Tải bản đầy đủ (.pdf) (78 trang)

Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội tỉnh thái nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (940.98 KB, 78 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHÙNG THỊ THƠM

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM TỰ KỶ
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHÙNG THỊ THƠM

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM TỰ KỶ
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


PGS. TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN

HÀ NỘI, 2016

HÀ NỘI - năm


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ
ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất cứ công trình nào.
Tác giả luận văn

Phùng Thị Thơm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ11
1.1. Lý luận về trẻ tự kỷ ............................................................................................ 11
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội .................................................................... 14
1.3. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ ......................................... 15
1.4. Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước đối với trẻ tự kỷ....................................................17
Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ
KỶ TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘITỈNH THÁI NGUYÊN ................... 20
2.1. Khái quát chung về Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên ................... 20
2.2. Thực trạng trẻ tự kỷ tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh thái nguyên ............... 22
2.3. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm
Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên ............................................................................ 28

2.4. Dịch vụ công tác xã hội cá nhân qua việc điển cứu một ca trẻ tự kỷ................. 36
Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ
HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH
THÁI NGUYÊN ...................................................................................................... 55
3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp ..................................................................................... 55
3.2. Các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ
tự kỷ........................................................................................................................... 56
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 68


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

STT

Tên đầy đủ

1

CTXH

Công tác xã hội

2

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội


3

TC

Thân chủ

4

TTK

Trẻ tự kỷ


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các tiêu chí dùng trong DSM-IV-TR ....................................................... 11
Bảng 2.1: Số lượng trẻ tự kỷ tại Trung tâm CTXH tỉnh Thái Nguyên..........................22
Bảng 2.2: Phân loại mức độ tự kỷ ............................................................................. 22
Bảng 2.3: Đánh giá mức độ cần thiết của việc tư vấn, tham vấn cho cha mẹ trẻ tự kỷ23
Bảng 2.4: Đánh giá mức độ cần thiết của việc cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ
năng can thiệp trợ giúp trẻ tự kỷ ............................................................ 25
Bảng 2.5: Đánh giá mức độ cần thiết của việc truyền thông chống kỳ thị, phân biệt
đối xử với trẻ tự kỷ ................................................................................ 26
Bảng 2.6: Đánh giá mức độ cần thiết của việc biện hộ, bảo vệ chính sách; kết nối,
huy động nguồn lực dịch vụ trợ giúp trẻ tự kỷ ...................................... 27
Bảng 2.7: Đánh giá mức độ cần thiết của việc cung cấp dịch vụ trợ giúp trẻ tự kỷ tại
cộng đồng ............................................................................................... 28
Bảng 2.8: Kết quả khám sàng lọc, chẩn đoán, lập kế hoạch can thiệp trợ giúp........ 29
Bảng 2.9: Mức độ thực hiện các hoạt động sàng lọc, chẩn đoán, đánh giá nhu cầu,
xây dựng kế hoạch trợ giúp trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ ................... 30
Bảng 2.10: Thực trạng hoạt động tham vấn, tư vấn cho cha mẹ trẻ tự kỷ ................ 30

Bảng 2.11: Đánh giá lợi ích của hoạt động tham vấn, tư vấn cho cha mẹ trẻ tự kỷ 31
Bảng 2.12: Các phương pháp trị liệu trẻ tự kỷ tại Trung tâm Công tác xã hội ........ 32
Bảng 2.13. Đánh giá mức độ tiến triển của TTK sau khi được trị liệu tại Trung tâm ....... 32
Bảng 2.14: Kết quả hoạt động truyền thông trực tiếp .............................................. 33
Bảng 2.15: Kết quả hoạt động truyền thông gián tiếp.............................................. 33
Bảng 2.16: Đánh giá lợi ích của hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận
thức cho cha mẹ trẻ tự kỷ....................................................................... 34
Bảng 2.17: Mức độ thực hiện vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ
giúp ........................................................................................................ 35
Bảng 2.18: Mức độ thực hiện các hoạt động biện hộ chính sách đối với việc đảm
bảo quyền lợi của trẻ tự kỷ .................................................................... 36
Bảng 2.19: Bảng phân tích điểm mạnh - điểm yếu của thân chủ.............................. 44
Bảng 2.20. Ma trận SWOT về thân chủ .................................................................... 45
Bảng 2.21: Kế hoạch giải quyết vấn đề .................................................................... 46


DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm CTXH tỉnh Thái Nguyên ........... 20
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ sinh thái ......................................................................................... 39
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ phả hệ ............................................................................................ 40
Sơ đồ 2.4: Tiến trình Công tác xã hội cá nhân .......................................................... 41
Sơ đồ 2.5: Vấn đề của thân chủ ................................................................................. 43
Sơ đồ 2.6: Mục tiêu can thiệp ................................................................................... 47
Sơ đồ 2.7: Các cấp độ can thiệp ................................................................................ 47


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, tự kỷ được xem là “căn bệnh” của thời đại, số lượng trẻ tự kỷ đang
gia tăng một cách đáng báo động ở mọi quốc gia trên thế giới, ở mọi chủng tộc,

màu da, mọi dân tộc, các nền văn hóa và kinh tế khác nhau. Ở Mỹ, những năm 80
của thế kỷ trước, người ta thống kê được số trẻ em mắc tự kỷ chỉ chiếm 1/2000 trẻ.
Đến năm 2010, ở Mỹ có khoảng 560.000 trẻ bị tự kỷ, chiếm 1/110 trẻ. Tại Anh, số
trẻ mắc tự kỷ vào khoảng 1/150 trẻ [17, tr.4].
Ở Việt Nam, chưa có một số liệu thống kê hay điều tra khảo sát dịch tễ nào về
tự kỷ nhưng theo nhận định của các chuyên gia thì số trẻ bị tự kỷ được phát hiện có
xu thế ngày một gia tăng so với các bệnh và dạng khuyết tật khác thường gặp ở trẻ
em. Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính xác về vấn đề này. Tuy nhiên, tính đến
năm 2015, chỉ tính riêng Bệnh viện Nhi Trung ương có 2.114 bệnh nhi mắc chứng
tự kỷ, trước đó, năm 2014 là 1.847 trẻ, như vậy chỉ sau 1 năm số trẻ tự kỷ được phát
hiện và điều trị tại bệnh viện đã tăng gần gấp đôi. Nghiên cứu mô hình khuyết tật ở
trẻ em của khoa Phục hồi Chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2010 –
2015 cho thấy số lượng trẻ được chẩn đoán và điều trị tự kỷ ngày càng đông; số trẻ
tự kỷ đến khám năm 2015 gấp 50 lần năm 2010; số trẻ tự kỷ đến điều trị năm 2015
gấp 33 lần năm 2010.
Từ số liệu nêu trên, có thể thấy số trẻ mắc tự kỷ có xu hướng ngày một gia
tăng. Tự kỷ không những gây khó khăn cho chính trẻ tự kỷ mà còn có tác động, ảnh
hưởng tiêu cực đến gia đình của trẻ tự kỷ. Khi trong gia đình có trẻ tự kỷ thì chính
gia đình đó diễn ra những thay đổi lớn theo hướng tiêu cực. Đây là một cú sốc lớn
cho các bậc cha mẹ và những thành viên khác trong gia đình. Có thể nói, các gia
đình có trẻ tự kỷ thường trải qua những đau đớn, bối rối, căng thẳng và khủng
hoảng tột cùng như đang phải đối mặt với một “tai họa” khủng khiếp. Họ thường
không biết phải làm gì hoặc không tìm kiếm các nhà chuyên môn trợ giúp. Thái độ
thương hại hay tội nghiệp của những người thân quen đối với trẻ và gia đình có trẻ
tự kỷ lại càng làm cho gia đình đau khổ hơn. Những mâu thuẫn căng thẳng trong gia

1


đình có trẻ tự kỷ có thể xảy ra giữa vợ với chồng, giữa bố mẹ với con cái… Bên

cạnh đó, gánh nặng về kinh tế, thời gian chăm sóc trẻ tự kỷ cùng với những mâu
thuẫn, những khó khăn tâm lý đã trở thành nguy cơ đe dọa hạnh phúc gia đình nếu
gia đình không biết cách vượt qua vấn đề tự kỷ ở trẻ.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa thực sự có một cuộc khảo
sát hay nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào đề tài TTK. Trong khi số trẻ em đến khám
và điều trị tự kỷ tại Bệnh viện Chỉnh hình & phục hồi chức năng lại tương đối đông,
có xu hướng gia tăng. Tỉnh cũng chưa có một Trung tâm chuyên trách nào về vấn
đề trẻ tự kỷ, các dịch vụ CTXH cho nhóm đối tượng này mới được triển khai thực
hiện ở Trung tâm Công tác xã hội tỉnh từ năm 2013 đến nay với số lượng trẻ được
can thiệp vẫn còn hạn chế vì thiếu nhân lực và cơ sở vật chất. Vì vậy nhiều gia đình
còn phải vất vả đưa con lên các thành phố lớn để điều trị. Đây là bệnh không thể
chữa trị dứt điểm, hơn nữa phải điều trị trong một thời gian dài và liên tục nên gây
ra nhiều khó khăn cả về thời gian, kinh tế lẫn sức khỏe của trẻ tự kỷ và gia đình trẻ.
Vì những lý do trên tôi cho rằng việc thực hiện nghiên cứu đề tài "Dịch vụ Công
tác xã hội đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm công tác xã hội tỉnh Thái
Nguyên" vào thời điểm này là thực sự cần thiết. Từ kết quả nghiên cứu, tôi xin
được đưa ra cái nhìn tổng quan về hội chứng tự kỷ, những hành vi bất thường được
nhận diện ở trẻ tự kỷ, đồng thời chỉ ra tính cần thiết của dịch vụ CTXH trong việc
hỗ trợ trẻ tự kỷ cũng như gia đình trẻ và đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ tại tỉnh Thái
Nguyên, góp phần thúc đẩy nghề CTXH phát triển, đảm bảo an sinh xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, số lượng trẻ tự kỷ ngày một
gia tăng. Do những ảnh hưởng sâu sắc của hội chứng tự kỷ đối với sự phát triển lâu
dài của trẻ, gia đình trẻ và xã hội nên hội chứng này đang ngày càng thu hút được
sự quan tâm chú ý của các nhà giáo dục học, tâm lý học, xã hội học... và gần đây là
CTXH.

2



2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về tự kỷ
Hội chứng tự kỷ đã có lịch sử phát triển gần 70 năm. Trong khoảng thời gian
này, nghiên cứu về tự kỷ nở rộ, phát triển nhanh chóng và đạt được những thành tựu
nghiên cứu nổi bật ở các nước có nền khoa học phát triển như Mỹ; Châu Âu. Kết
quả tìm kiếm từ “autism” (tự kỷ) trên PsyINFO là 38.250 bài báo, sách, luận văn,
luận án. Nếu giới hạn “autism” ở tên của nghiên cứu thì có 12.174 kết quả. Như vậy
có thể nói là số lượng và chủ đề nghiên cứu về tự kỷ trên thế giới là vô cùng rộng
lớn, phong phú. Tự kỷ đã, đang và sẽ rất được quan tâm nghiên cứu.
Một nghiên cứu có ứng dụng tích cực trong can thiệp sớm cho TTK là Ứng
dụng phân tích hành vi (Aplied Behavior Analyis-ABA). Đây là kết quả nghiên cứu
của Matson, J.L vào năm 2012 ở Đại học Los Angeles California. Kết quả nghiên
cứu là cơ sở để hình thành phương pháp can thiệp hành vi, được dùng để phát huy
tối đa khả năng học tập của TTK. ABA là một chương trình can thiệp hành vi của
TTK một cách toàn diện trong mọi lĩnh vực liên quan. Tác giả thử nghiệm chương
trình can thiệp sớm cho trẻ nhỏ dựa vào gia đình cho trẻ. Các lĩnh vực đó có thể là:
xã hội, giao tiếp, tự chăm sóc, vui chơi…. Cấu trúc của ABA gồm hai thành phần
chính: dạy thử nghiệm các kỹ năng riêng biệt và thay đổi hành vi. Các nghiên cứu
đều cho thấy sự giáo dục phù hợp nhất đối với TTK là can thiệp hành vi sớm và tích
cực [24].
Hepworth D.J (nhà tâm lý Nhi) và Lori Frost (nhà âm ngữ trị liệu) nghiên cứu
phương pháp PECS là Hệ thống giao tiếp thông qua trao đổi tranh (Picture
Exchange Communication System) ứng dụng vào can thiệp sớm cho TTK. Tác giả
sử dụng một loạt chiến lược để giúp TTK có được các kĩ năng giao tiếp. Tuy nhiên,
phương pháp này mới tập trung vào giúp trẻ giao tiếp không lời, cho phép trẻ lựa
chọn cách thể hiện nhu cầu của mình bằng tranh ảnh. Điều này đã giảm nhẹ hành vi
của TTK, và trẻ trở nên vui vẻ hơn chứ chưa tập trung vào phát triển kĩ năng giao
tiếp cho TTK [23].
Một tổ chức chuyên nghiên cứu về biện pháp can thiệp giúp cải thiện nhận
thức ở TTK đã ghi nhận hiệu quả của phương pháp tương tác xã hội đối với trẻ tự


3


kỷ. Nghiên cứu này được thực hiện tại một trường đại học ở Washington, nằm trong
chuỗi chương trình chuyên biệt nhằm tìm hiểu về các phương pháp cải thiện nhận
thức và phản ứng của bộ não trẻ tự kỷ. Đứng đầu nhóm nghiên cứu, bà Geraldine
Dawson cho biết: “Quá trình lớn lên và tiếp thu của một đứa trẻ đang tập đi ảnh
hưởng rất nhiều đến khả năng tương tác xã hội hàng ngày của các em. Riêng đối với
những đứa trẻ mắc chứng tự kỷ thì sự can thiệp sớm của cộng đồng sẽ giúp các bé
nhận được sự tương tác, quan tâm của cộng đồng" [19, tr.6].
Ngày 11/4 được Liên Hợp Quốc chọn làm ngày tự kỷ (Autism Awareness
Day). Theo báo cáo của Bộ Y tế Trung Quốc, nước này có khoảng 1,6 triệu trẻ tự kỷ
(2006). Với đặc trưng là để lại hậu quả lâu dài trong suốt cuộc đời. Về mặt nhân văn
đây là vấn đề xã hội cần hỗ trợ, can thiệp; về mặt kinh tế xã hội, việc can thiệp sớm
sẽ giúp giảm bớt gánh nặng kinh tế xã hội. Nghiên cứu của Mỹ cho biết con số đánh
giá đối với những trẻ sinh vào năm 2000, toàn bộ chi phí chi suốt cuộc đời một đứa
trẻ tự kỷ là 3,74 triệu đô la Mỹ, trong đó cho phí lớn nhất là mất sức lao động chiếm
60% tổng chi phí. Như vậy, với số lượng lớn trẻ tự kỷ, tổn hại do không có khả
năng lao động là một con số rất lớn [12, tr.15].
Sự tham gia của công tác xã hội trong việc nghiên cứu, hỗ trợ trẻ tự kỷ cũng
như gia đình có trẻ tự kỷ trên thế giới đã và đang dành được nhiều sự quan tâm của
các nhà hoạt động công tác xã hội cũng như các tổ chức xã hội khác. Điều này
khẳng định tầm quan trọng của chuyên ngành CTXH trong lĩnh vực tự kỷ.
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về tự kỷ và dịch vụ công
tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
Ở Việt Nam nghiên cứu về trẻ tự kỷ chỉ mới được bắt đầu nghiên cứu vào
khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Từ năm 2015 trở lại đây, vấn đề trẻ tự kỷ đã
được nhiều ngành quan tâm nghiên cứu như tâm lý học, giáo dục học, y học... Một
loạt các Trung tâm nuôi dạy trẻ tự kỷ ra đời, các Bệnh viện mở ra các khoa để can

thiệp cho trẻ tự kỷ, các trường học mở các lớp học chăm sóc - giáo dục TTK là
những điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu này.

4


Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ từ 18 đến 36 tháng tuổi
của Nguyễn Thị Hương Giang (2010) Nghiên cứu chỉ ra hiện nay ở Việt Nam các
nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của TTK còn hạn chế, chưa có những nghiên cứu
mô tả lâm sàng một cách toàn diện ở lứa tuổi nhỏ trước 3 tuổi. Kết quả cho thấy tỷ
lệ trẻ tự kỷ ở mức độ nặng còn cao. Trẻ tự kỷ thường có khiếm khuyết về chất
lượng quan hệ xã hội như: Không giao tiếp bằng mắt (86,9%), không biết gật đầu
hay lắc đầu khi đồng ý hoặc phản đối (97,6%), Thích chơi một mình (94,8%),
không biết khoe khi được đồ vật (976%), không đáp ứng khi được gọi tên (96,8 %).
Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp: Phát ra một chuỗi âm thanh khác thường
(82,1%), không biết chơi giả vờ (98,4%)…. [3].
Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ của trẻ tự kỷ 5-6 tuổi của Ths. Đào Thị Thu
Thủy (2012). Nghiên cứu chỉ ra can thiệp hành vi ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ sẽ giúp trẻ
tăng cường khả năng nhận thức, tương tác và hòa nhập cộng đồng. Nghiên cứu cũng
mô tả thực trạng hành vi ngôn ngữ của trẻ tự kỷ tuổi mẫu giáo nhằm giúp giáo viên
hỗ trợ, chuyên gia giáo dục trẻ tự kỷ…xác định được mức độ hành vi ngôn ngữ của
trẻ tự kỷ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục TTK, giúp trẻ tự kỷ tham gia học
hòa nhập. Có thể thấy kết quả nghiên cứu này đã đóng góp về mặt lý luận và thực
tiễn trong nghiên cứu hành vi ngôn ngữ của TTK độ tuổi 5 – 6 tuổi. Tuy nhiên đây
mới chỉ là sự đóng góp ở khía cạnh chuyên môn dành cho các chuyên gia, giáo viên
hỗ trợ trẻ còn về phía gia đình do chuyên môn giáo dục can thiệp trẻ có nhu cầu đặc
biệt còn hạn chế nên ngoài mặt lý luận, những gia đình có trẻ tự kỷ cũng cần một sự
hỗ trợ cụ thể hơn [13].
Năm 2013, tác giả Hoàng Thị Phương trong công trình “Một số biện pháp
giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi”, trong đó giao tiếp được

khai thác dưới góc độ hành vi văn hóa sơ đẳng nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng
cho lứa tuổi mẫu giáo lớn. Đó là những kỹ năng mang tính nền tảng làm cơ sở để
giáo dục và phát triển sau này cho trẻ ở cấp tiểu học [11, tr.8].
Năm 2014, Nguyễn Thị Thanh đã hoàn thành luận án tiến sĩ với đề tài “ Biện
pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỉ từ 3 – 4 tuổi”, luận án đi sâu nghiên

5


cứu việc phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ nói chung và trẻ từ 3 – 4 tuổi
nói riêng [11, tr.9].
Tóm lại, từ kết quả các nghiên cứu được dẫn ra trên đây, đã giúp khẳng định
được một số vấn đề sau: Các đề tài nghiên cứu này đều chưa đề cập đến khía cạnh
kết hợp sự tham gia của các nguồn lực gia đình, xã hội vào hỗ trợ trẻ tự kỷ; chưa
nói đến vai trò, quy trình nghiệp vụ mà NVCTXH sử dụng để hỗ trợ trẻ tự kỷ giảm
thiểu những hành vi bất thường trong giao tiếp, hay chưa kết nối được các dịch vụ
xã hội trong CTXH để hỗ trợ trẻ tự kỷ cũng như gia đình trẻ.
Mặc dù vậy những tài liệu, nghiên cứu đã được công bố nói trên luôn là những
tài liệu tham khảo quan trọng và bổ ích để tôi đi sâu nghiên cứu và thực hiện nghiên
cứu đề tài "Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm
Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên".
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng dịch vụ công tác xã hội
đối với trẻ tự kỷ, đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã
hội đối với trẻ tự kỷ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
 Xây dựng cơ sở lý luận về trẻ tự kỷ và dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ.
 Phân tích thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ tại Trung tâm
Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên.

 Đề xuất một số biện pháp giúp cho dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đạt hiệu quả cao hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ công tác xã hội trong việc trợ giúp trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm
Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu trên 85 khách thể sau: NVCTXH; trẻ mắc hội

6


chứng tự kỷ; gia đình; giáo viên của TTK trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Trong đó
trẻ mắc hội chứng tự kỷ là 35 trẻ.
4.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 2 năm 2016
4.4. Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
4.5. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi tập trung vào việc nghiên cứu lý luận và thực
trạng về dịch vụ CTXH đối với TTK từ thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Thái
Nguyên và đề xuất một số biện nâng cao hiệu quả của dịch vụ CTXH đối với TTK
tại thái Nguyên.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở Phương pháp luận chủ
yếu sau:
- Dựa trên quan điểm của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
nhìn nhận, đánh giá hoạt động dịch vụ CTXH đối với TTK phải xuất phát từ thực
tiễn và đặt hoạt động dịch vụ CTXH đối với TTK trong mối quan hệ chặt chẽ với

các yếu tố khách quan và chủ quan.
- Thuyết nhu cầu: Tiếp cận theo nhu cầu của TTK là cách tiếp cận dựa trên
việc đáp ứng tốt nhất các dịch vụ CTXH đối với các nhu cầu của TTK. Đây là
những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của trẻ em khuyết tật nói chung và TTK
nói riêng. Vận dụng thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu chúng tôi tìm
hiểu các nhu cầu của TTK tại Trung tâm CTXH tỉnh Thái Nguyên và xem xét việc
bảo đảm các nhu cầu đó như thế nào qua việc cung cấp dịch vụ công tác xã đối với
nhóm trẻ này tốt hay chưa, vì sao.
- Thuyết vai trò: Đối với cán bộ, NVCTXH cung cấp dịch vụ CTXH cho TTK,
vai trò thể hiện ở việc tổ chức, thực hiện, quản lý, điều phối dịch vụ CTXH đối với
TTK: Sàng lọc, chẩn đoán, đánh giá nhu cầu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện; tham

7


vấn; trị liệu; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức; vận động, kết nối, giới thiệu
nguồn lực dịch vụ trợ giúp; biện hộ, bảo vệ chính sách.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu, văn bản
Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, văn bản là tiến hành phân loại, lựa
chọn, khái quát, so sánh thông tin từ các tài liệu, văn bản như: Nghị định, Thông tư,
Quyết định, chính sách, sách, báo, thông tin trên Internet, các kết quả nghiên cứu có
liên quan đến đề tài nhằm tìm ra những nội dung, những vấn đề có liên quan đến
dịch vụ CTXH đối với trẻ tự kỷ, trên cơ sở đó xác định xem những vấn đề gì được
giải quyết và những vấn đề gì chưa được giải quyết.
5.2.2. Phương pháp quan sát
Là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng cách quan sát,
theo dõi và ghi chép các biểu hiện, hành vi bất thường của trẻ tự kỷ để đánh giá mức độ

tự kỷ ở trẻ; Quan sát hoạt động của NVCTXH, giáo viên, gia đình trong quá trình
tương tác với trẻ để có cơ sở đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH đối với TTK;
Quan sát những thay đổi của trẻ trước và sau khi có sự can thiệp, hỗ trợ bằng các kỹ
năng công tác xã hội để đánh giá hiệu quả của dịch vụ CTXH đối với TTK.
5.2.3. Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực tâm lý, giáo dục, y tế,
CTXH về các biện pháp nhằm cải thiện khả năng giao tiếp, tương tác xã hội của
TTK; giảm thiểu những hành vi bất thường ởtrẻ tự kỷ.
5.2.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với NVCTXH, cán bộ
quản lý, cha mẹ TTK, giáo viên, bác sĩ, chuyên gia tâm lý, để tìm hiểu thực trạng
cung cấp dịch vụ CTXH đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ tại địa bàn nghiên
cứu. Từ đó, làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH đối
với TTK, và đề ra biện pháp cung cấp dịch vụ CTXH cho TTK trên địa bàn đạt

8


hiệu quả cao hơn.
5.2.5. Phương pháp phỏng vấn sâu
Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu đối với gia đình trẻ tự kỷ, giáo viên, bác sĩ,
chuyên gia tâm lý, NVCTXH, những người trực tiếp chăm sóc và giáo dục TTK để
làm rõ hơn các nội dung thu thập được từ bảng hỏi.
5.2.6. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích và xử lý dữ liệu có được
qua các kết quả nghiên cứu, các kết quả phỏng vấn và số liệu thu thập được trong
quá trình nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Nghiên cứu sẽ xác định khung lý thuyết nghiên cứu dịch vụ công tác xã hội

đốivới trẻ tự kỷ như: Các khái niệm, các loại dịch vụ CTXH đối với trẻ tự kỷ.
Nghiên cứu làm rõ thêm về phương pháp trợ giúp trẻ em bị rối nhiễu tâm trí,
tự kỷ dưới cách tiếp cận của dịch vụ công tác xã hội.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng về vai
trò của NVCTXH và hệ thống dịch vụ CTXH trong hoạt động trợ giúp TTK. Những
phát hiện của nghiên cứu sẽ làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chương
trình, kế hoạch cung cấp dịch vụ CTXH chuyên nghiệp cho TTK tại tỉnh Thái
Nguyên; đồng thời xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH chuyên nghiệp trợ
giúp TTK tại Trung tâm CTXH tỉnh Thái Nguyên.
Góp phần giúp những người quản lý, những nhà lãnh đạo, có thêm cái nhìn
toàn diện, sâu sắc tích cực trong hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH đối với TTK.
Giúp cho cha mẹ TTK nhận ra vấn đề và tiềm năng giải quyết vấn đề của mình. Bên
cạnh đó, hiểu rõ các dịch vụ trợ giúp của công tác xã hội trong lĩnh vực này.
Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành có liên quan hiểu
biết thêm về trẻ tự kỷ, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và

9


những yêu cầu cần thiết để trở thành nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp trong
lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp trẻ tự kỷ.
Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
dành cho người làm nghề CTXH, giáo viên dạy TTK cũng như phụ huynh có trẻ
mắc hội chứng tự kỷ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu
tham khảo; nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn

Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự
kỷ tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên

10


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ
1.1. Lý luận về trẻ tự kỷ
1.1.1. Khái niệm tự kỷ
Qua khảo sát các khái niệm của một số tác giả, tôi cho rằng tự kỷ được hiểu
như sau: Tự kỉ là một hội chứng rối lo n trong nhóm rối lo n phát triển lan tỏa,
ngư i bị tự kỷ có những rối lo n về nhiều mặt, nhưng biểu hiện rõ nhất là rối lo n
về giao tiếp, quan hệ x hội và hành vi.
Đề tài sẽ sử dụng thuật ngữ “tự kỷ” thay cho các thuật ngữ khác như “tự tỏa”
“tự bế”; thuật ngữ “hội chứng tự kỷ” cũng tương đồng với thuật ngữ “tự kỷ”. Đề tài
không nghiên cứu tất cả các rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa mà chỉ
nghiên cứu rối loạn phổ tự kỷ hay gọi chung là tự kỷ.
1.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỷ ở trẻ em
Hiện nay đang có 2 tiêu chí chẩn đoán được đánh giá rất cao về tính chính xác
và độ tin cậy trong chẩn đoán tự kỷ đó là: 1) Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối
loạn tâm thần, Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM); 2) Hệ thống phân loại bệnh tật thế
giới (International Classification of Diseases, ICD).
*Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối lo n tâm thần, Hội tâm thần học Hoa Kỳ:
Nghiên cứu chứng minh các tiêu chí của DSM-IV-TR có độ tin cậy cao, không
có tiêu chí nào bị thừa [25, tr.163 - 167]. Vì thế, DSM-IV-TR rất hiệu quả trong
việc chẩn đoán bệnh tự kỷ ngay cả khi một bác sĩ chưa có kinh nghiệm chịu trách
nhiệm chẩn đoán. Tuy nhiên, với hội chứng Asperger và PDDNOS, các tiêu chí này
lại không mấy hữu dụng. Theo nghiên cứu của Tryon [23, tr.6] nếu dùng các tiêu

chí của DSM-IV-TR để chẩn đoán hội chứng Asperger, 85% trẻ có bệnh sẽ được
chẩn đoán là không có bệnh. Như vậy, các tiêu chí dành cho hội chứng Asperger
trong DSM-IV-TR chưa phù hợp. Thực tế, các bác sĩ thường chẩn đoán hội chứng
Asperger nếu trẻ có các dấu hiệu của bệnh tự kỷ nhưng không bị chậm nói.

11


Bảng 1.1: Các tiêu chí dùng trong DSM-IV-TR
Nhóm triệu

Tiêu chí chẩn

Hành vi

chứng

đoán bệnh tự kỷ

1. Khi giao tiếp với người khác, trẻ ít dùng cử Có ít nhât 2 hành vi

Nhóm 1:

Hạn chế khả chỉ, dáng điệu, biểu hiện khuôn mặt hay giao thuộc nhóm này
năng tương tiếp bằng mắt.
tác xã hội

2. Không có bạn cùng trang lứa.
3. Không chủ động chia sẻ sở thích và niềm
vui với người khác.

4. Không đáp lại cảm xúc và hành vi của
người khác khi tương tác xã hội

Nhóm 2:

1. Chậm biết nói.

Có ít nhất 1 hành vi

Hạn chế khả 2. Khó có thể gợi chuyện hoặc tiếp chuyện thuộc nhóm này
năng

giao người khác.

tiếp

3. Không biết sử dụng ngôn ngữ đúng cách:
Dùng từ hoặc cấu trúc câu lặp đi lặp lại và sai
nghĩa.
4. Không chơi bắt chước hoặc chơi đóng vai.

Nhóm 3:

1. Sở thích của trẻ rất hạn chế, trẻ bị thu hút Có ít nhất 1 hành vi

Hành vi lặp bởi một vài đồ vật/hành động nhất định.

thuộc nhóm này

đi lặp lại, sở 2. Có hành vi lặp đi lặp lại tạo thành thói quen

thích
chế

hạn cứng nhắc.
3. Có hành vi vận động lặp đi lặp lại và thường
thấy ở trẻ tự kỷ (như vỗ tay, xoay vòng tròn,
v.v.).
4. Chú ý đến một số bộ phận nhất định của đồ
vật
(Nguồn: [25, tr.163 - 167])

12


* Hệ thống phân lo i bệnh tật thế giới (International Classification of
Diseases, ICD).
Theo Hệ thống phân loại bệnh tật thế giới (ICD-10) của Tổ chức Y tế thế giới,
bệnh tự kỷ là bệnh rối loạn phát triển lan tỏa với các triệu chứng như hạn chế khả
năng tương tác xã hội, hạn chế khả năng giao tiếp và có hành vi kém đa dạng, lặp đi
lặp lại (WHO, 1992) [28, tr. 412]. Bệnh phát hiện trước 3 tuổi và tỉ lệ mắc bệnh ở
nam cao gấp 3 - 4 lần ở nữ. Những tiêu chí để chẩn đoán bệnh là:
Một là, trẻ không có khả năng tương tác xã hội như các trẻ cùng tuổi.
Hai là, hành vi và sở thích của trẻ kém đa dạng, trẻ thường lặp đi lặp lại một số
hành vi nhất định.
1.1.3. Trẻ tự kỷ
1.1.3.1. Khái niệm trẻ tự kỷ
Qua lược khảo khái niệm TTK của một số công trình đã công bố, khái niệm TTK
trong luận văn này được tôi đưa ra như sau:“Trẻ tự kỉ là trẻ bị mắc một d ng rối lo n
trong nhóm rối lo n phát triển lan tỏa, trẻ bị tự kỷ có những rối lo n về nhiều mặt,
nhưng biểu hiện rõ nhất là rối lo n về giao tiếp, quan hệ x hội và hành vi .

1.1.3.2. Một số đặc điểm cơ bản của trẻ tự kỷ
Đặc điểm về hình dáng cơ thể: TTK có bề ngoài như bình thường. Các công
bố từ trước tới nay chưa có nghiên cứu nào nói đến sự khác thường về thể trạng bên
ngoài của TTK [11, tr.12].
Đặc điểm cảm giác: Ngưỡng cảm giác của TTK không bình thường. Do đó
trong trị liệu TTK người ta cũng quan tâm nhiều đến trị liệu giác quan hay điều hòa
cảm giác [11, tr.12-13].
Đặc điểm về tư duy, tưởng tượng: TTK cũng gặp khó khăn nhất định trong
tưởng tượng. Do đó, trẻ khó có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những gì có trong trí nhớ, khó
khăn trong việc tổng kết, khái quát để đưa ra kết luận, rút kinh nghiệm [11, tr.13].
Đặc điểm về hành vi: TTK ít quan tâm đến những chuẩn mực xã hội, muốn
làm theo sở thích cá nhân nên rất dễ có những hành vi trái ngược với sự mong đợi
của người khác như: La hét, khóc lóc khi người lớn không đáp ứng sở thích của trẻ,

13


tự ý lấy đồ của người khác mà không mắc cỡ hay sợ sệt. [24, tr.145].
Đặc điểm về chú ý: TTK thường tập trung (dính chặt) vào một tính năng của
một đối tượng (vật thể hoặc một người) và bỏ qua "bức tranh tổng thể". Ngược lại
đối với những gì mà trẻ thích thì trẻ tập trung chú ý rất tốt [11, tr. 15].
Đặc điểm về cảm xúc: TTK gặp phải trở ngại trong tiến trình kết nối làm bạn
với những trẻ khác. Trẻ thường mất nhiều thời gian để hiểu được cảm giác của
người khác, thể hiện cảm xúc, tạo gắn bó với các cá nhân hoặc bộc lộ sự quan tâm
đến người khác [14, tr.35].
Đặc điểm tương tác xã hội: Khả năng tương tác xã hội của TTK là rất kém.
Điều này làm giảm khả năng giao tiếp của trẻ rất nhiều vì môi trường xã hội là môi
trường quan trọng để phát triển các kỹ năng giao tiếp, khó hòa nhập với các bạn khi
đến trường [14, tr.38].
Đặc điểm trí tuệ: Đặc điểm trí tuệ của TTK rất đa dạng. Một số TTK đi kèm

với hội chứng phân rã tuổi ấu thơ là tự kỷ nặng có thoái lùi phát triển.
Đặc điểm về giao tiếp: Trẻ bị suy giảm nhiều trong tương tác qua lại với
mọi người, hầu hết TTK biểu hiện sự cô lập, thích chơi một mình, tránh giao
tiếp với các bạn. Trong giao tiếp hàng ngày TTK không quan tâm đến lời nói
của đối tượng giao tiếp.
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội
1.2.1. Khái niệm công tác xã hội
Từ thực tiễn hoạt động công tác xã hội ở Việt Nam, Bùi Thị Xuân Mai đưa ra
khái niệm công tác xã hội như sau:
“Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các
các nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường
chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và
dịch vụ nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các
vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội” [7, tr. 19].
Trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với khái niệm của tác giả Bùi
Thị Xuân Mai và sử dụng khái niệm này làm khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài
luận văn này.

14


1.2.2. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội
Dịch vụ công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực công tác xã
hội mà ở đó Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) sử dụng những kiến thức, kỹ
năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng
cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường thực hiện chức năng xã hội, đồng thời
thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ trợ giúp cá nhân,
gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo
đảm an sinh xã hội.
1.3. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ

1.3.1. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
Trên cơ sở phân tích những khái niệm về TTK, khái niệm công tác xã hội,
khái niệm dịch vụ công tác xã hội, tôi đưa ra khái niệm về dịch vụ công tác xã hội
đối với TTK như sau:
“Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ là ho t động chuyên nghiệp trong
lĩnh vực công tác xã hội mà ở đó NVCTXH sử dụng những kiến thức, kỹ năng,
phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp trẻ bị tự kỷ, gia đình và x hội nâng cao
năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cư ng thực hiện chức năng x hội, đồng th i
thúc đẩy môi trư ng xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ liên quan tới việc
đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ tự kỷ .
1.3.2. Các loại dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
Dịch vụ CTXH đối với TTK bao gồm những dịch vụ chủ yếu sau: 1/Chẩn
đoán, đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch trợ giúp; 2/Tham vấn/tư vấn cho gia
đình trẻ tự kỷ; 3/Trị liệu; 4/Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức; 5/Vận
động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp; 6/Biện hộ, bảo vệ chính sách.
1.3.2.1. Chẩn đoán, đánh giá nhu cầu, xây dựng kế ho ch trợ giúp
Dịch vụ này được coi là dịch vụ rất quan trọng trong can thiệp trợ giúp TTK
và gia đình trẻ giải quyết vấn đề tự kỷ ở trẻ. Vì thông qua chẩn đoán, đánh giá sẽ
xác định được mức độ phát triển của trẻ theo từng lứa tuổi và các rối loạn cũng như
các vấn đề có liên quan để đánh giá nhu cầu toàn diện và khả năng của TTK cũng

15


như gia đình trẻ, từ đó làm cơ sở cho việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch can
thiệp trợ gúp sát thực và đạt hiệu quả.
Dịch vụ này được cung cấp theo tiến trình sau: 1/Tiếp nhận ca, đánh giá sơ bộ
ban đầu; 2/Thu thập thông tin, chẩn đoán bằng các thang đánh giá; đánh giá nhu cầu
toàn diện; 3/Xây dựng kế hoạch can thiệp/trợ giúp.
Trong dịch vụ này, NVCTXH có vai trò là người đánh giá, điều phối, kết nối,

vì vậy cần phải có kiến thức và kỹ năng tốt, có trình độ chuyên môn sâu, biết đánh
giá các nhu cầu mong muốn đích thực của cha mẹ TTK, xác định được những
nguồn lực phù hợp với nhu cầu của cha mẹ có con bị tự kỷ để từ đó cung cấp, kết
nối một cách có hiệu quả những nhu cầu và nguồn lực đó.
1.3.2.2. Tham vấn/tư vấn cho gia đình trẻ tự kỷ
Trong các dịch vụ CTXH trợ giúp trẻ bị tự kỷ thì tham vấn, tư vấn luôn là hoạt
động chủ đạo vì nó hướng tới mục đích nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề cho
cha mẹ có con bị tự kỷ. Các hoạt động tham vấn/tư vấn được thực hiện theo quy
trình: 1/Thiết lập mối quan hệ; 2/Thu thập thông tin, xác định vấn đề, phân tích
điểm mạnh, điểm yếu; 3/Hệ thống hoá các thông tin; 4/Tìm kiếm các giải pháp hỗ
trợ; 5/Khái quát và truyền tải nội dung cho phụ huynh TTK; 6/Kết thúc.
Trong hoạt động tham vấn, NVCTXH đóng vai trò là nhà tham vấn, cung cấp
thông tin kiến thức, kỹ năng, tạo sự thay đổi. Để hoạt động tham vấn, tư vấn đạt
hiệu quả, NVCTXH cần có kiến thức toàn diện, kỹ năng tốt và sẵn sàng giúp cha
mẹ trẻ tự kỷ xử lý mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống của trẻ và gia đình.
1.3.2.3. Trị liệu
Trên cơ sở kế hoạch can thiệp tổng thể của trẻ, NVCTXH xây dựng kế hoạch
trị liệu 3 tháng, từng tháng, từng tuần cho từng trẻ dựa trên kết quả đánh giá nhu cầu
toàn diện của từng trẻ, xác định mục tiêu, hoạt động, phương pháp, thời gian và
người thực hiện. Căn cứ kế hoạch tuần, NVCTXH xây dựng giáo án trị liệu hàng
ngày cho trẻ.
Các phương pháp trị liệu TTK bao gồm: Trị liệu cảm giác; Luyện tập hành vi
tích cực; Phương pháp chỉnh âm và trị liệu ngôn ngữ; Hoạt động thể chất; Trị liệu
thông qua các môn nghệ thuật; Máy vi tính.
16


1.3.2.4. Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức
Nhân viên CTXH tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận
thức, kỹ năng cho cha mẹ trẻ tự kỷ và cộng đồng:

Truyền thông trực tiếp: Tư vấn nhóm; Tư vấn lưu động; hội nghị truyền thông
tại cộng đồng, trường học; Nói chuyện chuyên đề; tập huấn
Truyền thông đại chúng: Báo, Đài, pa nô, tờ rơi, áp phích, sách, Website, tổng
đài. Các hoạt động này giúp cha mẹ TTK hiểu và tự nhìn nhận vấn đề, phân tích,
đánh giá và tìm kiếm nguồn lực giải quyết vấn đề; tiếp cận các chính sách dành cho
trẻ tự kỷ.
1.3.2.5. Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp
Nhân viên CTXH thực hiện các hoạt động vận động, kết nối nguồn lực cơ bản
và hữu hiệu nhất đến từ phía gia đình cùng với đó là sự phối kết hợp với các nguồn
ngoại lực như cơ chế, chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước; Hội cha mẹ có
con bị tự kỷ; chính quyền, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp cá nhân tại nơi sinh
sống. Vì vậy, trong hoạt động này, NVCTXH đóng vai trò trung gian kết nối cha mẹ
có con bị tự kỷ với các chính sách, dịch vụ và nguồn lực cần thiết để họ tiếp cận, có
thêm sức mạnh giải quyết vấn đề.
NVCTXH cần giúp cho cha mẹ có con bị tự kỷ nói ra được tiếng nói, quan
điểm hoặc đại diện cho cha mẹ có con bị tự kỷ đưa ra tiếng nói và cố gắng đảm bảo
rằng quyền của trẻ em bị tự kỷ luôn được tôn trọng và nhu cầu của TTK luôn được
thoả mãn cũng như mang lại những dịch vụ tốt nhất cho các em. Ngoài ra, điều đó
sẽ góp phần thúc đẩy các cơ quan tổ chức cung ứng các dịch vụ đáp ứng quyền và
lợi ích hợp pháp cho các em, ví dụ như quyền đảm bảo học tập, được hòa nhập với
cuộc sống, quyền được chăm sóc sức khỏe.
1.4. Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước đối với trẻ tự kỷ
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đối
tượng bảo trợ xã hội nói chung và chăm sóc, phục hồi chức năng cho TTK nói
riêng. Trong những năm qua, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng,
ban hành như Luật Người khuyết tật, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày
10/04/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của

17



Luật Người khuyết tật; Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/03/2010 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 20102020;…[16, tr.35]
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, trong giai đoạn vừa
qua, công tác chăm sóc và phục hồi chức năng cho người khuyết tật và TTK đã
phần nào đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của các gia đình trẻ, góp phần quan
trọng thực hiện chính sách an sinh xã hội và ổn định tình hình.
Năm 2006, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về giáo dục hòa
nhập dành cho ngư i khuyết tật (23/2006/QĐ-BGD&ĐT). Theo quy định này,
người khuyết tật được định nghĩa là “Ngư i khuyết tật, không phân biệt nguồn gốc
gây ra khuyết tật, là ngư i bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy
giảm chức năng biểu hiện dưới những d ng tật khác nhau, làm giảm khả năng ho t
động, khiến cho việc sinh ho t, học tập, lao động gặp nhiều khó khăn.
Mục tiêu giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật là: 1) Giúp người khuyết tật
được hưởng quyền học tập bình đẳng như những người học khác; 2) Tạo điều kiện
và cơ hội cho người khuyết tật học văn hóa, học nghề, phục hồi chức năng và phát
triển khả năng của bản thân để hòa nhập cộng đồng. Nguồn tài chính cho giáo
dục hòa nhập người khuyết tật bao gồm ngân sách nhà nước; tài trợ, viện trợ, quà
tặng của các tổ chức xã hội, cá nhân trong nước và ngoài nước; các nguồn thu
hợp pháp khác…
Năm 2013, Bộ Giáo dục Đào tạo và Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã ban
hành Quy định về Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập. Trong quy định
nêu rõ điều kiện và thủ tục thành lập, hoạt động, đình chỉ hoạt động, tổ chức lại, giải
thể Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập. Với hai loại hình công lập và
ngoài công lập, Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập là cơ sở cung cấp nội
dung chương trình, thiết bị, tài liệu dạy và học, các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ giáo dục,
tổ chức giáo dục phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của người khuyết tật.

18



×