Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

TIỂU LUẬN CHỐNG DIỄN BIẾN hòa BÌNH đối với CÁCH MẠNG VIỆT NAM bài học từ sự sụp đổ của LIÊN xô

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (357.13 KB, 31 trang )

CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG
VIỆT NAM - BÀI HỌC TỪ SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ
MỞ ĐẦU
Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 thắng lợi đã đưa loài
người bước vào thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội (CNXH) trên phạm vi toàn thế giới. Sau cách mạng, nước Nga
Xô viết ra đời, chủ nghĩa xã hội từ mục tiêu, lý tưởng, từ lý luận khoa học trở
thành hiện thực.
Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô đã đạt được những thành
tựu to lớn. Đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX, Liên Xô đã trở thành một
siêu cường quốc, có tiềm lực kinh tế, chính trị, khoa học, quốc phòng - quân
sự lớn, đủ sức răn đe, làm nản lòng tham vọng của các nước đế quốc dùng
chiến tranh để thiết lập lại trật tự thế giới, thực sự là thành trì của hoà bình thế
giới, là chỗ dựa của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Từ giữa cuối những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế xã hội của Liên
Xô bộc lộ sự trì trệ và khủng hoảng nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Đảng
Cộng sản Liên Xô chủ trương “cải tổ”. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, cả
chủ quan và khách quan, quá trình cải tổ đi vào sai lầm và bế tắc dẫn đến rối
loạn chính trị, và cuối cùng là sự sụp đổ. Sự sụp đổ của chế độ XHCN Liên
Xô tạo nên “cơn chấn động” chính trị lớn nhất trong lịch sử phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế.
Sau khi Liên Xô sụp đổ đã có nhiều người nghiên cứu một cách có hệ
thống, đưa ra nhiều nguyên nhân cả sâu xa và trực tiếp, cả bên trong và bên
ngoài để cắt nghĩa, lý giải về sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô. Các
công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận sự sụp đổ của Liên Xô có nguyên
nhân sâu xa là do sự suy yếu về chính tri, tư tưởng và tổ chức của Đảng Cộng

1


sản Liên Xô. Điều này đã tạo ra “mảnh đất màu mỡ” cho các thế lực thù địch


cả bên trong và bên ngoài chống phá, góp phần thúc đẩy Liên Xô sụp đổ.
“Chủ nghĩa xã hội đã có lịch sử hơn 70 năm, có thành công và có thất bại,
đó là nguồn kinh nghiệm vô giá”.1 Sự sụp đổ của Liên Xô đã để lại cho phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong
đó có bài học luôn luôn cảnh giác cách mạng, đẩy mạnh đấu tranh phòng,
chống chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đối với phong
trào cách mạng.
“Diễn biến hoà bình” được Mỹ và các nước đế quốc phát triển, hoàn
thiện, trở thành một học thuyết chiến lược, một phương thức tấn công chủ yếu
của chủ nghĩa đế quốc để tiến hành các cuộc vận động phản cách mạng hòng
lật đổ các nước XHCN từ bên trong.
“Diễn biến hoà bình” đã được đế quốc Mỹ và các nước đồng minh thực
hiện thành công ở Liên Xô. Sau khi cả nước giành được độc lập, thống nhất đi
lên CNXH, đặc biệt là sau khi các nước XHCN ở Đông Âu và Liên xô sụp đổ,
nước ta trở thành một trọng điểm chống phá trong chiến lược “diễn biến hoà
bình” của chủ nghĩa đế quốc. “Diễn biến hoà bình” thực sự trở thành một
trong bốn nguy cơ lớn đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.
Bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô, do chiến lược “diễn biến hoà bình”
của các nước đế quốc gây ra, vẫn còn nguyên giá trị đối với cách mạng Việt
Nam hiện nay. Vì vậy, nghiên cứu về chiến lược “diễn biến hoà bình” của các
thế lực phản cách mạng tiến hành ở Liên Xô để hiểu đúng âm mưu, thủ đoạn
của kẻ thù; nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh làm thất bại
chiến lược “diễn biến hoà bình” của các nước đế quốc đối với cách mạng
nước ta là vấn đề có ý nghĩa cấp bách và lâu dài, là một trong những bảo đảm

1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
1991, tr.110.


2


để chúng ta thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
NỘI DUNG
1. Chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc tiến
hành ở Liên Xô
1.1. Một số vấn đề cơ bản về chiến lược “diễn biến hoà bình”
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô ngày càng lớn mạnh. Với sự
giúp đỡ của Liên Xô, hàng loạt nước XHCN ở Đông Âu ra đời. Ở châu Á,
tháng Tám năm 1945, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta dưới sự
lãnh đạo của Đảng giành được thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà,
nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời; tháng 10 năm 1949, cách
mạng Trung Quốc thắng lợi. Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc như một
“quả cân tạ” đặt lên bàn cân làm tương quan so sánh lực lượng giữa CNXH
và chủ nghĩa tư bản có sự thay đổi lớn, thế và lực của CNXH ngày càng lớn
mạnh. Chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới, là đối trọng với hệ
thống tư bản chủ nghĩa. Bộ trưởng ngoại giao Mỹ A.Đalét nhận định rằng:
“Đế quốc cộng sản có trong tay mình các nhân tố để nó có sức mạnh to lớn”, 1
“bóng ma cộng sản” trở thành một “nguy cơ” ám ảnh, đe doạ sự tồn vong của
chủ nghĩa tư bản.
Để ngăn chặn sự lớn mạnh của các nước XHCN, người đứng đầu Nhà
Trắng lúc bấy giờ là Tơruman đề ra “chiến lược ngăn chặn”, sử dụng thủ đoạn
cứng rắn, quả đấm sắt, sức mạnh quân sự, con bài chủ lực là bom nguyên tử,
để “đu đưa bên bờ vực chiến tranh” hòng răn đe, ngăn chặn ảnh hưởng của
Liên Xô ra thế giới với mong muốn làm thay đổi cục diện lịch sử, tăng cường
vị thế của Mỹ và hệ thống tư bản chủ nghĩa.
Quá trình thực hiện, “chiến lược ngăn chặn” đã không đem lại kết quả
mong muốn cho giới cầm quyền ở Mỹ. Điều này buộc Mỹ phải thay đổi

1

Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Diễn biến hòa bình và đấu tranh chống diễn biến hòa bình (Hỏi và
đáp), Nxb QĐND, Hà nội 2006, tr. 30.

3


quan điểm, tìm kiếm một phương thức hiệu quả hơn để bổ sung cho “chiến
lược ngăn chặn”.
G.Kennan, đại diện lâm thời sứ quán Mỹ tại Liên Xô, cha đẻ của các
biện pháp “diễn biến hoà bình”, đã đề xuất ý tưởng dùng tổng hợp các biện
pháp chống Liên Xô như: bao vây quân sự, cô lập kinh tế, lật đổ chính trị,
tăng cường viện trợ cho các nước xung quanh Liên Xô, kể cả các nước XHCN
Đông Âu để cổ vũ các lực lượng chống cộng, chống Liên Xô trên thế giới.
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, “diễn biến hoà bình” từng bước
được nâng lên thành chiến lược. “Diễn biến hoà bình” thực sự trở thành chiến
lược toàn diện vào những năm 80 của thế kỷ XX và trở thành mũi tiến công
chủ yếu của đế quốc Mỹ và các nước đồng minh của nó vào CNXH. “Chiến
lược “diễn biến hoà bình” là chiến lược tổng hợp của chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu chống phá, tiến
tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa”.1
Chiến lược “diễn biến hoà bình” là một cuộc chiến tranh không có khói
súng, nó được thực hiện bằng các biện pháp phi vũ trang là chủ yếu, kết hợp
với bạo loạn lật đổ và hoạt động quân sự hỗ trợ. Mục tiêu xuyên suốt của “diễn
biến hoà bình” là xoá bỏ CNXH trên phạm vi toàn thế giới, và các nước có
đường lối chính trị tiến bộ, không thân Mỹ. Để thực hiện mục tiêu đó, chiến
lược “diễn biến hoà bình” được xác định là tạo ra sự bất ổn trong lòng các nước
XHCN và các nước tiến bộ trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội,
văn hoá, tư tưởng...

Mục tiêu trước mắt của chiến lược “diễn biến hoà bình” được biểu hiện
trên tất cả các lĩnh vực.
Một là, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư
sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của chiến lược “diễn
biến hoà bình” cho rằng, tư tưởng là lĩnh vực có tầm quan trọng hàng đầu, vì
1

Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Diễn biến hòa bình và đấu tranh chống diễn biến hòa bình (Hỏi và
đáp), Nxb QĐND, Hà nội 2006, tr. 9.

4


vậy, mục tiêu phải đạt tới là tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương và coi đó
là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hoà bình”.
Hai là, xoá bỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản, thực hiện đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Luận điệu được sử
dụng thường xuyên là đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo là “độc tài”, là “bóp
nghẹt dân chủ”, vì thế phải thay thế bằng chế độ chính trị đa đảng. Từ đó, tìm
mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị
trong các nước xã hội chủ nghĩa.
Ba là, gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.
Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề
“dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá
vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng
vào các cuộc bạo loạn chính trị. Các thế lực thù địch bỏ ra nhiều công sức và
cả tiền bạc để lôi kéo, tập hợp “những người bất đồng chính kiến”, thực chất
là những phần tử chống chủ nghĩa xã hội, phủ nhận sự lãnh đạo của đảng
cộng sản, dùng họ làm “cơ sở”, “nội ứng” cho việc thực hiện âm mưu “diễn
biến hoà bình”.

Bốn là, làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới
chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.
Năm là, chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo
quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu
cực và tha hoá con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội.
Sáu là, “phi chính trị hoá” để vô hiệu hoá quân đội và công an.
Như vậy, mục tiêu mà chiến lược “diễn biến hoà bình” đặt ra rất ngông
cuồng và rất tham vọng, nó cao hơn nhiều so với mục tiêu kiềm chế, ngăn chặn
CNXH trong các chiến lược chống cộng thời Chiến tranh lạnh. Điều này thể
hiện tính chất gay go, phức tạp, quyết liệt và nguy hiểm của chiến lược “diễn
biến hoà bình”.
5


Bản chất của chiến lược “diễn biến hoà bình” là quá trình các thế lực đế
quốc và phản động quốc tế thực hiện cuộc vận động phản cách mạng ngay
trong lòng các nước XHCN từ bên trong, thậm chí ngay trong lòng các đảng
cộng sản cầm quyền. Từ đó với sự hậu thuẫn, giúp đỡ từ bên ngoài, các lực
lượng chống đối bên trong sẽ nổi dậy đấu tranh bằng các hình thức khác nhau
để xoá bỏ chế độ XHCN, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và nhà
nước xã hội chủ nghĩa mà không cần dùng đến chiến tranh quân sự. Điều này
có nghĩa, “diễn biến hoà bình” là quá trình dịch chuyển mâu thuẫn từ bên ngoài
vào bên trong các nước XHCN, chuyển hoá mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản
và CNXH, gây xung đột ngay trong lòng các nước XHCN, giữa các tầng lớp
nhân dân, giữa nhân dân với đảng, nhà nước và cả giữa những người cộng sản
với nhau. Đây là cơ sở để các thế lực đế quốc kích động, lôi kéo nhân dân, các
phần tử chống phá, khoét sâu vào mâu thuẫn dẫn đến chuyển hoá CNXH, xoá
bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản. Quá trình này thể hiện tính chất thâm
độc của chiến lược “diễn biến hoà bình”, đó chính là quá trình hình thành, thúc
đẩy ‘tự diễn biến” của các đảng cộng sản và nhà nước XHCN. A.Đalét, trong

diễn văn nhậm chức Bộ trưởng ngoại giao Mỹ đã nói “phương pháp hoà bình”
có nghĩa là lấy “uy hiếp quân sự” làm hậu thuẫn và tập trung sức tiến hành xâm
nhập về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá đối với các nước XHCN, khiến
cho các nước này “tan rã từ bên trong” và “rút ngắn tuổi thọ của chủ nghĩa
cộng sản”.1
Phương châm hành động của chiến lược “diễn biến hoà bình” được xác
định là: chủ động tiếp cận, chọn lọc, êm thấm nhằm làm tan rã, sụp đổ chế độ
XHCN từ bên trong. Chính trị - tư tưởng được xác định là mặt trận hàng đầu có
tính đột phá, quyết định. Trong cuốn sách “1999 - Chiến thắng không cần
chiến tranh” Tổng thống Níchxơn cho rằng “mặt trận tư tưởng là mặt trận
quyết định nhất”. Ông ta viết: “Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp định
1

Bàn về vấn đề chống diễn biến hòa bình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1993, tr.14.

6


mậu dịch, viện trợ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt
trận tư tưởng”. Đồng thời với mũi nhọn tiến công tư tưởng, các vấn đề: “dân
chủ”, “nhân quyền” được xác định là ngòi nổ để tiến hành “diễn biến hoà
bình”; tác động trên lĩnh vực kinh tế làm đòn bẩy và “mồi nhử”; hình thành và
hậu thuẫn hoạt động chống phá của các thế lực chống đối từ bên trong nội địa
và trong nội bộ là chính, theo phương châm “dùng cộng sản đánh cộng sản”,
“cộng sản con tiêu diệt cộng sản cha”.
Để thực hiện thắng lợi chiến lược “diễn biến hoà bình” chủ nghĩa đế
quốc xác định phải thận trọng, tỷ mỷ, tích luỹ từng bước. Níchxơn, trong cuốn
sách “1999 - Chiến thắng không cần chiến tranh”, cho rằng: “Chúng ta cần một
quá trình trợ giúp vun trồng những thành quả nhỏ bé được tích luỹ từng bước,
điều đó tưởng chừng như vô hiệu quả, thậm chí như uổng công vô ích. Thế

nhưng đây là con đường duy nhất để các nước này cuối cùng sẽ giành được tự
do dân tộc với những mức độ nhất định”. Ông còn viết: “muốn thực hiện
những biện pháp như thế ít nhất cũng cần thời gian của mấy thế hệ con
người… Cũng giống như bất kỳ sự vật nào thực sự cần tranh thủ, nền hoà bình
chân chính cần phải có thời gian, cần phải nỗ lực hơn nữa, trước hết cần phải
kiên nhẫn”.
Chiến lược “diễn biến hoà bình” có thể có nhiều tên gọi khác nhau
nhau “chiến tranh không vũ khí”, “chiến tranh không khói lửa”, “chuyển hoá
hoà bình”, “cách mạng hoà bình”, “biến đổi hoà bình”, “cách mạng nhung”,
“cách mạng hoa hồng”, “cách mạng hoa dẻ”, “cách mạng màu da cam”…
nhưng bản chất chất chỉ là một, đó là sử dụng các biện pháp “phi vũ trang” để
giành chiến thắng không cần chiến tranh. Có thể khái quát một số biện pháp
mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thường áp dụng như:
“Chiến tranh tâm lý” chống CNXH trên mặt trận tư tưởng, tinh thần.
Chúng sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là các đài phát
thanh, các chương trình truyền hình… ngày đêm hướng vào các nước XHCN,
7


công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc, nói xấu chế độ CNXH, tuyên
truyền tán dương chế độ dân chủ tư sản, kích động tâm lý chống đối trong nội
bộ các nước XHCN. Chiến tranh tâm lý còn được thực hiện bằng “tuyên
truyền rỉ tai” để phao tin đồn nhảm có dụng ý kích động, mua chuộc, đe doạ,
không chế… Đây là một thủ đoạn tâm lý chiến được dùng rất phổ biến, làm
cho mọi người nửa tin, nửa ngờ, bi quan chán nản hoặc bức xúc, mất niềm tin,
trở thành người tuyên truyền không công cho chủ nghĩa đế quốc và các thế
lực thù địch.
“Chiến tranh gián điệp” chống phá về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an
ninh, đối ngoại… Thông qua hoạt động gián điệp, chủ nghĩa đế quốc và các
thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn tác động vào đường lối, tổ chức, nhân

sự để dẫn tới chệch hướng về đường lối, phá vỡ về tổ chức, cài cắm nội gián
để chuyển hoá chế độ chính trị ở các nước XHCN. Các thủ đoạn của chiến
tranh gián điệp như: kích động các phần tử thoái hoá biến chất, bất mãn, có
quan điểm chống đối Đảng và Nhà nước XHCN để gây mâu thuẫn chống phá
từ bên trọng; lôi kéo, mua chuộc, khống chế cán bộ thông qua những người đi
công tác, học tập ở nước ngoài, thông qua các quan hệ liên doanh, liên kết…
để phát hiện, bồi dưỡng “hạt giống tự do” cài cắm nội gián; tác động từ bên
ngoài, hình thành các tổ chức chính trị phản động trong nước, hoạt động dưới
sự chỉ đạo, tiếp tay của các lực lượng phản động nước ngoài; thu thập tin tức
tình báo trên các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… để chống
phá, làm suy yếu các lĩnh vực này của các nước XHCN.
Phá hoại về kinh tế, thông qua quan hệ kinh tế, kể cả viện trợ để gây
sức ép về nhiều mặt, chèn ép, phá hoại, thậm chí bao vây, cô lập, cấm vận,
gây thiệt hại về kinh tế, tiến tới khống chế, thôn tính về kinh tế.
Xâm lăng văn hoá, bằng việc du nhập văn hoá độc hại, các giá trị đạo
đức, lối sống phương Tây vào các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, tao
nên một thế hệ “đỏ vỏ, xanh lòng” dần dần làm mai một bản sắc văn hoá
8


truyền thống dân tộc, hướng theo văn hoá, lối sống phương Tây trong các
nước XHCN. Một vị cựu Tổng thống Mỹ trong một cuốn sách đã nói: “Chúng
ta tiếp xúc với phương Đông càng nhiều thì càng có thể làm cho ảnh hưởng
của hình mẫu phương Tây càng lớn. Đó là sức mạnh mà ngay cả những phần
tử cấp trên của đảng cộng sản cũng khó chống đỡ nổi”. 1 Rõ ràng các thế lực
thù địch coi việc mở rộng tiếp xúc và trao đổi văn hoá giữa nhân dân các
nước là thủ đoạn quan trọng để tấn công chủ nghĩa cộng sản và gây ảnh
hưởng tới các nước XHCN.
Chống phá về ngoại giao, lợi dụng quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng,
chủ nghĩa đế quốc tăng cường hoạt động ngoại giao chống phá các nước

XHCN. Trước hết là kích động gây chia rẽ giữa các nước XHCN; nuôi dưỡng
tâm lý ly khai ở các nước XHCN và các nước, các dân tộc tiến bộ; lợi dụng
các tổ chức quốc tế gây sức ép ngoại giao, can thiệp vào công việc nội bộ,
thậm chí cô lập về ngoại giao đối với các nước XHCN.
Tóm lại, chiến lược “diễn biến hoà bình” được các thế lực thù địch
CNXH tiến hành theo một quá trình “tạo tình thế dân chủ” - nói theo cách của
các chiến lược gia phương Tây. Thực chất đây là quá trình vận động cách
mạng ở trong các nước XHCN, nhằm làm cho công cuộc cải tổ, cải cách, đổi
mới ở những nước này đi chệch mục tiêu CNXH, làm cho các nước XHCN
khủng hoảng toàn diện, đi đến tan rã và sụp đổ.
1.2. Chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc tiến
hành ở Liên Xô
Ngay khi cách mạng tháng Mười vĩ đại thắng lợi, nước Nga Xô viết ra
đời, các thế lực đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ đã tiến hành các hoạt động
thù địch để chống phá nhà nước cách mạng còn non trẻ. Xuyên suốt quá trình
xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN đến kịch biến sụp đổ năm 1991, Liên Xô

1

Bàn về vấn đề chống diễn biến hòa bình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1993, tr.27.

9


luôn phải chống lại các âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc của kẻ thù, đặc
biệt là chiến lược “diễn biến hoà bình” để bảo vệ thành quả cách mạng.
Có thể nói, Liên Xô là mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất mà chiến
lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc cần đánh sụp trong thế kỷ
XX. Chiến lược “diễn biến hoà bình” được coi là biện pháp hữu hiệu hàng
đầu, đã góp phần trực tiếp làm sụp đổ Liên Xô.

Ngay từ khi còn thực hiện cuộc Chiến tranh lạnh, đối đầu về quân sự,
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội đã sử dụng các
biện pháp “diễn biến hoà bình” hỗ trợ cho phương thức vũ trang chống Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Điều đó không phải do chúng ta gán ghép
hay suy diễn mà thể hiện rõ trong các âm mưu chiến lược của chủ nghĩa đế
quốc từ những năm 50 của thế kỷ XX. Chiến lược “phản ứng linh hoạt” với
chính sách “mũi tên và cành ô liu” những năm 60, chiến lược “răn đe thực tế”
với chính sách “cây gậy và củ cà rốt” trong những năm 70 của chủ nghĩa đế
quốc, đã được triển khai liên tục, ráo riết chống các nước xã hội chủ nghĩa. Tư
tưởng hoà bình chủ nghĩa, mất cảnh giác với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
thù địch xuất hiện khá phổ biến ở Liên Xô thời kỳ này đã lấn át tư tưởng, ý
chí cách mạng, quan điểm đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, từ đó, ảnh
hưởng của chủ nghĩa tư bản ngày càng mở rộng trong lòng Liên Xô.
Để lật đổ Liên Xô, các thế lực thù địch ở phương Tây đặc biệt là Mỹ đã
đặt ra nhiệm vụ hàng đầu là phải lũng đoạn được cơ quan đầu não - Đảng
Cộng sản Liên Xô. Từ đó, kẻ thù giấu mặt đã len vào nhiều vị trí then chốt
trong bộ máy của Đảng Cộng sản Liên Xô. Chúng thực hiện nhiều ý đồ: Gây
mâu thuẫn nội bộ, tăng cường khuynh hướng ly tâm, làm suy yếu khuynh
hướng hướng tâm và trung tâm cũ, tăng cường những trung tâm mới mang
hình thức hợp pháp nhằm làm tan rã, xáo trộn toàn bộ hệ thống xã hội, thiết
lập biên giới mới ở các nước cộng hoà có mối quan hệ độc lập với bên ngoài.

10


Phương thức nguy hiểm nhất mà phương Tây áp dụng ở Liên Xô là đưa
kẻ thù giấu mặt hoặc những kẻ cơ hội thâm nhập cơ cấu quyền lực. Họ quan
tâm thu nạp những nhân vật dễ bị mua chuộc là những kẻ thiếu hiểu biết về tổ
quốc, không có nguồn gốc xã hội, văn hoá, tình cảm với đất nước nơi họ sinh
ra và lớn lên. Cho dù đây là việc khó, song nếu thành công sẽ là một chiến

thắng trọn vẹn. Những nhân vật then chốt trong ban lãnh đạo Liên Xô, nhiều
người trong số đó trước đây đã từng học ở các trường nước ngoài, nay đã tha
hoá biến chất được bố trí vào những vị trí quan trọng trong hệ thống điều
hành. Khi chính quyền cao nhất Liên Xô đã bộc lộ những yếu kém thì cuộc
bầu cử “thật sự dân chủ” vào Đại hội Đại biểu nhân dân và Xô viết tối cao
năm 1988 - 1989 đã đưa một số lượng đáng kể “các nhà dân chủ” tham gia
chính quyền, để họ có thể can thiệp vào cơ cấu điều hành. Các nhân tố thù
địch lọt được vào cơ quan điều hành quốc gia là một thành công của phương
Tây trong âm mưu làm sụp đổ Liên Xô.
Mỹ đã sử dụng nhiều lực lượng từ bên ngoài xâm nhập vào nội bộ
Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua các “cuộc chiến” về tổ chức nhân sự,
thông tin báo chí, tài chính và các cuộc chiến khác. Nếu như trước năm 1985,
các cuộc tiếp xúc với nước ngoài kể cả cấp cao cũng rất hạn chế , thì trong
quá trình cải tổ các cuộc gặp giữa “các nhà cách mạng cộng đồng” (chống Xô
viết) với phương Tây trở nên đặc biệt thường xuyên hơn.
Những kẻ phá hoại bên ngoài từ Mỹ luôn tìm cách kết hợp được với
kẻ phá hoại bên trong theo nguyên tắc “một cộng một luôn lớn hơn hai”.
Tháng 4 - 1990, tại thành phố Wôrrentơn (bang Virginia) đã diễn ra hội nghị
vấn đề so sánh những chỉ số kinh tế của Liên Xô và Mỹ. Phía Liên Xô có
Viện sĩ Bôgômlốp và Tikhônốp, phía Mỹ có đại diện các Trung tâm nghiên
cứu và CIA. Đại diện Liên Xô đã khuyên Mỹ tăng cường áp lực với
Goocbachốp nhân tình hình trong nước căng thẳng để ông ta nhân nhượng
lớn hơn cho Wasinhtơn.
11


Một thủ đoạn hết sức hiểm độc mà các thế lực đế quốc tiến hành ở Liên
Xô là gây chiến tranh tư tưởng, tâm lý. Ngay từ những năm 50, Tổng thống
Mỹ Aixenhao đã nói rằng: “Chi một đô-la cho tuyên truyền bằng chi 5 đô-la
cho quốc phòng”. Cựu Tổng thống Níchxơn thì nói: “Mỗi nguồn tin tức

phương Tây xuyên qua tấm màn sắt của chủ nghĩa cực quyền (thông qua
khách viếng thăm, hay trao đổi sách báo, hoặc qua đài phát thanh) sẽ đem lại
niềm hy vọng cho hàng triệu người sau bức màn sắt đó, và sẽ làm mục nát
nền tảng của chế độ Liên Xô, cũng giống như nước thấm có thể làm mục nát
nền móng ngục tù”.
Dự án Havard đã được áp dụng trong thời gian cải tổ ở Liên Xô nhằm
phi ý thức hệ, thực chất là thay đổi hệ tư tưởng Mác - Lênin bằng một hệ
tưởng khác. Đối tượng chịu tác động của những đòn chiến tranh tâm lý của
Mỹ là người dân Liên Xô, nhất là những người cầm quyền cao nhất, làm cho
họ không có khả năng nhận thức được tình thế và cũng không phát hiện ra
được những độc chất trên mặt trận tư tưởng, mất tính độc lập quyết định.
Chiến tranh tâm lý của Mỹ đã gây mất ổn định trong nhận thức và hấp
dẫn người dân bằng màn kịch chính trị lớn - cải tổ. Quần chúng chỉ còn là
đám đông. Trong tình trạng đó, nhiều người đã để mất thái độ trách nhiệm
công dân vốn có đối với những đổi thay trong xã hội Xô viết đang đứng trước
những nguy cơ to lớn.
Cùng với chiến tranh tâm lý, thế lực thù địch với Liên Xô đã mở
cuộc “chiến tranh tổ chức”. Sau khi Brêznép qua đời, Andrôpốp và
Chernenkô ốm yếu, phương Tây đã nghiên cứu tỉ mỉ phẩm chất của
Rômanốp và Goocbachốp. Họ đã quyết định loại bỏ Rômanốp và dọn
đường cho Goocbachốp. Họ đã bịa đặt và tung ra những lời vu khống đối
với Rômanốp trên các phương tiện thông tin đại chúng đến mức các chiến
hữu, thậm chí Andrốp - người đã từng coi Rômanốp là bạn cũng không thể

12


có cách nào bác bỏ sự vu khống đó. Đặc biệt là thông tin vu khống,
Rômanốp ăn chơi, xa xỉ, sử dụng đồ dùng bằng vàng bạc, châu báu của Sa
hoàng để lại trong đám cưới con ông ta.

Nhà nước Liên bang Xô viết và chế độ XHCN ở Đông Âu bị tan vỡ
một phần không nhỏ do có sự “góp sức” của các thủ đoạn “xét lại lịch sử”. Sự
đổ vỡ ấy đã lập tức trở thành “mảnh đất màu mỡ” nuôi dưỡng những kẻ cơ
hội chính trị, cực đoan dân tộc, bọn phát xít mới và các thế lực thù địch khác
tiếp tục xuyên tạc các vấn đề lịch sử. Lịch sử cuộc chiến tranh thế giới thứ
hai, công lao và sự hy sinh to lớn của Liên Xô trước đây trong nỗ lực đánh bại
Đức quốc xã ở châu Âu, mở đường cứu toàn nhân loại khỏi nguy cơ bị chủ
nghĩa phát xít nô dịch và tiêu diệt, đang bị bôi nhọ một cách đê tiện theo kiểu
“giậu đổ bìm leo”.
Với âm mưu chính trị đen tối, nhiều lực lượng chính trị ở một số nước
châu Âu đang cố gắng làm lu mờ không chỉ công lao, sự mất mát và hi sinh to
lớn của Liên Xô trước đây trong sứ mệnh tiêu diệt chủ nghĩa quốc xã, mà còn
cố tình xoá bỏ những gì tốt đẹp mà CNXH đã từng tạo ra ở Liên Xô và các
nước XHCN cũ ở Đông Âu. Đó còn là âm mưu bôi nhọ CNXH, mô hình xã
hội đang ngày càng là mục tiêu vươn tới của nhiều đảng cộng sản, các đảng
cánh tả trên toàn cầu và nhân dân tiến bộ thế giới.
Lợi dụng những khó khăn và đường lối sai lầm trong cải tổ, cải cách
của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch đã đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hoà bình” cực kỳ
thâm độc, nguy hiểm, can thiệp toàn diện, tinh vi và trắng trợn vào nội bộ các
nước xã hội chủ nghĩa để gây mất ổn định và xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa
mà không cần đến chiến tranh.
Chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn,
thực hiện được “diễn biến hoà bình” trong nội bộ Liên Xô. Các chiến lược gia
phương Tây sớm nhận ra “gót chân Asin” của cải tổ: đó là đường lối xét lại,
13


là hệ tư tưởng tư sản, là chính sách thoả hiệp, nhân nhượng vô nguyên tắc với
Mỹ và phương Tây thể hiện tập trung ở “tư duy chính trị mới”. Hứa hẹn viện

trợ kinh tế được dùng làm một thứ vũ khí rất lợi hại để lái cuộc cải tổ theo
quỹ đạo mà phương Tây mong muốn. Chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh thực
hiện “diễn biến hoà bình” trong nội bộ Liên Xô.
Nắm bắt tình thế có một không hai đó, chủ nghĩa đế quốc đã tác động
thêm vào chiến dịch cải tổ sai lầm của Liên Xô. Vào năm 1991, Goocbachốp
triển khai “Tuyên bố về chủ quyền”. Quan điểm của Tuyên bố là xoá bỏ tính
toàn vẹn của Liên Xô. Đây đích thực là cuộc đảo chính “nhung lụa” mà chính
các đại biểu Xô viết cũng không kịp hiểu rằng, người ta đã đưa cho họ thông
qua văn bản gì.
Mục tiêu của chiến tranh kinh tế - tài chính của Mỹ chống Liên Xô là
khai thác được càng nhiều tài nguyên càng tốt, làm tê liệt chức năng điều
hành nền tài chính quốc gia, ngăn cản Liên Xô tiếp cận khoa học công nghệ,
phục vụ cho một “chiến lược gây căng thẳng”. Chỉ trong một thời gian rất
ngắn, hàng loạt biện pháp, chiến dịch đã được tiến hành nhằm vào những
hướng phát triển kinh tế then chốt ở Liên Xô.
Tháng 8-1991, đối với Liên Xô, là điểm tận cùng trong hệ thống mà
chiến dịch cải tổ đã đẩy tới tình trạng rệu rã, nếu chỉ cần một đòn nhẹ, nhưng
thâm độc và được tính toán chính xác vào chỗ dễ tổn thương nhất thì cả hệ
thông đó lộn nhào, tan vỡ. Toàn bộ “cải tổ” diễn ra trước đó đã trở thành khúc
dạo đầu cho kịch biến dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô sau hơn 70 năm tồn tại,
phát triển.
Từ chiến lược “diễn biến hoà bình” của các nước đế quốc tiến hành ở
Liên Xô, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong đấu tranh phòng, chống “diễn
biến hoà bình” như sau:

14


Một là, thường xuyên nâng cao cảnh giác, nắm bắt và dự báo tình hình
thế giới, trong nước, cùng những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của

chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.
Hai là, chủ động, kịp thời có các chủ trương, biện pháp tích cực, đồng
bộ, linh hoạt phòng, chống mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”.
Ba là, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong phòng,
chống “diễn biến hoà bình” dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, sự quản lý
của nhà nước XHCN.
Bốn là, quán triệt và giải quyết tốt mối quan hệ giữa phòng ngừa và tiến
công, lấy phòng ngừa làm chính.
Đây là nhưng bài học kinh nghiệm bước đầu được rút ra. Cuộc đâu
tranh chống chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc vẫn còn
đang tiếp tục với tính chất ngày càng gay go, quyết liệt và phức tạp. Do vậy,
những bài học này cần được vận dụng linh hoạt và không ngừng bổ sung để
đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn
biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc.
2. Tính tất yếu đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hoà bình” ở
nước ta, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong đấu tranh phòng,
chống chiến lược “diễn biến hoà bình”và một số giải pháp cơ bản góp phần
phòng chống chiến lược “diễn biến hoà bình” ở nước ta hiện nay
2.1. Tính tất yếu đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hoà bình” ở
nước ta hiện nay
“Diễn biến hoà bình” là chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các
nước đế quốc, đứng đầu là Mỹ luôn mang trong nó mục tiêu xuyên suốt là
đánh sập các nước XHCN và các nước có đường lối chính trị tiến bộ. Do vậy,
khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, Mỹ và các nước đồng minh
vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống các nước
XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng tìm mọi cách để thực hiện tham
15


vọng xoá bỏ chế độ XHCN và đưa nước ta theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Bài

học từ sự thành công và thất bại trong phòng chống chiến lược “diễn biến hoà
bình” ở Liên Xô và sự sụp đổ của thành trì CNXH thế giới không cho phép
chúng ta lơ là, ảo tưởng, mất cảnh giác.
Thời cuộc đã có nhiều biến đổi, hoà bình và hợp tác là xu hướng lớn.
Chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc cũng có những điều
chỉnh nhất định theo hướng thúc đẩy các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng
nhung”. Nhưng dù thay đổi hình thức thế nào chăng nữa các thế lực thù địch
vẫn xác định Việt Nam là một trọng điểm chống phá của chiến lược “diễn
biến hoà bình” hiện nay. Điều này được xem xét trên một số phương diện sau:
Thứ nhất, Việt Nam là nước XHCN đầu tiên ở Đông Nam Á, là một
trong những ngọn cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc,
chống đế quốc, thực dân vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội.
Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của Việt Nam trong hơn 60 năm qua là
cho các thế lực đế quốc phản động và thù địch tức tối và lo sợ. Do vậy, chúng
quyết tâm tiêu diệt chế độ XHCN ở nước ta, đập tan ngọn cờ đầu của cách
mạng ở Đông Nam Á. Để thực hiện dã tâm này, chúng đã tiến hành các cuộc
chiến tranh xâm lược để chuyển hoá chúng ta song đều thất bại. Sự thất này
buộc chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chuyển đổi phương thức
chống phá cách mạng Việt Nam từ chiến tranh quân sự sang chiến lược “diễn
biến hoà bình”.
Thứ hai, Việt Nam là một trong số các nước XHCN còn lại tiến hành
đổi mới thành công, đang vững bước tiến lên CNXH với uy tín và vị thế ngày
càng tăng trên trường quốc tế.
Sau kịch biến năm 1991 ở các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô, hệ
thống XHCN không còn, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời
lâm vào thoái trào, khủng hoảng, các nước đế quốc đã rất vui mừng cho rằng
16



các nước XHCN còn lại sớm hoặc muộn sẽ đi vào vết xe đổ của Liên Xô và
các nước XHCN Đông Âu. Thế nhưng trái với mong muốn đê hèn, thù địch
của chủ nghĩa đế quốc, các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam vẫn
kiên cường lèo lái con thuyền cách mạng vượt qua sóng gió, tiến hành cải cách,
đổi mới thành công tiếp tục hành trình đi đến CNXH, chủ nghĩa cộng sản.
“Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đạt những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử”.1 Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh
vực của đới sống xã hội làm cho niềm tin của nhân dân vào chế độ XHCN,
vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò quản lý, điều hành
của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng tăng. Vai trò
lãnh đạo của Đảng ta ngày càng được tăng cường, Đảng thực sự là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Điều này
lài cái gai trong con mắt của các chính trị gia tư sản, do đó chúng sử dụng
hàng loạt thủ đoạn thâm độc để chống phá nước ta, chống phá Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Thứ ba, nước ta đang có những yếu tố và điều kiện để các thế lực thù
địch trong nước và quốc tế lợi dụng để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà
bình”, cụ thể như:
Hậu quả của chiến tranh kéo dài trên cả phương diện vật chất và tinh
thần do chủ nghĩa đế quốc và thực dân gây ra vẫn chưa khắc phục một cách
cơ bản. Kinh tế xã hội phát triển với tốc độ chậm, chúng ta vẫn còn trong tình
trạng nước nghèo, kém phát triển. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
còn nhiều khó khăn nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, chênh lệch về chất lượng sống giữa các vùng còn lớn.

1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2006, tr.68.


17


Bên cạnh những thành tựu, quá trình đổi mới ở nước ta cũng xuất hiện
những tiêu cực trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Mặt trái của kinh tế thị
trường đang tác động đến nước ta hàng ngày hàng giờ gây ra những trở lực
cho phát triển đất nước.
Hiện nay chúng ta đang tích cực, chủ động hội nhập quốc tế một cách
sâu rộng, toàn diện, đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ quốc tế là
cơ hội để các thế lực thù địch, phản động thâm nhập vào với mưu đồ chuyển
hoá cách mạng nước ta.
Bên cạnh đó các vấn đề dân tộc, tôn giáo ở nước ta đang được các thế
lực thù địch triệt để lợi dụng để kích động thù hằn, chia rẽ dân tộc, tôn giáo và
các hoạt động phản cách mạng khác hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng mà
nhân dân ta lựa chọn, lật đổ chế độ XHCN ở nước ta.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên của chúng ta suy thoái về đạo đức, lối
sống, biến chất về chính trị, hoang mang, dao động, mất lập trường, cực đoan,
quá khích, cơ hội, vụ lợi, thực dụng, tham ô, tham nhũng là đối tượng mà kẻ
thù dễ dàng mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo trở thành phần tử phản động, phản bội
chống lại sự nghiệp cách mạng.
Cùng với những yếu tố trên, sự sụp đổ của hệ thống XHCN, sự khủng
hoảng thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ít nhiều tác
động, ảnh hưởng tiêu cực đến một bộ phận nhân dân thuộc các tầng lớp xã hội
ở nước ta. Đây cũng là một cơ hội để chủ nghĩa đế quốc chĩa mũi dùi “diễn
biến hoà bình” để chống phá cách mạng nước ta.
Một trong những vấn đề buộc chúng ta phải lưu tâm, cảnh giác chống
chiến lược “diễn biến hoà bình” hiện nay là những nhân tố gia tăng nguy cơ
“diễn biến hoà bình” ở nước ta vẫn đang tồn tại dưới nhiều hình thức, phương
diện khác nhau hết sức phức tạp, bao gồm cả nhân tố bên trong và nhân tố bên

ngoài. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta xác định: “Nước ta
đang đứng trước những thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và
18


diễn biến phức tạp, không thể coi nhẹ bất cứ thách thức nào. Nguy cơ tụt hậu
xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại.
Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận
cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng.
Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục.
Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây
bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay
đổi chế độ chính trị ở nước ta”.1
Những nhân tố bên ngoài làm gia tăng nguy cơ “diễn biến hoà bình” ở
Việt Nam hiện nay là:
Tác động của xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế
Toàn cầu hoá vừa mang lại cho chúng ta những thời cơ để phát triển đất
nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn đối với nước ta. Toàn cầu
hoá tạo nên sự biến đổi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở nước ta,
và từ đây những nguy cơ cũng hình thành, xuất hiện. Quá trình hội nhập sâu
rộng vào đời sống quốc tế có thể làm bộc lộ những hạn chế, yếu kém bất cập
trong thể chế, chính sách, pháp luật cũng như năng lực cạnh tranh của hệ
thống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, lĩnh vực tư tưởng văn hoá cũng dễ bị biến
động do sự du nhập của các trào lưu tư tưởng, văn hoá, đặt biệt là các trào lưu
tư tưởng tiêu cực, phản động… Đây là những tiền đề nguy hiểm để các thế
lực thù địch, phản động truyền bá, hình thành khuynh hướng tư tưởng và hệ
giá trị đối lập với hệ giá trị XHCN ở nước ta.
Đồng thời, khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, chúng ta phải tuân
theo các chế định của các tổ chức quốc tế, cùng với áp lực cạnh tranh, chúng
ta phải cải cách hệ thống pháp luật… đây là điều kiện để các thế lực thù địch


1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2006, tr.75.

19


gây sức ép nhằm chuyển hoá thể chế kinh tế - chính trị nước ta theo hướng xa
rời sự lãnh đạo của Đảng, xa rời định hướng XHCN…
Biến động phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị trong khu vực và
trên thế giới.
Xu thế hoà bình và hợp tác vẫn là xu thế lớn, song trên thế giới và trong
khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn
định. Những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị thế giới đã và
đang tạo nên những mối đe doạ đối với an ninh quốc gia của chúng ta; tác
động đến nhận thức, tư tưởng, tâm lý của các giai tầng xã hội, tạo nên những
bức xúc, kích thích kích động tinh thần dân tộc - một trong những mục đích
hướng đến của chủ nghĩa đế quốc để kích động hoạt động chống phá Đảng,
Nhà nước ta. Thực tiễn các cuộc “cách mạng màu” diễn ra ở một số nước gần
đây đã tạo ra nhiều bài học kinh nghiệm đối với “công nghệ lật đổ” của chủ
nghĩa đế quốc. Các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước coi những gì đã
xảy ra đối với một số nước đã diễn ra “cách mạng màu” là cơ hội vàng để cái
gọi là “phong trào dân chủ” ở Việt Nam học tập và nhìn lại mình để tiến hành
có hiệu quả các cuộc “cách mạng màu” chuyển hoá chế độ XHCN ở Việt Nam.
Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng
Việt Nam, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh các hoạt động chủ yếu:
Một là, tuyên truyền phá hoại tư tưởng nhằm tạo tiền đề cho một cuộc “cách

mạng màu” ở Việt Nam - Chúng tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam; truyền bá tư tưởng chính trị phản động tạo cơ sở cho việc tập hợp,
thành lập lực lượng chính trị đối lập với Đảng; tuyên truyền, kích động các
hoạt động biểu tình, phá rối an ninh, gây bạo loạn. Hai là, hoạt động tác động,
chuyển hoá nội bộ, hình thành nhân tố chống đối từ bên trong, thức đẩy “tự
diễn biến” trong nội bộ chúng ta. Ba là, thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức “độc
20


lập” nhằm hình thành môi trường đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt
Nam. Bốn là, tạo dựng, hình thành lực lượng chính trị đối lập ở nước ta. Năm là,
tạo dựng lực lượng “nòng cốt” để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà bình” ở
Việt Nam. Sáu là, tập dượt cho các kịch bản “cách mạng màu” ở nước ta - Trong
những năm qua, các thế lực thù địch, phản động quốc tế đã đẩy mạnh hoạt động
tuyên truyền khoét sâu các mâu thuẫn, xung đột xã hội, lợi dụng các vấn đề
chính trị - xã hội phức tạp kích động, tổ chức biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn
nhằm tập dượt cho các kịch bản “cách mạng màu” ở nước ta.
Những nhân tố bên trong góp phần làm gia tăng nguy cơ “diễn biến hoà
bình” đối với cách mạng Việt Nam:
Hệ thống chính trị còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém, các yếu tố “tự
diễn biến” còn tồn tại.
Trong hơn 20 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng còn có mặt hạn chế; phương thức lãnh đạo của Đảng chậm
được đổi mới, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị,
tư tưởng, đạo đức, lối sống. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
khẳng định: “…năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng còn nhiều mặt
chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới… Dân chủ trong Đảng và trong xã hội
còn bị vi phạm, kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Sự
đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp uỷ còn yếu. Quan hệ giữa Đảng và nhân dân có

lúc, có nơi bị xói mòn do những hạn chế, yếu kém trong công tác tư tưởng chính
trị, công tác vận động quần chúng, công tác tổ chức cán bộ, công tác quản lý nhà
nước và những khó khăn phát sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế - xã hội” và “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán
bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu
và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít biểu hiện bất mãn, mất
lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc
21


tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước… Đó là một
nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.1
Bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, hiệu quả quản lý của nhà nước trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội còn nhiều hạn chế. Tình trạng nhũng nhiễu, cửa
quyền, thiếu trách nhiệm ở một bộ phận công chức chậm được khắc phục. Dân
chủ trong xã hội còn bị vi phạm, kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm.
Sự phân tầng, biến động về cơ cấu xã hội - giai cấp ngày càng sâu sắc và
xu thế dân chủ hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Dân chủ hoá là vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm có liên quan mật
thiết đến vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Mặt khác, dân chủ
đang là vấn đề được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để tiến hành các hoạt
động chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Vì vậy, trong quá trình dân chủ
hoá, nếu chúng ta không thận trọng, không có những bước đi thích hợp sẽ rất
dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để tập hợp lực lượng đối lập với Đảng ta.
Tình trạng khiếu nại, tố cáo, đình công bãi công diễn biến hết sức phức
tạp, và xuất hiện những dấu hiệu bị kẻ thù lợi dụng, kích động chống phá cách
mạng. Cùng với tình trạng tiêu cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đang là
những nhân tố hết sức nguy hiểm, phức tạp thúc đẩy chiến lược “diễn biến hoà
bình” của chủ nghĩa đế quốc tiến công cách mạng nước ta.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ sau thắng lợi của Tổng khởi nghĩa
tháng Tám năm 1945 luôn bị các thế lực thù địch chống phá bằng các thủ đoạn
quân sự và “diễn biến hoà bình”. Do vậy, để bảo vệ thành quả cách mạng hơn 60
năm qua, để xây dựng thành công CNXH, chúng ta phải luôn nâng cao tinh thần
cảnh giác cách mạng, không bao giờ được phép mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác
trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là
1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2006, tr.262, 263, 264.

22


chiến lược “diễn biến hoà bình”. Đồng thời chúng ta phải xác định và đề ra được
các phương hướng sát đúng để phòng, chống có hiệu quả nguy cơ “diễn biến hoà
bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.
2.2. Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong đấu tranh phòng,
chống chiến lược “diễn biến hoà bình”và một số giải pháp cơ bản góp phần
phòng chống chiến lược “diễn biến hoà bình” ở nước ta hiện nay
Trong thời kỳ đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế một cách toàn diện,
đứng trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới và âm mưu thâm
hiểm của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã ban
hành nhiều nghị quyết, chỉ thị chỉ đạo cuộc đấu tranh giai cấp, bảo đảm an ninh
quốc gia. Những quan điểm, tư tưởng này cần phải được quán triệt sâu sắc trong
phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch chống
phá cách mạng nước ta.
*Những quan điểm cơ bản của Đảng ta
Một là, đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hoà bình” là một cuộc đấu
tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go, quyết liệt, lâu dài và phức tạp trên mọi

lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hai là, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” là nhiệm vụ cấp bách hàng
đầu hiện nay của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị để
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Ba là, phải kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ chống “diễn biến hoà bình” với các
nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, bảo vệ an ninh quốc gia, chống bạo loạn lật đổ,
chống chiến tranh xâm lược.
Bốn là, trong đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hoà bình” phải
phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, của chế độ XHCN, của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam.

23


*Tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong phòng, chống chiến lược “diễn
biến hoà bình”
Thứ nhất, đảm bảo an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị.
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khoá
VII đã xác định nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia là “bảo vệ vững chắc độc
lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân,
bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa, đập tan âm mưu và
hoạt động “diễn biến hoà bình”, bạo loạt lật đổ của kẻ thù”. 1 Nghị quyết xác
định nhiệm vụ “chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp
bách hàng đầu và phải được kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ sẳn sàng ứng phó
với các tình huống khác”.2
Để giữ vững ổn định chính trị, cần quan triệt phương châm: Giữ vững
nguyên tắc chiến lược, có sách lược mềm dẻo, linh hoạt; xử lý các vấn đề liên
quan đến an ninh quốc gia một cách kiên quyết và khôn khéo, tranh thủ được sự
đồng tình rộng rãi; phân hoá, cô lập kẻ thù, không để xảy ra hậu quả gây phức

tạp cho an ninh quốc gia.
Thứ hai, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sức mạnh
toàn dân với vai trò nòng cốt của công an nhân dân và quân đội nhân dân trong
sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc XHCN; kết hợp chặt chẽ
giữa an ninh, quốc phòng, đối ngoại với phát triển kinh tế xã hội.
Thứ ba, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để
hình thành các tổ chức, các lực lượng chính trị đối lập; kiên quyết không để xảy
ra biểu tình, bạo loạn lật đổ.
Thứ tư, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm an ninh quốc
gia, đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ.

1,2

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 52, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007, tr.222.
2

24


Thứ năm, tăng cương vai trò quản lý Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội; giải quyết đúng đắn các vấn đề chính trị - xã hội nảy sinh không
để kẻ thù lợi dụng kích động, lôi kéo nhân dân biểu tình, gây bạo loạn…
*Một số giải pháp cơ bản góp phần phòng chống chiến lược “diễn biến
hoà bình” ở nước ta hiện nay
Một là, nâng cao nhận thức về chiến lược “diễn biến hoà bình”.
Phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình” là nhiệm vụ vừa có ý nghĩa
cấp bách trước mắt, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với cách mạng Việt
Nam hiện nay. Thực chất đây là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp, quyết
liệt để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. Do vậy, phải nâng
cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị về

bản chất, âm mưu, thủ đoạn, mục tiêu của chiến lược “diễn biến hoà bình” chống
phá cách mạng nước ta. Quán triệt sâu sắc những quan điểm, phương châm, tư
tưởng chỉ đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn
biến hoà bình”.
“Diễn biến hoà bình” đang là một trong bốn nguy cơ lớn đối với cách
mạng nước ta hiện nay. Các thế lực thù địch đang ngày đêm thực hiên âm mưu
lật đổ chế độ XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho chúng ta ngày càng xa rời định hướng
XHCN. Hiện nay, một âm mưu hết sức thâm độc của kẻ thù đang tiến hành đối
với cách mạng nước ta là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ bên trong
để tạo ra tình huống thuận lợi cho chúng xúc tiến “cách mạng màu”, gây bạo
loạn lật đổ nước ta.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, âm
mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt, với
phương thức ngày càng phong phú, chúng ta phải hết sức cảnh giác, nâng cao
nhận thức, nhận dạng, đánh giá đúng kẻ thù để đấu tranh có hiệu quả.

25


×