Tải bản đầy đủ (.doc) (166 trang)

LUẬN án CHUYỂN DỊCH cơ cấu LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP ở NÔNG THÔN và tác ĐỘNG đến CỦNG cố QUỐC PHÒNG ở nước TA HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (625.44 KB, 166 trang )

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau những năm đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cộng sản
Việt Nam, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng nhìn chung tiến
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn còn
gặp nhiều khó khăn, bất cập. Đặc biệt, bên cạnh những thành tích, tiến bộ
đáng kể trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu và tăng năng suất cây trồng, vật
nuôi thì việc chuyển dịch cơ cấu lao động (CDCCLĐ) nông nghiệp, nông
thôn nước ta đang diễn ra chậm chạp, kém hiệu quả và còn mang tính tự phát.
Thực trạng này đã và đang gây tác động tiêu cực tới sự phát triển ổn định, bền
vững của nền nông nghiệp nước nhà, đến sự nghiệp CNH, HĐH và yêu cầu
của nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa
(XHCN) trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, toàn
Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang tập trung mọi nỗ lực đẩy mạnh sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói
riêng. Yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,
xây dựng nông thôn mới, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, củng cố quốc
phòng...trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế tri thức
đang đặt ra những vấn đề hết sức mới mẻ đối với quá trình CDCCLĐ nông
nghiệp, nông thôn. Đặc biệt, CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn, trong đó
phấn đấu thực hiện mục tiêu quan trọng được xác định trong “Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010” là: giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp nước ta
xuống còn khoảng 50% vào năm 2010 và đến năm 2020, nước ta về cơ bản
trở thành nước công nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định sự
thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Vì vậy việc nghiên cứu
làm rõ những vấn đề cơ bản của quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn


nước ta; đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của
quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đồng thời với củng cố quốc


phòng đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn. Với lý do đó, tác giả lựa chọn vấn đề: “Chuyển dịch cơ cấu lao động
nông nghiệp, nông thôn và tác động của nó đến củng cố quốc phòng nước ta
hiện nay” làm đề tài luận án tiến sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đã có một số công trình nghiên cứu của
cá nhân, tập thể đề cập đến, nhưng mới chỉ giới hạn trong phạm vi, đối tượng,
địa bàn nhất định như:
- Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT)
trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới.
- Nguyễn Đình Huệ: CDCCLĐ trên địa bàn Hà Tĩnh và tác động của nó
đến đảm bảo nguồn nhân lực cho khu vực phòng thủ tỉnh trong giai đoạn hiện
nay.
- Trần Thị Ngọc Lan: Vấn đề phân công lại lao động xã hội trong quá trình
CDCCKT ở tỉnh Tiền Giang.
- Vũ Văn Long, Xây dựng cơ cấu kinh tế (CCKT) mới và vai trò của nó đối
với củng cố quốc phòng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở
Việt Nam.
- Lê Đình Thắng: CDCCKT nông thôn, những vấn đề lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập một cách tương đối đầy đủ và
toàn diện tác động của quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đến củng
cố quốc phòng; đề xuất những quan điểm, giải pháp khả thi nhằm nâng cao
hiệu quả CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đồng thời với củng cố quốc
phòng.


3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và giới hạn nghiên cứu của luận án
*Mục đích của luận án:
Trên cơ sở phân tích một số vấn đề cơ bản quá trình CDCCLĐ nông

nghiệp, nông thôn và những tác động của quá trình đó tới củng cố quốc
phòng, luận án đóng góp về mặt lý luận sao cho mỗi bước đẩy mạnh, nâng
cao hiệu quả CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đồng thời sẽ là một bước
củng cố tiềm lực và thế trận quốc phòng đất nước trong tình hình mới.
Để thực hiện mục đích đó, luận án có nhiệm vụ:
- Làm rõ về mặt lý luận, thực tiễn những vấn đề cơ bản của quá trình
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn.
- Làm rõ tác động của quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đến
củng cố tiềm lực và thế trận quốc phòng.
- Đề xuất một số quan điểm chỉ đạo và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy
mạnh quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đồng thời với củng cố tiềm
lực và thế trận quốc phòng.
* Đối tượng và giới hạn nghiên cứu:
Luận án lấy việc luận giải cơ sở khoa học của CDCCLĐ nông nghiệp, nông
thôn và tác động của nó đến củng cố tiềm lực và thế trận quốc phòng đất nước
làm đối tượng nghiên cứu.
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH, HĐH có phạm vi
rất rộng, bao gồm cả khu vực đồng bằng, trung du, miền núi, vùng ven biển,
hải đảo...nên phạm vi khảo sát, phân tích của luận án phải vừa bảo đảm tính
toàn diện, vừa tập trung vào những lĩnh vực, những vùng, những địa phương
có tính chất điển hình để có thể đưa ra được những đánh giá, kết luận chính
xác, khoa học. Về thời gian, giới hạn khảo sát của luận án từ năm 1986, trọng
tâm từ năm 1996 đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án


Đề tài nghiên cứu được trên cơ sở lý luận, phương pháp luận, những quan
điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế
chính trị, kinh tế quân sự, học thuyết bảo vệ Tổ quốc, chiến tranh quân đội;
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của Bộ quốc

phòng, các bộ, các ngành và một số công trình nghiên cứu của các tác giả đi
trước có liên quan đến luận án. Đồng thời tiến hành khảo sát, điều tra, nghiên
cứu thực tiễn ở một số địa phương, đơn vị.
Cùng với việc sử dụng các phương pháp chung nghiên cứu các môn khoa
học xã hội nhân văn như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử...đề tài chú trọng sử dụng các phương pháp đang được sử dụng trong khoa
học kinh tế: trìu tượng hoá, lịch sử, lôgic, phân tích, tổng hợp, thống kê và
một số phương pháp khác.
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của quá trình
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta.
- Phân tích tác động thuận chiều và không thuận chiều của quá trình
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đến nền quốc phòng của đất nước.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh và nâng
cao hiệu quả CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn đồng thời với củng cố tiềm
lực và thế trận quốc phòng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những nghiên cứu và kết luận của luận án có thể sẽ góp phần nâng cao
nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành và mọi công dân đối với sự
nghiệp củng cố nền QPTD vững mạnh trong điều kiện CDCCLĐ nông
nghiệp, nông thôn theo định hướng XHCN. Luận án có thể dùng làm tài liệu
tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy môn kinh tế chính trị và kinh tế quân
sự trong các nhà trường quân đội.


7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: mở đầu, 3 chương, 6 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.

CHƯƠNG 1


NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÓ
ĐẾN CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG
1.1. Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn trong tiến
trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1. 1. Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp,
nông thôn
1.1.1.1. Lao động nông nghiệp, nông thôn và cơ cấu lao động nông nghiệp,
nông thôn
Lao động sản xuất vật chất là quá trình con người vận dụng sức lao động
của mình kết hợp với những tư liệu lao động theo những phương pháp và
cách thức nhất định để tác động vào đối tượng lao động, tạo ra các sản phẩm.
Sức lao động ở đây không phải và không thể tách biệt, cá lẻ mà mang tính xã
hội, là lực lượng lao động xã hội. Nó bao gồm nhiều người tham gia vào quá
trình tái sản xuất xã hội, họ có trình độ, chuyên môn nghề nghiệp, sức khoẻ,
năng khiếu, sở trường, ý chí, kinh nghiệm, độ tuổi...khác nhau hợp thành.
Trong một nền kinh tế, theo cơ cấu ngành kinh tế lực lượng lao động xã hội
thường được phân ra thành: lao động nông nghiệp; lao động công nghiệp và
lao động dịch vụ.


Lao động nông nghiệp, nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao động
xã hội, có đủ độ tuổi theo quy định của Luật Lao động hiện hành của mỗi
quốc gia (với Việt Nam là từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và đến 55 đối với
nữ), có khả năng lao động và hiện đang trực tiếp tham gia kinh doanh, sản
xuất nông nghiệp; công nghiệp, xây dựng nông thôn và dịch vụ phi nông
nghiệp trên địa bàn nông thôn.
Trong mối tương quan về tỷ trọng với lao động công nghiệp, dịch vụ của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì lao động nông nghiệp được hiểu theo nghĩa

rộng. Tức là gồm lao động nông, lâm, ngư nghiệp và diêm nghiệp. Từng phân
ngành lại được phân ra những ngành nghề nhỏ như: nông nghiệp có trồng trọt,
chăn nuôi...; lâm nghiệp có trồng rừng, chăm sóc bảo vệ rừng, khai thác lâm
sản...; ngư nghiệp có đánh bắt, khai thác hải sản. Ngoài ra, những lao động
tham gia các hoạt động dịch vụ trực tiếp phục vụ cho nông nghiệp như: dịch
vụ giống cây - con; dịch vụ phân bón và bảo vệ thực vật; dịch vụ tưới tiêu,
dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư...cũng thuộc lực lượng lao
động nông nghiệp.
Lao động nông nghiệp còn được hiểu theo nghĩa hẹp khi so sánh với lao
động lâm, ngư nghiệp. Theo đó, lao động nông nghiệp là lực lượng hoạt động
chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và các loại hình dịch vụ phục vụ
trực tiếp cho chăn nuôi và trồng trọt.
Lao động nông thôn, bao gồm lao động nông nghiệp, lao động công
nghiệp, xây dựng ở nông thôn, các loại hình lao động dịch vụ phi nông nghiệp
và lao động của các thành phần kinh tế khác trên địa bàn nông thôn. Lao động
nông thôn là khái niệm thường dùng để so sánh với lực lượng lao động thành
thị. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là một số nước ở khu
vực châu Á khi tiến hành CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn là thực hiện chủ
trương “ly nông bất ly hương”, “ly điền bất ly hương”, giảm nhanh lực lượng


lao động nông nghiệp bằng cách chuyển sang lĩnh vực công nghiệp, xây dựng
nông thôn và dịch vụ phi nông nghiệp ngay trên địa bàn nông thôn. Chính vì
vậy, những quốc gia này vừa thành công trong việc giảm tỷ lệ lao động nông
nghiệp, vừa giảm được sức ép của việc lao động nông nghiệp ở các làng quê
tràn về thành phố tìm kiếm việc làm.
Lao động công nghiệp nông thôn bao gồm: lao động công nghiệp chế biến
nông, lâm, thuỷ sản và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ, thu hút nhiều
lao động như xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác mỏ,
dệt may, da giày, cơ khí lắp ráp, sửa chữa...trên địa bàn nông thôn. Lao động

dịch vụ phi nông nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực như: dịch vụ kỹ thuật,
tín dụng, thương mại, đời sống...
Cơ cấu lao động (CCLĐ) nông nghiệp, nông thôn: là một tổng thể hợp
thành bởi nhiều yếu tố, bộ phận cấu thành lực lượng lao động nông nghiệp,
nông thôn; giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, những tương tác qua lại trong
những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, phản ánh trình độ tổ
chức, phân công lao động xã hội của nền kinh tế nói chung và của nông
nghiệp, nông thôn nói riêng.
CCLĐ nông nghiệp, nông thôn bao gồm các bộ phận cấu thành cơ bản sau:
cơ cấu số lượng, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu về giới, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành,
nghề, cơ cấu vùng, lãnh thổ...
Cơ cấu số lượng: Cơ cấu về số lượng của lực lượng lao động nông nghiệp
thể hiện sự phân bổ lực lượng lao động nông nghiệp so với các ngành công
nghiệp và dịch vụ của nền kinh tế. Hay nói một cách khác, cơ cấu số lượng
thể hiện tỷ trọng lao động nông nghiệp so với tổng lao động xã hội và so với
các ngành kinh tế khác của nền kinh tế. Lao động nông nghiệp nhiều hay ít so
với lao động công nghiệp và dịch vụ là một trong những tiêu trí đánh gía trình
độ phát triển kinh tế, trình độ phát triển của phân công lao động xã hội.


Cơ cấu số lượng lao động nông thôn phản ánh sự phân bổ lực lượng lao
động ở nông thôn (bao gồm lao động nông nghiệp, lao động công nghiệp, xây
dựng ở khu vực nông thôn và lao động dịch vụ phi nông nghiệp) so với lao
động thành thị. Thông thường, khi kinh tế hàng hoá kém phát triển, lao động
nông nghiệp sẽ chiếm tuyệt đại bộ phận lực lượng lao động xã hội. V.I. Lênin
đã nhấn mạnh: “Nhân khẩu của một nước mà nền kinh tế hàng hoá ít phát
triển (hoặc hoàn toàn không phát triển) thì hầu như hoàn toàn chỉ là nhân
khẩu nông nghiệp; tuy nhiên điều đó...chỉ có nghĩa là dân cư làm nghề nông
tự mình chế biến lấy nông sản, sự trao đổi và phân công hầu như không có.
Vậy sự phát triển của kinh tế hàng hoá eo ipso (cũng do đó mà) có nghĩa là

một bộ phận ngày càng đông dân cư tách khỏi nông nghiệp, tức là nhân khẩu
công nghiệp tăng lên làm cho nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống” [51, tr.25].
Cơ cấu độ tuổi: Độ tuổi của lao động nông nghiệp, nông thôn phụ thuộc
vào tỷ lệ sinh tự nhiên và việc hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách dân
số - kế hoạch hoá gia đình của mỗi quốc gia. Hiện nay đang diễn ra một
nghịch lý là: ở nhiều nước phát triển, mặc dù chính phủ có nhiều chính sách
khuyến khích sinh đẻ nhưng dân số vẫn tăng chậm nên xuất hiện tình trạng
“già hoá dân số”, lực lượng lao động có nguy cơ bị thiếu hụt; ngược lại ở
nhiều quốc gia đang phát triển mặc dù chính phủ ban hành những chính sách
tương đối cứng rắn nhưng nguy cơ bùng nổ dân số vẫn tiềm ẩn, lực lượng lao
động trẻ và tương đối dồi dào nhưng lại gây sức ép rất lớn về việc làm và các
vấn đề xã hội khác.
Với những nước nông nghiệp, kinh tế kém phát triển, người già, người cao
tuổi ở nông thôn vẫn tiếp tục tham gia lao động, sản xuất và phần đông trong
số họ vẫn là những lao động chính, thậm chí là trụ cột kinh tế của nhiều hộ
gia đình; nhiều trẻ em ở nông thôn phải tham gia công việc đồng áng, sản
xuất phụ giúp gia đình ngoài giờ lên lớp...Đây là vấn đề có tính đặc thù mà


trong quá trình thực hiện CNH, HĐH và CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn
các nhà hoạch định chính sách phải quan tâm.
Cơ cấu về giới: thể hiện tỷ lệ giữa lao động nam giới và nữ giới trong tổng
số lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn. Cơ cấu về giới trong lực lượng
lao động nông nghiệp, nông thôn phần nào phản ánh sự bình đẳng giới trong
xã hội và kết quả của cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ.
Trong cơ cấu về giới của lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn các
nước đang phát triển, lao động nữ luôn chiếm tỷ lệ cao. Phụ nữ thường giữ
một vai trò trụ cột trong sản xuất nông nghiệp, là lực lượng rất quan trọng tạo
ra của cải vật chất và xây dựng nông thôn. Do dân số tiếp tục tăng, diện tích
ruộng đất bình quân đầu người ngày càng có xu hướng giảm đi trong xu thế

đô thị hoá, việc làm thiếu...buộc phần lớn lực lượng lao động nam giới ở nông
thôn phải ra thành phố hoặc nơi xa quê hương để làm ăn, kiếm sống. Gánh
nặng của công việc đồng áng, nuôi dạy con cái, chăm sóc người già...đè nặng
lên đôi vai của người phụ nữ. Chính vì vậy, quá trình CDCCLĐ nông nghiệp,
nông thôn nước ta hiện nay đồng thời phải là quá trình thực hiện triệt để hơn
cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ. Bình đẳng về giới thể hiện tính ưu việt
của chế độ XHCN mà chúng ta đã và đang xây dựng, đồng thời cũng là một
trong những tiêu chí chính thức để Ngân hàng thế giới đánh giá chính sách,
thể chế quốc gia (Country Policy and Institutional Assessment - CPIA) và xếp
hạng từng nước trên thế giới [39, tr.27].
Cơ cấu trình độ: Trước hết là trình độ văn hoá cơ bản của lực lượng lao
động nông nghiệp, nông thôn. Trình độ học vấn phụ thuộc vào sự phát triển
của hệ thống giáo dục phổ thông và kết quả của việc thực hiện phổ cập giáo
dục trên diện rộng. Học vấn là cơ sở cho việc tiếp thu và nâng cao trình độ kỹ
thuật, chuyên môn, nghiệp vụ. Được đào tạo kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp
vụ, lực lượng lao động nông nghiệp có điều kiện tiếp thu khoa học, công nghệ


tiên tiến, nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, đưa nông nghiệp lên sản
xuất hàng hoá; mặt khác lao động nông nghiệp có cơ hội để chuyển đổi
ngành, nghề, chuyển đổi lĩnh vực lao động , sản xuất.
Cơ cấu ngành, nghề: Cơ cấu ngành, nghề trong nông nghiệp, nông thôn
phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phát triển hết sức
đa dạng, phong phú theo hướng: một số ngành nghề sẽ dần biến mất hoặc bị
mai một; nhiều ngành nghề khác sẽ ra đời và phát triển nhanh chóng cùng với
một số ngành, nghề truyền thống được khôi phục, chấn hưng theo hướng
“hiện đại hoá”, ví như các nghề thủ công truyền thống ở nông thôn đang có xu
hướng kết hợp sử dụng các công cụ máy móc, kỹ thuật tiên tiến, vừa góp phần
giảm nhẹ mức nặng nhọc, giải phóng lao động, vừa nâng cao năng suất, chất
lượng và hiệu quả của sản xuất.

Trên thực tế hiện nay, cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động nông
nghiệp, nông thôn ở những quốc gia như Việt Nam còn rất bất hợp lý: lao
động nông nghiệp chiếm ưu thế, trong khi lao động công nghiệp, xây dựng
trên địa bàn nông thôn, lao động dịch vụ phi nông nghiệp chậm phát triển, lao
động ngành nghề truyền thống chậm được khôi phục; trong lao động nông
nghiệp, lao động trồng trọt là chủ yếu và ngay trong lao động trồng trọt thì lao
động trồng lúa, cây lương thực vẫn chiếm đa số.
Cơ cấu vùng lãnh thổ: thể hiện sự phân bố lực lượng lao động theo không
gian địa lý và có thể được chuyển dịch, hình thành một cách tự giác hoặc tự
phát. Khi lực lượng lao động xã hội nói chung và lao động nông nghiệp, nông
thôn nói riêng có sự chuyển dịch, phân bố tự giác, hợp lý sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của từng vùng miền, địa
phương đồng thời mang lại cơ hội cho sự phát triển đồng đều của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.


Trong các bộ phận cấu thành của CCLĐ nông nghiệp, nông thôn, cơ cấu
trình độ và cơ cấu ngành nghề là quan trọng hơn cả bởi nó quyết định hiệu
quả của CDCCLĐ theo yêu cầu của phát triển kinh tế, quyết định số lượng
lao động nông nghiệp nhiều hay ít trong mối tương quan với lực lượng lao
động của các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, mối quan hệ
giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động
Giai đoạn đầu của phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ, cơ cấu lao
động được hình thành trên cơ sở phân công lao động theo giới tính. Thời kỳ
này, đàn ông thì săn bắn, đánh cá; đàn bà chăm sóc việc nhà như nuôi con,
chế biến thức ăn, may vá, trồng trọt...Trong quá trình săn bắn, động vật săn
bắt được càng nhiều, không chỉ đáp ứng nhu cầu bữa ăn hàng ngày mà còn có
dư để nuôi, nhốt để dành. Và việc phát hiện những động vật có thể thuần
dưỡng, sinh sôi nẩy nở thành bầy đàn, cung cấp cả thịt, sữa, da...đã tách một

bộ phận lao động chuyên đảm trách việc thuần dưỡng, chăn nuôi. Dần dần
việc chăn nuôi đã trở thành ngành lao động chủ yếu của một số bộ lạc và việc
tách các bộ lạc chăn nuôi ra khỏi các bộ lạc lớn đã đánh dấu sự CDCCLĐ lớn
lần đầu tiên: ngành chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, lao động chăn nuôi tách
khỏi lao động trồng trọt. Cùng với sự phát triển của chế độ tư hữu, lao động
nghề dệt, chế tạo đồ kim loại và các nghề thủ công khác ngày càng được
chuyên môn hoá cao, sản phẩm đa dạng, phong phú, trình độ sản xuất ngày
càng hoàn hảo và dần tách khỏi lao động nông nghiệp. Sự thay đổi đó luôn
mang tính xã hội và sự CDCCLĐ xã hội lớn lần thứ hai diễn ra: tiểu thủ công
nghiệp tách khỏi nông nghiệp.
Sự xuất hiện và phát triển của sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
trực tiếp góp phần tạo ra một khối lượng ngày càng lớn hơn những sản phẩm
có giá trị trao đổi. Nhu cầu trao đổi ngày càng lớn đã dần làm xuất hiện bộ


phận lao động chuyên đảm trách việc mua bán, trao đổi hàng hoá phục vụ nhu
cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. CDCCLĐ xã hội lớn lần thứ ba xuất
hiện: thương nghiệp tách khỏi sản xuất. Lúc này, CCLĐ xã hội đã có sự phân
định theo cơ cấu ngành tương đối rõ nét, đó là: lao động công nghiệp (chủ yếu
là tiểu thủ công nghiệp); lao động nông nghiệp (bao gồm trồng trọt và chăn
nuôi) và dịch vụ (bao gồm một bộ phận lao động không tham gia sản xuất
trực tiếp mà hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, làm công việc trao đổi
sản phẩm - đó là tầng lớp thương nhân).
Chủ nghĩa tư bản (CNTB) với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa
về tư liệu sản xuất đã thúc đẩy mạnh mẽ hơn qúa trình CDCCLĐ xã hội.
Công cụ cơ khí ra đời thay thế cho công cụ thủ công làm cho công nghiệp
hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp và thúc đẩy hơn nữa sự CDCCLĐ trong nội
bộ ngành công nghiệp, nông nghiệp nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế tư
bản chủ nghĩa nói chung.
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang CNTB ở thế kỷ XV, các quan

điểm kinh tế thị trường, trong đó có vấn đề CCKT, CCLĐ và
CDCCLĐ...được nghiên cứu một cách có hệ thống hơn. Đặc biệt, là được các
nhà kinh tế học phát triển đề cập đến từ nhiều góc độ khác nhau. Chúng ta có
thể xem xét quan điểm của vài đại diện trong số họ:
Nhà kinh tế học người Đức E. Engel phát hiện ra quy luật tiêu thụ sản
phẩm từ cuối thế kỷ XIX. Ông cho rằng: khi thu nhập của các gia đình tăng
lên thì tỷ lệ chi tiêu cho lương thực, thực phẩm sẽ thấp đi, do vậy tỷ trọng
nông nghiệp - ngành kinh tế với chức năng chủ yếu là sản xuất lương thực,
thực phẩm - cũng sẽ giảm khi. Quy luật mà E.Engel phát hiện có ý nghĩa quan
trọng trong việc định hướng cho tiêu dùng các loại sản phẩm khác nhau. Các
nhà kinh tế học đương thời gọi lương thực, thực phẩm là các sản phẩm tất
yếu; hàng tiêu dùng công nghiệp là sản phẩm lâu bền và việc cung cấp dịch


vụ là sự tiêu dùng cao cấp. Khi thu nhập tăng thì tỷ lệ chi tiêu cho hàng tiêu
dùng cao cấp tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập. Như vậy, quy luật tiêu thụ
sản phẩm của E.Engel đã gián tiếp góp phần làm rõ xu hướng của CDCCLĐ
trong quá trình phát triển kinh tế,
A.Fhiser đã phân nền sản xuất xã hội làm 3 khu vực. nông nghiệp, lâm
nghiệp; công nghiệp chế biến, xây dựng; vận tải, thông tin, thương nghiệp.
Các quốc gia có thể phân phối tổng số lao động của mình vào 3 khu vực trên.
Theo ông, trong quá trình phát triển, sự tăng cường sử dụng máy móc, áp
dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các phương thức canh tác mới sẽ tác
động đến CDCCLĐ ở 3 khu vực này. Nông dân nâng cao năng suất lao động,
nên để đảm bảo lương thực, thực phẩm cần thiết cho xã hội thì không cần đến
lượng lao động như cũ và do vậy, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp sẽ giảm
xuống một cách tương đối. Dựa vào các số liệu thống kê đã thu thập được,
A.Fhiser đi đến kết luận: tỷ lệ giảm này có thể từ 30% đối với các nước chậm
phát triển xuống còn 11 - 12% ở các nước công nghiệp phát triển và trong
những điều kiện đặc biệt có thể xuống 5%. Lao động sẽ được thu hút vào khu

vực hai và khu vực ba ngày càng tăng do tính co giãn về nhu cầu sản phẩm
của hai khu vực này, đặc biệt là với khu vực thứ ba [100, tr.87].
Lý thuyết nhị nguyên do A. Lewis khởi xướng đưa ra những ý kiến cụ thể
hơn về CDCCLĐ ngành trong quá trình CDCCKT. Ông cho rằng: mối quan
hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp xuất phát từ tư tưởng của Ricardo, ông
lưu ý đến mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong việc giải quyết
lao động dư thừa ở nông thôn: Việc dịch chuyển lao động sẽ làm cho tỷ trọng
lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, nhưng vẫn giữ mức sản lượng
lương thực không đổi, thậm chí còn tăng lên do năng suất lao động trong
nông nghiệp được cải thiện. Theo ông, để tăng hiệu quả của sự tác động qua


lại giữa hai khu vực, cần kết hợp với việc giảm tốc độ tăng dân số, tạo điều
kiện CDCCLĐ xã hội phát triển [100, tr.82].
Trong lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế của mình, W. Rostow lại
chia quá trình phát triển kinh tế của một nước thành năm giai đoạn khác nhau
và theo đó, qúa trình CDCCLĐ cũng sẽ được thực hiện từ thấp đến cao tương
ứng với các giai đoạn phát triển kinh tế. Theo W. Rostow:
- Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn xã hội truyền thống: sản xuất nông nghiệp
giữ vai trò chủ yếu trong hoạt động kinh tế. Lao động chủ yếu bằng công cụ
thủ công, khoa học - kỹ thuật chưa phát triển nên năng suất lao động thấp.
Hoạt động chung của xã hội kém linh hoạt, sản xuất hàng hoá chưa phát triển
và sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp, tự túc. Do vậy, ở giai
đoạn này, lao động nông nghiệp chiếm tuyệt đại bộ phận lao động xã hội.
- Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: là giai đoạn những điều kiện cần thiết để cất
cánh đã bắt đầu xuất hiện. Sự tiếp cận và áp dụng các thành tựu của khoa học
- kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp đã tạo tiền đề cho
sự CDCCLĐ nông nghiệp sang các ngành khác.
- Giai đoạn cất cánh: tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tăng từ 5 - 10%; công nghiệp
và nông nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật. Công

nghiệp đóng vai trò “lĩnh vực đầu tàu” với tốc độ tăng trưởng cao, lợi nhuận
lớn tạo điều kiện tái đầu tư, mở rộng phát triển sản xuất. Lao động nông
nghiệp được thu hút vào khu vực đô thị và dịch vụ ngày càng nhiều, tạo ra sự
thay đổi về nhận thức và lối sống của người nông dân.
- Giai đoạn trưởng thành: nhiều ngành, nghề công nghiệp mới, hiện đại ra
đời và phát triển. Cơ giới hoá trong nông nghiệp đã tạo ra bước đột phá trong
tăng năng suất lao động nông nghiệp; lao động nông nghiệp dịch chuyển
mạnh sang các ngành nghề mới ở nông thôn, góp phần tạo ra nhiều sản phẩm
mới và thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển.


- Giai đoạn tiêu dùng cao: thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh.
CDCCLĐ theo chiều hướng: tăng tỷ lệ dân cư đô thị và tăng tỷ lệ lao động có
trình độ chuyên môn tay nghề cao; nhu cầu xã hội tăng cao đã kích thích các
ngành dịch vụ ra đời và phát triển [100, tr.85 - 86].
Các nhà kinh tế học châu Á mà đại diện tiêu biểu là nhà kinh tế học Nhật
Bản Harry Toshima lại đưa ra lý thuyết tăng trưởng kinh tế của các nước châu
Á gió mùa. Theo ông, mô hình tăng trưởng của A. Lewis không có ý nghĩa
thực tế với tình trạng dư thừa lao động trong nền nông nghiệp gió mùa. Bởi
vì, nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động trong thời điểm đỉnh cao của
thời vụ và chỉ dư thừa lao động trong mùa nhàn rỗi. Vì vậy, ông đưa ra mô
hình tăng trưởng mới. Theo đó, sự phát triển được bắt đầu bằng việc giữ lại
lao động nông nghiệp và tạo thêm nhiều hoạt động sản xuất tốt hơn trong
những tháng nông nhàn bằng cách tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng như
trồng thêm rau, quả, cây lấy củ; đánh cá, chăn nuôi gà vịt và các gia súc
khác...đồng thời sử dụng lao động nông nghiệp vào các ngành sản xuất công
nghiệp cần nhiều lao động. Việc tạo thuận lợi để có việc làm đầy đủ trong
những thời điểm nông nhàn sẽ nâng cao mức thu nhập hàng năm của nông
dân và sẽ mở rộng được thị trường trong nước cho các ngành công nghiệp và
dịch vụ. Như vậy, lực lượng lao động sẽ được sử dụng hết [101, tr.345 - 346].

Mặc dù cách tiếp cận vấn đề có thể khác nhau nhưng lý luận kinh tế nói
chung và lý luận về CDCCLĐ xã hội của các học giả tư sản cũng có những
điểm tương đồng. Do chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản nên cách đặt vấn
đề, giải quyết vấn đề đều có hạn chế như nhau là còn mang tính chủ quan,
không toàn diện, triệt để.
Theo quan điểm mácxít, trong mỗi hình thái kinh tế xã hội, sự phân công
lao động, CDCCLĐ xã hội đều có hai mặt:


Mặt thứ nhất gồm các yếu tố có liên quan đến sự phát triển của lực lượng
sản xuất, bởi vì sự phân công lao động xã hội trước hết là sự phân chia tư liệu
sản xuất và công cụ sản xuất theo các ngành kinh tế. C. Mác đã từng khẳng
định, lao động được tổ chức và phân công theo nhiều cách khác nhau tuỳ
thuộc vào những công cụ và tư liệu được sử dụng.
Mặt thứ hai có liên quan chặt chẽ đến đặc trưng của hình thái kinh tế - xã
hội mà trong đó diễn ra quá trình CDCCLĐ xã hội, nó được quy định bởi
quan hệ sản xuất thống trị trong phương thức sản xuất này hay phương thức
sản xuất khác.
Khi trình bày vấn đề CDCCLĐ xã hội, các học giả tư sản luôn tìm cách né
tránh khía cạnh thứ hai tức là hình thái kinh tế - xã hội của CDCCLĐ. Khoa
kinh tế học tư sản chỉ luôn tìm cách gói gọn phân công lao động xã hội trong
vấn đề phát triển của lực lượng sản xuất và cố tình làm lu mờ mặt kinh tế - xã
hội của vấn đề này dưới CNTB.
Vấn đề CDCCLĐ xã hội được các nhà kinh điển mácxít nghiên cứu gắn với
sự phát triển của phương thức sản xuất TBCN. Các ông mới chỉ đề cập vấn đề
CDCCLĐ xã hội dưới CNXH và chủ nghĩa cộng sản như là một dự đoán về
tương lai. Khác với các nhà kinh tế học phát triển, trong học thuyết về phân
công lao động xã hội, về CDCCLĐ, kinh tế học mácxít không những chỉ rõ
bản chất các điều kiện, tiền đề cần thiết mà còn vạch ra khuôn khổ thể chế
quyết định sự thay đổi về chất cuộc cách mạng công nghiệp, cơ sở của sự

phát triển của nền sản xuất TBCN.
Giải thích về sự phân công lao động trong xã hội, C.Mác viết: “Toàn bộ
những giá trị sử dụng hay vật thể hàng hoá khác thể hiện toàn bộ những lao
động có ích, cũng nhiều hình, nhiều vẻ, cũng chia ra bấy nhiêu loại, giống, họ,
nhánh và biến chủng khác nhau. Nói tóm lại là thể hiện sự phân công lao
động xã hội, sự phân công lao động xã hội này là điều kiện tồn tại của nền sản


xuất hàng hoá, mặc dầu ngược lại, sản xuất hàng hoá không phải là điều kiện
tồn tại của sự phân công lao động xã hội” [56, tr.72]. Và, “Phân công lao
động, với tư cách là một tổng thể các hình thức hoạt động sản xuất đặc thù, là
trạng thái chung của lao động xã hội, xét về mặt vật chất của nó với tư cách là
lao động sản xuất ra giá trị sử dụng” [54, tr.21].
Theo C. Mác và V.I. Lênin, cơ cấu của phân công lao động xã hội bao
gồm:
- Phân công lao động chung theo các ngành lớn.
- Phân công lao động đặc thù theo nội bộ ngành.
- Phân công lao động theo vùng kinh tế.
CDCCLĐ là quá trình phân bố, điều chỉnh lực lượng lao động sang các
ngành kinh tế khác nhau theo hướng tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm dần
và tỷ trọng lao động trong các ngành khác tăng lên. Trong nội bộ nông thôn,
trước hết đó phải là quá trình CDCCLĐ ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp
thành loại và thứ theo hướng chuyên môn hoá sản xuất, quá trình đó “làm cho
các hình thức chế biến sản phẩm tách rời nhau và không ngừng tạo thêm
những ngành công nghiệp mới”; và ở trong nông nghiệp, là quá trình “làm
nẩy sinh phân ngành chuyên môn hoá và những hệ thống kinh tế” như: hệ
thống trồng trọt, hệ thống chăn nuôi...Quá trình đó tạo ra sự trao đổi không
ngừng và đến lượt mình sự chuyên môn hoá trở thành cơ sở tất yếu của trao
đổi sản phẩm lao động giữa sản phẩm nông nghiệp với sản phẩm công nghiệp
và giữa những sản phẩm nông nghiệp khác nhau [51, tr.29 - 31].

Dưới CNXH, cơ sở kinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật mới được ra đời và
phát triển. Quá trình CDCCLĐ nói chung và CDCCLĐ nông nghiệp, nông
thôn nói riêng sẽ dựa trên cơ sở phát huy mọi năng lực của người lao động.
Và như thế, sự đối lập giữa thành thị và nông thôn; sự tách rời giữa lao động
trí óc và lao động chân tay sẽ dần được xoá bỏ. Đặc biệt, dưới chủ nghĩa cộng


sản người dân được hoàn toàn tự do, lao động được hoàn toàn giải phóng,
cùng với sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất xã hội thì quá trình
CDCCLĐ sẽ diễn ra với tính tự giác cao độ. C. Mác viết: “Một khi bắt đầu có
phân công lao động thì mỗi người đều có một phạm vi lao động nhất định và
độc chuyên mà người đó buộc phải nhận lấy và không thể thoát khỏi được;
người đó là người đi săn, người đánh cá hoặc người chăn nuôi hoặc là nhà phê
phán có tính phê phán và người đó vẫn cứ phải là như thế nếu như không
muốn mất các tư liệu của mình; còn trong xã hội cộng sản, trong đó không ai
bị hạn chế trong một phạm vi hoạt động, độc chuyên, mà mỗi người có thể tự
hoàn thiện mình trong bất kỳ lĩnh vực nào mà mình thích, thì xã hội điều tiết
toàn bộ nền sản xuất, thành thử tôi có khả năng hôm nay làm việc này, ngày
mai làm việc khác, buổi sáng đi săn, quá trưa đi đánh cá, buổi chiều chăn
nuôi, sau bữa cơm thì làm việc phê phán tuỳ, theo sở thích của mình...” [55,
tr.47].
Qua những nghiên cứu trên đây có thể thấy: sự thay đổi của CCLĐ từ trạng
thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với yêu cầu phát triển được gọi là
sự CDCCLĐ. CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn phải dựa trên cơ sở một cơ
cấu hiện có do đó, nội dung của CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn chính là
cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng một cơ cấu mới tiên
tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới phù hợp hơn với yêu
cầu của CDCCKT.
Như vậy có thể nói: CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn trong tiến trình
CNH, HĐH là quá trình đào tạo, đào tạo lại, điều chỉnh, bố trí, phân công lại

lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn theo yêu cầu của từng thời kỳ
phát triển kinh tế nói chung và CDCCKT nói riêng.
CDCCLĐ và CDCCKT có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ. Cơ cấu kinh tế
(CCKT) quốc dân có nhiều loại và tuỳ theo mục đích nghiên cứu, quản lý có


thể được xem xét dưới các góc độ khác nhau. CCLĐ là một bộ phận gắn liền
với CCKT bởi lao động là một trong những yếu tố quan trọng nhất của sản
xuất, của nền kinh tế. CCKT không bất biến mà luôn có sự vận động, chuyển
dịch cần thiết ngày càng hợp lý hơn trong điều kiện không gian và thời gian
cụ thể, trong điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể và thích hợp với mỗi
nước, mỗi vùng nhất định do vậy CDCCLĐ cũng là một hiện tượng phổ biến,
thường xuyên.
CCKT quốc dân có ba bộ phận hợp thành là: cơ cấu ngành kinh tế; cơ cấu
vùng, lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Nếu sở hữu là cơ sở cho sự hình
thành và phát triển cơ cấu thành phần kinh tế, thì CDCCLĐ lại là cơ sở cho sự
hình thành, phát triển và chuyển dịch của cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, lãnh
thổ. Nhưng suy cho cùng CCKT và CDCCKT cũng là kết quả của phân công
và phân công lại lực lượng lao động xã hội, kết quả của quá trình CDCCLĐ.
Mặc dù vậy, CDCCKT và CDCCLĐ đều có tính độc lập tương đối. Thực tế
đã chứng minh: trong khi lực lượng lao động của ngành công nghiệp hoặc
dịch vụ của nền kinh tế không thay đổi (thậm chí có thể giảm), nhưng tỷ trọng
GDP của ngành đó vẫn tăng nếu chính sách vốn đầu tư cho phát triển của
ngành được cải thiện hoặc các doanh nghiệp của ngành thực hiện đổi mới
thiết bị công nghệ. Xét ở tầm vĩ mô, nhà nước có thể ưu tiên phát triển ngành
này hay ngành khác thông qua việc ban hành và thực hiện các chính sách vĩ
mô cụ thể như: tài chính, tín dụng, gọi vốn đầu tư nước ngoài...làm cho tỷ
trọng GDP của ngành tăng lên, trong khi cơ cấu lao động vẫn không thay đổi.
Đặc biệt, thời gian qua, ở Việt Nam, chúng ta đang tích cực thực hiện chủ
trương đổi mới, xắp xếp lại sản xuất của khu vực kinh tế nhà nước thông qua

việc thực hiện cổ phần hoá, giao bán, khoán, cho thuê...và kết quả thu được là
hiệu quả sản xuất, kinh doanh được cải thiện đáng kể, tỷ trọng GDP tăng cao.
Nhưng bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nước cũng đang phải tìm lời giải


cho một bài toán khá phức tạp là sắp xếp, chuyển đổi, tạo việc làm mới cho
hàng vạn lao động dôi dư. Như vậy, mặc dù GDP tăng lên, nhưng thị trường
lao động ở khu vực này dường như đã “đóng băng”, không có khả năng tiếp
nhận thêm lao động nông nghiệp chuyển sang.
Mặt khác, kết quả CDCCLĐ thường chậm hơn so với CDCCKT vì phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, đặc biệt là công tác hướng nghiệp và
kết quả của giáo dục - đào tạo. Thông qua hội chợ việc làm được tiến hành ở
nhiều địa phương những năm gần đây cho thấy: nhu cầu tuyển dụng lao động
của các xí nghiệp liên doanh, các doanh nghiệp tư nhân là không nhỏ, nhưng
không được đáp ứng do phần đông các ứng viên không đủ năng lực, trình độ
theo yêu cầu của công việc.
1.1.2. Nội dung chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và
những nhân tố tác động đến quá trình đó trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá hiện nay
1.1.2.1. Nội dung của chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn
nước ta
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta là quá trình đồng thời phải giải
quyết ba vấn đề lớn là: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Nội dung cơ bản của CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay
là quá trình phá thế thuần nông, chuyển lao động ngành nông nghiệp có năng
suất thấp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ có năng suất cao hơn (trước
hết là ngay trên địa bàn nông thôn) để từ đó nâng cao năng suất lao động xã
hội, tạo ra nhiều của cải vật chất, sản phẩm dịch vụ; cải thiện, nâng cao đời
sống nhân dân; thực hiện hiện đại hoá nền kinh tế nông thôn trên cơ sở cơ cấu
đa ngành, đa sản phẩm.

Hay nói một cách khác: CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn là quá trình
giảm số lượng tuyệt đối và tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng số lượng tuyệt


đối và tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ. Theo đó, cùng với quá trình
CNH, HĐH đất nước, lực lượng lao động nông nghiệp sẽ được dịch chuyển
theo 2 “kênh” chính: một bộ phận chuyển sang làm công nhân các doanh
nghiệp ở các đô thị và các khu trung tâm công nghiệp lớn của cả nước; một bộ
phận sẽ chuyển sang hoạt động ở các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch
vụ...ngay trên địa bàn nông thôn. Ngoài ra, trong quá trình hội nhập còn phải
kể đến một lực lượng lao động nông nghiệp sẽ tham gia vào thị trường lao
động quốc tế và khu vực thông qua hình thức xuất khẩu lao động, trao đổi
chuyên gia...
Trong nội bộ ngành nông nghiệp, CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn trước
hết là quá trình nâng cao cơ cấu trình độ của lực lượng lao động nông nghiệp
để góp phần trực tiếp phá thế độc canh cây lúa, chuyển sang xây dựng nền
nông nghiệp sản xuất hàng hoá, đa dạng, phát triển bền vững, bảo đảm an
ninh lương thực bằng cách nâng cao trình độ thâm canh, tiếp thu khoa học
công nghệ tiên tiến của lao động nông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
vật nuôi. Đó còn là quá trình giảm lao động trồng lúa, tăng lao động trồng cây
công nghiệp, hoa quả đặc sản có giá trị kinh tế cao; giảm lao động trồng trọt,
tăng lao động chăn nuôi.
Nếu chỉ xét trong phạm vi nông thôn, CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn sẽ
là qúa trình thực hiện “Ly nông bất ly hương”, “Ly điền bất ly hương” thông
qua việc chuyển dịch một bộ phận lao động thuần nông sang các ngành công
nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp được mở mang, phát
triển ngay trên địa bàn nông thôn; khôi phục và phát triển các làng nghề
truyền thống; xây dựng các thị tứ, thị trấn để thông qua đó, phát triển các loại
hình kinh tế dịch vụ, thương mại...giải quyết việc làm cho nông dân, giảm sức
ép tăng dân số cơ học ở các thành phố lớn trong cả nước.



Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp chỉ bao gồm chăn nuôi và trồng trọt nhưng
nếu theo nghĩa rộng, nông nghiệp là sự hợp thành của nông nghiệp, lâm
nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản. Chính vì vậy, CDCCLĐ nông
nghiệp, nông thôn nước ta còn là quá trình phân công lại lao động nông
nghiệp trên phạm vi cả nước nhằm tập trung đầu tư phát triển kinh tế rừng,
kinh tế miền núi kết hợp với bảo vệ biên giới; phát triển mạnh và phát huy vai
trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển, đảo. Xuất phát
từ vị trí địa lý của đất nước, rừng và biển Việt Nam có một tầm quan trọng
đặc biệt, phát triển kinh tế rừng, kinh tế biển đảo có ý nghĩa chiến lược cả
trước mắt và lâu dài, cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quốc phòng,
an ninh. Kết quả của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, sự nghiệp củng
cố quốc phòng, hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế phụ thuộc
nhiều vào việc hoạch định và thực hiện chiến lược biển đảo, chiến lược phát
triển kinh tế miền núi (đặc biệt là 3 vùng: Tây Nam bộ, Tây Nguyên và Tây
Bắc).
Ruộng đất bình quân theo đầu người dành cho sản xuất nông nghiệp ở vùng
đồng bằng, trung du đang có xu hướng ngày càng giảm do tốc độ đô thị hoá,
tỷ lệ tăng dân số và tình trạng đất thoái hoá, bạc mầu...trong khi tiềm năng
kinh tế biển, rừng của ta còn rất lớn, lợi thế về tài nguyên dưới biển, trên rừng
chưa được khai thác hiệu quả, do vậy CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước
ta đã và đang là quá trình “hướng lên rừng”, “tiến mạnh ra biển và làm chủ
vùng biển” [33, tr.182]. Theo đó, CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta
sẽ là quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát
huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km 2 thềm lục địa theo hướng đẩy mạnh
phân công lại lao động để phát triển nuôi, trồng, khai thác, chế biến hải sản
(trong đó, đặc biệt quan tâm đầu tư cho khai thác và đánh bắt xa bờ); thăm dò,
khai thác và chế biến dầu khí; phát triển công nghiệp, đóng tầu thuyền; phát



triển vận tải biển; mở mang du lịch và các loại hình dịch vụ; xây dựng các
cụm, tuyến dân cư và các huyện đảo.
Về rừng: CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta sẽ là quá trình kết hợp
giữa phân công lại lao động cho đồng bào các dân tộc thiểu số đồng thời với
việc chuyển dân vùng đồng bằng (chủ yếu là ở miền trung và vùng đồng bằng
Bắc bộ) lên miền núi theo quy hoạch và kế hoạch một cách chặt chẽ theo
hướng: phát triển cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi đại gia súc và phát
triển công nghiệp chế biến tại chỗ; bảo vệ và phát triển vốn rừng; khai thác tài
nguyên rừng. Trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, CDCCLĐ nông nghiệp,
nông thôn phải bảo đảm thực hiện thắng lợi một số chủ trương, dự án lớn
như: chương trình định canh, định cư; dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (bao
gồm rừng kinh tế và rừng đặc chủng, phòng hộ); chương trình nâng độ che
phủ rừng lên khoảng 38 – 39% vào năm 2005 [33, tr.277].
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay còn là quá trình tăng
cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt của người lao
động. Nâng cao chất lượng nguồn nhân trước - hết là trình độ văn hoá và
chuyên môn nghiệp vụ - vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của CDCCLĐ, đồng thời
còn là điều kiện để đẩy nhanh tốc độ và nâng cao hiệu quả quá trình
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn. Mục tiêu đến năm 2010, lao động nông
nghiệp giảm xuống còn 50% không thể được thực hiện thông qua sự chuyển
dịch cơ học của lực lượng lao động giữa các ngành một cách giản đơn và lại
càng không thể là sự chuyển dịch nhờ vào một quyết định hành chính để rút
bớt lao động của ngành này, lĩnh vực này bổ sung cho ngành khác, lĩnh vực
khác mà đòi hỏi phải có quá trình đào tạo và bồi dưỡng về mọi mặt để người
nông dân hôm qua có thể trở thành người công nhân thực thụ, người lao động
mới trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và các các lĩnh vực hoạt động kinh
tế - xã hội khác.



1.1.2.2. Những nhân tố tác động tới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay
Thứ nhất: CNH, HĐH nền kinh tế đất nước nói chung và CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn nước ta nói riêng quy định phương hướng và tạo điều
kiện vật chất cho quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn.
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới, Đại
hội lần thứ IX của Đảng xác định nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước. Sự nghiệp CNH, HĐH đặt ra yêu cầu và quyết định phương
hướng của CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn là: CDCCLĐ phải phù hợp với
sự CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; bảo đảm việc thực hiện thắng lợi mục
tiêu xây dựng nước ta thành nước công nghiệp vào năm 2020.
CNH, HĐH tạo ra những điều kiện, tiền đề thuận lợi cho quá trình
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn. Trước hết đó là sự phát triển có trọng
điểm của các cơ sở công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo máy...có khả năng
trang bị, thực hiện hiện đại hoá nông nghiệp, thực hiện điện khí hoá, cơ khí
hoá, hoá học hoá, thuỷ lợi hoá. Và đặc biệt, kết quả của tiến trình CNH, HĐH
nền kinh tế quốc dân sẽ góp phần thúc đẩy cách mạng sinh học phát triển
nhằm cung cấp ngày càng nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao,
chất lượng tốt, thực hiện mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng
hoá, nền nông nghiệp sinh học hiện đại. CNH, HĐH còn góp phần đắc lực
phát triển ngành công nghiệp chế biến, giải quyết ngày càng hiệu quả đầu ra
cho nông sản hàng hoá, tăng hàm lượng công nghệ của mỗi sản phẩm nông
nghiệp và do vậy, tăng khả năng hội nhập của nền kinh tế nói chung và nông
nghiệp nước ta nói riêng.
Bên cạnh đó, CNH, HĐH còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn thông qua sự phát triển mạnh mẽ của các
ngành kinh tế quốc dân như công nghiệp, dịch vụ; quá trình đô thị hoá và sự


phát triển của các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch...trên phạm

vi toàn quốc.
Thứ hai: Sự nghiệp đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo là
cơ sở đẩy nhanh và nâng cao chất lượng CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn.
Giáo dục - đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực và do vậy có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của
quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn. N. Birdsall, D. Ross và R. Sabot
nghiên cứu về mối tương quan giữa giáo dục - đào tạo, bất bình đẳng trong
gia đình với tăng trưởng kinh tế ở 74 nước có thu nhập thấp và trung bình
trong giai đoạn 1960 đến 1985 đã đưa ra kết luận: nếu tăng tỷ lệ học sinh tiểu
học lên 1% thì tổng giá trị sản phẩm trong nước GDP sẽ tăng 0,62%; và nếu
tăng tỷ lệ học sinh trung học lên 1% thì GDP sẽ tăng 0,34% [81, tr20].
Thực hiện nghị quyết Đại hội IX của Đảng, công tác giáo dục đào tạo đã
và đang thực sự được coi là quốc sách hàng đầu. Sự quan tâm chăm lo của các
cấp bộ đảng và chính quyền các địa phương, của các tầng lớp nhân dân đang
tạo những điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao trình độ mọi mặt của lực
lượng lao động nông thôn. Chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo quyết
định đến sự thắng lợi của CDCCLĐ nông nghiệp nông thôn nước ta trước mắt
cũng như lâu dài.
Thứ ba: Thị trường và cơ chế thị trường tạo điều kiện thuận lợi đồng thời
cũng làm nẩy sinh những khó khăn, cản trở đối với quá trình CDCCLĐ nông
nghiệp, nông thôn.
CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn nước ta diễn ra trong điều kiện phát
triển kinh tế thị trường nên chịu sự tác động, chi phối của các quy luật kinh tế
khách quan của thị trường và cơ chế thị trường. Thị trường đóng vai trò là
một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế và đặc biệt nó ảnh
hưởng đến sự hình thành và dịch chuyển của CCLĐ. Mặt khác, nói đến thị


×