Tải bản đầy đủ (.doc) (45 trang)

Báo cáo thực tập quản trị nhân lực: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức xã nam phương tiến

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (291.91 KB, 45 trang )

LỜI NÓI ĐẦU
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát
triển linh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người
… Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính
chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ
trước đến nay. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc
kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng
khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như
mong muốn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công
cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con
người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn
hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực
quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh. Vậy nguồn nhân lực là gì?
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên
Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,
năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá
nhân và của đất nước”.
Hiện nay công tác quản lý nguồn nhân lực đã được quan tâm, đẩy mạnh
công tác này sẽ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng công việc.
Nguồn nhân sự đã thực sự trở thành thứ tài sản quý giá nhất, là chiếc chìa
khoá dẫn đến thành công của mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường. Để quản lý và sử dụng hợp lý nguồn nhân sự trong doanh nghiệp của
mình, các nhà quản lý phải giải quyết tốt được các vấn để đặt ra trong công tác
tổ chức nguồn nhân sự hiện có trong các tổ chức để đáp ứng yêu cầu trong công
cuộc đổi mới, nhất là đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự
phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững nền kinh tế nước ta. Đó là yếu tố hết sức
1



bức thiết và cần có tính cập nhật, đáp ứng được yêu cầu về con người và nguồn
nhân lực xét trong nước ta nói riêng và quốc tế nói chung. Chúng ta khẳng định
con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội đồng
thời phải là những con người có tri thức và đạo đức. Từ đây mỗi con người dần
dần về đúng vị trí là một chủ thể sáng tạo ra các giá trị, bao gồm các giá trị tinh
thần và giá trị vật chất, cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy, vấn đề cốt lõi là, ta
phải thực hiện chiến lược phát triển con người một cách toàn diện cả thể lực lẫn
trí lực để có thể đáp ứng yêu cầu công việc.
Khoa quản lý và tổ chức nhân lực của trường Đại học Nội vụ Hà nội đào
tạo sinh viên chuyên ngành quản trị nhân lực, tạo điều kiện giúp sinh viên hiểu
rõ hơn về hoạt động quản lý nhân lực, được tiếp xúc trực tiếp với và làm quen
với công việc, tuy không phải là một thời gian dài song đây cũng là sự trải
nghiệm lớn đối với sinh viên chúng em . Qua đây em cũng xin được cảm ơn Nhà
trường và UBND xã Nam Phương Tiến đã tạo cơ hội cho em được học hỏi thêm
những kiến thức bổ ích.

2


A- PHẦN MỞ ĐẦU
1.lý do chọn đề tài
Thực tiễn cách mạng Việt Nam gần 80 năm qua đã chứng minh rằng: Sau
khi có đường lối đúng, cán bộ là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc;
công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" (1). Trong cách
mạng giải phóng dân tộc, do làm tốt công tác cán bộ, Đảng ta đã đào tạo, bồi
dưỡng được đội ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị vững
vàng, có năng lực tổ chức thực tiễn ngang tầm nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ các cấp
đã đưa chủ trương, đường lối của Đảng thâm nhập vào quần chúng, tổ chức,

lãnh đạo quần chúng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến đấu anh dũng, làm
nên thắng lợi lịch sử của cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống
nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Hơn hai mươi năm qua, đất
nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH, HĐH) vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa (XHCN), với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; mở
rộng dân chủ XHCN, đổi mới hệ thống chính trị; xây dựng nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; củng cố quốc phòng và an ninh, mở rộng
quan hệ đối ngoại, v.v. Do có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, trình độ, năng lực tổ
chức hoạt động thực tiễn, nên công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những
thành tựu đáng khích lệ. Có được đội ngũ cán bộ tốt, lãnh đạo được cách mạng
đạt được những thành quả đó là do từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta đã nhận
thức rõ và luôn quan tâm làm tốt công tác cán bộ nhất là công tác cán bộ cơ sở.
Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (hay còn gọi là chính quyền cấp xã)
có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính. Là cầu nối trực
tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản
lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã
3


hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, được triển khai thực
hiện trong cuộc sống.
Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cấp xã có vai trò hết sức quan trọng
trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi
hành công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ
thông chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực
và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC cấp xã. Vì vậy, việc nâng cao chất

lượng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, văn hóa, có đạo đức lối
sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực thi chức năng,
nhiệm hiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức và phục vụ nhân dân... là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng,
Nhà nước và cả hệ thống chính trị.
Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác cán bộ là khâu quan trọng nhất,
có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc, là khâu then chốt
trong sự nghiệp cách mạng, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào
những thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “
Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho
dân chúng hiểu và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho
Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”
. -Trong bối cảnh hiện nay, sự cạnh tranh trên mọi lĩnh vực đều diễn ra
gay gắt đòi hỏi phải có sự quan tâm, đầu tư phát triển nâng cao mọi nguồn lực
trong đó yếu tố con người là quan trọng nhất.
Hiện nay, nước ta có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã[2], bao gồm
1.567 phường, 597 thị trấn và 9064 xã, với tổng số trên 222.735 cán bộ, công
chức và 317.766 cán bộ không chuyên trách cấp xã. Đây là những người trực
tiếp thực hiện và đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Ðảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, tuyên truyền, vận động và tổ chức
4


nhân dân thực hiện.
(1) Hồ Chí Minh TT.NXBCTQG. 4.1995-T5 –Tr269-273
Trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta, chính quyền cấp
xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở gần với nhân dân nhất. Chính quyền cấp xã có
vai trò quan trọng trong việc tổ chức, vận động nhân dân thực hiện các chủ
trương, đường lối , chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đơn vị này

đại diện cho tiếng nói của nhân dân, đồng thời giải quyết những vấn đề ở địa
phương. Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, CNH- HĐH việc
nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức tại chính quyền cơ sở để
phát huy tối đa hiệu quả trong công tác quản lý cũng như thực hiện tốt các
nhiệm vụ được giao là hoàn toàn cần thiết.
Trên cơ sở những nhận định trên, tôi lựa chọn đề tài : “ Nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ công chức xã Nam Phương Tiến ” .
2. lịch sử nghiên cứu
Đã có rất nhiều đề tìm hiểu, nghiên cứu tới vấn đề nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực ở cấp xã. Mỗi bài viết lại có những cái nhìn khác nhau.
- Tác giả Nguyễn Văn Tạo- Trường đại học Nội vụ Hà Nội với bài viết:
Đưa trí thức trẻ về nông thôn- một hướng đi mới góp phần xóa đói giảm nghèo
bền vững. Tại đây tác giả nhận định:" Trí thức trẻ là nguồn nhân lực có chất
lượng cao, là lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế- xã hội. họ là những
người không ngại gian khổ khó khăn, có nhiều hoài bão và lòng nhiệt thành với
công việc , với tổ quốc. Việc đưa trí thức trẻ về đảm nhiệm những chức ở cấp xã
tại vùng nông thôn khó khăn , vùng sâu, vùng xa là một hướng đi góp phần củng
cố hệ thống chính trị cơ sở xã, với những tri thức vốn có nếu được áp dụng trong
thực tiễn sẽ đóng góp cho công tác xóa đói giảm nghèo bền vững".
Qua bài viết, tác giả đã phân tích những thời cơ cũng như thách thức của
chủ trương mới này. Nếu thực hiện thành công thì có thể nói đó là đòn bẩy vững
chắc góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh và bền vững bởi thế hệ trí
thức trẻ năng động , sáng tạo, giám nghĩ giám làm.
5


- Luận văn '' nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính tại Việt
Nam’’
Thông qua bài luận, tác giả đã trình bày khá cụ thể cơ sở lý luận về cán bộ
công chức, vai trò nguồn nhân lực hành chính. Tìm hiểu cách thức và kinh

nghiệm quản lý cán bộ công chức ở một số nước trong khu vực , qua đó thấy rõ
những tồn tại, yếu kém của nguồn nhân lực hành chính Việt Nam từ đó phân
tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng cán bộ công chức kém chất lượng và bày tỏ
một số giải pháp nhằm cải thiện chất lượng nguồn nhân lực hành chính ở Việt
Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Tạo bước đột phá trong công tác bố trí cán bộ, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ,
công chức chính quyền theo đúng chức danh, tiêu chuẩn; tăng cường cán bộcho
cơ sở; thay thế cán bộ, công chức trì trệ, năng lực yếu,uy tín thấp; thực hiện
chính sách tinh giản biên chế; đẩy mạnh công tác điều động, luân chuyển cán
bộ, công chức cho cơ sở; đào tạo chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức; góp
phần thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính và chương trình
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Về đào tạo chuẩn hóa: Phấn đấu 100% cán bộ, công chức chính quyền
đạt tiêu chuẩn chức danh theo quy định; trong đó, cán bộ chính quyền có trình
độ đại học chuyên môn đạt 70%, công chức có trình độ đại học chuyên môn đạt
80%.
4. Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: UBND Xã Nam Phương Tiến, Huyện Chương Mỹ, Thành
phố Hà Nội.
+ Thời gian : 02/03/2015 - 27/04/2015
+ Nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu các văn bản quy định về cán bộ công chức
Tìm hiểu thực tế
Đánh giá chung về CBCC tại cơ sở
6


Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC
5. Vấn đề nghiên cứu:

- Đề tài hướng tới việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại
UBND xã Nam Phương Tiến.
- Căn cứ vào những quy định cụ thể về tiêu chuẩn đối với cán bộ, công
chức cấp xã, phường, thị trấn.
- Khảo sát và đánh giá tình hình thực tế tại cơ sở về số lượng, chất lượng
cán bộ, công chức của UBND .
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích tài liệu
7. ý nghĩa đề tài
Với đề tài "nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã’’sẽ góp
phần làm rõ quan điểm về cán bộ, công chức. Tiêu chuẩn cần thiết , vai trò và
nhiệm vụ của người cán bộ, công chức cấp xã.
Phân tích thực trạng của đội ngũ cán bộ , công chức tại cơ sở để thấy rõ
những điểm mạnh cần phát huy đồng thời khắc phục những gì còn thiếu sót để
nguồn nhân lực cơ sở ngày càng vững mạnh .
8. Kết cấu đề tài: Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì báo cáo gồm có
3 chương
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ UBND XÃ NAM PHƯƠNG TIẾN
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC TẠI UBND XÃ NAM PHƯƠNG TIẾN
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ , CÔNG CHỨC TẠI
UBND XÃ NAM PHƯƠNG TIẾN
B - PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
7



TỔNG QUAN VỀ UBND XÃ NAM PHƯƠNG TIẾN
1.1 Đặc điểm tình hình chung
1.1.1 Về địa giới hành chính.
Xã Nam Phương Tiến nằm ở phía Tây Nam của huyện Chương Mỹ, là
một xã có diện tích và dân số lớn của huyện, cách trung tâm Hà Nội 35km về
phía Nam. Xã có 9 thôn: Nhân Lý, Nam Hài, Hạnh Bồ, Hạnh Côn, Nam Sơn,
Đồi Mít, Đồi Miễu, Đông Nam và Núi Bé với tổng diện tích tự nhiên 2.023,7ha.
Vị trị địa lý phức tạp cụ thể:
- Phía Bắc giáp xã được bao bọc bởi con sông Bùi, giáp với xã Trung
Hòa.
- Phía Đông giáp xã Hoàng Văn Thụ.
- Phía Tây giáp xã Tân Tiến và xã Hoàng Văn Thụ.
- Phía Nam giáp xã xã Liên Sơn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Đảng bộ xã có 195 đảng viên, sinh hoạt tại 15 chi bộ, trong đó 9 chi bộ
nông thôn trực tiếp lãnh đạo, 05 chi bộ nhà trường, 01 chi bộ cơ quan.
1.1.2 Đặc điểm về dân cư.
Xã Nam Phương Tiến là một xã có dân số đông của huyện Chương Mỹ.
Toàn xã có tổng số 2135 hộ với 10258 nhân khẩu. Trong đó, dân số trong độ
tuổi lao động 5.418 người chiếm 55% dân số. Dân số trong xã phân bố không
đồng đều ở 9 thôn tập trung chủ yếu ở 4 thôn Nhân Lý, Nam Hài, Đồi Miễu, Núi
Bé.
Về công tác quản lý hành chính ở dưới cơ sở 9 thôn chịu sự quản lý chung
của xã và trực tiếp là của 9 đồng chí Trưởng thôn và 9 đồng chí Phó trưởng
thôn. Nam Phương Tiến có đường Hồ Chí Minh chay qua 2km và đường liên
huyện Lương Sơn – Hòa Bình qua địa phận xã khoảng 4km, các đường liên
thôn, liên xã đường ngõ xóm đã được cứng hóa khoảng 40%, đồng thời có chợ
đầu mối là chợ Cá, họp tất cả các ngày trong năm. Đây là điều kiện hết sức
thuận lợi cho xã phát triển về kinh tế và giao lưu văn hóa với các địa phương lân
cận trong và ngoài tỉnh cũng như thông thương với các tỉnh bạn.
8



1.1.3 Về truyền thống lịch sử của địa phương.
Xã Nam Phương Tiến thuộc huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, là một
trong những vùng đất văn hiến, có bề dày lịch sử. Nam Phương Tiến được thành
lập từ 3 làng cổ là làng Nam Hài, Nhân Lý và Hạnh Bồ.
Nhân dân xã Nam Phương Tiến cũng nhân dân các xã trong huyện
Chương Mỹ vốn có truyền thống yêu quê hương, đất nước và đánh đuổi giặc địa
phương. Theo các thư tịch cổ và các truyền thuyết, các câu truyện truyền miệng
ta được biết: Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến các cuộc khởi
nghĩa chống lại sự bành trướng của các thế lực phong kiến phương Bắc dưới các
triều đại Lý, Trần, Lê… nhân dân trong vùng luôn hưởng ứng và ủng hộ các
cuộc khởi nghĩa độc lập dân tộc. Hơn thế nữa, nhân dân các vùng trong huyện
luôn sát cánh cùng lực lượng quân đội của các triều đại trong công cuộc đánh
đuổi giặc ngoại xâm.
Tháng 8 năm 1858, Thực dân Pháp nổ súng tân công bán đảo Sơn Trà
cùng với nhân dân cả nước nói chung và nhân dân xã Nam Phương Tiến nói
riêng đã đứng lên theo các cuộc khởi nghĩa trống thực dân Pháp xâm lược.
Nhân dân xã Nam Phương Tiến rất tự hào về truyền thống yêu nước, tinh
thần dũng cảm trong chiến đấu, vì độc lập, tự do của dân tộc. Những truyền
thống đó là di sản quý báu in đậm trong tiềm thức của người dân nơi đây.
Truyền thống đó đã được phát huy khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh
đạo, tạo thành sức mạnh lật đổ chế độ Thực dân, Phong kiến tay sai, giành lại
độc lập, tự do cho tổ quốc, ra sức xây dựng quê hương giàu đẹp văn minh.
Trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, các làng trên thuộc tổng Phương
Hạnh. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân
dân, thực hiện chủ trương của trên, cấp tổng bị bãi bỏ, thành lập cấp xã, làng
Nhân Lý nhập với làng Yên Trình thành xã Lý Hoàng Yên, làng Nam Hài nhập
với làng Việt An thành xã Nam An, làng Hạnh Bồ thuộc xã Phương Hạnh Tân.
Xã Nam Phương Tiến được thành lập từ tháng 12 năm 1948 trên cơ sở sáp

nhập 4 xã Nam An, Phương Hạnh Tân, Lý Hoàng Yên và Tiến Tiên. Tháng 11
9


năm 1957, xã Nam Phương Tiến tách thành 2 xã Nam Phương Tiến và Tân Tiến,
Xã Nam Phương Tiến mới gồm có 3 thôn: Nhân Lý, Nam Hài và Hạnh Bồ.
Từ những năm 1964 theo chủ trương giãn dân của nhà nước một số dân
cư 3 làng Nhân Lý, Nam Hài, Hạnh Bồ và các nơi khác trong huyện Chương Mỹ
lên vùng đất bán sơn đia của xã thành lập các làng mới, đó là: Hạnh Côn, Nam
Sơn, Đồi Mít, Đông Nam, Đồi Miễu, Núi Bé. Như vậy xã Nam Phương Tiến ổn
định về quản lý hành chính từ đó cho đến nay (năm 2010) gồm 9 làng.
Cũng như bao làng quê khác, các thôn, các làng ở xã Nam Phương Tiến là
cái nôi sinh ra và bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc. Do vậy, các thôn, làng
ở xã Nam Phương Tiến vừa có những nét chung vừa có những nét riêng đặc thù
của vùng đất nơi này.
Với thành tích hào hùng đó, năm 2010, xã được Nhà nước phong tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp.
1.1.4. Lịch sử hình thành và phát triển của UBND Xã
UBND Xã Nam Phương Tiến là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền
lực nhà nước đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp địa phương. Là cơ
quan nhà nước gần dân nhất đại diện cho tiếng nói của dân phát huy tinh thần
dân chủ với chức năng chủ yếu là quản lý hành chính nhà nước, góp phần đảm
bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung
ương tới cơ sở.
Từ khi thành lập tới nay bộ máy chính quyền ở địa phương ngày một kiện
toàn hơn, luôn hoàn thành nhiệm vụ của cấp trên giao phó, củng cố lòng tin
trong nhân dân trên địa bàn toàn xã
UBND Xã Nam Phương Tiến do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra gồm
có chủ tịch, 02 phó chú tịch và các ủy viên ủy ban. Chủ tịch UBND là đại biểu
hội đồng nhân dân. Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các ủy viên UBND xã do

chủ tịch UBND xã quy định.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của UBND Xã Nam Phương Tiến

10


1.1.5. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND Xã Nam Phương
Tiến
- Nhiệm vụ của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân:

11


+ Chủ tịch UBND Xã là người lãnh đạo và điều hành công việc của
UBND, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình quy định tại Điều 127 của Luật này, cùng với tập thể UBND chịu trách
nhiệm về hoạt động của UBND trước HĐND cùng cấp và trước cơ quan nhà
nước cấp trên.
+ Tổ chức chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra đối với công tác chuyên môn thuộc
Uỷ ban nhân dân trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan Nhà
nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các quyết định của Uỷ ban
nhân dân xã, phường, thị trấn.
+ Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp xã, tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể Uỷ
ban nhân dân.
+ Áp dụng các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ
máy hành chính ở xã, phường, thị trấn hoạt động có hiệu quả.
+ Ngăn ngừa, đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong cán bộ công chức
Nhà nước và trong bộ máy chính quyền địa phương cấp xã; tiếp dân, xét và giải
quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật; giải

quyết và trả lời các kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
đoàn thể nhân dân ở xã, phường, thị trấn.
+ Trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ theo quy định của
pháp luật.
+ Tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của trưởng, phó thôn, tổ dân phố
theo quy định của pháp luật.
+ Báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân
dân cấp trên.
+ Triệu tập và chủ toạ phiên họp của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn.
+ Thực hiện việc bố trí sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức
12


cơ sở theo sự phân cấp quản lý.
+ Đình chỉ hoặc bãi bỏ quy định trái pháp luật của trường thôn và tổ dân
phố
- Nhiệm vụ của Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân:
-Tổ chức quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ theo khối công việc (khối
kinh tế - tài chính, khối văn hoá - xã hội...) của Uỷ ban nhân dân do Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân phân công và những công việc do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ủy
nhiệm khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân đi vắng.
-Ban kế toán- ngân sách thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
+ Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng
nhân dân cùng cấp thông qua để trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt; tổ
chức thực hiện kế hoạch đó;
+ Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân
sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; dự toán
điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán

ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo
Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
+ Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, phối hợp với các cơ quan nhà
nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn xã, thị trấn và
báo cáo về ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
+ Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các
nhu cầu công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng,
đường giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo quy
định của pháp luật;
+ Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện.
Việc quản lýcác khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và
bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
13


- chức năng, nhiệm vụ của hợp tác xã nông nghiệp – Ban chăn nuôi
thú y
+ Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án
khuyến khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển
sản xuất và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi
trong sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các bệnh dịch đối
với cây trồng và vật nuôi;
+ Tổ chức việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ; thực hiện việc tu bổ,
bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão
lụt; ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo
vệ rừng tại địa phương;
+ Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo
quy định của pháp luật;
+ Tổ chức, hướng dẫn việc khai thác và phát triển các ngành, nghề truyền

thống ở địa phương và tổ chức ứng dụng tiến bộ về khoa học, công nghệ để phát
triển các ngành, nghề mới.
-Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải, ban địa chính có những
nhiệm vụ như sau :
+ Tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu sửa đường giao thông trong xã theo
phân cấp;
+ Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm
dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật
về xây dựng và xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định;
+ Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm đường giao
thông và các công trình cơ sở hạ tầng khác ở địa phương theo quy định của pháp
luật;
+ Huy động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường giao
thông, cầu, cống trong xã theo quy định của pháp luật.
-Ban công an xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
14


+ Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây
dựng làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương;
+ Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; đăng
ký, quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn
luyện, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;
+ Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xây
dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện
pháp phòng ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm
pháp luật khác ở địa phương;
+ Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của
người nước ngoài ở địa phương.
Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Uỷ ban

nhân dân xã, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn và bảo đảm thực hiện
chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.
`- Chức năng của ban tư pháp- hộ tịch:
+ Tham mưu, giúp UBND Xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND
trong lĩnh vực tư pháp và hộ tịch trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật.
+ Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp
luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân
theo thẩm quyền;
+ Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc
thi hành án theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các quyết định về xử
lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
- Ban quân sự Xã có nhiệm vụ:
+ Tham mưu, giúp UBND xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của
UBND trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự trên địa bàn theo quy định của pháp
luật;
15


+ Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về dân
quân tự vệ, quốc phòng toàn dân, nghĩa vụ quân sự và các văn bản có liên quan.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND Xã giao cho.
- Nhiệm vụ của bộ phận văn phòng thống kê:
+ Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: Văn phòng, thống kê,
tổ chức, nhân sự, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc và
thanh niên trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
+ Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
● Xây dựng và theo dõi việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác,

lịch làm việc định kỳ và đột xuất của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng
nhân dân,Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;
● Giúp Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã tổ
chức các kỳ họp; chuẩn bị các điều kiện phục vụ các kỳ họp và các hoạt động
của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã;
● Tổ chức lịch tiếp dân, tiếp khách của Ủy ban nhân dân cấp xã; thực hiện
công tác văn thư, lưu trữ, cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại Ủy ban
nhân dân cấp xã; nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Thường trực Hội
đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân xem xét, giải quyết theo thẩm quyền; tổng hợp,
theo dõi và báo cáo việc thực hiện quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân cấp xã
và thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật;
● Chủ trì, phối hợp với công chức khác xây dựng và theo dõi việc thực
hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổng hợp, thống kê, báo cáo tình hình
phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động kinh tế - xã hội
trên địa bàn cấp xã; dự thảo các văn bản theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân,
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành
và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.
16


- Ban văn hóa và dân số thực hiện nhiệm vụ:
+ Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương; phối
hợp với trường học huy động trẻ em vào lớp một đúng độ tuổi; tổ chức thực hiện
các lớp bổ túc văn hoá, thực hiện xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi;
+ Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu
giáo, trường mầm non ở địa phương; phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp trên
quản lý trường tiểu học, trường trung học cơ sở trên địa bàn;
+ Tổ chức thực hiện các chương trình y tế cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia

đình được giao; vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh; phòng, chống các dịch bệnh;
+ Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục thể
thao; tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lịch
sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật;
- Chức năng nhiệm vụ của ban lao động thương binh và xã hội:
+ Thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình
liệt sỹ, những người và gia đình có công với nước theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức các hoạt động từ thiện, nhân đạo; vận động nhân dân giúp đỡ
các gia đình khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi
nương tựa; tổ chức các hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng chính
sách ở địa phương theo quy định của pháp luật;
+ Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ; quy hoạch, quản lý nghĩa địa ở
địa phương.
Chế độ làm việc:
Ban lao động thương binh và xã hội làm việc theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của nhà nước.
Thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Khái niệm cán bộ, công chức và các vấn đề liên quan
- Cán bộ:
Theo luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 nêu rõ: Cán bộ là công
17


dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo
nhiệm kỳ trong cơ quan của ĐCSVN, Nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội ở
trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
- Công chức:
Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,

chức danh trong cơ quan của ĐCSVN, Nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội ở
trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, trong cơ quan,
đơn vị thuộc quan đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng, trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà
không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý.
- Cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) :
Là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy,
người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt
Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban
nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
- Vị trí làm việc
Là việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác
định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- bổ nhiệm
Là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo,
quản lý hặc một ngạch theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Quy định về số lượng cán bộ, công chức cấp xã, phường , thị trấn
Theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính
phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ , chính sách đối với cán bộ,
công chức ở xã, phường , thị trấn như sau:
Đối với xã, phường, thị trấn loại 1: không quá 25 người
18


Đối với xã, phường, thị trấn loại 2: không quá 23 người
Đối với xã, phường, thị trấn loại 3: không quá 21 người
Các chức danh của cán bộ cấp xã bao gồm:
● Bí thư Đảng ủy

● Phó bí thư Đảng ủy
● Chủ tịch Hội đồng nhân dân
● Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân
● Chủ tịch UBND
● Phó chủ tịch UBND
● Chủ tịch ủy ban MTTQ Việt Nam
● Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
● Chủ tịch Hội phụ nữ Việt Nam
● Chủ tịch Hội nông dân
● Chủ tịch Hội CCB
Các chức danh của công chức cấp xã bao gồm:
● Trưởng công an
● Chỉ huy trưởng Quân sự
● Văn phòng- Thống kê
● Địa chính - xây dựng,
● Tài chính - Kế toán
● Tư pháp - Hộ tịch
● Văn hóa- Xã hội.
1.2.3. Quy định về tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức cấp xã, phường,
thị trấn
- Tiêu chuẩn chung
Cán bộ, công chức cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn sau đây:
+ Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội; có năng lực và tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
19


+ Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với
dân. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức

tổ chức kỷ luật trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với
nhân dân, được nhân dân tín nhiệm;
+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyên môn,
đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
được giao.
- Tiêu chuẩn cụ thể
. + Đối với các công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn
hóa - xã hội:
* Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
* Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu
quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
* Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu
nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ
được giao;
* Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa
bàn công tác.
+ Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an
xã: ngoài những tiêu chuẩn trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia
xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân
sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền,
bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
1.2.4. yêu cầu của Cán bộ, công chức
20


Cán bộ, công chức nhà nước phải đáp ứng được những tiêu chuẩn và trình
độ nhất định. Theo V.I.Lênin, phẩm chất cao quý của cán bộ được hiểu là họ có

lòng trung thành với sự nghiệp và có năng lực.
Thứ nhất, năng lực chuyên môn:
Năng lực chuyên môn được thể hiện trong việc quản lý nhân sự, quản lý
công nghệ thông tin, tư vấn pháp lý,cũng như trong các mối quan hệ với quần
chúng, trong quản lý và phân công lao động. năng lực chuyên môn được thể
hiện bằng:
+ Trình độ văn hóa và chuyên môn ( thông qua chỉ tiêu bậc học, ngành
được đào tạo, hình thức đào tạo....)
+ Kinh nghiệm công tác ( thông qua thời gian công tác, các vị trí công tác
đã trải qua)
+ Kỹ năng ( thành thạo các nghiệp vụ thuộc chuyên môn).
Thứ hai, năng lực tổ chức:
Năng lực tổ chức bao gồm khả năng động viên và giải quyết công việc .
Dố là khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động với các nhân viên, đồng
nghiệp. Người có năng lực tổ chức là người có khả năng dự đoán , lập kế hoạch,
tổ chức, chỉ huy và điều hành mọi người cùng hướng tới mục tiêu của tổ
chức.Cán bộ, công chức cần thiết phải có năng lực này , nó sẽ giúp cho CBCC
giải quyết công việc một cách nhanh và hiệu quả hơn rất nhiều.
Thứ ba, phẩm chất đạo đức:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói "Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét
rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được tin cậy và mến phục không. Lại
phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người đó có tài mà không dùng đúng
tài của họ, cũng không được việc. Nếu cất nhắc không cẩn thận, thì không khỏi
đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm vào những địa vị lãnh đạo.
Như thế rất có hại..."
Đạo đức là một tiêu chuẩn quan trọng đối với CB,CC, họ phải là người
hết lòng trong công việc, vì sự nghiệp phục vụ nhà nước, là công bộc của nhân
21



dân. Chính vì vậy hơn ai hết, người CB, CC phải có phẩm chất đạo đức tốt , có
tư cách đúng đắn trong thực thi công vụ.Cb phải chí công vô tư, không được lợi
dụng chức quyền để mưu lợi riềng, làm việc gì cũng phải công bằng , chính trực
tạo dựng lòng tin trước Đảng và Nhà nước đặc biệt là lòng tin đói với nhân dân.
CHƯƠNG 2
KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC TẠI UBND XÃ NAM PHƯƠNG TIẾN
2.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tại UBND xã
Căn cứ theo Nghị định số 159/2005/NĐ-CP về phân loại đơn vị hành
chính xã, phường, thị trấn , xã Nam Phương Tiến được cấp vào đơn vị hành
chính cấp xã loại 2 với hơn mười nghìn dân tính đến hết tháng 12 năm 2013.
Theo Nghị định số 92/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính
sách đối với cán bộ công chức xã, phường , thị trấn. UBND xã Nam Phương
Tiến hiện có 19 cán bộ , công chức trong đó:
Cán bộ chuyên trách do bầu cử : 11 người chiếm 58%
Công chức chuyên môn: 08 người chiếm 42%.
Cụ thể như sau:
S
TT

C
HỨC

GIỚI


ĐỘ TUỔI

THỜI GIAN


TÍNH

CÔNG TÁC

DANH LƯỢ

(NĂM)
N

NG
AM
1

B
í thư

>


30

1-45 6-60

60

5

-15 6-30 30

x

1

Đảng
ủy
2

P
hó bí

x
1

thư
22


Đảng
ủy(kiê
m Chủ
tịch
HĐND
)
3

P
hó chủ

x
1


tịch
HĐND
4
C
hủ tịch

x
2

UBND
5
P
hó chủ

x
2

tịch
UBND
6
B
í thư

x
1

Đoàn
TNCS
7
C

hủ tịch

x
1

ủy ban
MTTQ
8
C
hủ tịch

1

Hội
phụ nữ
9
C
hủ tịch

x
1
23


hội
nông
dân
1
0


C
hủ tịch

x
1

Hội
CCB
THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG CÁN BỘ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI
VÀ THỜI GIAN CÔNG TÁC
Thông qua bảng thống kê về số lượng cán bộ cấp xã Nam Phương Tiến
theo giới tính , độ tuổi, thời gian công tác cho thấy:
- Về số lượng:
Đội ngũ cán bộ hiện nay tương đối đầy đủ. Các vị trí, chức danh được
kiện toàn, cơ cấu nhân lực ở các phòng ban khá hợp lý. Bổ sung cán bộ theo
luật định.
- Về giới tính:
○ Nam: 10 người chiếm 77%
○ Nữ : 01 người chiếm 23%
Cán bộ là nam giới chiếm tỷ lệ cao dẫn đến sự chênh lệch quá lớn
- Về độ tuổi:
○ Độ tuổi < 30: 0%
○ Độ tuổi 31-45: 3 người chiếm 27,2%
○ Độ tuổi 46- 60:8 người chiếm 72,8%
Như vậy có thể thấy sự già hóa của đội ngũ cán bộ, cán bộ có độ tuổi từ
46-60 chiếm tỷ lệ quá cao trong khi nguồn cán bộ trẻ thì còn hạn chế.
- Về thâm niên công tác:
Hầu hết cán bộ xã Nam Phương Tiến đều có thâm niên công tác lâu năm ,
có kinh nghiệm trong quản lý và lãnh đạo. Thời gian công tác khá dài , cụ thể
là :


24


○ Thâm niên từ 5-15 năm : 7 người chiếm 63,6%
○ Thâm niên từ 16- 30 năm : 4 người chiếm 26,4 %.
THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG CÔNG CHỨC THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ
TUỔI VÀ THỜI GIAN CÔNG TÁC
S
TT

C
HỨC

GIỚI


ĐỘ TUỔI

THỜI GIAN

TÍNH

CÔNG TÁC

DANH LƯỢ

(NĂM)
N


NG
AM
1

T

rưởng

>
Ữ 30

1-45 6-60 60

5

-15 6-30 30

x
1

công an
2
C
hỉ huy

x
1

trưởng
quân sự

3
V
ăn

0
2

1

1

1

1

1

1

phòngthống

4

Đ

ịa

x
2


chínhXây
dựng
5
T
ài

1

chính-

25


×