Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh tại chi cục thuế huyện nam trực, nam định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.09 MB, 100 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

--------------

LƯU QUANG TUYỂN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ
NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ
HUYỆN NAM TRỰC, NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC:
TS. PHẠM CẢNH HUY

HÀ NỘI - 2013


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

MỤC LỤC
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................................4
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................5
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................6
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................7
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ


NGOÀI QUỐC DOANH ........................................................................................10
1.1. THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ ..................10
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thuế .............................................................10
1.1.1.1 Khái niệm .........................................................................................10
1.1.1.2. Đặc điểm: ........................................................................................12
1.1.2. Vai trò của thuế ....................................................................................15
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH ....19
1.2.1. Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh: .............19
1.2.2. Đặc điểm kinh tế Ngoài quốc doanh: .....................................................19
1.2.3. Ý nghĩa của quản lý thu thuế NQD: .......................................................20
1.2.4. Ưu nhược điểm của kinh tế NQD: ..........................................................22
1.3.1. Một số loại thuế chủ yếu đối với khu vực KTNQD:................................25
1.3.1.1. Thuế môn bài ...................................................................................25
1.3.1.2.Thuế GTGT .......................................................................................27
1.3.1.3. Thuế TNDN .....................................................................................35
1.3.2. Công tác quản lý thuế khu vực KTNQD .................................................37
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu: ...................................40
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH Ở MỘT
SỐ NƯỚC ............................................................................................................41
Kết luận chương I: ...................................................................................................44
Lưu Quang Tuyển

1

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội


CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC ...............................................45
2.1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN NAM TRỰC .............45
2.1.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ...............................................45
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ........................................................................45
2.2. THỰC TRẠNG KTNQD VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ NQD ĐỊA BÀN
HUYỆN NAM TRỰC TRONG NHỮNG NĂM 2009 - 2011 .........................46
2.2.1. Thực trạng KTNQD - ảnh hưởng đến quản lý thu thuế NQD trên địa bàn
huyện .................................................................................................................46
2.2.2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC ........................................................................50
2.2.2.1. Kết quả thu ngân sách năm 2009 ....................................................50
2.2.2.2. Kết quả thu ngân sách năm 2010 ....................................................54
2.2.2.3. Kết quả thu ngân sách năm 2011 ....................................................58
2. 2.3. Đánh giá công tác quản lý thuế trên địa bàn huyện Nam Trực: ...................62
2.2.3.1. Về quản lý đối với các doanh nghiệp Ngoài quốc doanh: ..............63
2.2.3.2.Về quản lý đối với các hộ kinh doanh cá thể: ..................................63
2.2.3.3. Kiểm tra chống thất thu trong quản lý thuế khu vực KTNQD tại
năm 2009 – 2011: .........................................................................................63
2.3. NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU
THUẾ NQD TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ............................................................65
KẾT LUẬN CHƯƠNG II .......................................................................................68
CHƯƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU
THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC .......69
3.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH ..............................................................69
Lưu Quang Tuyển

2


Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

3.1.1. Quản lý thu thuế là nhiệm vụ chung của cơ quan thuế, chính quyền địa
phương và cơ quan liên quan: ..........................................................................69
3.1.2. Bảo đảm bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế: .............................................71
3.1.3. Nuôi dưỡng, phát triển nguồn thu bền vững trên cơ sở hoàn thiện chức
năng của từng sắc thuế và cả hệ thống thuế .....................................................73
3.2. GIẢI PHÁP VỀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI
KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH ..............................................75
3.2.1 Về quản lý đối tượng nộp thuế:................................................................75
3.2.2. Phát huy tác dụng quản lý thu thuế theo quy trình tách ba bộ phận và
quy trình tự tính, tự khai, tự nộp thuế ...............................................................76
3.2.3. Hoàn thiện chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn trong quản lý thu thuế 79
3.2.4. Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương trong
quản lý thu thuế: ...............................................................................................85
3.2.5. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền chính sách thuế: ............................86
3.2.6. Một số giải pháp đặc thù đối với công tác quản lý thu thuế NQD ...............88
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế khu vực
KTNQD:...............................................................................................................91
KẾT LUẬN ..............................................................................................................96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................98

Lưu Quang Tuyển


3

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NQD

Ngoài quốc doanh

NSNN

Ngân sách nhà nước

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

KTNQD

Kinh tế ngoài quốc doanh

CNXH

Chủ nghĩa xã hội


GTGT

Giá trị gia tăng

TTĐB

Tiêu thụ đặc biệt

XNK

Xuất nhập khẩu

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp

TNCN

Thu nhập cá nhân

MB

Môn bài

TSCĐ

Tài sản cố định

ĐTNT


Đối tượng nộp thuế

TKTN

Tự khai tự nộp

QLT

Quản lý thuế

KD

Kinh doanh

DN

Doanh nghiệp

XDCB

Xây dựng cơ bản

UBND

Uỷ ban nhân dân

UNT

Uỷ nhiệm thu


XNK

Xuất nhập khẩu

QLT

Quản lý thuế

TNBQ

Thu nhập bình quân

TNCT

Thu nhập chịu thuế

XDCB

Xây dựng cơ bản

NNT

Người nộp thuế

Lưu Quang Tuyển

4

Khóa 2010 A



Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tính thuế MB căn cứ vào vốn ..................................................................27
Bảng 1.2: Tính thuế MB căn cứ thu nhập bình quân tháng .....................................27
Bảng 2.1:GDP của tỉnh theo giá năm 2000:..............................................................46
Bảng 2.2: Sự phát triển của KTNQD trên địa bàn huyện từ năm 2009 - 2011 .........47
Bảng 2.3: Phân bổ cơ sở sản xuất kinh doanh NQD trên địa bàn huyện theo ngành
nghề hoạt động ở năm 2009 ......................................................................................48
Bảng 2.4: Quy mô và tỷ trọng thu thuế NQD trong NSNN huyện ...........................49
Bảng 2.5: Kết quả thu ngân sách năm 2009 - Phân theo sắc thuế ............................50
Bảng 2.6: Kết quả thu ngân sách năm 2009 - phân theo đơn vị thu .........................51
Bảng 2.7: Kết quả thu ngân sách năm 2010 - phân theo sắc thuế.............................54
Bảng 2.8: Kết quả thu ngân sách năm 2010 - phân theo đơn vị thu .........................54
Bảng 2.9: Kết quả thu ngân sách năm 2011 - phân theo sắc thuế.............................58
Bảng 2.10: Kết quả thu ngân sách năm 2011 - phân theo đơn vị thu .......................59

Lưu Quang Tuyển

5

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên
cứu thực sự của cá nhân tác giả, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý
thuyết, kiến thức kinh điển, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới
sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Cảnh Huy, Giảng viên
tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các đánh
giá, kiến nghị đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm, chưa từng được
công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi
“Hội Đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế ”.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên./.

Tác giả

Lƣu Quang Tuyển

Lưu Quang Tuyển

6

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà
nước, thuế là công cụ chủ yếu để huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
(NSNN), hàng năm số thu về thuế chiếm khoảng 80% đến 90% tổng thu
NSNN và thuế còn là công cụ quan trọng để điều tiết nền kinh tế, kích thích sản
xuất phát triển. Do có vai trò rất quan trọng nên các quốc gia đều rất quan tâm
đến thuế và đưa ra nhiều biện pháp quản lý và thu thuế. Trong các đối tượng
quản lý về thuế thì quản lý thu thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (NQD) là
phức tạp nhất. Đây là khu vực kinh tế gồm nhiều đơn vị sản xuất, hoạt động
trong hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Đây cũng là khu vực khó quản
lý và dễ gây thất thu lớn. Do vậy làm thế nào để quản lý thuế của khu vực kinh tế
NQD vừa bảo đảm thu ngân sách, thực hiện công bằng giữa các chủ thể kinh
doanh, vừa kích thích phát triển sản xuất - kinh doanh của khu vực này đang là
bài toán khó.
Chi cục thuế Nam Trực là một trong những Chi cục thuộc Cục
thuế Tỉnh Nam Định trong nhiều năm đều hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN.
Tuy vậy việc quản lý thu thuế khu vực kinh tế NQD hiện còn nhiều trở ngại
trong cơ chế chính sách, quy trình hành thu còn nhiều vướng mắc, ý thức chấp
hành nghĩa vụ của người nộp thuế còn thấp. Một số hiện tượng tiêu cực còn phổ
biến như: không sử dụng hoá đơn khi bán hàng, khai tăng chi phí, ghi giá thấp,
khai man chốn thuế còn nhiều. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN với nhiều thành phần tham gia, các chủ thể kinh doanh khu
vực kinh tế NQD tăng lên nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô. Việc đẩy
mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế , cơ chế chính sách quản lý từ Trung
ương đến các địa phương. Điều đó đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản quản lý thuế
nói chung và quản lý thu thuế khu vực kinh tế NQD trên địa bàn huyện Nam
Lưu Quang Tuyển

7


Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Trực nói riêng. Việc nghiên cứu để tìm những giải pháp đổi mới, cải tiến quy
trình, thủ tục cũng như đề xuất đổi mới pháp luật, để làm tăng thêm hiệu lực,
hiệu quả của công cụ thuế trở nên rất bức xúc. Đó cũng là lý do chủ yếu của việc
em lựa chọn đề tài: " Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý thu thuế ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Nam Trực, Nam Định”
2. Mục đích và nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích: làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và những giải pháp thiết
thực nhằm tăng cường, hoàn thiện quản lý thu thuế NQD trên địa bàn huyện .
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận của quản lý thu thuế NQD.
+ Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn
huyện.
+ Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện và
tăng cường quản lý thu thuế NQD tại huyện.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý thu thuế khu vực
NQD trong các hoạt động sản xuất- kinh doanh - dịch vụ trên địa bàn tỉnh gồm:
Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ
kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ từ năm 2009 - 2011.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Từ những đánh giá về thực trạng, những ưu điểm, khuyết điểm và
nguyên nhân của những tồn tại của công tác quản lý thu thuế NQD ở huyện
Nam Trực, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện

công tác quản lý thu thuế NQD trên địa bàn huyện hiện nay.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo và các
cán bộ nghiệp vụ ở cơ quan thuế trong quá trình lập dự toán, phân tích, đánh
giá kế hoạch thu, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
Lưu Quang Tuyển

8

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

quản lý thu thuế ở đơn vị. Đảm bảo sự tinh tế trong hành thu; hạn chế đến
mức thấp nhất hiện tượng thất thu thuế; thực hiện công bằng trong điều tiết
thuế ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế.
4. Bố cục của luận văn
Luận văn được kết cấu như sau:
Chƣơng I: Lý luận chung về Thuế và quản lý thu thuế ngoài quốc
doanh.
Chƣơng II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Nam Trực, Nam Định.
Chƣơng III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế
ngoài quốc doanh ở tại Chi cục thuế Nam Trực.

Lưu Quang Tuyển

9


Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

CHƢƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thuế
1.1.1.1 Khái niệm
Việc nghiên cứu về sự tồn tại và phát triển của Nhà nước đã giúp cho
chúng ta hiểu ra một điều đó là: Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của
mình Nhà nước phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội
có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, thu nhập cho Nhà nước. Hình thức
đó chính là thuế. Như vậy thuế là sản phẩm tất yếu từ sự xuất hiện bộ máy
Nhà nước.
Trong quá trình tồn tại của mình, thuế đã được nghiên cứu, định nghĩa
khá nhiều và trên nhiều góc độ khác nhau. Các nhà kinh điển thì cho rằng:
“Thuế cấu thành nên phần thu của chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của
đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản
hay thu nhập của người chịu thuế” (Lê-nin toàn tập), hoặc thuế được quan
niệm rất đơn giản: "Thuế khóa là cái vú sữa của chính phủ"
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta lại cho rằng: Thuế là hình
thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng của Nhà nước.

Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, một khi Nhà nước
chỉ làm nhiệm vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước ở chừng mực nhất định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nước
có thêm nhiệm vụ điều hành, quản lý nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nước
ngày càng nhiều hơn. Đến khi Nhà nước đảm nhận thêm công việc chăm lo
Lưu Quang Tuyển

10

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

đời sống, văn hóa, xã hội của cộng đồng thì thuế lại được động viên càng lớn
với nhiều sắc thuế và ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế.
Như vậy, khi vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước ngày càng được mở
rộng, đòi hỏi nguồn tài chính phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tăng lên.
Điều đó, không thể thiếu sự đóng góp của người dân và các tổ chức kinh tế,
đó là thuế.
Theo phân tích trên, thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà
nước và thuế ra đời khi hoạt động lao động sản xuất của xã hội loài người tạo
ra sản phẩm thặng dư. Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự chuyển
dịch giá trị sản phẩm thặng dư từ thành phần kinh tế này sang thành phần kinh
tế khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác rất đa dạng và phức tạp. Cho nên,
đứng trên giác độ toàn xã hội, đòi hỏi phải có hệ thống thuế để điều tiết thỏa
đáng số sản phẩm thặng dư xã hội tạo ra sao cho hợp lý và công bằng. Vì vậy,
khi xã hội càng văn minh thì thuế khóa lại càng đa dạng và phát triển.

Tóm lại, qua quá trình phát triển của Nhà nước và thuế cho chúng ta
thấy, thuế và Nhà nước là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn
tại tất yếu phải có thuế. Thuế là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của Nhà nước. Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về
thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một
khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện
đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước
ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng
nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng
xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và
pháp luật.

Lưu Quang Tuyển

11

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

1.1.1.2. Đặc điểm:
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có
của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển.
Nghiên cứu về thuế người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt
với các công cụ tài chính khác.
Đặc điểm thứ nhất: Thuế có tính pháp lý và tính cưỡng chế cao.
Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng thuế là nguồn thu chủ yếu đảm bảo cho sự

tồn tại và phát triển của Nhà nước, bởi vậy việc đóng thuế là nghĩa vụ bắt
buộc đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân cho Nhà nước. Nghĩa vụ này được
quy định cụ thể trong luật của mỗi quốc gia sao cho phù hợp với từng đối
tượng đóng thuế. Việc không thực hiện đúng nghĩa vụ thuế là đã vi phạm
pháp luật và sẽ bị cưỡng chế thực hiện hoặc xử lý theo đúng pháp luật.
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó
phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN. Đặc
điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được
hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động
viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt
buộc dưới hình thức thuế - như một nhà kinh tế định nghĩa: là một phương
thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu
nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo
một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác trực tiếp cho người nộp thuế.
Tính chất cưỡng chế bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt
nguồn từ những lý do sau:
- Một là: hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không
gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương
pháp tự nguyện trong việc chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công
cộng, Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối
Lưu Quang Tuyển

12

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội


tượng có thu nhập phải chuyển giao.
- Hai là: trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng
về hàng hóa công cộng ngày càng tăng cao. Để duy trì hoạt động đó thì thu
nhập về hàng hóa công cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp đủ các
chi phí bỏ ra. Nhưng hàng hóa công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không
thể phân bổ theo "khẩu phần" để sử dụng và người thụ hưởng cũng không
muốn sử dụng theo "khẩu phần". Mặt khác, hàng hóa công cộng không có
tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị trường để bù đắp
các chi phí. Chính vì vậy trong việc cung cấp hàng hóa công cộng đã xuất
hiện những "người ăn không", nghĩa là không ai tự nguyện trả tiền cho việc
thụ hưởng hàng hóa công cộng. Do đó, để đảm bảo cung cấp hàng hóa công
cộng, Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để buộc "người ăn
không" phải chuyển giao thu nhập từ khu vực tư sang khu vực công. Tuy
nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hành động
đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có biểu hiện
phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của
người công dân.
Từ đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài
chính khác của NSNN như: lệ phí, công trái hoặc hình thức phạt bằng tiền.
Hình thức phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt tiền chỉ
xảy ra đối với người nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật làm phương hại đến
lợi ích nhà nước hoặc cộng đồng. Hình thức phí, lệ phí, công trái nói chung
mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá. Tính bắt buộc của phí và lệ phí
chỉ xảy ra khi người trả phí, lệ phí thụ hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà
nước cung cấp.
Đặc điểm thứ hai: Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả
trực tiếp.Thuế thu được sẽ sử dụng vào các khoản chi tiêu của Nhà nước như
Lưu Quang Tuyển


13

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

là chi tiêu công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, trợ cấp…mọi đối tượng trong
xã hội dù nộp nhiều, nộp ít thậm chí không nộp thuế đều được hưởng các
phúc lợi xã hội từ Nhà nước một cách bình đẳng. Điều này cho thấy rằng số
thuế mà các đối tượng phải nộp được tính toán dựa trên hoạt động và thu nhập
của họ chứ không phải dựa vào phúc lợi xã hội mà họ được hưởng. Mặt khác,
thuế được hoàn trả thông qua phúc lợi xã hội chứ không phải trả bằng những
khoản tiền mà các đối tượng đã nộp sau một thời gian nhất định.
Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính
chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho Nhà
nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thụ hưởng những dịch
vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế cũng
không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng
trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước;
mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất
thiết ngang bằng mức độ chuyển giao. Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít
chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội cũng như nhu cầu tài chính chung của Nhà nước.
Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không được
hoàn trả trực tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một
phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng,

giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ
nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế và
các khoản phí, lệ phí.
+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước
bằng luật pháp:
Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác
Lưu Quang Tuyển

14

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

phản ánh sự chuyển giao thu nhập không mang tính chất tùy tiện mà dựa trên
những cơ sở pháp luật nhất định và đã được xác định trước trong Luật thuế;
Pháp lệnh thuế. Những tiêu thức thường được xác định trước trong các Luật
thuế, Pháp lệnh thuế là: đối tượng chịu thuế; đối tượng nộp thuế; mức thuế
phải nộp; thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác.
+ Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh
hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định:
Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của
nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự
biến động của NSNN....
Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trị
của Nhà nước, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn
hóa, xã hội của dân tộc...

Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội
nên người ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp.
+ Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới
hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối
với con người và tài sản.
Tóm lại: những đặc điểm cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản
chất và nội dung bên trong của thuế. Từ những đặc điểm đó, giúp chúng ta
phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều
phương diện khác nhau.
1.1.2. Vai trò của thuế
Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia thuế đóng một vai trò hết sức
quan trọng
Thứ nhất: thuế là nguồn thu chủ yếu và lâu dài của ngân sách quốc gia
Ngân sách có thể huy động nguồn thu bằng nhiều cách khác nhau như đi vay,
Lưu Quang Tuyển

15

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

bán tài nguyên hay tài sản quốc doanh… nhưng không có một nguồn thu nào
mang tính chất bền vững và cơ bản như thuế. Tỷ trọng thu từ thuế thường
chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của Ngân sách nhà nước, tuy nhiên không
phải vì thế mà chính phủ các nước có thể tìm mọi cách để tăng thu từ thuế,
bởi vì, nếu tăng thuế đến một mức quá cao thì phần còn lại cho các đối tượng

nộp thuế ít đi, họ sẽ cảm thấy không xứng đáng với công sức mình bỏ ra và
như vậy ham muốn làm việc giảm xuống, kết quả là sản xuất kinh doanh
không được khuyến khích mở rộng, số thuế thu về của Nhà nước tất yếu sẽ
giảm đi. Để đảm bảo nguồn thu này ngày càng gia tăng thì Chính phủ các
nước phải có những biện pháp thích hợp, đảm bảo hài hòa lợi ích của cả Nhà
nước và đối tượng nộp thuế. Vì vậy khi đánh thuế cần tuân thủ các nguyên tắc
như: Nguyên tắc lợi ích, nguyên tắc khả năng thanh toán, nguyên tắc công
bằng dọc và nguyên tắc công bằng ngang.
Thứ hai: thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Nếu như trong cơ chế
kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế
xã hội bằng hệ thông các mệnh lệnh, chỉ tiêu, các kế hoạch từ trung ương đến
địa phương, thì ở cơ chế nền kinh tế thị trường Nhà nước chỉ quản lý ở tầm vĩ
mô bằng các định hướng, biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã
hội đã đề ra. Sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt: khuyến
khích và hạn chế. Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơ cấu các
loại thuế và mối quan hệ giữa chúng cũng như việc xác định thuế suất, chế độ
miễn - giảm thuế phù hợp với điều kiện thực tế. Khuyến khích đối với những
ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho nền kinh tế quốc dân
hoặc những ngành nghề những hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho đại
đa số quần chúng nhân dân thì áp dụng thuế suất thấp. Hạn chế, thu hẹp những
ngành nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, cho nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân hoặc những ngành nghề ảnh hưởng đến thuần phong mỹ
Lưu Quang Tuyển

16

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

tục, đến sức khỏe của nhân dân thì áp dụng thuế suất cao. Trong nền kinh tế
thị trường, các thành phần kinh tế tự do lựa chọn ngành nghề sản xuất, kinh
doanh, với mục tiêu đầu tư vào những ngành nghề nào mang lại lợi nhuận cao
nhất mà không tính đến hậu quả để lại sau quá trình sản xuất kinh doanh. Nhà
nước dùng công cụ thuế để điều chỉnh và hướng các hoạt động sản xuất kinh
doanh đi vào con đường phát triển có hiệu quả mang lại nhiều lợi ích cho
quốc kế dân sinh.
Trong điều kiện nay, hệ thống thuế của Nhà nước Việt Nam thể hiện
rất rõ quan điểm khuyến khích các ngành nghề sản xuất hơn là các hoạt động
thương mại, dịch vụ. Sản xuất các mặt hàng thiết yếu được khuyến khích hơn
sản xuất các mặt hàng và dịch vụ khác. Để khuyến khích các ngành nghề sản
xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu cần thiết khi
trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu
cầu, hay đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng không
thuận lợi cho sức khỏe, sinh hoạt của người dân,... Nhà nước thường áp dụng
thuế ưu đãi để thúc đẩy kinh tế phát triển một cách có hiệu quả, đồng bộ theo
hướng có lợi cho quốc kế dân sinh.
Hiện nay, Nhà nước ta sử dụng tổng hợp hệ thống chính sách thuế,
nhằm: khuyến khích mạnh mẽ các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật; góp
phần thúc đẩy việc khai thác vật tư nguyên liệu trong nước, tranh thủ vốn đầu
tư nước ngoài để mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa đẩy mạnh xuất
nhập khẩu đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và tích lũy; bảo đảm lợi ích giữa Nhà
nước và xã hội, lợi ích của các bên hợp tác, vừa đảm bảo sản xuất trong nước
phát triển nâng cao đời sống của người dân.
Thứ ba: thuế là công cụ tác động vào sự phân bổ nguồn lực trong xã
hội. Xét về mặt tiêu dùng, thuế đã phân bổ lại các nguồn lực từ cách sử dụng

Lưu Quang Tuyển

17

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

tư nhân sang sử dụng công cộng. Xét về mặt sản xuất, thuế có thể làm thay
đổi quyết định đầu tư của các hãng sản xuất kinh doanh bằng cách đầu tư vào
những mặt hàng có nhiều ưu đãi thuế suất và rút dần khỏi các mặt hàng có
mức thuế suất cao.
Thứ tư: thuế là công cụ để điều hoà thu nhập thực hiện công bằng xã
hội trong phân phối. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân trong xã hội ngày càng có xu hướng
gia tăng. Đây là một "khiếm khuyết" lớn mà nền kinh tế thị trường - bản thân
nó không tự giải quyết được. Hậu quả của vấn đề này không chỉ ảnh hưởng
đến đạo đức và công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi giữa
các tầng lớp dân cư trong cộng đồng. Để giải quyết tình trạng này Nhà nước
cần có các biện pháp cụ thể mà một trong những giải pháp đó là thuế. Thông
qua thuế thu nhập, thuế thu nhập cá nhân, Chính phủ sẽ khấu trừ thu nhập của
các cá nhân theo những tỉ lệ khác nhau hoặc thông qua thuế tiêu thụ đặc biệt
đánh vào các hàng hoá mà chỉ có lớp người giàu mới tiêu thụ. Số thuế thu
được sẽ đầu tư vào các chương trình trợ giúp cho người nghèo, giảm bớt
khoảng cách giàu nghèo, tạo công bằng xã hội.
Trong thực tế, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự đóng
góp của cộng đồng, của toàn xã hội. Chính vì vậy mà thành quả kinh tế đạt

được trong hiện tại và tương lai phải được phân phối trên cơ sở của cộng
đồng. Cho nên, cần có sự can thiệp của Nhà nước trong quá trình phân phối
thu nhập, sự phân phối này chủ yếu nhờ vào công cụ thuế để điều tiết. Nền
kinh tế của nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có
sự quản lý của Nhà nước, thì vai trò tạo sự bình đẳng giữa các thành phần
kinh tế và người dân trong động viên điều tiết thuế và công bằng xã hội ngày
càng được nâng cao hơn, bao quát hơn.

Lưu Quang Tuyển

18

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC
DOANH
1.2.1. Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế Ngoài quốc
doanh:
Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc nghiên cứu KTNQD nói chung
và thuế đối với KTNQD nói riêng không thể tách rời việc nghiên cứu những
đặc điểm của môi trường mà KTNQD tồn tại và phát triển. Đó chính là nền
kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN.
1.2.2. Đặc điểm kinh tế Ngoài quốc doanh:
Trong cơ chế thị trường nền kinh tế bao gồm hai khu vực: Kinh tế nhà

nước chủ yếu thực hiện chức năng dịch vụ công cộng, nặng về mục tiêu chính
là lợi ích chung của toàn xã hội; KTNQD chủ yếu làm chức năng kinh doanh
mưu cầu lợi nhuận. Từ đó trong cơ cấu sản xuất xã hội, KTNQD được coi là
một thực thể khách quan, gồm các thành phần kinh tế được xác định tùy theo
đặc điểm kinh tế - xã hội và đường lối chính trị của mỗi Nhà nước trong từng
giai đoạn khác nhau như: kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh
tế tư bản nhà nước...
Khu vực KTNQD: là khu vực kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhân
hoạt động kinh doanh bằng vốn của các tổ chức, của một số cá nhân góp lại;
hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận. KTNQD
có nhiều đặc điểm riêng biệt, nhưng có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản sau:
+ Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do tư nhân quản lý và phân phối
lợi nhuận;
+ Có tính tư hữu cao, trình độ phổ biến thấp, cho nên hiểu biết về luật
cũng như ý thức chấp hành pháp luật chưa cao;
+ Vốn ít, số lượng cơ sở nhiều, nằm rải rác, phân tán ở tất cả các địa
phương trong cả nước;
+ Số thu hàng năm chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số thu ngân sách;
Lưu Quang Tuyển

19

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

+ Thường xuyên biến động về số lượng cơ sở, tùy thuộc vào chính

sách, chế độ của Nhà nước trong từng thời điểm;
Mục tiêu của chủ doanh nghiệp trong khu vực KTNQD chính là lợi
nhuận, do vậy không ít cơ sở luôn tìm mọi cách, mọi sơ hở của cơ quan thuế,
cán bộ thuế, chính sách, chế độ, để luồn lách, trốn thuế.
Các hình thức tồn tại phát triển của khu vực KTNQD rất đa dạng với
số lượng lớn, ý thức trong việc thực hiện luật pháp với mức độ khác nhau, tùy
theo trình độ phát triển ở mỗi quốc gia. Song rõ ràng đây là một khu vực phức
tạp trong quản lý thu thuế.
Trên địa bàn huyện trong những năm gần đây số lượng cơ sở NQD tăng
nhanh, cụ thể khối doanh nghiệp NQD: năm 2009 có 135 doanh nghiệp, năm
2010 có 144 doanh nghiệp, năm 2011 có 167 doanh nghiệp; khối hộ kinh doanh
cá thể: năm có 2009 có 2.300 hộ, năm 2010 có 2.567 hộ, năm 2011 có 2.800
hộ (hộ thuộc diện quản lý thuế môn bài).
Sự phát triển ở khu vực KTNQD ở nước ta những năm qua đã tạo
thêm nhiều của cải vật chất cho xã hội, giải quyết việc làm cho người lao
động, góp phần không nhỏ vào sự ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế.
1.2.3. Ý nghĩa của quản lý thu thuế NQD:
Trong tổng thu NSNN hàng năm, thuế công thương nghiệp dịch vụ
NQD tuy không chiếm tỷ trọng lớn chỉ ở mức 17%, nhưng lại là lĩnh vực khó
khăn phức tạp hơn cả. Công tác quản lý thu thuế NQD không chỉ đơn thuần
phục vụ cho mục tiêu thu ngân sách mà chính là thực hiện vai trò quản lý của
Nhà nước đối với khu vực KTNQD; thông qua công cụ thuế thực hiện yêu
cầu quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Quản lý thu thuế NQD
có vai trò quan trọng trong việc đưa chính sách, pháp luật vào hoạt động kinh
doanh và phát huy tác dụng của chính sách. Quản lý thu thuế NQD không chỉ
góp phần tăng thu cho ngân sách mà còn góp phần đảm bảo thực hiện công
Lưu Quang Tuyển

20


Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

bằng xã hội và tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở sản xuất kinh
doanh thuộc các thành phần kinh tế. Trên cơ sở quan niệm và tiếp cận
KTNQD từ góc độ thuế, quản lý thu thuế NQD có một số ý nghĩa chủ yếu
sau:
+ Góp phần tích cực trong việc tạo môi trường kinh tế, pháp lý và tạo
sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh; thực hiện chức năng kiểm soát,
định hướng phát triển của Nhà nước đối với khu vực KTNQD; thúc đẩy nền
kinh tế hàng hóa phát triển nhanh chóng và đúng hướng; thúc đẩy cơ sở thực
hiện hạch toán kinh doanh, huy động triệt để nguồn vốn ngày càng có hiệu
quả, sử dụng nguồn lao động, thiết bị tốt hơn, từ đó tạo bước chuyển biến mới
trên lĩnh vực tài chính.
+ Công tác thuế đã góp phần quan trọng phát huy mặt tốt của kinh tế
thị trường và hạn chế những mặt trái của nó. Đất nước ta, nhiều năm qua đã
thực hiện mô hình kinh tế thị trường, bên cạnh những ưu điểm đã bộc lộ rõ
những khuyết tật lớn, đó là phân hóa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, là điều
kiện để phát sinh tệ nạn tham nhũng, tha hóa bản chất đạo đức của con người,
do kinh doanh chạy theo lợi nhuận bất chấp cả luật pháp. Hoạt động quản lý
thu thuế đã góp phần hạn chế những mặt trên, thông qua thu thuế đã góp phần
điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã
hội, định hướng cho KTNQD phát triển có lợi cho nền kinh tế quốc dân và tạo sự
cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh.
+ Quản lý thu thuế NQD còn giáo dục ý thức và trách nhiệm của công
dân trong việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Thông qua công tác tuyên

truyền giáo dục pháp luật thuế đã làm cho người dân hiểu được những quy
định của Nhà nước và tự giác chấp hành. Các đối tượng nộp thuế thuộc khu
vực KTNQD rất đa dạng, nhiều nơi trình độ dân trí chưa cao, ý thức chấp
hành luật pháp của dân chưa nghiêm, sự hiểu biết về pháp luật và nhận thức
Lưu Quang Tuyển

21

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

về trách nhiệm nghĩa vụ công dân chưa đầy đủ, thông qua quản lý thu thuế
cán bộ, nhân viên ngành thuế đã truyền đạt chính sách pháp luật của Đảng,
Nhà nước, giới thiệu, giải thích chính sách thuế và sự cần thiết của thuế trong
sự tồn tại và phát triển của đất nước cho người dân nói chung và đối tượng
nộp thuế nói riêng để mọi công dân tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình với
Nhà nước, dần dần đã góp phần nâng cao thêm ý thức chấp hành luật pháp
của người dân. Đồng thời thông qua công tác tuyên truyền pháp luật thuế
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý thu thuế, đảm bảo thu đúng, thu
đủ, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách, đó chính là mục tiêu phấn đấu của
ngành thuế.
1.2.4. Ƣu nhƣợc điểm của kinh tế NQD:
- Về ưu điểm: KTNQD có tiềm năng lớn về trí tuệ, kiến thức, tiền vốn,
lao động, sản phẩm, hợp tác, liên doanh, liên kết...
+ Tiềm năng quan trọng nhất của KTNQD là khả năng vô tận về trí
tuệ, sáng kiến cá nhân trong đội ngũ những người lao động, trong nhân dân. Đối

với nước ta, khi công cuộc đổi mới được triển khai từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI, nhiều sáng kiến cá nhân của quần chúng lao động, của nhân dân
đã và đang được phát huy cả trong lao động sản xuất cũng như trong việc tìm
tòi các hình thức kinh doanh thích hợp, năng động, từng bước đáp ứng yêu
cầu ngày càng đa dạng và phong phú của thị trường.
+ Tiềm năng về kiến thức, kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề,
đặc biệt là phát huy kiến thức, bí quyết truyền thống được tích lũy qua nhiều
đời là nguồn tiềm năng vô cùng to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế nếu được
khởi động với những chính sách, chủ trương thích hợp.
+ Nguồn vốn trong khu vực KTNQD nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ
khác đã và đang được tích lũy ngày càng lớn. ở hầu hết các nước, nguồn vốn đầu
tư từ phía Nhà nước không đáng kể (chiếm từ 13% - 30% tổng vốn
Lưu Quang Tuyển

22

đầu tư).
Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

+ KTNQD có tiềm năng lao động to lớn và góp phần đáng kể vào
việc giải quyết việc làm cho xã hội. ở nước ta hàng năm bình quân có thêm
khoảng 1,243 triệu người đến tuổi lao động bao gồm: lực lượng thanh niên đến
tuổi lao động, số học sinh tốt nghiệp dạy nghề, trung học, cao đẳng, đại học
hoặc những người lao động thất nghiệp do sắp xếp lại biên chế trong các cơ
quan, đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc do sắp xếp lại sản xuất trong các

ngành kinh tế quốc dân, những người bán thất nghiệp ở nông thôn, thành thị.
Đây là nguồn lao động rất dồi dào mà Nhà nước ta chưa khai thác hết được. Nếu
chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước thì sẽ không đáp ứng được hết nhu
cầu việc làm cho những người lao động. Chỉ thông qua KTNQD với mọi hình
thức, mọi quy mô, mọi loại ngành nghề, áp dụng nhiều phương thức tổ chức,
sử dụng một cách linh hoạt mọi loại lao động của xã hội mới có thể tận dụng
được các lực lượng dôi thừa.
+ KTNQD còn là môi trường thuận lợi để hợp tác kinh tế với nước
ngoài. Trong nền kinh tế mở hiện nay, sự giao lưu với các nước phát triển
mạnh về mọi mặt đó là một tất yếu khách quan. Đại hội Đảng lần IX đã
xác định: Phát triển đa dạng kinh tế nhà nước dưới các hình thức liên doanh,
liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước, ngoài
nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh; chú trọng
phát triển các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu,
giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước, ngoài nước.
Tại các nước, liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do KTNQD thực
hiện vì là khu vực năng động, làm ăn có hiệu quả, thích ứng nhanh với sự
biến động hoặc thay đổi của thị trường, của khách hàng. Trong khi đó ở nước
ta hiện nay, các liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do kinh tế nhà nước
thực hiện. Nhiều Việt kiều muốn đầu tư về quê hương gặp không ít khó khăn
trong việc tìm đối tác liên doanh.
Lưu Quang Tuyển

23

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

+ Sự đa dạng của KTNQD tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phong phú
đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm. Thực tế
nhiều năm qua ở các nước XHCN và ở Việt Nam đều cho thấy nền kinh tế
chủ yếu dựa trên Kinh tế nhà nước thì hàng hóa sẽ nghèo nàn về chủng loại,
số lượng. Ở Liên Xô cũ, sau 70 năm xây dựng CNXH với hàng ngàn doanh
nghiệp nhà nước chỉ có 10 triệu loại sản phẩm. Trong khi đó ở Nhật Bản một
nước nhỏ bé hơn nhiều về dân số và diện tích có tới 1,4 triệu doanh nghiệp
với hơn 50 triệu loại sản phẩm. Ở nhiều nước Đông Nam Á, KTNQD đang
được đánh giá là nguồn lực chủ yếu làm tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong
lĩnh vực xuất khẩu, có thể tạo thu nhập quốc dân tính theo đầu người tăng lên
rất nhanh.
Ở Việt Nam, tuy KTNQD mới được công nhận và phục hồi nhưng
trong những năm qua đã xác định được chỗ đứng xứng đáng, có vai trò quan
trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Sự đóng góp của KTNQD không chỉ dừng lại ở mặt làm tăng tổng sản
phẩm trong nước, đa dạng hàng hóa với nhiều mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý mà
còn tạo ra môi trường thuận lợi cho giải quyết việc làm, nâng cao đời sống xã
hội, cả cho người sản xuất lẫn người tiêu dùng.
Từ một số thế mạnh của KTNQD, có quan điểm muốn tư nhân hóa
một cách triệt để nhằm huy động được tối đa mọi nguồn lực, khai thác mọi
tiềm năng, lợi thế đang tiềm ẩn trong KTNQD. Thực ra, quan điểm này chưa
thấy hết được những khiếm khuyết của KTNQD. Tuy là một khu vực năng
động nhưng nếu thiếu định hướng và không bao quát hết mọi nhu cầu xã hội,
tự phát theo cơ chế thị trường, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ
quan nhà nước thì sẽ có không ít cơ sở hoạt động vô chính phủ, kinh doanh
trái phép, buôn bán trốn lậu thuế. Điều đó càng trở nên khó khăn, phức tạp đối
với một nền kinh tế sản xuất nhỏ, phân tán, chưa quen với văn minh công
Lưu Quang Tuyển


24

Khóa 2010 A


×