1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp (DN) là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Trong nền
kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
nhà nước ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có vai
trò hết sức quan trọng thể hiện ở chỗ: DNNN chi phối các ngành, các lĩnh vực
then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế
nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội.
Trước những thách thức gay gắt của yêu cầu đổi mới, phát triển và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, để kinh tế nhà nước nói chung,
DNNN nói riêng thực sự giữ vai trò chủ đạo trong việc giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa, ổn định phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, cần
phải nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của DNNN. Giải pháp cơ bản để
thực hiện được mục tiêu này là tăng cường chất lượng công tác quản trị kinh
doanh trong các DNNN.
Kế toán, với vị trí là công cụ không thể thiếu phục vụ cho quản lý kinh
tế tài chính cần phải được các DNNN sử dụng một cách hợp lý, đúng đắn
nhằm phát huy tối đa vai trò của nó trong hệ thống quản lý kinh tế. Ở nước ta,
hệ thống kế toán hiện hành đã có những thay đổi cơ bản so với hệ thống kế
toán trước đây, đã tiếp cận những thông lệ, chuẩn mực kế toán quốc tế và bao
gồm một số nội dung của kế toán quản trị (KTQT). Tuy nhiên, những thay đổi
bước đầu đó mới chỉ thỏa mãn phần lớn nhu cầu thông tin theo quy định của
Bộ Tài chính, nhằm chủ yếu đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước đối với
hoạt động kinh tế tài chính của DN. Công tác KTQT phục vụ cho mục đích
2
quản trị DN vẫn còn là một vấn đề chưa được xem xét, nhìn nhận đúng với vị
trí và vai trò vốn có của nó.
KTQT là công cụ quản lý vi mô không thể thiếu phục vụ cho quản trị
DN mới chỉ được đề cập tới trong các tài liệu nghiên cứu và bước đầu xuất
hiện một cách sơ lược trong Luật Kế toán, chưa được những người hành nghề
kế toán thực hiện một cách đầy đủ, các nhà quản trị DN quan tâm sử dụng,
thậm chí còn bỡ ngỡ cả trong nhận thức về vai trò, chức năng và cách thức tổ
chức thực hiện.
Đề tài "Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay" được chọn nghiên cứu với mong muốn
góp phần bổ sung thêm những vấn đề lý luận về KTQT các yếu tố đầu vào,
đưa ra một số biện pháp để tổ chức thực hiện KTQT các yếu tố đầu vào trong
các DNNN.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, muốn nâng cao hiệu quả
kinh doanh (KD) thì việc quản trị đúng đắn, hợp lý các yếu tố đầu vào của
DN có vai trò vô cùng quan trọng. Để đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp
thời trong việc quản trị các yếu tố đầu vào, nhà quản trị DN cần phải có nhiều
thông tin: thông tin thực hiện, thông tin dự báo... KTQT với đặc điểm riêng
của mình đã đáp ứng những yêu cầu về thông tin của quản trị trong từng DN.
Với vai trò quan trọng như vậy, KTQT các yếu tố đầu vào đã và đang
là vấn đề được giới chuyên môn quan tâm. Các nhà nghiên cứu, các giảng
viên trong các trường đào tạo chuyên ngành đang còn nhiều quan điểm khác
nhau về lý luận cũng như việc áp dụng trong các DN.
Thực tế ở Việt Nam, kế toán trong các DN chưa nhận thức đúng đắn
về KTQT nói chung và KTQT các yếu tố đầu vào nói riêng nên chưa cung
cấp được các thông tin cần thiết phục vụ cho quản trị. Nhận thức đúng vai trò,
chức năng, mục đích của KTQT các yếu tố đầu vào trong quản trị DN; tổ
3
chức KTQT các yếu tố đầu vào một cách khoa học, hợp lý, sẽ góp phần nâng
cao trình độ, năng lực quản lý, điều hành KD và hiệu quả hoạt động của các
DN.
Xuất phát từ những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài "Tổ chức kế toán
quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
hiện nay" vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức KTQT các yếu
tố đầu vào trong các DN.
- Tìm hiểu thực tế công tác kế toán ở một số DNNN trên địa bàn Hà
Nội, đánh giá thực trạng tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức KTQT các yếu
tố đầu vào trong các DNNN.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Với mục đích đã xác định, luận văn
tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận và thực
tiễn về tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN. Trong đó tập
trung chủ yếu vào các DN sản xuất và yếu tố đầu vào được quan tâm nghiên
cứu là nguyên liệu vật liệu (NLVL).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp chung: Dựa vào phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu các vấn đề một cách toàn
diện, hệ thống và cụ thể.
- Phương pháp thực hiện: Vận dụng các phương pháp như: phương
pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh... Nghiên cứu
4
các tài liệu trong và ngoài nước, học hỏi các thầy cô giáo giảng dạy ở các môn
học liên quan đến quản trị DN, tìm hiểu các tài liệu thực tế về công tác kế
toán của một số DNNN trong lĩnh vực sản xuất (SX). Do KTQT có mục tiêu
chủ yếu là cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản trị ở nội bộ DN cho nên
cần thiết phải tìm hiểu một số phương pháp, kỹ thuật quản trị tác nghiệp đối
với các yếu tố đầu vào của DN.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tổ chức kế toán quản trị các yếu tố
đầu vào trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào
trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Một số kiến nghị về tổ chức kế toán quản trị các yếu tố
đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUẢN TRỊ CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP
1.1.1. Các quan điểm về yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
Vận dụng quan điểm toàn diện vào khoa học và cuộc sống, người ta
đã hình thành lý thuyết hệ thống. Lý thuyết hệ thống là quá trình sử dụng tổng
hợp các lĩnh vực khoa học như: toán học, tin học, lôgic học, kinh tế... nhằm giải
quyết các vấn đề đặt ra theo quan điểm toàn diện. Lý thuyết hệ thống được
ứng dụng rộng rãi trong công tác quản lý, từ quản lý vĩ mô cho tới quản lý vi
mô.
Những bộ phận chủ yếu của một hệ thống bao gồm: các phần tử của
hệ thống, môi trường của hệ thống, đầu vào của hệ thống, đầu ra của hệ
thống.
DN khi được nhìn nhận theo quan điểm là một hệ thống cũng bao gồm
các bộ phận đã nêu trên.
Đối với bộ phận "đầu vào" của DN, có nhiều quan niệm, nhiều cách
phát biểu khác nhau.
Theo các tác giả của Trường Đại học kinh tế quốc dân:
Doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một hệ thống xã hội,
một hệ thống kinh doanh. Điều đó có nghĩa là mọi khái niệm, mọi
nguyên lý, mọi phương pháp trong lý thuyết hệ thống đều có thể được
vận dụng trong nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp.
Đầu vào của doanh nghiệp là các phương tiện cần thiết để
cho doanh nghiệp hoạt động, bao gồm:
6
- Nguồn nhân lực (lao động và thị trường chất xám) cung
ứng các loại nhân lực cho doanh nghiệp.
- Nguồn vốn đảm bảo cung cấp tài chính cho doanh nghiệp.
- Thị trường tư liệu sản xuất và dịch vụ để phục vụ cho các
hoạt động tạo ra đầu ra (sản phẩm và dịch vụ mới cho doanh nghiệp).
- Thị trường năng lượng và nguyên liệu tạo ra động lực và
cung cấp nguyên liệu cho sản xuất.
- Thị trường công nghệ và kỹ thuật để tạo ra các công nghệ
và kỹ thuật mới thích hợp.
- Thị trường chất xám, thông tin (dịch vụ, tư vấn) [20, tr. 3738].
Như vậy, theo quan điểm này, các yếu tố đầu vào của DN bao gồm:
sức lao động, tư liệu SX, vốn... và các yếu tố đầu vào này đều có thể mua bán
được trên thị trường, tức là có thể lượng hóa được bằng thước đo tiền tệ. Tuy
nhiên, các tác giả trình bày nội dung còn có sự trùng lặp giữa “thị trường tư
liệu sản xuất” với “thị trường năng lượng và nguyên liệu”; giữa “nguồn nhân
lực (lao động và thị trường chất xám)” với thị “trường chất xám” làm cho
người đọc khó phân biệt, dễ nhầm lẫn.
Theo tác giả Nguyễn Hải Sản:
Khi xem xét doanh nghiệp dưới quan điểm hệ thống người
ta cho rằng doanh nghiệp là một tổng thể bao gồm các yếu tố đầu
vào, quá trình chế biến, chế tạo, và các yếu tố đầu ra. Tổng thể này
chịu sự điều chỉnh của các thông tin phản hồi và tất cả đều nằm
trong một môi trường kinh doanh cụ thể.
Các yếu tố đầu vào bao gồm: tài sản cố định, nguyên liệu,
nguồn nhân lực, tài chính và nguồn thông tin được đưa vào sản xuất
chế biến [17, tr. 52-53].
7
Quan điểm này tương tự như quan điểm của trường Đại học Kinh tế
quốc dân, chỉ khác về ngôn từ diễn đạt. Trong quan điểm này, tác giả coi
thông tin là một nguồn lực của DN. Đó là một cách hiểu đúng đắn vì trên thực
tế các nhà quản trị phải có được thông tin thì mới đề ra được các quyết định
quản lý phù hợp và thông tin ngày càng có vai trò quan trọng trong công tác
quản lý nói chung, công việc quản trị DN nói riêng.
Theo quan điểm của trường Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội (nay là
Học viện Tài chính):
Đối với doanh nghiệp, đầu vào là:
1. Tiền vốn.
2. Tổ chức lao động.
3. Công nghệ, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu.
4. Trình độ, phẩm chất, tiềm năng của nhà quản lý.
5. Thị trường, thông tin và các ràng buộc vĩ mô trong kinh doanh
6. Các cơ hội và rủi ro [21, tr. 23-24].
Theo quan điểm này, nhìn nhận các yếu tố đầu vào của DN trong môi
trường KD cụ thể, gắn liền với các điều kiện KD, có tính đến các yếu tố chưa
thể lượng hóa đo lường bằng các thước đo như: trình độ, phẩm chất, tiềm
năng của nhà quản lý.
Theo các nhà kinh tế nước Cộng hòa Pháp, các yếu tố đầu vào và đầu
ra của DN được thể hiện qua sơ đồ 1.1 (trang 8) [23, tr. 26].
Theo quan điểm này các yếu tố đầu vào của DN gồm lao động, tài sản
cố định (TSCĐ), nguyên liệu vật liệu (NLVL), hàng hóa, dịch vụ, tiền vốn và
các yếu tố này đều được lượng hóa bằng thước đo tiền tệ.
Qua việc phân tích các quan điểm trên chúng tôi nhận thấy thuật ngữ
các yếu tố đầu vào của DN có nghĩa rất rộng dùng để chỉ tất cả các yếu tố, các
nguồn lực mà DN đã sử dụng trong quá trình hoạt động để tạo ra các sản
8
phẩm, hàng hóa, dịch vụ đầu ra của DN. Đứng trên giác độ của kế toán khi
thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các yếu tố đầu vào của DN chỉ có thể
xem xét tới các yếu tố đầu vào có thể lượng hóa được vì đặc trưng của thông
tin kế toán là thông tin phải được lượng hóa bằng các thước đo (thước đo hiện
vật, thước đo lao động, thước đo giá trị, trong đó thước đo giá trị là chủ yếu).
9
10
Với nội dung và phạm vi của các yếu tố đầu vào rộng như vậy nên
luận văn chỉ tập trung xem xét tới các yếu tố đầu vào là NLVL, sức lao động
và TSCĐ của DNNN trong lĩnh vực SX.
1.1.2. Ý nghĩa của việc quản trị các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan là sự tác động có tổ chức của
chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định
trước. Quản lý được tiến hành trong mọi lĩnh vực của xã hội, cả ở tầm vĩ mô
(toàn xã hội) và cả ở tầm vi mô (trong từng đơn vị). Khi sử dụng thuật ngữ
quản lý người ta thường gắn liền với đối tượng bị quản lý như quản lý kinh tế,
quản lý hành chính, quản lý nhân sự...
Thuật ngữ quản trị (trong tiếng Anh là management) vừa có nghĩa là
quản lý, vừa có nghĩa là quản trị nhưng được dùng chủ yếu với nghĩa quản trị.
Ngoài ra, tiếng Anh còn có một thuật ngữ nữa là administration với nghĩa là
quản lý hành chính, quản lý chính quyền. Tiếng Pháp cũng có hai từ: gestion
là quản trị kinh doanh và administration là quản lý hành chính. Như vậy có
thể hiểu quản lý là thuật ngữ được dùng đối với các cơ quan nhà nước trong
việc quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng, còn quản trị là
thuật ngữ được dùng để chỉ các hoạt động quản lý ở cấp cơ sở. Đối với các
DN người ta sử dụng thuật ngữ quản trị kinh doanh.
Quản lý và quản trị có điểm chung là lôgíc giống nhau của vấn đề
quản lý, nhưng điểm khác nhau là nội dung và quy mô cụ thể của vấn đề quản
lý đặt ra: một bên là phạm vi toàn xã hội, một bên là phạm vi trong từng cơ
sở.
Quản trị kinh doanh là quá trình tác động liên tục, có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể doanh nghiệp lên tập thể những
người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng một cách tốt nhất mọi
tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động
11
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được những mục
tiêu đầu ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội [ 20, tr. 41].
Để hoạt động của các đơn vị nói chung, các DN nói riêng đạt được
hiệu quả cao thì cần thiết phải tiến hành các hoạt động quản trị.
Các chức năng chủ yếu của quản trị là: xác định mục tiêu, lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá.
Quản trị các yếu tố đầu vào là một nội dung của công tác quản trị DN.
Việc quản trị đúng đắn các yếu tố đầu vào sẽ giúp cho DN đảm bảo
được hoạt động của mình một cách bình thường, liên tục, không bị gián đoạn.
Với một đầu ra xác định, việc quản lý khoa học, hợp lý các yếu tố đầu vào sẽ
tạo cơ sở để DN tiết kiệm chi phí đầu vào từ đó tăng hiệu quả hoạt động của
DN nói riêng, hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung.
Những biểu hiện cụ thể của việc quản trị đúng đắn có hiệu quả các yếu
tố đầu vào là:
- Đối với các yếu tố đầu vào là sức lao động: Đảm bảo bố trí, sử dụng
lao động hợp lý, đầy đủ cả về số lượng và chất lượng phục vụ cho hoạt động
KD của DN. Nâng cao ý thức, trách nhiệm của người lao động, kích thích thi
đua trong lao động...
- Đối với các yếu tố đầu vào là NLVL, hàng hóa: Đảm bảo số lượng,
chất lượng, chủng loại, quy cách... NLVL, hàng hóa cần thiết phục vụ SXKD
một cách kịp thời, liên tục với chi phí dự trữ NLVL, hàng hoá hợp lý góp
phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả
KD của DN.
- Đối với các yếu tố đầu vào là TSCĐ: Trang bị TSCĐ hợp lý, bảo
quản tốt, sử dụng có hiệu quả phát huy tối đa năng lực phục vụ của TSCĐ
trong DN, đổi mới kịp thời TSCĐ đáp ứng yêu cầu hoạt động của DN.
12
1.2. NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN TRONG VIỆC PHỤC VỤ QUẢN TRỊ
CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CỦA DOANH NGHIỆP
Để quản trị DN có hiệu quả, nhà quản trị cần phải có những thông tin
về DN. Không thể thực hiện công việc quản trị DN khi không biết các thông
tin về tình tài chính của DN như: tổng tài sản, tổng nợ phải trả, nguồn vốn chủ
sở hữu... chứ chưa nói đến việc quản trị có hiệu quả. Do đó, thông tin đã được
coi là một thứ "quyền lực" trong quản trị hiện đại. Được coi là quyền lực, một
nguồn lực, thông tin phải có giá trị. Các tiêu thức để xác định giá trị của thông
tin bao gồm: chất lượng, sự phù hợp, khối lượng và tính kịp thời. Tuy nhiên,
không giống các nguồn lực vật chất, việc xác định giá trị của thông tin là một
công việc không dễ dàng, bởi thông tin không có giá trị nội tại. Giá trị của thông
tin được xác định bởi chính những người sử dụng nó để ra quyết định. Các
nhà quản trị và các nhân viên thuộc tất cả các cấp và tất cả các lĩnh vực
chuyên môn của DN đều có những nhu cầu thông tin khác nhau. Có thể mô
hình hóa thông tin mà nhà quản trị cần để phục vụ cho việc quản trị DN bằng
sơ đồ 1.2.
QUYẾT ĐỊNH
Các nhà quản trị
và nhân viên
Thông tin
Phân tích
quyết định
Yêu cầu về
thông tin
DOANH
NGHIỆP
Truyền dữ liệu
Ngân hàng
dữ liệu
Xử lý và sắp
xếp dữ liệu
Thành phần
Hoạt động
Dòng cung cấp
Dòng yêu cầu
Thu thập
dữ liệu
Các nguồn
dữ liệu bên trong
và bên ngoài
Xác định
nhu cầu dữ liệu
13
Sơ đồ 1.2: Tiến trình xử lý, sử dụng thông tin phục vụ quản trị DN
Theo mô hình này để đưa ra các quyết định, nhà quản trị cần biết được
các thông tin nên xuất hiện các nhu cầu về thông tin. Để đáp ứng nhu cầu này
đòi hỏi phải có các dữ liệu về thông tin theo nhu cầu của nhà quản trị. Để có
được các dữ liệu thông tin này cần có phải tiến hành thu thập dữ liệu. Nguồn
cung cấp dữ liệu có thể từ bên trong DN (dữ liệu về tình hình hàng tồn kho,
tình hình công nợ, lợi nhuận... của DN), dữ liệu từ bên ngoài DN (tình hình
giá cả thị trường, tình hình về các đối thủ cạnh tranh, các chế độ chính sách về
quản lý kinh tế tài chính hiện hành...). Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được sẽ
tiến hành việc xử lý và sắp xếp dữ liệu để trở thành ngân hàng dữ liệu của
DN. Các dữ liệu cần sử dụng sẽ trở thành thông tin và được phân tích, đánh
giá để nhà quản trị đề ra được các quyết định quản trị đúng đắn.
Từ mô hình trên chúng ta nhận thấy vai trò quan trọng của thông tin
đối với công tác quản trị DN: Nhà quản trị không thể đề ra được các quyết
định quản trị đúng đắn khi thiếu thông tin về hoạt động mà họ đang quản lý.
Kế toán với tư cách là "khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ
thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản hay toàn bộ thông tin về tài sản
và các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị" [1, tr. 10] đã trở thành công cụ
quan trọng phục vụ cho quản lý kinh tế nói chung, quản trị trong các DN nói
riêng. Vai trò của kế toán được thể hiện ở chỗ: Kế toán là phân hệ thông tin
kinh tế tài chính quan trọng, cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài
chính của DN để trên cơ sở đó những nhà quản trị DN có các quyết định đúng
đắn để hoạt động của DN đạt hiệu quả cao.
Đối với việc quản trị các yếu tố đầu vào, nhà quản trị cần rất nhiều
thông tin do kế toán cung cấp, trong đó với đặc điểm là cung cấp thông tin
14
chủ yếu cho việc quản trị nội bộ DN, KTQT có vai trò rất quan trọng trong
việc cung cấp các thông tin. Vai trò đó được đảm bảo nhờ vào việc thực hiện
các nhiệm vụ của KTQT các yếu tố đầu vào. Các nhiệm vụ đó là:
- Ghi chép tính toán phản ánh đầy đủ chính xác tình hình hiện có về
các yếu tố đầu vào của DN cũng như tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào đó.
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch về các yếu tố đầu vào: tình
hình dự trữ, sử dụng NLVL, tình hình trang bị, sử dụng TSCĐ, sử dụng lao
động; phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các hành vi làm ảnh hưởng tới việc sử
dụng không hiệu quả các yếu tố đầu vào.
- Cung cấp số liệu tài liệu phục vụ cho việc quản trị các yếu tố đầu vào ở
DN, phục vụ cho công tác thống kê và thông tin kinh tế về các yếu tố đầu vào.
Đồng thời cung cấp các thông tin mang tính dự báo về tình hình sử dụng các yếu
tố đầu vào để phục vụ cho việc đề ra các quyết định về quản trị các yếu tố đầu
vào.
1.3. TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO TRONG
DOANH NGHIỆP
1.3.1. Sự xuất hiện của kế toán quản trị
Kế toán là một công cụ phục vụ cho yêu cầu quản lý, vì vậy khi yêu
cầu quản lý thay đổi kế toán cũng phải có sự thay đổi phù hợp.
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin
trong công tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp
lực của những thay đổi nhanh chóng về các mặt:
- Toàn cầu hóa nền kinh tế.
- Sự mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốc gia.
- Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty trong
nước, giữa các công ty ở các quốc gia khác nhau.
15
- Sự tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật thúc đẩy sự
tự động hóa ngày càng toàn diện trong lĩnh vực sản xuất kinh
doanh.
- Sự ra đời ngày càng nhiều các công cụ quản lý, các chuyên
ngành khoa học hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, công tác kế toán.
Chính những điều này đã làm cho kế toán phát triển sâu rộng
hơn về tính chất và đặc điểm thông tin cần phải cung cấp. Kế toán
không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mang tính nguyên tắc
mà đòi hỏi phải linh hoạt, kịp thời, hữu ích. Đồng thời, thông tin kế
toán cũng phải đảm bảo tính ngắn gọn, nhanh chóng nhằm hỗ trợ đắc
lực cho các nhà quản trị trong môi trường kinh doanh mới [14, tr. 10].
Trong bối cảnh đó, KTQT được hình thành và phát triển, tách biệt
với kế toán tài chính (KTTC).
Nghiên cứu sự phát triển của KTQT cho thấy: KTQT hình thành và phát
triển xuất phát từ nhu cầu thông tin của DN. Môi trường cạnh tranh buộc các DN
phải tìm mọi biện pháp mở rộng, phát triển thị trường, giảm chi phí, nâng cao
lợi nhuận. KTQT là công cụ hữu hiệu cho phép các nhà quản trị kiểm soát quá
trình KD, đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận cũng như hiệu quả sử
dụng của từng yếu tố đầu vào trong DN để từ đó có các quyết định phù hợp.
Như vậy có thể nói, chính môi trường và điều kiện KD là cơ sở khách
quan cho sự ra đời và phát triển của KTQT, tồn tại song hành với KTTC và
trở thành một công cụ khoa học giúp cho các nhà quản trị nâng cao khả năng
điều hành, quản lý tổ chức một cách có hiệu quả.
1.3.2. Bản chất của kế toán quản trị
Từ khi KTQT xuất hiện cho tới nay, đã có nhiều cách phát biểu khác
nhau về KTQT.
Theo các nhà khoa học kế toán nước Cộng hòa Pháp:
16
- "Kế toán quản trị là một yếu tố của hệ thống thông tin phục vụ cho
quản trị" [24, tr. 7].
- "Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán phục vụ cho nhà quản
trị" [25, tr. 18] và "Kế toán quản trị hướng tới hai mục đích chủ yếu: giúp cho
nhà quản trị hiểu được tương lai và điều hành các vấn đề của hiện tại. Để hiểu
được tương lai, kế toán quản trị phải xây dựng được mối quan hệ giữa những
mục tiêu mong muốn và các nguồn lực để đạt được mục tiêu đó" [24, tr. 19].
Theo cách phát biểu này, KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp các
thông tin kinh tế tài chính phục vụ cho việc thực hiện công tác quản trị tại đơn
vị. Mục tiêu của KTQT không chỉ là cung cấp các thông tin quá khứ về tình
hình kinh tế tài chính của đơn vị để phục vụ việc quản trị các hoạt động đang
diễn ra mà còn cung cấp các thông tin mang tính dự báo về việc thực hiện các
mục tiêu của đơn vị trong tương lai.
Theo các nhà khoa học kế toán Việt Nam:
- Theo các nhà khoa học kế toán của Học viện Tài chính: "Kế toán
quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của
doanh nghiệp một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
các hoạt động của doanh nghiệp" [11, tr. 11].
Theo cách phát biểu này KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý
Quá trình KTQT
Các chức năng quản trị
và cung cấp thông tin về hoạt động của DN nhằm phục vụ cho việc thực hiện
các chức năng của quản trị DN. Như vậy quá trình KTQT có mối quan hệ chặt
Xác định mục tiêu
Chính thức hình thành
Lập kế hoạch
Lập dự toán chung
và các bản dự toán chi tiết
Tổ chức thực hiện
Thu nhận
kết quả thực hiện
Kiểm tra, đánh giá
Soạn thảo báo cáo
thực hiện
chẽ, gắn liền với quá trình thực hiện các chức năng
củatiêu
quản
các chỉ
kinhtrịtếDN. Có thể
khái quát hai quá trình đó theo sơ đồ 1.3.
17
Sơ đồ 1.3: Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị
và quá trình kế toán quản trị
Theo sơ đồ trên, sau khi nhà quản trị đề ra các mục tiêu của DN,
KTQT sẽ hình thành các chỉ tiêu kinh tế về mục tiêu đó. Căn cứ vào kế hoạch
hoạt động của DN do nhà quản trị đưa ra trong từng giai đoạn và các chỉ tiêu
kinh tế đã thiết lập, KTQT thực hiện việc lập dự toán chung và lập các dự
toán chi tiết (dự toán về NLVL, lao động, vốn...) cho hoạt động của DN và
như thế KTQT sẽ cung cấp các thông tin mang tính dự báo về hoạt động của
DN. Trong quá trình nhà quản trị tổ chức thực hiện các hoạt động của DN,
KTQT phải tiến hành thu thập thông tin về các hoạt động đó và cung cấp cho
nhà quản trị thông qua các báo cáo KTQT để nhà quản trị thực hiện việc kiểm
tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và có các quyết định điều chỉnh kịp
thời.
- Theo các nhà khoa học kế toán của Trường Đại học Kinh tế Thành
phố Hồ Chí Minh: "Kế toán quản trị là chuyên ngành kế toán cung cấp các
thông tin kinh tế - tài chính gắn liền với quan hệ dự báo, đánh giá, kiểm soát
và trách nhiệm trong việc điều hành tổ chức hàng ngày của nhà quản trị ở các
bộ phận" [16, tr. 12].
Như vậy, cách phát biểu này cũng có sự thống nhất về mặt nội dung
với các nhà khoa học kế toán của Học viện Tài chính.
18
Từ những cách phát biểu trên cùng với việc tìm hiểu quá trình hình
thành, xuất hiện của KTQT, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
+ KTQT hình thành xuất phát từ nhu cầu về thông tin của nhà quản trị
DN, KTQT phục vụ các hoạt động quản trị của một DN cụ thể và vì vậy có
mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với các phương pháp quản trị tác nghiệp mà DN
đó đang áp dụng đối với các hoạt động của DN.
+ Thông tin KTQT cung cấp không chỉ là những thông tin quá khứ mà
còn có các thông tin tương lai về hoạt động kinh tế tài chính của DN. Do đó
KTQT không phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ về kế
toán như đối với KTTC mà KTQT còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu
ngoài các phương pháp đã có ở KTTC để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Trong thực tiễn công tác kế toán ở Việt Nam chúng tôi nhận thấy:
KTQT được đề cập trong công tác nghiên cứu bắt đầu từ những năm 1990,
còn trên thực tế cho đến năm 2003 vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào
quy định về công tác KTQT. Trong khi đó còn có quan điểm cho rằng: Kế
toán chỉ là việc thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các hoạt động
kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành của đơn vị, thông tin mà
kế toán cung cấp chỉ là những thông tin thực hiện (quá khứ), mà không bao
gồm các thông tin mang tính dự báo. Theo quan điểm này, việc lập kế hoạch
hoạt động của đơn vị là một chức năng của quản trị DN và đã được thực hiện
bởi các bộ phận chức năng khác trong đơn vị (bộ phận làm công tác kế hoạch)
còn kế toán chỉ thu nhận và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài
chính đã xảy ra để đối chiếu, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch mà thôi.
Từ năm 1995, cùng với những thay đổi to lớn của cơ chế quản lý kinh
tế tài chính cả ở tầm vĩ mô cũng như vi mô, hệ thống kế toán Việt Nam đã có
những cải cách cơ bản. Một trong những nguyên tắc của việc cải cách hệ
thống kế toán là dần tiếp cận với các thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế
để kế toán Việt Nam hội nhập với kế toán quốc tế. Với xu hướng đó, KTQT
19
đã được các nhà nghiên cứu chú trọng hơn, đã được đưa vào giảng dạy ở các
trường đại học kinh tế và trong Luật Kế toán (có hiệu lực thi hành từ ngày
1/1/2004) KTQT đã chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý: "Kế toán ở
đơn vị kế toán gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị" - Điều 10 [3, tr. 14]
và: "Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp
thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài
chính trong nội bộ đơn vị kế toán" - Điều 4, khoản 3 [3, tr. 9].
Từ việc xem xét quá trình hình thành KTQT và những quan điểm về
KTQT, có thể rút ra bản chất của KTQT như sau:
Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và
là một công cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý
nội bộ doanh nghiệp.
Với bản chất đó có thể xác định KTQT trong các DN bao gồm các nội
dung cơ bản sau:
- KTQT các yếu tố đầu vào bao gồm: KTQT vật tư, hàng hóa; KTQT
íTCĐ; KTQT lao động - tiền lương.
- KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
- KTQT doanh thu - kết quả và phân phối kết quả.
- KTQT các hoạt động khác.
(Bốn nội dung này được thực hiện theo quy trình KTQT như đã trình
bày ở sơ đồ 1.3).
- Lập và phân tích báo cáo KTQT, cung cấp các thông tin phục vụ cho
lập kế hoạch, dự toán chi phí, doanh thu... theo yêu cầu của nhà quản trị DN.
Để nghiên cứu những nội dung trên, KTQT đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài
20
khoản kế toán, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán
và các phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ khác.
* Phương pháp chứng từ kế toán: Mục đích của phương pháp này thu
thập thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị để có được những
dữ liệu thông tin cần thiết cho quản trị DN. Hình thức biểu hiện của phương
pháp này là các bản chứng từ kế toán và chương trình luân chuyển chứng từ
kế toán.
Khi sử dụng phương pháp chứng từ kế toán để thu nhận thông tin về
các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, KTQT ngoài việc sử dụng các
chứng từ bắt buộc (trong trường hợp Nhà nước quy định chứng từ bắt buộc),
còn sử dụng rộng rãi hệ thống chứng từ hướng dẫn phản ánh các nghiệp vụ
kinh tế trong nội bộ doanh DN. Các chứng từ này do KTQT của DN vận dụng
trên cơ sở hướng dẫn của Nhà nước hoặc tự thiết kế theo yêu cầu quản lý cụ
thể ở DN mình. Việc thu thập, kiểm tra, xử lý và luân chuyển chứng từ cũng
được xác lập theo cách riêng, nhằm đảm bảo cung cấp các thông tin cụ thể,
nhanh chóng và thích hợp cho việc ra quyết định của quản trị
* Phương pháp tài khoản kế toán: Mục đích của phương pháp này là
phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo nội dung
kinh tế để có được những thông tin mang tính thường xuyên, liên tục và có hệ
thống phục vụ cho việc lập các báo cáo KTQT. Hình thức biểu hiện của phương
pháp này là các tài khoản kế toán và cách ghi chép trên tài khoản kế toán.
Để hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phục vụ
cho quản trị DN, KTQT phải mở các tài khoản phục vụ yêu cầu quản trị đối
với từng chỉ tiêu cụ thể. Việc xây dựng hệ thống tài khoản phục cho KTQT
phải dựa theo yêu cầu cụ thể của nhà quản trị. Do đó, hệ thống tài khoản kế
toán phục vụ cho KTQT không giống nhau giữa các DN mà phụ thuộc vào
những đặc điểm cơ bản sau:
21
- Phụ thuộc vào phạm vi, quy mô SXKD, loại hình DN.
- Phụ thuộc vào tổ chức quá trình SXKD và tổ chức quản lý SXKD,
mức độ phân cấp quản lý nội bộ DN.
- Phụ thuộc vào yêu cầu và trình độ của cán bộ quản lý.
- Phụ thuộc trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ kế toán trình độ
trang bị và sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán, ghi chép của kế toán.
* Phương pháp tính giá: Mục đích của phương pháp này là xác định
trị giá thực tế của tài sản bằng thước đo tiền tệ theo những nguyên tắc nhất
định. Hình thức biểu hiện của phương pháp này là các sổ tính giá và trình tự tính
giá.
Trong KTTC, phương pháp tính giá được vận dụng theo nguyên tắc,
chuẩn mực quy định thống nhất của mỗi quốc gia để trình bày các thông tin
trên báo cáo tài chính một cách thống nhất. Đối với KTQT, việc tính giá các
loại tài sản mang tính linh hoạt cao hơn và gắn với mục đích sử dụng các
thông tin về giá theo yêu cầu quản trị DN. Các tài liệu để tính giá không chỉ
căn cứ vào các chi phí thực tế đã phát sinh mà còn dựa vào sự phân loại các
chi phí thích hợp cho từng quyết định cá biệt theo yêu cầu quản lý đặc thù của
DN. Như vậy phạm vi, nội dung của chi phí trong giá phí của KTQT có thể
không giống, thậm chí còn có sự khác biệt so với KTTC.
* Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán: Mục đích của phương
pháp này là cung cấp các thông tin cho đối tượng sử dụng thông tin kế toán.
Hình thức biểu hiện của phương pháp này là hệ thống các bảng tổng hợp - cân
đối kế toán (các báo cáo kế toán).
Báo cáo kế toán của KTQT là các bảng tổng hợp - cân đối bộ phận.
Các báo cáo này còn được gọi là báo cáo kế toán nội bộ được lập theo kỳ hạn
ngắn hơn các báo cáo tài chính. Ngoài các chỉ tiêu về tiền tệ, các bảng tổng
hợp - cân đối bộ phận còn sử dụng rộng rãi các thước đo về hiện vật và thời
22
gian lao động. Đồng thời, ngoài các bảng tổng hợp - cân đối kế toán trình bày
các chỉ tiêu quá khứ, chỉ tiêu đã thực hiện, kế toán còn thiết lập các bảng tổng
hợp - cân đối trình bày các chỉ tiêu trong dự toán, trong kế hoạch, các chỉ tiêu
giữa nhu cầu tài chính và nguồn tài trợ, giữa yêu cầu KD và các nguồn lực
được huy động...
Báo cáo KTQT có một số điểm khác biệt với báo cáo KTTC:
+ Về kỳ hạn: Báo cáo KTQT có kỳ hạn ngắn hơn báo cáo KTTC
nhằm đáp ứng kịp thời thông tin cho nhà quản trị DN.
+ Về tính pháp lý: Báo cáo KTTC mang tính pháp lệnh, bắt buộc còn
báo cáo KTQT là loại báo cáo kế toán riêng có phục vụ cho quản trị từng DN
nên không mang tính bắt buộc
+ Về phạm vi: Báo cáo KTTC được lập cho toàn DN còn báo cáo
KTQT không chỉ lập cho toàn DN mà cả cho từng bộ phận, từng loại công
việc, từng khâu công việc tùy thuộc vào yêu cầu của nhà quản trị.
* Các phương pháp khác: Thông tin của KTQT chủ yếu nhằm phục
vụ cho việc ra quyết định của các nhà quản trị DN, các nhu cầu về thông tin của
nhà quản trị rất đa dạng và phong phú cho nên trong một số trường hợp để có
được các thông tin mà nhà quản trị mong muốn (ví dụ các thông tin dự báo
như: sản lượng tiêu thụ trong tương lai, số NLVL cần sử dụng trong kỳ tới...)
KTQT phải vận dụng một số phương pháp nghiệp vụ của các môn khoa học
khác như:
+ Phương pháp hồi quy của kinh tế lượng: Căn cứ vào mối quan hệ
phụ thuộc giữa các yếu tố của quá trình KD của DN như: số lượng sản phẩm
(SP) và số chi phí phải bỏ ra (chi phí về NLVL, về sức lao động...) để SX
lượng SP đó, thông qua số liệu thống kê của các thời kỳ để xây dựng hàm số
hồi quy biểu hiện mối quan hệ đó. Từ hàm này, khi biết được một yếu tố sẽ
tính toán dự báo được các yếu tố còn lại.
23
+ Các phương pháp của kinh tế học vi mô: Phương pháp xác định
điểm hòa vốn, phương pháp tìm hiểu sự thay đổi của giá cả có tác động như
thế nào đến nhu cầu về SP của DN trên thị trường để xác định chỉ tiêu số lượng
SP cần SX.
+ Các phương pháp của toán xác suất, của thống kê: được sử dụng để
ước lượng số SP sẽ được tiêu thụ trong kỳ tới.
1.3.3. Các quan điểm về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Tổ chức KTQT khoa học và hợp lý sẽ đảm bảo cung cấp thông tin có
chất lượng, đáng tin cậy, kịp thời và đảm bảo tiết kiệm chi phí, nói cách khác
là đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị trên cơ sở đảm bảo tính
hiệu quả của công tác kế toán. Có hai quan điểm chủ yếu về việc tổ chức KTQT.
* Quan điểm thứ nhất: Tổ chức KTQT kết hợp chặt chẽ với KTTC
trong cùng một bộ máy.
Theo quan điểm này, việc thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin của KTQT
và KTTC được tiến hành trên cơ sở của cùng một hệ thống chứng từ kế toán,
hệ thống tài khoản kế toán chỉ khác là thông tin tổng quát và thông tin chi tiết.
Thông tin do KTTC cung cấp chủ yếu là các thông tin tổng quát và một số thông
tin chi tiết để phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin ở bên ngoài DN, các
thông tin này đều là các thông tin thực hiện (về các nghiệp vụ kinh tế tài
chính đã phát sinh và hoàn thành). Thông tin do KTQT thu nhận, xử lý và
cung cấp phục vụ cho các quản trị DN và nó không chỉ là các thông tin thực hiện
mà còn có cả các thông tin dự báo để phục vụ cho việc ra các quyết định trong
tương lai. Để có được các thông tin này, KTQT tiến hành mở các sổ kế toán của
các tài khoản chi tiết (theo từng cấp cần thiết) trong hệ thống tài khoản sử dụng
cho KTTC để thu nhận, hệ thống hóa các thông tin thực hiện, đồng thời mở các
sổ kế toán chi tiết khác để thu nhận, hệ thống hóa các thông tin dự báo; xác định
nội dung, phương pháp ghi chép, phản ánh trên các sổ kế toán đó cho phù hợp
24
với việc xử lý và cung cấp thông tin phục vụ quản trị. Khi lập báo cáo KTQT
để cung cấp các thông tin cụ thể chi tiết theo yêu cầu quản lý cán bộ kế toán sẽ
tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán đã mở theo các chỉ tiêu trong các báo cáo
KTQT.
Cách tổ chức theo quan điểm này giúp cho bộ máy kế toán DN được
tổ chức thống nhất, bao gồm các bộ phận kế toán theo các phần hành công
việc kế toán. Mỗi phần hành kế toán đều thực hiện cả công việc KTTC và
KTQT nên có thể kết hợp giữa quản lý tổng hợp và quản lý chi tiết từng chỉ
tiêu, thuận tiện cho việc phân công chuyên môn hóa và có điều kiện quản lý
chặt chẽ khối lượng công việc của nhân viên kế toán, thuận lợi cơ giới hóa
công tác kế toán, tạo điều kiện tiết kiệm thời gian và chi phí trong công tác kế
toán. Đồng thời, cách tổ chức này đòi hỏi người tổ chức phân công công việc
phải xác định rõ công việc của KTTC và KTQT trong từng phần hành, tức là
xác định rõ phần việc kế toán nào, loại thông tin nào cần cho việc lập báo cáo
KTTC và phần việc nào, loại thông tin nào phục vụ lập các báo cáo KTQT;
đòi hỏi nhân viên kế toán cần hiểu rõ công việc KTTC và KTQT.
Quan điểm thứ hai: Tổ chức KTQT độc lập với KTTC
Theo quan điểm này, KTQT và KTTC được tổ chức tách biệt với nhau.
Ở bộ phận kế toán phân công các cán bộ thực hiện riêng nội dung công việc của
KTQT. Việc thu nhận thông tin vẫn được thực hiện trên cùng một hệ thống
chứng từ nhung việc xử lý và cung cấp thông tin của KTQT và KTTC được
tiến hành tách biệt. KTQT sử dụng hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống sổ
kế toán riêng biệt với KTTC.
Các tài khoản trong hệ thống tài khoản sử dụng cho KTQT được phân
loại và quy định phương pháp ghi chép phản ánh phù hợp những nội dung cơ
bản của KTQT, nhằm tạo ra sự phối hợp cung cấp thông tin phục vụ quản lý.
Tổ chức KTQT theo quan điểm này tạo điều kiện chuyên môn hóa
KTQT nên thông tin được cung cấp đầy đủ kịp thời theo yêu cầu quản trị. Tuy
25
nhiên sẽ tốn kém thời gian và chi phí hơn vì phải tăng thêm trong khâu luân
chuyển, xử lý chứng từ kế toán.
1.3.4. Nội dung tổ chức công tác kế toán quản trị các yếu tố đầu vào
Quản trị các yếu tố đầu vào của DN là một công việc không thể thiếu
trong công tác quản trị DN. Để phục vụ cho công tác này, KTQT phải tiến
hành thực hiện nhiều nội dung công việc. Các nội dung này xuất phát từ:
- Nhu cầu về thông tin của nhà quản trị đối với việc quản trị các yếu tố
đầu vào của DN.
Các nhà quản trị cần những thông tin phục vụ cho việc thực hiện các
phương pháp, biện pháp quản trị cụ thể mà họ đang áp dụng đối với việc quản
trị các yếu tố đầu vào của DN và do đó phụ thuộc vào nội dung cụ thể của các
phương pháp quản trị tác nghiệp ở DN.
- Khả năng của KTQT trong việc đáp ứng các nhu cầu về thông tin
của nhà quản trị.
Mỗi DN với điều kiện cụ thể của mình (trong từng giai đoạn khác
nhau, với những chiến lược KD đã lựa chọn...) thì yêu cầu quản trị cụ thể đối
với các yếu tố đầu vào có sự khác nhau và do đó họ áp dụng các phương pháp
quản trị tác nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, dù áp dụng phương pháp quản trị
nào thì đều nhằm thực hiện các chức năng của quản trị đối với việc quản trị
yếu tố đầu vào đó là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá.
Do đó, theo chức năng quản lý, nội dung công tác KTQT các yếu tố
đầu vào bao gồm:
1.3.4.1. Thiết lập hệ thống chỉ tiêu quản trị các yếu tố đầu vào
Đây là công việc đầu tiên mà KTQT phải tiến hành. Việc xác định hệ
thống các chỉ tiêu về các yếu tố đầu vào phụ thuộc vào nội dung của các yếu
tố đầu vào của DN.