Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Vai trò lãnh đạo của đảng bộ huyện sìn hồ tỉnh lai châu trong thực hiện chính sách xã hội từ năm 1986 đến nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (887.47 KB, 90 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÒ THỊ AN

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÒ THỊ AN

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Xh2b

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Cao Thị Hạnh

SƠN LA, NĂM 2016



Lời cảm ơn!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Lý luận
chính trị, Phòng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đã động viên, giúp đỡ
em trong suốt thời gian làm đề tài. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô giáo,
Ths. Cao Thị Hạnh, đã tận tình chỉ bảo và đóng góp những ý kiến khoa học vô
cùng quý báu giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong thư viện nhà trường đã tạo
điều kiện về mặt tài liệu để em hoàn thành khóa luận.
Xin cảm ơn đến Đảng bộ, phòng Giáo dục và đào tạo, phòng y tế, phòng
Lao động- thương binh xã hội. Mặt trận Tổ quốc và UBND huyện Sìn Hồ tỉnh
Lai Châu đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề khóa luận một cách hoàn
chỉnh nhất. Song do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và còn
hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định mà bản thân em chưa thấy được. Em rất mong nhận được sự góp ý
kiến của quý Thầy, Cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận của em được
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5/2016
Sinh viên

Lò Thị An


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HĐND

Hội đồng nhân dân

Nxb


Nhà xuất bản

PGS.TS

Phó giáo sư tiến sĩ

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TS

Tiến sĩ

TW

Trung ương

UBND

Uỷ ban nhân dân

BHYT

Bảo hiểm y tế


XHH

Xã hội học

CHDC

Cộng hòa dân chủ

KTXH

Kinh tế xã hội

DS-KHHGĐ

Dân số- kế hoạch hóa gia đình

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc

LĐ-TBXH

Lao động-thương binh xã hội

BHXH

Bảo hiểm xã hội

XĐGN


Xóa đói giảm nghèo

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

KHHGĐ

kế hoạch hóa gia đình

BQLQ

Ban quản lý quỹ

DTNT

Dân tộc nội trú

GVCN

Giáo viên chủ nhiệm

ĐVTN

Đoàn viên thanh niên


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1

1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Mục đích, nhiệm vụ đề tài ................................................................................. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 6
6. Đóng góp của đề tài........................................................................................... 6
7. Kết cấu của đề tài .............................................................................................. 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẢNG BỘ HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI
CHÂU LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM 1986
ĐẾN NAY ............................................................................................................. 8
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 8
1.1.1. Quan niệm chung về chính sách, chính sách xã hội ................................... 8
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội............................................. 14
1.1.3. Quan điểm của Đảng về chính sách xã hội ............................................... 17
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 27
1.2.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu . 27
1.2.2. Những thành tựu và hạn chế trong thực hiện chính sách xã hội từ năm
1986 đến nay……………………………...………………………………….30
1.2.3. Sự cần thiết thực hiện các chính sách xã hội .................................... 32
TIỂU KẾT ........................................................................................................... 35
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ HUYỆN SÌN HỒ - TỈNH LAI
CHÂU LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM 1986
ĐẾN NAY ........................................................................................................... 36
2.1. Quá trình lãnh đạo và kết quả thực hiện chính sách xã hội của Đảng bộ
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (1986-1996) .......................................................... 36
2.1.1 Công tác lãnh đạo ....................................................................................... 36
2.1.2. Kết quả thực hiện, nguyên nhân và hạn chế ............................................. 37


2.2. Qúa trình lãnh đạo và kết quả thực hiện các chính sách xã hội của Đảng bộ

huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (1996-2006) .......................................................... 43
2.2.1. Công tác lãnh đạo ...................................................................................... 43
2.2.2. Kết quả thực hiện, nguyên nhân và hạn chế ............................................. 44
2.3. Quá trình lãnh đạo và kết quả thực hiện các chính sách xã hội của Đảng bộ
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu từ năm 2006 đến nay ............................................ 52
2.3.1. Công tác lãnh đạo ...................................................................................... 52
TIỂU KẾT ........................................................................................................... 66
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI .............................................................................................................. 67
3.1. Một số bài học kinh nghiệm ......................................................................... 67
3.1.1. Thực hiện tốt việc quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước ....................................................................................... 67
3.1.2. Quan tâm đúng mức đến nông nghiệp ...................................................... 68
3.1.3. Thường xuyên củng cố, xây dựng, phát huy truyền thống đại đoàn kết dân
tộc, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng. .................... 68
3.1.4. Coi trọng công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đề cao
vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. .................................... 69
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Sìn Hồ tỉnh Lai Châu thực hiện chính sách xã hội.............................................. 69
3.2.1. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để cán bộ, đảng viên và
nhân dân các dân tộc ............................................................................................ 70
3.2.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng và đảng viên, tăng cường
hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền ...................................................... 72
3.2.3. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của của Ủy ban MTTQ và các
đoàn thể chính trị ................................................................................................. 74
3.2.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý, điều hành thực hiện chính
sách xã hội ........................................................................................................... 76



TIỂU KẾT ........................................................................................................... 78
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 79
TÀI LIỆU KHAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình lịch sử, sự phát triển bền vững của một quốc gia dựa vào
hai trụ cột chính: nền kinh tế phát triển và tình hình xã hội ổn định. Thực tế lịch
sử cho thấy thực hiện tốt các chính sách xã hội là cơ sở để giữ vững ổn định
chính trị và là tiền đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và
tổ chức thực hiện các chính sách xã hội; coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI (năm 2012) chỉ rõ: Chính sách xã hội có vai
trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững
trong mọi giai đoạn phát triển. Mục tiêu cơ bản của chính sách xã hội là bảo
đảm ổn định xã hội, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển, hướng tới sự
công bằng, tiến bộ xã hội, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần và cuộc sống tốt đẹp, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân. Chính sách
xã hội bao trùm trên mọi mặt của đời sống con người, như: điều kiện lao động,
sinh hoạt, giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe… và luôn gắn chặt với quá
trình phát triển kinh tế, bản chất chính trị - xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Với
nhận thức đó, Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách,
pháp luật về lĩnh vực xã hội; nguồn lực đầu tư được tăng cường và đa dạng hóa;
phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân
dân thực hiện chính sách xã hội, chăm lo cho con người, tạo động lực xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Chính sách xã hội và quyền con người có mối quan hệ chặt chẽ. Thực hiện

tốt chính sách xã hội là một trong những bảo đảm quan trọng về quyền con
người ở nước ta. Bởi, quyền con người luôn gắn bó mật thiết với các quyền cơ
bản của dân tộc, với quyền công dân; phụ thuộc vào các điều kiện phát triển
kinh tế - xã hội, lịch sử, văn hóa, dân tộc. Đảng ta xác định: Chăm lo cho con
người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả mọi người; tôn trọng và thực
hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết tham gia.
1


Thực hiện chính sách xã hội chính là quá trình cụ thể hóa quyền con người đã
được ghi nhận và bảo vệ trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước cũng như
các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Thông qua chính sách xã hội mà quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ,
hoàn thiện hơn, góp phần tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”[17, tr 12]. Như vậy, việc nghiên cứu “chính sách xã hội” của Đảng và
Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Huyện Sìn Hồ, tuy là một thị trấn thuộc tỉnh Lai Châu nhưng hệ thống cơ
sở hạ tầng còn thấp, các thiết chế cho việc thực hiện các chính sách xã hội còn
chưa cao. Mặt bằng dân trí thấp, không đồng đều, đời sống kinh tế - xã hội còn
gặp nhiều khó khăn, với nhiều thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc thiểu số,
trong quá trình phát triển các dân tộc đã đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển,
sử dụng có hiệu quả các nguồn hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước phấn góp phần thực
hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu, lý giải một cách có hệ thống, đánh giá thực trạng
việc thực hiện chính sách xã hội, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực
hiện tốt chính sách xã hội, việc thực hiện các chính sách xã hội ở huyện Sìn Hồ
vừa có ý nghĩa lý luận và là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các chính sách xã hội và thực
tiễn triển khai tổ chức thực hiện các phong trào ở các cơ sở của Đảng bộ huyên

Sìn Hồ. Để góp phần khẳng định vai trò và công lao to lớn của Đảng nói chung
và Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu nói riêng đối với sự phát triển các
chính sách xã hội của huyện nhà trong những năm qua, Em chọn đề tài: “Vai trò
lãnh đạo của Đảng bộ huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu trong thực hiện chính
sách xã hội từ năm 1986 đến nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta, đường lối, chủ trương, chính sách về xã hội được hình thành sau
cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay. Định hướng chính sách xã hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu ra từ Đại hội III (1960) và tiếp đó là đại hội
2


IV (1976). Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12-1986) đã đề ra đường
lối đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã đặt đúng vị trí, tầm quan trọng của
chính sách xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết Đại hội
khẳng định: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người:
điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ
giai cấp, quan hệ dân tộc… Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của
Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã
hội”[17, tr 217].. Từ nhận thức: “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất
để thực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của
các hoạt động kinh tế” [15,tr 216-217], Đại hội VI của Đảng đã nhấn mạnh: cần
có chính sách xã hội cơ bản, lâu dài và xác định những nhiệm vụ, mục tiêu phù
hợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên. Đó là một bước tiến mới
trong nhận thức về chính sách xã hội của Đảng.
Bước sang thời kì đổi mới, Nghị quyết Đại hội VII (1991), Đại hội VIII
(1996), Đại hội IX (2001), gần đây nhất là Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI (2012) nhất trí đánh giá: những năm qua, mặc dù
nguồn lực của đất nước còn hạn hẹp, nhưng Đảng và Nhà nước luôn quan tâm
xây dựng, thực hiện các chính sách xã hội. Các chính sách không ngừng được bổ

sung, hoàn thiện; đối tượng hưởng chính sách được mở rộng, mức hỗ trợ được
nâng lên; đầu tư của Nhà nước ngày càng tăng. Nhờ vậy, các lĩnh vực xã hội đã
đạt được những thành tựu quan trọng, nhất là tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo,
ưu đãi người có công, giáo dục đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn. Đời sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo,
dân tộc ít người, người có hoàn cảnh khó khăn được cải thiện rõ rệt, góp phần
củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội.
Từ những định hướng của Đảng, hoạt động nghiên cứu, xây dựng các chính
sách xã hội diễn ra rộng khắp cả nước, ngày càng vào chiều sâu thu hút sự quan
tâm, chú ý của nhiều đọc giả khoa học với các công trình nghiên cứu tiêu biểu:
“Nguồn lực con người” của PGS, TS Phạm Ngọc Anh, “chính sách xã hội
trong nền kinh tế thị trường” của TS Nguyễn Đình Thành (7/2009), đã nêu lên
3


một số quan niệm về kinh tế thị trường, chính sách xã hội và sự can thiệp của
chính sách xã hội trong nền kinh tế thị trường.“Lồng ghép vấn đề an sinh xã hội
trong giảng dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam” của
Trần Ngọc Anh (3/1014). Nêu lên một số quan điểm về an sinh xã hội trong
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, những thành tựu đã đạt
được và lồng ghép vấn đề an sinh xã hội trong giảng dạy môn học.
Đặc biệt liên quan đến công tác xã hội có tác phẩm: “ Xã hội, chính sách xã
hội” (tháng 3/2016) của Báo giải phóng Sài Gòn, hỗ trợ các chính sách xã hội cho
nhân dân miền Trung. “Chính sách xã hội trong công tác xã hội”của Trần Đình
Tuấn (2010), thực hành công tác xã hội trong các lĩnh vực của chính sách xã hội.
“Những xu hướng ảnh ảnh hưởng đến chính sách xã hội trong cơ chế thị trường và
sự lựa chọn đúng đắn” của Vũ Ngọc Lân (05/2009), “ Ngân hàng chính sách xã
hội huyện Vân Đồn Đồng hành cùng hộ nghèo” của Hiểu Trân (5/2015), Ngân
hàng đã thực hiện các chính sách xã hội giúp người dân giảm nghèo.
Vấn đề chính sách xã hội cũng thu hút được nhiều tác giả chọn làm đề tài

nghiên cứu khoa học, luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ như: Thực trạng và
giải pháp xóa đói giảm nghèo ở huyện Như Thanh, Thanh Hóa (4/2007) của tác
giả Phạm Thế Dũng, đưa ra các quan niệm, thực trạng nghèo đói và giải pháp
xóa đói giảm nghèo ở huyện Như Thanh, Thanh Hóa. “Thực trạng và giải pháp
giảm nghèo bền vững ở xã Trà Tân huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận” (2014)
của tác giả Phạm Duy Hưng; Chăm sóc sức khẻo người cao tuổi tại Trung tâm
nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Phú Yên (2013) của tác giả Nguyễn
Thị Ngọc Nga, nêu lên khái niệm về sức khỏe, chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi, những quy định, thực trạng, giải pháp chăm sóc người cao tuổi. Vai trò của
chính sách ưu đãi và trợ giúp xã hội đối với đời sống của người dân qua khảo
sát tại xã Đồng Văn huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An (2014) của Thạc sĩ Đỗ
Văn Biên, cho thấy tỷ lệ người được hưởng ưu đãi, trợ cấp và mức độ đáp ứng
các khoản trợ cấp.
Nhìn chung những công trình trên đã khẳng định tầm quan trọng của các
chính sách xã hội nêu nổi bật lên sự quan tâm, chỉ đạo sao sát của Đảng, được
4


thể hiện bằng các chủ trương, đường lối, chính sách phát triển và sự vận dụng
đường lối chính sách đó vào các địa phương cụ thể, nêu ra các biện pháp nhằm
thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội phù hợp với từng khu vực. Tuy
nhiên chính sách xã hội là vấn đề phức tạp và rộng lớn mà các nhà nghiên cứu
chưa đề cập tới, nhất là chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò lãnh đạo
của Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu về các chính sách xã hội từ năm 1986
đến nay. Việc tìm hiểu về các chính sách xã hội ở các địa phương mới được
triển khai bước đầu và hiệu quả chưa cao. Kết quả nghiên cứu của các tác giả là
cơ sở giúp tôi định hướng và xác định mục tiêu nghiên cứu phù hợp cho khóa
luận tốt nghiệp của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu:

- Làm sáng tỏ nội dung, bản chất cách mạng, khoa học về quan điểm, chủ
trương trong thực hiện chính sách xã hội của Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai
Châu từ năm 1986 đến nay.
- Góp phần tổng kết các kết quả thực hiện chính sách xã hội trên địa bàn
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về chính sách xã hội.
- Chủ trương, chính sách của Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu về
chính sách xã hội.
- Tổng kết thực trạng, những thành tựu và hạn chế, khó khăn trong quá
trình thực hiện các chính sách xã hội từ 1986 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp và bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu
quả vai trò lãnh đạo Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu thực hiện chính sách
xã hội trong giai đoạn tới.

5


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm hệ thống quan điểm, chủ
chương, chính sách xã hội của Đảng. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Sìn
Hồ, tỉnh Lai Châu và quá trình tổ chức thực hiện chính sách xã hội trên địa bàn
huyện từ năm 1986 đến nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
về các chính sách xã hội từ năm 1986 đến nay.
- Quá trình Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu lãnh đạo thực hiện chính
sách xã hội trên địa bàn huyện từ năm 1986 đến nay.

5. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài dựa trên cơ sở sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -Lênin.
- Đề tài nghiên cứu còn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác
như: lịch sử và logic, thu thập thông tin và xử lý thông tin, phân tích, tổng hợp,
so sánh đối chiếu các tài liệu, số liệu thống kê…Đồng thời có kế thừa kết quả
nghiên cứu của các tác giả có liên quan trên cơ sở chọn lọc và nâng cao.
6. Đóng góp của đề tài
- Bước đầu làm sáng tỏ bản chất cách mạng và khoa học hệ thống quan
niệm về chính sách xã hội và quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội của
Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu từ 1986 đến nay.
- Hệ thống hóa thành tựu và hạn chế, đưa ra những bài học kinh nghiệm
và một số giải pháp thực hiện chính sách xã hội của Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh
Lai Châu.
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và những ai quan
tâm đến vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu thực hiện
chính sách xã hội từ năm 1986 đến nay.

6


7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở của việc Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu lãnh đạo
thực hiện chính sách xã hội từ năm 1986 đến nay.
Chương 2: Quá trình Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu lãnh đạo thực
hiện chính sách xã hội từ năm 1986 đến nay.
Chương 3: Một số giải pháp và bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu
quả vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu trong thực hiện
chính sách xã hội.


7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẢNG BỘ HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU LÃNH
ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Quan niệm chung về chính sách, chính sách xã hội
Quan niệm về chính sách
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:
Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính
sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể
nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính
chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…
Quan niệm khác về chính sách: Chính sách là thuật ngữ được sử dụng
rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các
nghiên cứu cho thấy khái niệm chính sách được thể hiện khác nhau, ví dụ:
"Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất
định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra" hoặc
"Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính
phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội".
Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà
lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi
thẩm quyền của mình.
Có rất nhiều loại chính sách, trong đó có loại chính sách chung như:
Chính sách đối ngoại của Nhà nước: chủ trương, chính sách mang tính đối
ngoại của quốc gia;
Chính sách kinh tế: chính sách của nhà nước đối với phát triển các ngành
kinh tế;

Chính sách xã hội: chính sách ưu đãi trợ giúp cho một số tầng lớp xã hội
nhất định như chính sách xã hội đối với công tác giáo dục ở vùng cao, vùng sâu,
chính sách xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ.
8


Chính sách tiền tệ: chính sách của Nhà nước nhằm điều tiết (tăng hoặc
giảm) lượng tiền tệ trong lưu thông để đạt được những mục tiêu nhất định như
chống lạm phát, kích thích sản xuất, giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế.
Trong các loại chính sách chung lại có các chính sách đối với từng lĩnh
vực, ví dụ: Trong chính sách kinh tế có các chính sách mậu dịch tự do, chính
sách bảo hộ thuế quan, chính sách tài chính. Trong chính sách tiền tệ có chính
sách thị trường tự do, trong chính sách xã hội có chính sách dân tộc. Tóm lại, có
nhiều loại chính sách khác nhau, có chính sách chung, chính sách cụ thể tuỳ
thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế - xã hội. Chính sách được thực thi khi
được thể chế hoá bằng pháp luật. Nói một cách khác, pháp luật là kết quả thể
chế hoá đường lối, chính sách, là công cụ để thực thi chính sách.
Quan niệm về chính sách xã hội
Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Chúng ta có thể tham khảo,
nghiên cứu một số quan điểm của những nhà khoa học như sau:
Theo quan điểm của VZ.Rôgôvin (Nhà XHH Liên Xô cũ) “Với tính cách
là một bộ môn khoa học, chính sách xã hội là một lĩnh vực tri thức xã hội học
nghiên cứu hệ thống các quá trình xã hội, quyết định hoạt động sống của con
người trong xã hội xét theo khả năng tác động quản lý đến các quá trình đó.
Chính sách xã hội, có đầy đủ cơ sở để xem như một sự hòa quyện của khoa học
và thực tiễn như là sự phân tích phức hợp, dự báo về các quan hệ, các quá trình
xã hội và sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm mục đích
quản lý các quá trình và quan hệ ấy” [25, tr 95-96].
Quan điểm Rôgôvin nhấn mạnh:

Trước hết chính sách xã hội đó là một lĩnh vực tri thức XHH:
Nghiên cứu hệ thống các quá trình xã hội, mà trong xã hội quá trình đó
diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội.
Nó quyết định hoạt động sống của con người trong các quá trình đó (xét
theo khả năng tác động quản lý).
Chính sách xã hội là một sự hòa quyện giữa khoa học và thực tiễn.
9


Chính sách xã hội là một sự phân tích phức hợp.
Dự báo về các quan hệ các quá trình xã hội.
Sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm quản lý các
quá trình và quan hệ xã hội ấy.
Theo quan điểm của GS.Winkler (nguyên viện trưởng viện XHH Chính
sách xây dựng CHDC Đức cũ):
Chính sách xã hội là sự tổng hợp các biện pháp và phương pháp của Đảng
của giai cấp công nhân của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các Liên hiệp công
đoàn của Đảng phái và các tổ chức chính trị khác nhằm tiếp tục các quan hệ xã
hội … Phục vụ những nhu cầu lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân
tập thể, trí thức và những người lao động khác [25, tr 73].
Theo quan điểm của Winker thì:
Chính sách xã hội thực chất là tổng hợp những phương pháp, biện pháp.
Chính sách xã hội đề cập đến sự phát triển các quan hệ xã hội.
Với tư cách là những quan hệ giữa những giai cấp, tầng lớp và nhóm xã
hội trong quá trình xích lại gần nhau.
Quan hệ giữa các quá trình xã hội giữa quan hệ chung nhất với quan hệ
đặc thù (quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội). Qua quá trình hoạt
động các mối quan hệ xã hội diễn ra không cô lập với các mối quan hệ kinh tế,
quan hệ chính trị quan hệ văn hóa…
Vì vậy chính sách xã hội và các chính sách khác nhau như chính sách kinh tế,

chính sách văn hóa, chính sách dân tộc… cũng không tách rời nhau.
Theo quan điểm của Anthony Giddens (Giáo sư Trường Đại học
Cambridge của Anh, hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Luân Đôn đã nêu rõ:
“Sự nghiên cứu có hiệu quả về Xã hôi học, Khoa học chính trị, Khoa học kinh
tế được chờ đợi nhằm biến đổi sự hoạch định chính sách trong chính phủ và do
đó dẫn đến sự tiến bộ xã hội và thịnh vượng kinh tế. Mối quan hệ giữa nghiên
cứu và chính sách được xem như một công cụ một phương diện nhằm mục
đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội một cách có hiệu
quả”.[25, tr 78-79]
10


Có thể nói Giddens nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách xã hội.
Sự nghiên cứu có hiệu quả của các lĩnh vực khoa học như XHH, khoa học
chính trị, khoa học kinh tế được chờ đợi nhằm biến đổi chính sách trong Chính phủ.
Sự biến đổi chính sách xã hội dẫn đến sự phát triển xã hội và thịnh vượng
kinh tế
Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách như là một công cụ, một
phương diện nhằm mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội
có hiệu quả.
Vậy chính sách xã hội là gì?
Chính sách xã hội là tổng hợp các phương thức các biện pháp của Nhà
nước, của Đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thỏa mãn những nhu cầu
vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ kinh tế, văn hóa, chính
trị, xã hội góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
Chính sách xã hội đó là cụ thể hóa, thể chế hóa bằng pháp luật những
đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước, của các tổ chức chính trị khác dựa
trên những quan điểm tư tưởng của chủ thể của chính sách xã hội phù hợp với
bản chất chế độ chính trị xã hội nhất định.

Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, tìm cách tác động vào
các hệ thống quan hệ xã hội (quan hệ các giai cấp, các tầng lớp xã hội, quan hệ
các nhóm xã hội khác nhau) tác động vào hoàn cảnh sống của con người và của
các nhóm xã hội, (bao gồm điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt) nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm và thiết lập được công bằng xã hội trong điều
kiện xã hội nhất định
Bản chất của chính sách xã hội:
Chính sách xã hội được hình thành từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời và đã
được phát triển, biến đổi qua nhiều thời kỳ khác nhau trong lịch sử.
Ở mỗi quốc gia khác nhau, trong mỗi giai đoạn khác nhau, có những hình
thức và loại chính xã hội khác nhau, cũng như có những quan niệm và định
nghĩa khác nhau về chính sách xã hội. Ở nước ta, chính sách xã hội được hiểu là
11


hệ thống công cụ tác động vào con người, vào các tổ chức đoàn thể xã hội nhằm
điều hòa các hành vi, lợi ích của các nhóm xã hội, góp phần thực hiện công
bằng, bình đằng, tiến bộ xã hội, phát triển toàn diện con người, đảm bảo sự phát
triển bền vững.
Xuất phát từ quan điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực,
vừa là trung tâm của mọi sự quan tâm xã hội, vừa là chủ thể sang tạo mọi giá trị
vật chất và tinh thần cho xã hội, chính sách xã hội cần phải tác động một cách
toàn diện vào tất cả các mặt của đời sống con người, nhằm phát huy mạnh mẽ
nhân tố con người. Theo Mác: “Trong tính hiện thực của mình, bản chất con
người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”. Do đó, chính sách xã hội cần phải
tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư
tưởng, giáo dục nhằm phát triển cân đối, toàn diện cho mỗi cá nhân cũng như
toàn xã hội. Dù biểu hiện dưới nhiều hình thức văn bản, nội dung khác nhau,
song về bản chất, chính sách xã hội luôn hướng vào những hoạt động nhằm điều
hòa các mâu thuẫn, xung đột, giảm bớt các bất công, căng thẳng xã hội, góp

phần cân đối thu nhập, giải quyết việc làm, phân phối lại lợi ích, tạo ra sự công
bằng hợp lý giữa cống hiến và hưởng thụ, khuyến khích người có nhiệt tình, tài
năng, giúp đỡ người nghèo khó, rủi ro không may trong cuộc sống, đảm bảo an
ninh, an toàn xã hội cũng như quyền tự do công dân và sức khỏe, hạnh phúc cho
con người.
Đặc trưng của chính sách xã hội:
Chính sách xã hội khác với chính sách khác như : chính sách kinh tế,
chính trị, văn hóa, tư tưởng..., sự khác biệt này bắt nguồn từ khía cạnh xã hội,
tính chất xã hội của nó. Theo đó ta thấy chính sách xã hội có những đặc trưng cơ
bản sau:
Chính sách xã hội là chính sách đối với con người nhằm vào con người,
lấy con người làm trung tâm phát triển con người một cách toàn diện.
Chính sách xã hội mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, luôn hướng tới
việc hình thành những giá trị chuẩn mực mới, tiến bộ góp phần đẩy lùi các ác,
cái xấu trong xã hội.
12


Chính sách xã hội có tính trách nhiệm xã hội cao, bao giờ cũng quan tâm
đến số phận của những con người cụ thể, quan tâm đến những cá nhân sống
trong những điều kiện thiệt thòi, khó khăn so với mặt bằng chung của xã hội lúc
bấy giời. Tạo điều kiện cho những cá nhân đó phát huy những khả năng vốn có
của mình vươn lên hoà nhập với xã hội.
Chính sách xã hội để thực hiện đúng mục tiêu, đối tượng bao giờ cũng có
cơ chế hoạt động, bộ máy nhân sự, chương trình dự án và kinh phí hoạt động
riêng của nó.
Nhiệm vụ chính sách xã hội:
Để đạt tới sự công bằng an toàn, tạo điều kiện phát triển con người một
cách toàn diện, chính sách xã hội thực hiện 5 nhiệm vụ cơ bản như sau:
Một là, tái tạo tiềm năng nhân lực của đất nước thông qua các chính sách

về dân số, gia đình, bảo vệ sức khoẻ, bảo hộ lao động, tổ chức nghỉ ngơi giải trí,
khắc phục các tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội.
Hai là, góp phần vào việc xây dựng nền tảng vững chắc xã hội với các
chính sách về nhà ở, bảo vệ môi trường sinh thái, sự phát triển văn hóa, giáo dục
khoa học, nghệ thuật...bảo đảm phát triển bền vững của xã hội.
Ba là, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước, tạo thêm nhiều việc
làm cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, đào tạo lại và đào tạo mới
người lao động để tiếp thu kỹ thuật, công nghệ hiện đại và không ngừng nâng
cao năng suất lao động.
Bốn là, tạo đều kiện cho xã hội ngày càng có nhiều khả năng và biết tiêu
thụ những sản phẩm vật chất, tinh thần một cách đúng đắn, tiết kiệm, phù hợp
với trình độ phát triển sức sản xuất của đất nước và những chuẩn mực đạo đức
pháp lý của chế độ xã hội mới.
Năm là, tạo lập, hình thành mô hình lối sống mới theo hướng phát triển
toàn diện của cá nhân kết hợp hài hoà với sự phát triển của công đồng trên cơ sở
kế thừa những giá trị truyền thống đẹp của dân tộc, đồng thời xây dựng những
giá trị mới phù hợp với bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại.
13


1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội.
Trước sự đổi mới của Đất nước, việc nghiên cứu và làm rõ hơn tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề chính sách xã hội là một trong những việc làm cần thiết
cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm giải đáp cho những vấn đề đời sống nhân
dân mà thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội hiện nay đang đặt ra.
Nhìn lại chặng đường Bác đã đi, việc Bác đã làm, ta thấy rằng ngay từ
thời kỳ đầu hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã đưa ra những ý tưởng xác lập
hệ thống phúc lợi xã hội quốc gia sau này. Ngay khi chiến tranh thế giới thứ
nhất kết thúc, Người đã thay mặt nhân dân ta gửi tới Hội nghị Véc-xây bản “Yêu
sách của nhân dân An Nam”, nhằm tố cáo chính sách cai trị của thực dân Pháp

đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng
và quyền tự quyết, của dân tộc Việt Nam. Đến đầu năm 1930, Người sáng lập ra
Đảng Cộng sản Việt Nam và trong “Chánh cương vắn tắt” đã xác định cách
mạng Việt Nam là: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Đến “Chương trình Việt Minh” do Người soạn thảo, đây là một văn kiện đặc
biệt quan trọng, với nội dung rất cụ thể như: Thi hành Luật Lao động, bao gồm cả
lao động trẻ em. Nam nữ bình quyền, hủy bỏ nền giáo dục nô lệ, gây dựng nền
quốc dân giáo dục, cưỡng bức giáo dục từ bậc sơ học... khuyến khích nền giáo dục
quốc dân, lập thêm nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà dưỡng lão. Nhà nước chăm nom
người già và tàn tật, giúp đỡ gia đình đông con, lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch,
câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xướng các hoạt động cứu trợ xã hội với tính
cách là một phong trào phúc lợi khi kêu gọi nhân dân cả nước quyên góp giúp
đỡ người nghèo. Người đã chỉ ra rằng: Lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến
kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị đồng bào cả
nước và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn
3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bữa) để cứu dân nghèo. Như vậy, những người
nghèo sẽ có bữa rau, bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói.
14


Đồng thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối
với đời sống nhân dân là “...phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân.
Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ
ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa xuống sẽ dễ dàng
thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng
không thực hiện được” (Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay- NXB
chính trị -hành chính 2010). Cho nên hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị
nghèo nàn, thì Đảng vẫn chưa làm tròn nhiệm vụ. Đảng phải vừa lo tính công

việc lớn như xây dựng một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn
luôn quan tâm đến đời sống hằng ngày của nhân dân. Tức là, Đảng ta phải luôn
luôn nhớ rằng: “Điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta
hiện nay là nhằm cải thiện đời sống của nhân dân...”. Nhưng chủ trương phải
gắn liền với thực hành, vì đời sống rất cụ thể, mức sống rất cụ thể. Bằng chính
cuộc sống, mức sống của mình, nhân dân cảm nhận trực tiếp và chính xác lời nói
và việc làm của Đảng, Nhà nước có thật vì lợi ích của họ hay không.
Không chỉ phát động phong trào cứu trợ xã hội, Hồ Chí Minh còn tạo dựng
từng bước cả một hệ thống chính sách cứu trợ xã hội cụ thể, phù hợp đối với các
nhóm xã hội. Chẳng hạn đối với người già, người đau ốm, trẻ em, phụ nữ thai
sản, Người chỉ thị: “Về xã hội, thiết lập nhà dưỡng lão, nhà trẻ, mở nhiều nhà
thương, cứu tế những người thất nghiệp, cấm chỉ bán dâm, lập nhà hộ sinh”
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội trong trong điều kiện
hiện nay, Đảng ta đã xác định: Những vấn đề xã hội bao gồm các lĩnh vực liên
quan đến sự phát triển của con người và xã hội như: Dân số và nguồn nhân lực,
lao động và việc làm, thu nhập và mức sống, giáo dục và y tế, đạo đức và văn
hóa, những đảm bảo về an ninh và an toàn xã hội của đời sống cá nhân và cộng
đồng. Và điều này đã được cụ thể hóa trong nhận thức và hành động của Đảng ta
trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua. Từ việc xác định trình độ phát triển kinh tế
là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, những mục tiêu xã hội lại là
mục đích của các hoạt động kinh tế, phải làm tốt việc kết hợp hài hoà giữa tăng
trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội. Cụ thể là: Mục tiêu của chính sách xã
15


hội phải thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế để nhằm phát huy sức mạnh
của yếu tố con người và vì con người. Kết hợp hài hoà giữa kinh tế với phát
triển văn hóa, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống
vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Coi phát triển kinh tế là cơ sở và
tiền đề để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động

lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Tức là, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến
bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển.
Cùng với đó, phải thường xuyên đổi mới chính sách xã hội, có các chính
sách thích hợp tạo công bằng về cơ hội và bình đẳng trước pháp luật cho mọi
công dân, mọi doanh nghiệp, khuyến khích tôn vinh người làm giàu chính đáng
đi đôi với chống làm giàu phi pháp, tham nhũng, cải cách hệ thống tiền lương.
Cải cách cơ chế BHXH và phòng chống tệ nạn xã hội, “tăng trưởng kinh tế đi
liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi
trường”, phải “kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm
vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách
xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và
hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế - xã
hội. Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc” như: Vấn đề dân số, di
dân, lao động và việc làm, BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, bảo đảm an
ninh xã hội, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội..
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội là một bộ phận hữu cơ và giữ
vị trí vai trò đặc biệt trong hệ thống cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh là nhà
chính trị lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, nhà lý luận thiên tài của cách mạng nước
ta. Trong tư tưởng của Người, chính sách xã hội là xây dựng nước Việt Nam
thống nhất, độc lập và hòa bình.
Ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, mặc dù chính quyền cách
mạng đang ở trong tình thế “ngàn cân treo sợ tóc” Người đã chủ trương đặt
16


những vấn đề chính sách xã hội gắn liền với chính sách kinh tế lên hàng đầu
thậm chí còn đặt cao hơn cả nhiệm vụ chống ngoại xâm.
Sau này Bác lại nhấn mạnh: Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải

hết sức chăm nom đến đới sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ
có lỗi, nếu dân ốm Đảng và chính phủ có lỗi, nếu dân dốt Đảng và Chính phủ có
lỗi. Rõ ràng ở đây chính sách xã hội không còn là một sự ban ơn, càng không
phải là thủ đoạn chính trị mị dân, mà là trách nhiệm hàng đầu của Đảng cầm
quyền và Nhà nước trong chế độ mới.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, trong những thập niên qua, Đảng và
Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách xã hội quan trọng hướng tới quần
chúng nhân dân lao động. Những chính sách xã hội đó đã có tác dụng khơi dậy
và phát huy những nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân, làm nên
nhiều kỳ tích anh hùng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc.
1.1.3. Quan điểm của Đảng về chính sách xã hội
Tại Đại hội VI, lần đầu tiên Đảng nâng các vấn đề xã hội lên tầm chính
sách xã hội, đặt rõ tầm quan trọng của chính sách xã hội đối với chính sách kinh
tế và chính sách ở các lĩnh vực khác. Đại hội cho rằng, trình độ phát triển kinh tế
là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội nhưng những mục tiêu xã
hội là mục đích của các hoạt động kinh tế. Ngay trong khuôn khổ các hoạt
động kinh tế, chính sách xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm…Do đó, cần có các chính sách xã hội cơ bản, lâu dài, phù
hợp với yêu cầu và khả năng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ.
Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế
ở chỗ đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người. Phát triển kinh tế là
cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, đồng thời thực hiện tốt các
chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Trong giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (tại
Đại hội VIII của Đảng) chủ trương, hệ thống chính sách xã hội phải được hoạch
định theo những quan điểm sau đây: [17, tr 217]
17



Tăng cường kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể
hiện ở cả khâu, phân phối hợp lý tư liệu sản xuất cũng như ở khâu phân phối kết
quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử
dụng tốt năng lực của mình.
Thực hiện nhiều hình thức phân phối.
Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo.
Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội.
Đại hội IX của Đảng chủ trương, các chính sách xã hội phải hướng vào
phát triển và làm lành mạnh hóa xã hội, thực hiện cân bằng trong phân phối, tạo
động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện
bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp.
Văn kiện Đại hội X (trong giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng
Cộng sản Việt Nam) đã khẳng định: “Xây dựng hệ thống chính sách bảo đảm
cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, tạo điều kiện cho mọi người dân, kể cả
người nghèo được đáp ứng nhu cầu về giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe,
văn hóa- thông tin, thể dục thể thao, tạo việc làm... Xây dựng hệ thống an sinh
xã hội đa dạng; phát triển mạnh mẽ hệ thống bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y
tế toàn dân. Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả
và phát triển, tạo cơ hội cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao
sức khỏe...”[17, tr 218]
Nghị quyết Đại hội Đảng XI đã khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn,
công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [17, tr 218]. Đồng
thời đã đề ra định hướng phát triển toàn diện các lĩnh vực xã hội. Quán triệt
Nghị quyết của Đảng, phát huy các thành tựu đã đạt được và sự nỗ lực của cả hệ
thống chính trị; hoàn thiện hệ thống thể chế, huy động và cân đối thích hợp các
nguồn lực; thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các chính sách xã hội để không
ngừng nâng cao phúc lợi và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phấn đấu
đạt các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển xã hội của Nghị quyết Đại hội XI đã đề ra.

18


×