Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông bà điểm, thành phố hồ chí minh trong bối cảnh hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (331.54 KB, 13 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THANH TÒNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BÀ ĐIỂM THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THANH TÒNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BÀ ĐIỂM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Ninh Văn Bình

HÀ NỘI – 2015



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục
“Tiên học lễ, hậu học văn”, “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và
phát triển tốt các tri thức và kỹ năng. Ngày nay, phương châm “Dạy người,
dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục
đạo đức, Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức.
Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc quan trọng. Nếu thiếu đạo đức, con
người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không
phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định...” [30].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức chỉ là
người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đảng ta đã
chủ trương: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lòng
yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lê Nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh
vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học...”. Bởi vậy, tu dưỡng và
rèn luyện bản thân để trở thành người có nhân cách, có đạo đức, có tài năng là
hết sức quan trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ hàng đầu của các thế
hệ thanh niên và học sinh.
Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ
luôn được Đảng, Nhà nước, gia đình, nhà trường và toàn xã hội quan tâm.
Những năm qua, nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác thanh niên và
giáo dục thế hệ trẻ đã được triển khai, đạt nhiều kết quả. Hệ thống pháp luật,
công tác quản lý nhà nước về thanh thiếu niên ngày càng được hoàn thiện.
Giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ không
ngừng được tăng cường và đổi mới. Thông qua hoạt động giáo dục, các cuộc
vận động, phong trào thi đua đã tạo môi trường lành mạnh để thế hệ trẻ rèn
luyện, trưởng thành, góp phần hình thành lý tưởng cách mạng, đạo đức cao
đẹp, lối sống nghĩa tình, tuân thủ pháp luật, từng bước hoàn thiện nhân cách.
Nhìn chung, thế hệ trẻ Việt Nam được giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng ngày


1


một tốt hơn; phần lớn thanh thiếu niên tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và
con đường phát triển của đất nước, sống có trách nhiệm với Tổ quốc, gia đình
và bản thân, có ước mơ, hoài bão, kiến thức, kỹ năng, sức khỏe tốt, tư duy
năng động, sáng tạo, lạc quan, tự tin, dám nghĩ, dám làm; có nhiều đóng góp
quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho
thế hệ trẻ còn nhiều hạn chế, yếu kém. Nhiều tổ chức, cá nhân chưa nhận thức
đúng và đầy đủ tầm quan trọng của nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, nhất là trong
bối cảnh đất nước có nhiều thay đổi. Việc cụ thể hoá các chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục thế hệ trẻ
chưa kịp thời và hiệu quả; nhiều mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt yêu cầu. Vai trò,
trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong chăm lo, giáo dục
thế hệ trẻ chưa được như mong muốn, chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ
cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Một bộ phận giới trẻ giảm sút niềm tin,
thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, thiếu lý tưởng, xa rời
truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Một số ít thanh niên bị các thế lực
thù địch lôi kéo, kích động chống sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong giới trẻ diễn biến phức tạp.
Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do chúng ta chưa
giải quyết thoả đáng những vấn đề của thực tiễn đặt ra trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá và hội nhập quốc tế. Nhận thức về tính
cấp bách và tầm quan trọng của công tác giáo dục thế hệ trẻ chưa thật đầy đủ.
Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các đoàn thể còn thiếu chặt chẽ.
Đạo đức xã hội có mặt xuống cấp, ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách,
đạo đức của thế hệ trẻ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hoá,
biến chất, chưa là tấm gương để thế hệ trẻ học tập và noi theo. Nội dung, hình

thức dạy và học các môn lý luận chính trị, đạo đức, lối sống chưa thực sự phù
hợp với từng đối tượng.
Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Khóa XI về đổi mới

2


căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Đảng ta đã nêu rõ: “Đổi mới chương
trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể,
mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng
tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề;
tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân
cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào
những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn
hóa nhân loại, các giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh” [2].
Chỉ thị số 42 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống
văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030 đã chỉ rõ “Trong thời gian tới,
công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ phải
được tiếp tục tăng cường và nâng cao về chất lượng, nhằm góp phần xây dựng
thế hệ trẻ Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc, kiên định lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức trong sáng, ý thức tuân thủ
pháp luật; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khoẻ, tri thức,
kỹ năng lao động, trở thành những công dân tốt, tích cực tham gia vào sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [3].
Xác định rõ vai trò quan trọng của việc giáo dục đạo đức, Sở Giáo dục
và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh luôn coi hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh là nhiệm vụ hàng đầu. Các trường trung học phổ thông trên địa bàn
thành phố luôn quan tâm đến hoạt động giáo dục đạo đức, đến nề nếp kỷ luật

của học sinh, nhằm đạt mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng sống
cơ bản, hình thành nhân cách con người Việt Nam; chuẩn bị cho học sinh tiếp
tục học lên nữa hoặc đi vào cuộc sống lao động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Là cán bộ quản lý đang công tác tại trường trung học phổ thông Bà Điểm
thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi có nhiều trăn trở, suy nghĩ để tìm ra các

3


biện pháp chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
thông trong giai đoạn hiện nay, với mong muốn góp một phần nhỏ bé của
mình giáo dục các em thành những con ngoan trò giỏi, thật sự có ích cho xã
hội; đó cũng là lý do để chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài luận văn: “Quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Bà
Điểm, thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Qua việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, luận văn đề xuất các
biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ
thông Bà Điểm thành phố Hồ Chí Minh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện của nhà trường.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ
thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay.
4. Giả thuyết khoa học.
Vấn đề đạo đức của học sinh ở các trường trung học phổ thông đang
được xã hội quan tâm, nhưng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

cho học sinh trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh
bộc lộ những bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn
hiện nay. Nếu nghiên cứu và đề xuất các biện pháp có cơ sở khoa học và
mang tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho
học sinh trên địa bàn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tìm hiểu các vấn đề lý luận liên quan đến đạo đức, giáo dục đạo đức và
quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông.

4


Nghiên cứu, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành
phố Hồ Chí Minh.
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục.
6. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh trong phạm vi trường trung học phổ thông Bà Điểm thành phố Hồ
Chí Minh trong bối cảnh hiện nay.
Đối tượng khảo sát là cán bộ quản lý, cán bộ đoàn thanh niên, giáo viên
chủ nhiệm, một số giáo viên bộ môn, đại diện học sinh, phụ huynh học sinh
và cán bộ ở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: tham khảo, nghiên cứu,
phân tích, tổng hợp, khái quát hóa hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến
nội dung đề tài: đạo đức, quản lý, giáo dục đạo đức, quản lý nhà trường, quản
lý hoạt động giáo dục đạo đức.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, phỏng vấn, điều
tra bằng phiếu hỏỉ, xin ý kiến chuyên gia, tổng kết rút kinh nghiệm với mục
đích khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức ở trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí
Minh.
7.3. Các phương pháp hổ trợ khác (thống kê, tổng hợp, so sánh): sử dụng
phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu nhận được trong quá trình
nghiên cứu.
8. Đóng góp của đề tài.
Về mặt lý luận: giúp các nhà quản lý có cách nhìn nhận và thực hiện
đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường

5


trung học phổ thông trên cơ sở của khoa học giáo dục.
Về mặt thực tiễn: đóng góp vào mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh
trường trung học phổ thông Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh
hiện nay, nhất là vấn đề giáo dục đạo đức.
Kết quả đề tài là cơ sở lý luận giúp cho Hiệu trưởng các trường trung học
phổ thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tham khảo việc quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh.
9. Cấu trúc của luận văn.
Bao gồm: mở đầu, nội dung, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo. Nội dung nghiên cứu của đề tài được trình bày trong 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh trung học phổ thông.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trường THPT Bà Điểm, thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

trường THPT Bà Điểm thành phố Hồ Chí Minh.

6


CHƢƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Đạo đức phát sinh từ xa xưa, khi mà loài người cần những thỏa thuận để
điều tiết các mối quan hệ đối xử với nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội
thì các thỏa thuận đó dần trở thành tập quán, rồi thành các quy ước chi phối
xã hội. Quy ước đó là các chuẩn mực đạo đức, là đạo đức.
“Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” là chuẩn mực đạo đức của phương đông, “Tự
do, bình đẳng, bác ái” là chuẩn mực của đạo đức phương tây. Nước ta phấn
đấu cho mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là
nền tảng cho các giá trị đạo đức mới.
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài.
Đạo đức là hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển theo sự
phát triển loài người, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ
trước đây trong triết học Hy Lạp, Ấn Độ, Trung quốc cổ đại. Ở phương đông,
khái niệm đạo đức xuất hiện trong kinh văn nhà Chu và từ đó trở đi nó được
người Trung Quốc cổ đại sử dụng khá nhiều.
Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển và tiến bộ xã hội luôn được
quan tâm, được nhiều nhà khoa học thừa nhận. Thời cổ đại, con người đã sớm
ý thức vai trò quan trọng của việc GDĐĐ. Những tư tưởng về GDĐĐ gắn liền
với tên tuổi của các nhà giáo dục như Platon, Aristot (Hy Lạp), Khổng Tử,
Trang Tử (Trung Quốc).
Ở phương tây, các nhà triết học cho rằng đạo đức luôn là sự tôn trọng
những quy định chung và lợi ích của mọi người, “Đạo đức là cái thiện cá

nhân, chính trị là cái thiện xã hội” (Aristot 384-332-TCN). Thế kỷ XVII,
Komenxky nhà giáo dục học Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác
GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”.

7


GDĐĐ ở Nhật Bản xây dựng trên nền tảng các giá trị gia đình và văn
hóa truyền thống, được thực hiện ưu tiên so với các môn học khác. Nội dung
GDĐĐ hướng đến việc bảo tồn các giá trị xã hội của dân tộc, tập trung ba vấn
đề cơ bản: tôn trọng cuộc sống, quan hệ cá nhân, ý thức trật tự. Nhà trường
giúp học sinh nhận thức về bản thân trong mối quan hệ với gia đình và các
thành viên thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau của cộng đồng
Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin thì đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống xã hội, nó phản
ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức
cũng thay đổi. Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước.
Ở nước ta, những nguyên tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cá nhân và
đạo đức xã hội đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các mối quan hệ
ứng xử giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội, nhằm hướng con người
đến cái chân, thiện, mỹ, làm cơ sở nhằm đưa xã hội nước ta hướng đến mục
tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thời đại lịch sử nào đạo đức con người đều được đánh giá theo những
chuẩn mực và quy tắc nhất định. Đạo đức là sản phẩm của xã hội, cùng với sự
phát triển của sản xuất, của các mối quan hệ trong xã hội, hệ thống quan hệ
đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát
triển; ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn. Đạo đức đã
trở thành mục tiêu, động lực để phát triển xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên tiếp thu quan điểm đạo đức Mác

- Lênin và làm nên cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức. Người gọi đó là
đạo đức mới, đạo đức cách mạng: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ
cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân,
mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và của loài người” [24, tr.337].
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của con người cách mạng. Nội
dung cơ bản trong quan điểm của đạo đức cách mạng là: trung với nước,

8


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (2011), Báo cáo Chính trị Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (2013), Nghị quyết 29 về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Hội nghị Trung ương 8 khóa XI.
3. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (2015), Chỉ thị 42 về Tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng,
đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030.
4. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh (2010), Báo cáo
Chính trị Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X nhiệm kỳ 2010-2015.
5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hóc Môn (2015), Báo cáo Chính trị
Đại hội Đảng bộ huyện Hóc Môn lần thứ XI nhiệm kỳ 2015-2020.
6. Ban Chấp hành Chi bộ trƣờng THPT Bà Điểm huyện Hóc Môn
(2015), Báo cáo Chính trị Đại hội Chi bộ trường THPT Bà Điểm lần V
nhiệm kỳ 2015-2020.
7. Ban Văn hóa tƣ tƣởng Trung ƣơng (2004), Giáo dục đạo đức cán bộ,
đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8. Đặng Quốc Bảo (1996), Một số khái niệm về quản lý giáo dục. Trường
Cán bộ Quản lý giáo dục Trung ương 1, Hà Nội.

9. Ninh Văn Bình (2015); Tài liệu giảng dạy lớp Cao học. Trường Đại
học Sài Gòn.
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Chiến lược phát triển giáo dục Việt
Nam 2011-2020.
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT, Ban
hành Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông nhiều cấp học.

9


12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT, Ban
hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT.
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định 16/2008/QĐ-BGDĐĐ, Quy
định về đạo đức nhà giáo.
14. Nguyễn Đức Chính (2014), Quản lý chất lượng trong giáo dục - đào
tạo. Tài liệu dành cho học viên Cao học Quản lý giáo dục.
15. Phạm Khắc Chƣơng (1995), Một số vấn đề đạo đức và giáo dục đạo
đức ở trường trung học phổ thông. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
16. Phạm Khắc Chƣơng (2004), Lý luận quản lý giáo dục đại cương. Nxb
Đại học Sư phạm Hà Nội.
17. Nguyễn Minh Đạo (1996), Cơ sở khoa học quản lý. Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
18. Phạm Minh Hạc (2001), Phát triển con người toàn diện thời kỳ công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
19. Đặng Xuân Hải (2013), Quản lý thay đổi trong giáo dục, với nhà
trường, Đại học Quốc gia Hà Nội.
20. Nguyễn Kế Hào (2009), Giáo trình tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư
phạm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
21. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010), Đại cương khoa học
quản lý. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

22. Bùi Minh Hiền - chủ biên, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006),
Quản lý giáo dục. Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.
23. Đặng Vũ Hoạt (1984), Những vấn đề giáo dục học. Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
24. Học viện Chính trị Quốc gia (2003), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
25. Lê Ngọc Hùng (2013), Xã hội học giáo dục. Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội.

10


26. Trần Kiểm (2004), Khoa học Quản lí giáo dục một số vấn đề lý luận và
thực tiễn. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
27. Trần Hậu Kiểm (1997), Giáo trình đạo đức học., Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
28. Nguyễn Thị Mỹ Lộc - chủ biên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng
Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sỹ Thƣ (2014), Quản lý giáo dục Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
29. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2014), Tâm lý học quản lý. Đại học Quốc gia Hà
Nội.
30. Dƣơng Công Lý (2013), Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục
đạo đức cho học sinh trung học cơ sở huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí
Minh. Luận văn thạc sỹ.
31. Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục. Nxb Sự thật Hà Nội, 1990.
32. Nguyễn Thị Minh Huệ (2013), Một số giải pháp quản lý công tác giáo
dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai. Luận văn thạc sỹ
33. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí
Minh, Báo cáo triển khai nhiệm vụ năm học 2013-2014, 2014-2015,
2015-2016.

34. Quốc hội (2009), Luật Giáo dục [sửa đổi, bổ sung 2009]. Nxb Chính trị
Quốc gia.
35. Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Văn bản chỉ đạo
công tác giáo dục chính trị tư tưởng từ năm 2012 đến 2015.
36. Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo triển khai
nhiệm vụ năm học 2013-2014, 2014-2015, 2015-2016.
37. Từ điển Tiếng Việt (1997). Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
38. Phạm Viết Vƣợng (1996), Giáo dục học đại cương. Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội.

11



×