Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

Thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý tại thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 124 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC

GIANG THỊ BÍCH PHƢỢNG

THỰC TRẠNG CHĂM SĨC SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2016


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC

GIANG THỊ BÍCH PHƢỢNG

THỰC TRẠNG CHĂM SĨC SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VÕ THỊ TƢỜNG VY

Thành phố Hồ Chí Minh - 2016




LỜI CẢM ƠN
Trong q trình hồn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ rất tận tình của các Thầy Cơ, các anh chị và các bạn. Tôi xin
được bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới :
TS Võ Thị Tường Vy, người hướng dẫn khoa học dù rất bận rộn nhưng vẫn
dành thời gian giúp đỡ và động viên tôi trong suốt q trình thực hiện khóa luận tốt
nghiệp.
Q Thầy Cô trong khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh đã giảng dạy và cung cấp cho tôi những kiến thức làm nền tảng cho khóa
luận này.
Các nhà tham vấn tâm lý thuộc khách thể nghiên cứu đã rất nhiệt tình giúp tơi
có được những số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu.
Các anh chị K33, K37 và các bạn cùng lớp đã luôn động viên và hỗ trợ tơi
trong q trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình đã ln quan tâm, động viên tơi trong suốt q
trình học tập và thực hiện đề tài.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2016


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, hình vẽ
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................................... 1

2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ........................................................................ 2
4. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................................. 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 3
6. Giới hạn nghiên cứu ................................................................................................ 3
7. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHĂM SĨC SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA
NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ .................................................................................... 6
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ......................................................................... 6
1.2. Cơ sở lí luận của đề tài ....................................................................................... 12
1.2.1. Chăm sóc sức khỏe tâm thần .......................................................................... .12
1.2.2. Nhà tham vấn tâm lý ....................................................................................... 23
1.2.3. Chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý .................................. 32
1.2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn
tâm lý ......................................................................................................................... 39
Chƣơng 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC
KHOẺ TÂM THẦN CỦA NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH ............................................................................................................. 45
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng .......................................................................... 45
2.2. Kết quả nghiên cứu ............................................................................................ 49


2.2.1. Kết quả khảo sát nhận thức của nhà tham vấn tâm lý đối với chăm sóc sức
khỏe tâm thần. ........................................................................................................... 49
2.2.2. Kết quả khảo sát thái độ của nhà tham vấn tâm lý đối với chăm sóc sức khỏe
tâm thần ..................................................................................................................... 51
2.2.3. Kết quả khảo sát hành vi chăm sóc sức khoẻ tâm thần của nhà tham vấn tâm
lý ................................................................................................................................ 68
2.2.4. Kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm
thần của nhà tham vấn tâm lý tại Thành phố Hồ Chí Minh ...................................... 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Một vài số liệu thống kê
Phụ lục 2: Phiếu thăm dò ý kiến
Phụ lục 3: Phiếu phỏng vấn
Phụ lục 4: Giấy đồng ý tham gia phỏng vấn
Phụ lục 5: Biên bản phỏng vấn


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ

Viết tắt

Chăm sóc sức khỏe tâm thần

CSSKTT

Cơng tác xã hội

CTXH

Điểm trung bình

ĐTB

Độ lệch chuẩn

ĐLC


Giảng dạy

GD

Mức ý nghĩa

MYN

Nhà tham vấn tâm lý

NTVTL

Số thứ tự

STT

Sức khỏe tâm thần

SKTT

Tâm lý - giáo dục

TL - GD

Tâm lý học

TLH

Thành phố Hồ Chí Minh


Tp. HCM

Tham vấn

TV

Xếp hạng

XH


DANH MỤC CÁC BẢNG

STT

Kí hiệu

Tên bảng

1

Bảng 2.1

Mơ tả thành phần trong mẫu nghiên cứu

45

2


Bảng 2.2

Nhận thức của NTVTL về CSSKTT

49

3

Bảng 2.3

4

Bảng 2.4

Thái độ của NTVTL về nội dung có thể làm việc
hiệu quả
Thái độ của NTVTL về nội dung hài lòng với bản
thân

Trang

54

55

Thái độ của NTVTL về nội dung hài lòng với mối
5

Bảng 2.5


quan hệ đồng nghiệp, thân chủ và những người

57

khác
6

Bảng 2.6

7

Bảng 2.7

8

Bảng 2.8

9

Bảng 2.9

10

Bảng 2.10

11

Bảng 2.11

12


Bảng 2.12

Thái độ của NTVTL về nội dung có khả năng ứng
phó với stress trong công việc
Thái độ của NTVTL về nội dung có khả năng đáp
ứng những yêu cầu của cuộc sống
Thái độ của NTVTL về nội dung bộc lộ xúc cảm
cách lành mạnh
So sánh thái độ của NTVTL về các nội dung
thuộc về CSSKTT theo giới tính
So sánh thái độ của NTVTL về các nội dung

58

60

61

62
63

thuộc về CSSKTT theo công tác chính.
So sánh thái độ của NTVTL về các nội dung
thuộc về CSSKTT theo số năm làm tham vấn
CSSKTT của NTVTL về nội dung hài lòng với
bản thân

65


68

CSSKTT của NTVTL về nội dung hài lòng với
13

Bảng 2.13

mối quan hệ đồng nghiệp, thân chủ và những
người khác

69


14

Bảng 2.14

15

Bảng 2.15

16

Bảng 2.16

17

Bảng 2.17

18


Bảng 2.18

19

Bảng 2.19

20

Bảng 2.20

21

Bảng 2.21

CSSKTT của NTVTL về nội dung có thể làm
việc hiệu quả
CSSKTT của NTVTL về nội dung có thể ứng phó
với stress trong công việc
CSSKTT của NTVTL về nội dung đáp ứng những
yêu cầu của cuộc sống
CSSKTT của NTVTL về nội dung bộc lộ xúc
cảm cách lành mạnh
So sánh hành vi CSSKTT của NTVTL theo giới
tính
So sánh hành vi CSSKTT của NTVTL theo cơng
tác chính
So sánh hành vi CSSKTT của NTVTL theo số
năm làm tham vấn.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng CSSKTT

của NTVTL

71

72

73

74

75

75

76

77


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ

STT

Kí hiệu

Trang

1


Biểu đồ 2.1

Thái độ của NTVTL đối với CSSKTT.

51

2

Biểu đồ 2.2

Hành vi CSSKTT của NTVTL

67

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT

Kí hiệu

Tên hình vẽ

Trang

1

Hình 1.1

Sơ đồ kim thự tháp dịch vụ WHO cho một sự
pha trộn tối ưu của dịch vụ SKTT


16


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Căng thẳng, lo âu và trầm cảm đã trở nên ngày càng phổ biến trong xã hội
đương đại. Nghiên cứu trên 483 sinh viên năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt Đại học
Y dược Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 6/2011 cho kết luận tỉ lệ sinh viên bị
stress, trầm cảm và lo âu lần lượt là 71,4%, 28,8%, 22,4%, đa số ở mức độ nhẹ và vừa.
52,8% sinh viên có cùng 3 dạng rối loạn trên [26].
Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ IV (1986): con người và sự phát triển con
người toàn diện là mục tiêu hàng đầu. Các nhân tố tác động đến sự phát triển của
con người như kinh tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe... được nêu cụ thể và nhấn
mạnh hơn trước [12]. Xã hội càng phát triển con người ngày càng phải đối mặt với
những vấn đề về sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe tâm thần. Cả trong các nước phát
triển và đang phát triển, cứ bốn người thì có một người phát triển một hay nhiều rối
loạn tâm thần hoặc hành vi ở một số giai đoạn trong cuộc sống [40].
Trong cuốn "Y tế Glencoe: một hướng dẫn để khỏe mạnh" có viết: một cá
nhân khỏe mạnh về sức khỏe tâm thần là cá nhân cảm thấy hài lòng về bản thân,
cảm thấy thoải mái với người khác và có khả năng đối mặt với những khó khăn của
cuộc sống [37]. Một người không khỏe mạnh về sức khỏe tâm thần sẽ cảm thấy
khơng hài lịng về bản thân, cảm thấy khơng thoải mái với người khác và khơng có
khả năng đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống. Khi đó, con người sẽ không
cảm thấy hạnh phúc. Như vậy, chăm sóc sức khỏe tâm thần là điều cần thiết.
Như được định nghĩa trong mơ hình của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chăm
sóc sức khỏe tâm thần ban đầu là nền tảng nhưng phải được hỗ trợ bởi những mức
độ chăm sóc khác bao gồm dịch vụ dựa vào cộng đồng và bệnh viện, dịch vụ khơng
chính thức, và tự chăm sóc để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sức khỏe tâm thần của
dân số [41].

Nhà tham vấn và các chuyên gia giúp đỡ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cơng việc
của họ. Họ có thể bị ảnh hưởng từ những xúc cảm tiêu cực, những khó khăn tâm lý,
những sang chấn của thân chủ. Họ rất dễ bị "lây nhiễm" từ thân chủ và rất dễ rơi
vào những đau khổ của thân chủ. Công việc của nhà tham vấn và các chuyên gia
1


giúp đỡ có nhiều nguy cơ gây hại đến sức khỏe tâm thần. Cho nên sức khỏe tâm
thần của những nhà tham vấn và chuyên gia giúp đỡ cũng cần được quan tâm và
chăm sóc.
Nhà tham vấn tâm lý cũng làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm
thần. Đối tượng trợ giúp của nhà tham vấn tâm lý là những cá nhân có khó khăn, có
vấn đề về sức khỏe tâm thần và dễ tổn thương. Tham vấn tâm lý là cơng việc đầy
khó khăn và áp lực nên nhà tham vấn tâm lý cũng không tránh khỏi nguy cơ rơi vào
những vấn đề sức khỏe tâm thần. Nhà tham vấn tâm lý đang có vấn đề sức khỏe tâm
thần mà lại làm việc với thân chủ thì có thể khơng những tham vấn tâm lý khơng
hiệu quả, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến thân chủ. Thứ nhất, thân chủ tổn thương
do nhà tham vấn tâm lý có thể chuyển di xúc cảm tiêu cực của mình lên thân chủ.
Thứ hai, tình trạng kiệt sức khiến nhà tham vấn tâm lý cảm thấy mệt mỏi, chán nản,
giảm năng lực thấu cảm, nhanh chóng đưa ra lời khuyên làm ảnh hưởng đến quyền
lợi của thân chủ. Thứ ba, cuộc sống của những nhà tham vấn tâm lý có mức độ thấu
cảm cao có thể bị ảnh hưởng do nguy cơ "bị lây nhiễm" những đau khổ và những lo
lắng của thân chủ có sang chấn (lạm dụng tình dục, bạo hành, bỏ rơi,...)
Một nhà tham vấn tâm lý không khỏe sẽ gặp trở ngại khi trợ giúp những
người đang có vấn đề về sức khỏe. Để hành nghề hiệu quả và lâu dài, sức khỏe tâm
thần của nhà tham vấn tâm lý cần được chăm sóc. Mặc dù vậy, đây là vấn đề ít được
đề cập đến. Trên đây là những lí do thơi thúc người nghiên cứu tìm hiểu thực trạng
chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý tại thành phố Hồ Chí Minh.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý tại

thành phố Hồ Chí Minh và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng trên, từ đó đưa
ra một số kiến nghị.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý
3.2. Khách thể nghiên cứu
Nhà tham vấn tâm lý tại thành phố Hồ Chí Minh.
2


4. Giả thuyết nghiên cứu


Nhà tham vấn tâm lý nhận thức được khái niệm chăm sóc sức khỏe tâm
thần, có thái độ tích cực đối với việc chăm sóc sức khỏe tâm thần nhưng
chưa thường xuyên thực hiện các hành vi chăm sóc sức khỏe tâm thần.



Yếu tố ý thức cá nhân ảnh hưởng nhiều nhất đến thực trạng chăm sóc sức
khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu


Hệ thống hóa những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu: chăm
sóc sức khỏe tâm thần, nhà tham vấn tâm lý, chăm sóc sức khỏe tâm thần
của nhà tham vấn tâm lý.




Khảo sát thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý
tại thành phố Hồ Chí Minh và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng
trên.



Đề xuất một số kiến nghị.

6. Giới hạn nghiên cứu
6.1. Giới hạn về nội dung


Một cá nhân có thể được chăm sóc từ mạng lưới chăm sóc bên ngồi
hoặc cá nhân đó tự chăm sóc cho chính mình. Trong đề tài nghiên cứu
này, chúng tôi chỉ nghiên cứu trong giới hạn nhà tham vấn tâm lý tự
chăm sóc cho chính mình.



Do đề tài khá mới mẻ nên trong khn khổ khóa luận tốt nghiệp, chúng
tơi chỉ tiến hành tìm hiểu ban đầu về nhận thức, thái độ và hành vi chăm
sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý.

6.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
33 nhà tham vấn tâm lý đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
3



Vận dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc vào đề tài, thông qua việc nghiên
cứu đối tượng cách nhiều mặt và mối quan hệ giữa các mặt sẽ cho tri thức tồn diện,
khách quan.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý là vấn đề đáng quan
tâm trong tình hình hiện tại. Việc nghiên cứu đề tài xuất phát từ nhu cầu thực tiễn.
Để kiểm tra những giả thuyết đã nêu cần dựa trên khảo sát thực tiễn. Thực tiễn là
tiêu chuẩn để kiểm tra chân lí.
7.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
 Mục đích
Tìm ra những cơ sở lí luận nhằm xây dựng khung lí thuyết và cơng cụ nghiên
cứu cho đề tài.
 Cách thức


Tìm kiếm các tài liệu, các cơng trình nghiên cứu về sức khỏe tâm thần,
chăm sóc sức khỏe tâm thần, chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn
tâm lý trong thư viện Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và
các thư viện điện tử.



Đọc, phân loại, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu và các cơng trình nghiên cứu
thành các vấn đề theo tiến trình nghiên cứu.




Dựa trên các tài liệu, các cơng trình nghiên cứu kết hợp với lí luận riêng,
xây dựng cơ sở lí luận hoàn chỉnh cho đề tài.

7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
 Mục đích
Phương pháp này nhằm khảo sát thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm thần của
nhà tham vấn tâm lý về nhận thức, thái độ, hành vi cũng như các yếu tố ảnh hưởng
đến thực trạng chăm sóc sức khỏe tâm thần của nhà tham vấn tâm lý tại thành phố
Hồ Chí Minh.
4


 Cách thức


Dựa trên cơ sở lí luận, xây dựng phiếu thăm dò các câu hỏi về từng mặt
cần khảo sát



Kiểm nghiệm độ tin cậy



Tiến hành khảo sát chính thức

7.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
 Mục đích
Phương pháp này nhằm thu thập thông tin một cách trực tiếp từ nhà tham vấn

tâm lý. Thông tin này được dùng để kiểm tra độ trung thực của kết quả phiếu thăm
dò ý kiến và làm sáng tỏ kết quả khảo sát.
 Cách thức


Xây dựng câu hỏi phỏng vấn dựa trên cơ sở kết quả phiếu thăm dò ý
kiến.



Liên hệ với nhà tham vấn tâm lý để xin lịch hẹn phỏng vấn



Trình bày phiếu đồng ý tham gia phỏng vấn với nhà tham vấn tâm lý. Sau
đó, nhà tham vấn xác nhận vào phiếu để thể hiện sự đồng ý



Tiến hành phỏng vấn

7.2.2.3. Phương pháp thống kê tốn học
 Mục đích
Dùng phần mềm SPSS để nhập, xử lí thống kê và kiểm tra ý nghĩa như: tính
tần số, tỷ lệ phần trăm, trung bình cộng, kiểm nghiệm T-Test làm cơ sở để bình luận
số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
 Cách thức


Nhập dữ liệu đã thu được từ bảng hỏi vào SPSS




Xử lý thống kê và kiểm tra ý nghĩa

5


Chƣơng 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHĂM SĨC SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA NHÀ THAM VẤN TÂM LÝ
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài
Từ lâu loài người đã biết CSSKTT, đến thế kỉ thứ XVIII, chính xác là năm
1773 ở Viecginia, Mỹ đã có bệnh viện tâm thần đầu tiên và sách giáo khoa tâm thần
đầu tiên của Bengiamin Rút (Benjamin Rich-1745-1813), rồi đến cuối thế kỉ XVIII
đầu XIX, thuyết phân tâm học Freud đánh dấu một bước phát triển mới của tâm thần
học [11].
Theo báo cáo y tế thế giới năm 2001: Cả trong các nước phát triển và đang phát
triển, cứ 4 người thì có 1 người phát triển một hay nhiều hơn rối loạn tâm thần hoặc
hành vi ở một số giai đoạn trong cuộc sống. Bây giờ, những rối loạn tâm thần hoặc
hành vi có thể được chẩn đốn đáng tin cậy và chính xác như hầu hết các rối loạn thể
chất thông thường. Khoa học tâm lý đã chỉ ra rằng một số loại rối loạn tâm thần và
hành vi như lo âu và trầm cảm, có thể xảy ra như là kết quả của sự thất bại trong việc
đối phó có hiệu quả với một sự kiện cuộc sống căng thẳng. Nói chung, những người
cố gắng tránh suy nghĩ hoặc tránh đối phó với yếu tố gây stress thì có nhiều khả năng
để phát triển sự lo lắng hoặc trầm cảm hơn những người chia sẻ [40].
Có một mối quan tâm ngày càng tăng trong môi trường tâm lý xã hội trong làm
việc của nhân viên chăm sóc sức khỏe vì họ có nguy cơ cao đối với sự kiệt sức, xung
đột vai trị và khơng hài lịng trong cơng việc. Kiệt sức nghề nghiệp, như là một loại

phản ứng kéo dài với những công việc liên quan đến nhiều căng thẳng mãn tính. Đặc
biệt, kiệt sức nghề nghiệp dễ xảy ra trong việc chăm sóc sức khỏe nơi mà nhân viên
chăm sóc kinh nghiệm căng thẳng về cả tâm lý - xúc cảm và thể chất. Kiệt sức nghề
nghiệp và những khía cạnh tiêu cực khác về cơng việc của các nhân viên chăm sóc
sức khỏe có quan hệ mật thiết với hành vi và sức khỏe. Kết quả nghiên cứu "Kiệt sức
nghề nghiệp, xung đột vai trị, sự hài lịng trong cơng việc và sức khỏe tâm lý của các
cán bộ y tế Hungary: một bảng hỏi khảo sát" của tác giả Piko BF trên 201 nhân viên
chăm sóc sức khỏe Hungary cho thấy điểm số kiệt quệ xúc cảm và mất nhân cách cao
6


hơn nhưng điểm số thành tựu cá nhân lại thấp hơn so với mẫu Canada, Na Uy và Mỹ.
Sự kiệt sức nghề nghiệp, đặc biệt là kiệt quệ xúc cảm (MYN < 0,001), được chỉ ra có
liên quan chặt chẽ với sự khơng hài lịng trong cơng việc. Việc học hành thì lại tỷ lệ
nghịch với sự hài lịng trong cơng việc (MYN < 0,05). Trong khi sự hài lịng về công
việc là một yếu tố dự báo tiêu cực của từng loại thang đo kiệt sức nghề nghiệp (MYN
< 0,001) thì sự xung đột vai trị lại là một yếu tố góp phần tích cực vào điểm số kiệt
quệ xúc cảm (MYN < 0,001) và mất nhân cách (MYN < 0,001). Các kết quả nghiên
cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng về vai trị của mơi trường tâm lý xã hội trong làm
việc và mối tương quan giữa sự kiệt sức nghề nghiệp, xung đột vai trò, sự hài lịng
trong cơng việc với SKTT của các nhân viên chăm sóc sức khỏe Hungary [34].
Theo một nghiên cứu mới được công bố trực tuyến (5/2013) trong "Tâm lý
học chuyên nghiệp: Nghiên cứu và Thực hành", nhà tâm lý học không ln ln có
được sự CSSKTT mà họ cần. Trong một khảo sát đối với 260 thành viên Hiệp hội
Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) về kinh nghiệm của họ đối với các liệu pháp tâm lý, các
nhà nghiên cứu tại Đại học George Fox cho biết: 86% thành viên tham gia khảo sát
đã có chữa tâm lý tại một số thời điểm trong cuộc sống của họ, 59% thành viên
tham gia khảo sát cho biết có những thời điểm họ có thể được hưởng lợi từ trị liệu
nhưng họ đã khơng tìm đến trị liệu. Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, khơng
giống như người dân nói chung, các nhà tâm lý dường như không bị ức chế nhiều

bởi sự kỳ thị khi nói đến đi khám chữa SKTT. Tuy nhiên, các nhà tâm lý vẫn còn
phải đối mặt với nhiều rào cản tương tự cộng đồng dân cư phải đối mặt để CSSKTT
như: không đủ thời gian, không đủ tiền bạc và rắc rối khi thừa nhận tình trạng bệnh.
Theo nghiên cứu, rào cản lớn nhất để nhà tâm lý tìm kiếm điều trị là quá trình lựa
chọn để tìm một nhà chun mơn vừa khơng phải là một đồng nghiệp cũng không
phải là một người cố vấn, nhà chun mơn này làm việc gần đó và cung cấp dịch vụ
chăm sóc như mong đợi cao của chính các nhà tâm lý [38].
Theo bài báo "Tự chữa lành" được công bố (8/2014) trên trang mạng của Hiệp
hội Tâm Lý học Hoa Kỳ (APA), phần lớn các nghiên cứu đã khám phá ra lí do các nhà
tâm lý tìm đến trị liệu tâm lý cá nhân cũng cùng với lí do của những người khác cần
đến trị liệu, chẳng hạn như: đối phó với sự mất mát, đối phó với trầm cảm hoặc lo âu,
7


đấu tranh với một cuộc khủng hoảng cá nhân [32]. Nhà tâm lý cũng là một con người.
Cuộc sống con người không bằng phẳng. Cho nên, nhà tâm lý cũng gặp những vấn đề
khó khăn như mọi người gặp.
Như vậy, trên thế giới, CSSKTT đã sớm được biết đến và ngày càng được quan
tâm. Tuy nhiên có tương đối ít nghiên cứu tập trung vào những người làm công tác
chăm sóc. Mặc dù ít được nghiên cứu nhưng những nghiên cứu cũng cho thấy người
làm cơng tác chăm sóc cũng cần CSSKTT. Nghiên cứu tập trung vào nhân viên chăm
sóc y tế đã chỉ ra những nguy cơ nghề nghiệp của người chăm sóc, các yếu tố ảnh
hưởng đến SKTT của người chăm sóc (sự kiệt sức nghề nghiệp, xung đột vai trị, sự
hài lịng trong cơng việc). Nghiên cứu tập trung vào nhà tâm lý đã chỉ ra những lí do
nhà tâm lý cần đến trị liệu và những khó khăn để nhà tâm lý được nhận trị liệu như
mong đợi.
1.1.2. Tổng quan nghiên cứu trong nước
Ngày nay, người ta càng thấy vai trò lớn lao của mặt tâm thần trong sức khỏe
con người. "Sự cần thiết của nghiên cứu liên ngành giáo dục, tâm lý học, sức khỏe
tinh thần trẻ em Việt Nam", Đặng Bá Lãm đã chỉ ra đòi hỏi liên kết các tổ chức y tế,

giáo dục, các tổ chức xã hội để tạo thành một mạng lưới chăm sóc sức khỏe tinh
thần cho trẻ em. Trong mạng lưới đó, nhà trường đóng vai trị nịng cốt vì phần lớn
hoạt động của các em diễn ra ở nhà trường. Đáng tiếc ở nước ta nhà trường chưa
quan tâm đến các bước dự phòng và các hoạt động thường xuyên mà chỉ mới đối
phó khi xảy ra các hiện tượng gây cấn, bức xúc làm náo loạn dư luận. Hoa Kỳ cũng
là một nước quan tâm nhiều đến đời sống tinh thần của học sinh và một nhóm các
nhà nghiên cứu đã cộng tác và giúp đỡ các đồng nghiệp Việt Nam trong hoạt động
này. Giáo sư, Tiến sĩ Bahr Weiss là một nhà tâm lý học, giảng viên Trường Đại học
Vanderbild, đã có q trình nghiên cứu lâu dài về tâm lý, văn hóa Việt Nam và đã
dụng cơng tìm tịi các đối tác Việt Nam. Trong tài liệu mơ tả chương trình, ơng viết:
"Chúng tơi coi đây không phải là một dự án mà là một phần quan trọng của cuộc
đời chúng tôi" cho thấy tâm huyết của các nhà tâm lý học cùng tầm quan trọng của
việc chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ em Việt Nam [15]. (Từ "tinh thần" được
dùng như "tâm thần" (mental health))
8


Trong luận văn thạc sĩ tâm lý học "Bước đầu nghiên cứu chứng trầm cảm ở
phụ nữ sống trong gia đình có chồng bạo hành tại Tp. HCM" của tác giả Nguyễn
Thị Uyên Thy năm 2006, căn cứ vào mức độ phân loại trầm cảm của Beck dựa trên
tổng điểm thang đo, tác giả kết luận: Trong số những phụ nữ có chồng bạo hành,
32,4% chỉ có những biểu hiện khí sắc trầm, chưa hẳn xếp vào dạng trầm cảm và
67,5% bị trầm cảm thực sự (mức nặng, vừa phải và nhẹ). Theo nghiên cứu, nguyên
nhân chính gây ra trầm cảm là do rất ít thể hiện, bộc lộ trực tiếp những xúc cảm tiêu
cực của mình bằng lời nói. Việc dồn nén những xúc cảm tiêu cực sẽ gây hại đến
SKTT. Mơ hình tương tác nhóm nhà trị liệu với thân chủ về thực chất chính là cơ
chế phản hồi tích cực nhằm xây dựng lại lịng tự tơn và cải thiện cách giao tiếp cho
thân chủ. Nâng cao lịng tự tơn và cải thiện cách giao tiếp là một trong những cách
giúp thân chủ tìm lại sự cân bằng. Kết quả thử nghiệm mơ hình tương tác giữa
nhóm nhà trị liệu với thân chủ đã tỏ ra khá hiệu quả trong việc trị liệu tâm lý cho

chứng trầm cảm của phụ nữ sống trong gia đình có chồng bạo hành tại Tp. HCM.
Tác giả đã khám phá ra một phương pháp chữa trị riêng biệt phù hợp với nền văn
hóa riêng biệt của Việt Nam. Đồng thời cũng cho thấy tầm quan trọng của trị liệu
tâm lý trong điều trị trầm cảm [25]. Tìm được phương pháp giải quyết phù hợp với
hồn cảnh chứa vấn đề thì ln đem lại hiệu quả.
Theo nghiên cứu "Sức khỏe tâm lý sinh viên: nghiên cứu cắt ngang" của tác giả
Lê Minh Thuận trên 252 sinh viên, tỉ lệ mức độ rất nặng - lo âu khoảng 7% là nữ và
4% là nam (chung là 11%), trầm cảm là 5% (nữ). Mức độ nặng - lo âu là 12%, stress
là 2% và trầm cảm 2%. Có sự tương quan cao giữa các yếu tố stress, trầm cảm và lo
âu của sinh viên. Yếu tố rối nhiễu tâm lý: lo âu, trầm cảm, stress có mối liên hệ đáng
tin cậy với Hy vọng cậy (r = -0,83, -0,85, -0,82), cho thấy yếu tố hy vọng là yếu tố
tăng cường bảo vệ. Đây là mối liên hệ nghịch (r < 0), tính hy vọng ở sinh viên cao thì
giảm đi các rối nhiễu tâm lý và ngược lại rối nhiễu tâm lý tăng thì làm giảm hy vọng.
Rối nhiễu tâm lý trong sinh viên là đáng quan tâm. Giảm tỉ lệ rối nhiễu tâm lý trong
sinh viên, bằng cách tăng cường tính hy vọng cho sinh viên. Sức khỏe tâm lý cần
được quan tâm và xem trọng trong chính sách và các vấn đề liên quan đến sinh viên
[24].
9


Luận văn thạc sĩ tâm lý học "Thực trạng hiện tượng stress trong đời sống của
sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Tp.
HCM" của tác giả Nguyễn Thị Huyền trên 600 sinh viên đã bước đầu tổng hợp được
một số cơng trình nghiên cứu về stress nói chung, stress ở các lứa tuổi cũng như
stress ở lứa tuổi sinh viên nói riêng và đã sơ bộ tổng hợp, nhận dạng hiện tượng
stress trong đời sống: biểu hiện của hiện tượng stress, nguyên nhân gây stress, cách
thức ứng phó khi bị stress. Ưu tiên trong việc lựa chọn cách thức ứng phó với hiện
tượng stress là các cách thức giúp thư giãn tinh thần, kế đến là các cách thức điều
chỉnh nhận thức, điều chỉnh lối sống và hoạt động của bản thân. Người nghiên cứu
cũng đề ra kiến nghị cho sinh viên, nhà trường và xã hội để nâng cao nhận thức, có

cách ứng phó thích hợp với stress, tạo điều kiện thuận lợi để giảm áp lực trong môi
trường học tập, xây dựng sân chơi bổ ích, mơi trường lành mạnh và tiến bộ. Nghiên
cứu cũng kiến nghị phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm/ cố vấn học tập trong
trường đại học và công tác tham vấn tâm lý cần được phát huy hiệu quả tối đa [14].
Nghiên cứu "Stress của nhân viên y tế tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang" của
tác giả Nguyễn Trung Tần trên 136 nhân viên y tế tại bệnh viện Tâm thần Tiền
Giang đã khái quát được cơ sở lí luận của stress nói chung và stress của nhân viên y
tế, qua đó nêu ra được khái niệm stress của nhân viên y tế, biểu hiện stress của nhân
viên y tế, nguyên nhân chủ yếu gây ra stress cho nhân viên y tế, đồng thời nghiên
cứu cách ứng phó với stress của nhân viên y tế. Nghiên cứu cũng kết luận: mức độ
stress thường xuyên chủ yếu tập trung vào thời gian công tác dưới 5 năm và trên 20
năm; nguyên nhân chính gây stress cho nhân viên y tế chủ yếu là từ cơng việc; cách
ứng phó được nhân viên y tế lựa chọn nhiều là cải thiện môi trường sinh hoạt, môi
trường sống, môi trường làm việc để tạo sự thoải mái hơn. Chính vì vậy, có nhiều
kiến nghị tập trung vào sự tổ chức, lãnh đạo của bệnh viện mặc dù cần sự phối hợp
đồng bộ của chính quyền và chính nhân viên y tế [21].
Nhận thức và thái độ của người dân đối với SKTT là một trong những nguyên
nhân khiến cho các đối tượng này không có được sự phịng tránh và can thiệp
chun mơn kịp thời khi gặp phải các vấn đề rối loạn SKTT. Theo luận văn thạc sĩ
tâm lý học của tác giả Ngô Thị Mỹ Duyên trên 400 sinh viên về "Nhận thức và thái
10


độ của sinh viên Đại học Quốc gia Tp.HCM đối với rối loạn sức khỏe tâm thần",
sinh viên có nhận thức khá đúng đắn đối với vấn đề rối loạn SKTT, thái độ khá tích
cực đối với vấn đề này. ĐTB của sinh viên đối với phần nhận thức và thái độ là khá
tương đồng nhau. Điều này cho thấy nhận thức của sinh viên đối với vấn đề rối loạn
SKTT phần nào cũng được thể hiện thông qua thái độ của sinh viên đối với vấn đề
này và ngược lại. Người nghiên cứu đã nhiều lần nhắc đến dịch vụ CSSKTT trong
phần kiến nghị của mình cho thấy tầm quan trọng của CSSKTT [7].

Theo luận văn thạc sĩ tâm lý học "Mức độ trầm cảm của bệnh nhân tại bệnh
viện tâm thần Tiền Giang" của tác giả Đinh Minh Thành, trong mẫu nghiên cứu 68
bệnh nhân trầm cảm độ tuổi từ 16 đến 80 đang điều trị tại bệnh viện Tâm thần Tiền
Giang, tỉ lệ bệnh nhân trầm cảm ở mức độ nặng là 66,2%, tỉ lệ bệnh nhân trầm cảm
ở mức vừa là 27,9%, trầm cảm nhẹ chỉ chiếm 5,9%. Giới nữ (70,6%) xét theo mức
độ trầm cảm thì số lượng nữ giới mắc trầm cảm vừa đến nặng cũng cao hơn nam
giới (0% bị trầm cảm nhẹ, nhưng lại 89% trầm cảm vừa và 70,6% trầm cảm nặng),
độ tuổi từ 31 - 45 (48,5%), trình độ học vấn từ lớp 1 đến lớp 5 (36,8%), thu nhập
dưới 1 triệu/tháng (32,4%), đã kết hôn (57,4%) và nghề nghiệp là nội trợ - làm nơng
(32,4%). Để phịng ngừa và điều trị trầm cảm, tác giả đề xuất cách thức đầy đủ cho
cả 4 đối tượng: bệnh nhân, gia đình, bệnh viện và xã hội. Bệnh nhân cần chủ động
đến khám khi phát hiện mình có triệu chứng điển hình của trầm cảm, tìm cho mình
một cách thức điều trị hiệu quả; bên cạnh đó, tổ chức đời sống cá nhân tốt, quan tâm
đến sức khỏe tinh thần (điều hòa giữa lao động chân tay và lao động trí óc, đảm bảo
giờ giấc sinh hoạt, ngủ nghỉ, tránh tiếng ồn...). Gia đình cần quan tâm đến bệnh
nhân, là chỗ dựa vững chắc cho bệnh nhân và hợp tác hiệu quả trong quá trình điều
trị. Bệnh viện cần nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ và nâng cao hiểu biết
về trầm cảm cho thân nhân của bệnh nhân. Xã hội cần có chính sách, chương trình
để mọi người hiểu biết về trầm cảm, khuyến khích mọi người tham gia chiến dịch
phòng chống trầm cảm trong cộng đồng. Như vậy, để phịng ngừa và điều trị trầm
cảm, cần có sự chủ động trong việc chăm sóc sức khỏe của bản thân và sự chăm sóc
từ các đối tượng bên ngồi. Tác giả có nhắc đến sự phối hợp chặt chẽ giữa điều trị
trầm cảm bằng hóa dược và tâm lý trị liệu nhưng chưa được cụ thể [22].
11


Bản thân NTVTL có khỏe mạnh thì cơng việc mới có hiệu quả. Việc
NTVTL tiếp xúc với thân chủ có rất nhiều xúc cảm tiêu cực có thể tích tụ lại nơi
thân chủ và dễ rơi vào cơ chế chuyển dịch ngược làm ảnh hưởng đến quá trình tham
vấn. Kết quả nghiên cứu "Hành vi điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm

lý trong công việc" của tác giả Võ Thị Tường Vy, cho thấy chỉ có 22,7% người làm
tham vấn có mức độ biểu hiện hành vi điều chỉnh xúc cảm phù hợp (20,1% né
tránh; 14,7% điều chỉnh biểu hiện xúc cảm; 42,3%, điều chỉnh nhận thức; 22,9%
chia sẻ bộc lộ xúc cảm). Tác giả kiến nghị tổ chức các nhóm giám sát để giúp người
làm tham vấn điều chỉnh xúc cảm của họ cách hiệu quả, chia sẻ kinh nghiệm, học
hỏi lẫn nhau [28].
Ở Việt nam, những nghiên cứu về vấn đề SKTT, CSSKTT ở một số đối
tượng như: trẻ em, sinh viên, phụ nữ, nhân viên y tế... hầu như tập trung vào một số
vấn đề nổi trội như lo âu, trầm cảm, stress và mạng lưới chăm sóc từ bên ngồi lên
khách thể nghiên cứu hoặc cách thức phòng bệnh tâm thần cách chung chứ chưa có
đề tài nào nghiên cứu tổng quan về thực trạng CSSKTT của NTVTL.
1.2. Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1. Chăm sóc sức khỏe tâm thần
1.2.1.1. Khái niệm sức khỏe tâm thần
Woodruff nói: "SKTT là sức khỏe", "Cho đến khi tất cả chúng ta có thể hiểu
rằng khơng có sức khỏe mà khơng có SKTT, như thế khơng ai trong chúng ta sẽ tiến
về phía trước" [35]. Nói cách khác, nếu khơng có sự khoẻ mạnh về tâm thần thì cũng
khơng có sức khoẻ. Ý thức được tầm quan trọng của sức khoẻ tâm thần thì con người
mới ra sức chăm sóc để có thể ngày càng khoẻ mạnh.
Trong cuốn "Y tế Glencoe: một hướng dẫn để khỏe mạnh", SKTT bao gồm cá
nhân thích, chấp nhận và cảm thấy như thế nào về chính mình; cá nhân liên hệ với
những người khác tốt như thế nào; và cá nhân đáp ứng với những đòi hỏi của cuộc
sống thường ngày như thế nào. Một cá nhân có SKTT tốt thì có liên quan với những
xúc cảm của cá nhân đó và bộc lộ chúng trong những cách mà có thể chấp nhận được
và lành mạnh. Như một cá nhân có thể thường xuyên giải quyết những vấn đề và
những sự thất bại của cuộc sống mà không bị chôn vùi bởi chúng. SKTT cũng thôi
12


thúc mỗi cá nhân sử dụng tâm trí của mình để phát triển kỹ năng tư duy. Những cá

nhân có SKTT tốt thích học hỏi và biết rằng phấn đấu cho thơng tin và hiểu biết có thể
là một q trình lâu dài thú vị [37].
Trong bài viết "Thay đổi suy nghĩ của bạn về SKTT" công bố trực tuyến
(6/2000) trên trang mạng của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA), SKTT là cách suy
nghĩ, xúc cảm và hành vi của cá nhân ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân đó.
SKTT khỏe mạnh dẫn đến hình ảnh bản thân tích cực và ngược lại, hài lịng với mối
quan hệ bạn bè và những người khác, có SKTT khỏe mạnh giúp cá nhân đưa ra những
lựa chọn và đối phó với những thách thức của cuộc sống tại nhà, công việc hoặc
trường học [30].
Trong "Từ điển tâm lý học" của tác giả Vũ Dũng, SKTT được nhắc đến như là
sức khỏe tâm lý với ý nghĩa sau: "là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần,
khơng có các biểu hiện rối loạn tâm thần, một trạng thái bảo đảm cho sự điều khiển
hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường" [4].
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về SKTT như sau: SKTT là
một trạng thái khơng chỉ khơng có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là trạng thái tâm
thần thoải mái, cân bằng về xúc cảm, hòa hợp giữa các mối quan hệ gia đình, xã hội.
Trong trạng thái đó cá nhân nhận ra được năng lực của chính mình, có thể đương đầu
với các stress bình thường của cuộc sống, có thể làm việc năng suất và hiệu quả và có
thể đóng góp cho cộng đồng, xã hội mà mình đang sống.
SKTT ngày càng được xã hội quan tâm chú ý hơn vì tầm quan trọng của nó dần
được nhận thức đúng hơn. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm
2001, trầm cảm xếp thứ tư trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Đến năm 2020, trầm
cảm được dự đoán sẽ xếp hạng thứ hai, chỉ sau bệnh tim do thiếu máu cục bộ [40].
Sức khỏe tồn diện có ba thành phần: sức khỏe thể chất, SKTT và sức khỏe xã
hội. Ba thành phần này quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau [15]. Cơ thể bị
tổn thương (tổn thương thể chất và bệnh thực thể) sẽ gây tình trạng lo âu, bi quan,
buồn phiền, cáu gắt, uể oải, giảm hứng thú tức là gây tổn hại đến SKTT như trầm cảm
do ung thư. Ngược lại, khi trạng thái tâm lý không thoải mái, lo âu, sợ hãi, buồn
chán... hoặc bị rối loạn tâm thần nặng đều kéo theo những rối loạn cơ thể (rối loạn
13



thực vật - nội tạng, giảm miễn dịch...) như đau dạ dày do stress kéo dài. Sức khỏe xã
hội không tốt khiến con người khó hịa nhập, sống khơng thoải mái, tăng stress làm
SKTT con người dễ bị tổn thương. Ngược lại, SKTT không tốt cũng gây trở ngại cho
sự hòa nhập của con người vào xã hội, tức là sức khỏe xã hội.
Sức khỏe tồn diện được mơ tả như một tam giác. Một tam giác đều minh họa
những kết nối này và sự cần thiết cho một cách tiếp cận cân bằng cho sức khỏe. Để
đạt được và duy trì một mức độ cao về sức khỏe, cá nhân phải phát triển cả ba cạnh
sinh lí, tâm thần và xã hội. Ngược lại, tam giác sức khỏe của cá nhân có thể trở
thành khơng đều, nếu cá nhân dành quá nhiều thời gian trong một cạnh nào đó [37].
Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng phải đối mặt với nhiều
thách thức. Thế kỉ XXI dường như là thế kỉ của SKTT. Đã đến lúc, SKTT cần được
chăm sóc đúng mức và hiệu quả.
Trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi sẽ dựa trên khái niệm SKTT là trạng thái:
hài lòng với bản thân, hài lòng với mối quan hệ bạn bè và những người khác, bộc lộ
xúc cảm một cách lành mạnh, có khả năng đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống, có
khả năng ứng phó với stress trong cơng việc, có thể làm việc năng suất và hiệu quả.
1.2.1.2. Khái niệm chăm sóc sức khỏe tâm thần
Chăm sóc sức khỏe thơng thường được coi như là một yếu tố quyết định quan
trọng trong việc nâng cao sức khỏe tổng quát và hạnh phúc của mọi người trên khắp
thế giới [43]. Chăm sóc sức khỏe bao gồm nhiều loại dịch vụ sức khỏe khác nhau.
Dịch vụ sức khỏe gồm sự phòng ngừa bệnh tật, sự duy trì và bảo vệ sức khỏe, sự điều
trị và chữa bệnh [37].
Theo Wikipedia, "Chăm sóc sức khỏe hay y tế là việc chẩn đốn, điều trị và
phịng ngừa bệnh, bệnh tật, thương tích, và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở
người. Chăm sóc sức khỏe được thực hiện bởi những người hành nghề y như chỉnh
hình, nha khoa, điều dưỡng, dược, y tế liên quan, và các nhà cung cấp dịch vụ chăm
sóc. Nó đề cập đến những việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc thứ
cấp và chăm sóc thứ ba, cũng như trong y tế công cộng" [43].

 Ba giai đoạn của chăm sóc sức khỏe [37]:


Chăm sóc sức khỏe ban đầu
14


Nếu cá nhân bị bệnh và gọi bác sĩ, rất có thể cá nhân gọi một bác sĩ đa khoa,
một bác sĩ trong thực hành gia đình. Đây là loại chăm sóc, mà bệnh nhân tìm kiếm
trên riêng họ, được gọi là chăm sóc ban đầu. Nó thường diễn ra trong một phòng
khám của bác sĩ hoặc một phòng mạch [37]. Trong tham vấn tâm lý, đây là giai
đoạn thân chủ đến tìm gặp NTVTL tại các trung tâm tham vấn, phịng tham vấn,
tổng đài... để nhận sự chăm sóc.


Chăm sóc sức khỏe thứ cấp

Nếu một bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu đề nghị bệnh nhân đến một
chuyên gia, đây là chăm sóc thứ cấp. Chăm sóc thứ cấp có thể liên quan đến nghỉ tại
một bệnh viện để xét nghiệm kỹ hơn so với những gì nhận được ở một phòng khám
của bác sĩ hoặc phòng mạch [37]. Đây là giai đoạn trong quá trình làm việc, dựa vào
kiến thức của mình, NTVTL xâu chuỗi các triệu chứng và đề nghị thân chủ đến một
chuyên gia có chức năng chẩn đoán. Trong trường hợp, hai tuần qua, thân chủ có
triệu chứng mất hứng thú với việc học, sụt cân, mất ngủ, có cảm giác tội lỗi với mẹ
và hay nghĩ đến cái chết thì NTVTL có thể đề nghị thân chủ đến bệnh viện để chẩn
đoán trầm cảm.


Chăm sóc sức khỏe thứ ba


Khi tình trạng bệnh nhân đòi hỏi thiết bị chuyên ngành hoặc điều trị, điều này
là chăm sóc sức khỏe thứ ba. Đây là loại hình chăm sóc diễn ra tại các bệnh viện
được trang bị với cơng nghệ đặc biệt. Ví dụ về các dịch vụ chăm sóc thứ ba bao
gồm thận điều trị chạy thận, tim hoặc phẫu thuật não, và ung thư hoặc điều trị
phỏng [37]. Đây là giai đoạn những bệnh nhân được chẩn đoán mắc một trong
những rối loạn tâm thần nặng và người chăm sóc thường là bác sĩ tâm thần, những
người làm cơng tác CSSKTT.
Như vậy, chăm sóc sức khoẻ tâm thần là duy trì và bảo vệ trạng thái: hài lòng
với bản thân, hài lòng với mối quan hệ bạn bè và những người khác, bộc lộ xúc cảm
một cách lành mạnh, có khả năng đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống, có khả năng
ứng phó với stress trong cơng việc, có thể làm việc năng suất và hiệu quả; phòng
ngừa và điều trị trạng thái: khơng hài lịng với bản thân, khơng hồ hợp trong mối
quan hệ bạn bè và những người khác, xúc cảm không được bộc lộ một cách lành
15


mạnh, khơng có khả năng đáp ứng những u cầu của cuộc sống, khơng có khả năng
ứng phó với stress trong công việc, công việc không năng suất và không hiệu quả.
 Kim tự tháp dịch vụ WHO cho một sự pha trộn tối ưu của dịch vụ
SKTT
Hình 1.1. Sơ đồ kim thự tháp dịch vụ WHO cho một sự pha trộn tối
ưu của dịch vụ SKTT

Hầu hết mọi người cần được khuyến khích để quản lí các vấn đề SKTT của
chính họ, hoặc với sự hỗ trợ từ gia đình hoặc bạn bè. Tự chăm sóc là nền tảng của
dịch vụ kim tự tháp WHO, khi mà tất cả dịch vụ chăm sóc khác dựa vào [41]. Tự
chăm sóc được đặt ở mức độ cần thiết nhất nhưng giá lại thấp nhất cho thấy tự chăm
sóc có vai trị quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ tâm thần nhưng ít tốn kém,
phù hợp với điều kiện của nhiều người. Hiện nay, Hoa Kỳ đã nhận ra sự thừa nhận
ngun nhân của bệnh tật và tự chăm sóc phịng ngừa là cần thiết hơn bao giờ hết

[39]. Tuy vậy, tự chăm sóc rõ ràng là cần thiết nhưng thường bị bỏ qua.
16


×