thịnh hành là hướng đông.
 Phương pháp sử dụng: GV có thể sử dụng các câu hỏi phát vấn sau:
 Câu hỏi 1: Quan sát hình 2.8, em hãy nêu sự phân bố các đai áp thấp
và áp cao trên thế giới.
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 24


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

=> Câu hỏi này yêu cầu HS mô tả được các đai khí áp trên Trái Đất như
đoạn: "Trên Trái Đất ... cực Bắc và cực Nam.".
 Câu hỏi 2: Dựa vào SGK và vốn kiến thức, em hãy giải thích sự
phân bố các đai khí áp nêu trên?
 Đây là câu hỏi phát huy tư duy địa lí, trên cơ sở vận dụng vốn hiểu biết
sẵn có của HS. Câu hỏi này yêu cầu HS giải thích được sự phân bố của
các đai khí áp. Ví dụ: giải thích sự hình thành đai áp thấp xích đạo (ở
vùng xích đạo, quanh năm nóng, không khí nở ra, bốc lên cao; vì vậy, ở
đây không khí loãng, sinh ra đai áp thấp xích đạo).
- Ví dụ 4: Bài 22 - Dân số và sự gia tăng dân số.
 Khi giảng muc II.1 GV sử dụng các biểu đồ sau:

 Nội dung:Trên hình xây dựng biểu đồ tỉ suất sinh thô thời kì 1950- 2005
của các nước phát triển, các nước đang phát triển và toàn thế giới. Nhìn
trên biểu đồ ta thấy tỉ suất sinh thô của các nước phát triển giảm mạnh,
các biểu đồ cột giảm nhanh, riêng cột biểu đồ của các nước đang phát
triển giảm ít hơn vì tỉ suất sinh thô của các nước đang phát triển giảm ít

hơn. Vì tỉ suất sinh thô của các nước đều giảm nên tỉ suất sinh thô
chung của toàn thế giới giảm.
 Phương pháp sử dụng: Dựa vào kiến thức đã học và biểu đồ hình 22.1
GV hướng dẫn HS đọc biểu đồ, so sánh các chỉ số rồi ghi vào bảng
dưới đây:
Thời kì
1950 1975 1985
1995
2004
Nhóm nước
1955 1980 1990
2000
2005
Toàn thế giới
Các nước phát triển
Các nước đang phát triển

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 25


×