Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

TIỂU LUẬN tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về lực LƯỢNG TIẾN HÀNH KHỞI NGHĨA vũ TRANG ý NGHĨA TRONG CÔNG tác xây DỰNG lực LƯỢNG vũ TRANG HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (90.32 KB, 11 trang )

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LỰC LƯỢNG TIẾN HÀNH
KHỞI NGHĨA VŨ TRANG. Ý NGHĨA TRONG CÔNG TÁC XÂY
DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
------***------

Giữa thế kỷ XIX, thực dân pháp đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm
lược và biến Việt Nam thành thuộc địa. Từ năm 1896 chúng ra sức xây dựng
và củng cố bộ máy chính quyền, sử dụng vũ lực đàn áp và bóc lột nhân dân
Việt Nam. Không cam chịu làm nô lệ, nhân dân ta khắp mọi nơi đã đứng lên
đấu tranh chống thực dân Pháp, song thiếu một đường lối đúng đắn của giai
cấp tiên tiến lãnh đạo, thiếu phương pháp cách mạng thích hợp, nên các
phong trào đấu tranh đều dẫn đến thất bại, bị dìm sâu trong tăm tối bế tắc
chưa có lối thoát.
Mặc dù rất khâm phục tinh thần đấu tranh chống xâm lược của những
nhà yêu nước đương thời, song Hồ Chí Minh không đồng tình với con đường
và phương pháp cứu nước của họ. Do vậy năm 1911 Người đã quyết ra đi tìm
đường cứu nước cứu dân. Trong hành trình tìm đường cứu nước, kết hợp vừa
khảo sát thực tiễn vừa nghiên cứu lý luận Mac-Lênin, Hồ Chí Minh đã từng
bước hình thành tư tưởng về khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền ở Việt
Nam trong đó nội dung về xác định lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang
được hình thành một cách cơ bản và có một vị trí vai trò quan trọng trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang. Đặc biệt Hồ Chí Minh đã xác
định rõ lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong tác phẩm “Con đường
giải phóng”
Tác phẩm “Con đường giải phóng” là tập hợp những bài giảng và hệ
thống câu hỏi ôn nằm trong chương trình huấn luyện của Việt Minh. Tác
phẩm do Hồ Chí Minh chỉ đạo biên soạn, chỉnh lý bổ sung vào tháng 12 năm

1



1940. Tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề phong phú và đặc sắc trong đó nổi
lên những nội dung cơ bản chủ yếu về: Tình hình thế giới, tình hình Đông
Dương, vấn đề cách mạng Việt Nam, công tác cách mạng, vấn đề khởi nghĩa
và tư cách của một người cách mạng.
Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới, và tình hình Đông Dương, Hồ
Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ Khăng khít giữa phong trào cách mạng thế giới
và phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Đông Dương.
Tác phẩm nêu lên những định hướng quan trọng chỉ đạo phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Tác phẩm đúc kết kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Việt
Nam từ khi thực dân Pháp đến xâm lược, chỉ ra nguyên nhân chưa thành
công của các cuộc khởi nghĩa trước đây. Nguyên nhân ấy là: Không có tính
quần chúng rộng rãi, không có một chính đảng rắn rỏi lãnh đạo, khi thì không
có binh lính tham gia, khi thì chỉ có binh lính nổi dậy, không lập được một
đội quân cách mạng mạnh mẽ, không biết áp dụng chiến thuật du kích, giành
được chính quyền địa phương không lập tức thi hành chính sách cách mạng
chính sách cách mạng thực tế mang lại hạnh phúc cho nhân dân. “nói chung
các cuộc khởi nghĩa ấy chưa có đủ điều kiện khách quan và chủ quan, chiến
lược, chiến thuật chưa đúng” Tác phẩm chỉ rõ: đại sự muốn thành công phải
nhờ “vận nước”. “Vận nước” không phải là một điều huyền bí. “Vận nước”
là lòng dân và tình thế trong nước, ngoài nước. Nay “vận nước” đang đến vì
dân ta cực khổ dưới hai vòng xiềng xích ngày càng ngả về phe cách mạng,
tình hình thế giới lại dần dần thuận lợi cho ta. Muốn chóng được độc lập
nhân dân phải mau đoàn kết cách mạng. Chưa thấy một dân tộc nào khoanh
tay chờ chết mà hạnh phúc tự nhiên trên trời rơi xuống bao giờ.
Tác phẩm khẳng định khởi nghĩa vũ trang là nhân dân nổi dậy dùng vũ
khí đánh đuổi quân cướp nước, đoạt lại chính quyền, đó là cuộc đấu tranh to
tát về chính trị và quân sự, là việc quan trọng.

2



Xác định đúng đắn lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang là một
trong những đóng góp quan trọng của Hồ Chí Minh có giá trị thực tiễn rất
lớn. Quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng, Người nghiên
cứu và tiếp thu lý luận Mác-Lênin về vai trò to lớn của quần chúng nhân dân
trong đấu tranh vũ trang, nhất là vai trò khối liên minh công nông do Đảng
Cộng Sản lãnh đạo. Đồng thời, xuất phát từ từ đặc điểm và đòi hỏi của thực
tiễn cách mạng Việt Nam; kế thừa những kinh nghiệm quý của dân tộc về
huy động sức mạnh nhân dân trong lịch sử chống ngoại xâm; kết hợp phân
tích đánh giá bộ máy bạo lực phản cách mạng của thực dân, phong kiến ở
Việt Nam đầu thế kỷ XX, từ đó Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm: Lực
lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang là toàn dân, dưới sự lãnh đạo của giai
cấp công nhân. Trong tác phẩm “Con đường giải phóng” người đã chỉ rõ
“Khởi nghĩa vũ trang là nhân dân nổi dậy dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp
nước, trong đó giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng cơ bản, liên minh
công nông là động lực chủ yếu trong khởi nghĩa vũ trang”
Theo Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân có vai trò to lớn trong đấu
tranh giành chính quyền. Tuy nhiên, quần chúng nhân dân phải được giáo
dục, giác ngộ, tổ chức tập hợp trong các tổ chức và đoàn thể cách mạng. vì
vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chuẩn bị khởi nghĩa vũ
trang là vũ trang quần chúng, giáo dục họ, tổ chức họ, đưa họ ra tranh đấu.
Cách thức tập hợp quần chúng phải phù hợp với nghề nghiệp, lứa tuổi, giới
tính, theo trình độ và sự giác ngộ của quần chúng , quy mô tổ chức phải từ
nhỏ đến lớn. Hoạt động của các tổ chức quần chúng phải bảo đảm tính
“thống nhất và bí mật”, hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc. Trong quá
trình tập hợp quần chúng, phải chú trọng xây dựng và mở rộng Mặt trận đại
đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh công nông.
Sức mạnh khởi nghĩa vũ trang là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố
hợp thành, nhiều lực lượng tham gia và nhiều hình thức đấu tranh. Trong đó,


3


sự kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, với hai hình thức đấu
tranh chính trị và đấu tranh quân sự, trong đó đấu tranh chính trị giữ vai trò
quyết định thắng lợi trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Trong xây
dựng lực lượng khởi nghĩa, Hồ Chí Minh sớm hình thành tư tưởng xây dựng
lực lượng chính trị của quần chúng. Bởi theo người, lực lượng chính trị là lực
lượng cơ bản, là nền tảng quan trọng để xây dựng, phát triển lực lượng vũ
trang nhân dân. Xây dựng lực lượng chính trị quần chúng phải theo phương
châm kết hợp vừa xây dựng, vừa từng bước đưa quần chúng xuống đường
tranh đấu. Cách thức xây dựng lực lượng chính trị quần chúng đi từ vận độn,
giáo dục, giác ngộ đưa quần chúng vào các tổ chức và đoàn thể cách mạng,
hướng dẫn quần chúng xuống đường tranh đấu. Với chủ trương đúng đắn
của Hồ Chí Minh và đảng ta, lực lượng chính trị của quần chúng đã phát triển
rộng khắp, nhất là ở địa bàn đô thị và vùng nông thôn, đồng bằng.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng lực lượng quân sự trong khởi
nghĩa vũ trang phải được tiến hành chủ động, tích cực. Trên cơ sở lực lượng
chính trị quần chúng phát triển đến chừng mực nhất định, từ đó “lựa chọn
những đội viên ưu tú lập ra các đội vũ trang”
Muốn sử dụng được sức mạnh toàn dân thì phải Vũ trang toàn dân xây
dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân gồm 3 thứ quân: bộ đội chủ lực,
bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ, làm lực lượng nòng cốt cho toàn dân
đánh giặc. Thực tiễn vận động, phát triển của chiến tranh cho thấy, vũ trang
toàn dân là một quá trình mang tính quy luật của cuộc chiến tranh nhân dân.
Đó là quá trình động viên, giáo dục toàn thể công dân lòng yêu nước, lòng
căm thù quân xâm lược và bọn tay sai, ý chí quyết chiến, quyết thắng quân
cướp nước, huấn luyện giáo dục toàn quân phương pháp đánh giặc cứu nước
trên các lĩnh vực. Trang bị mọi loại vũ khí, phương tiện chiến tranh cho một

bộ phận nhân dân, tạo ta điều kiện cần thiết và tối thiểu cho từng công dân,
từng tổ chức, từng địa phương chiến đấu và đấu tranh bằng nhiều hình thức.

4


Luận cương chính trị của Đảng Cộng Sản Đông Dương tháng 10-1930 đã coi
“Võ trang cho công nông”, “lập quân đội công nông”, lãnh đạo quần chúng
“Võ trang bạo động (khởi nghĩa vũ trang, đấu tranh vũ trang)” là mục tiêu
đấu tranh phải tiến tới…Vũ trang toàn dân, trước hết là vũ trang cho công
nhân và nông dân, quân chủ lực của cách mạng, là một quá trình phát triển từ
thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh. Đó là động viên giáo dục
lòng yêu nước, yêu độc lập, tự do, thống nhất tổ quốc, yêu hòa bình, ấm no
hạnh phúc….
Không ngừng hoàn thiện các tổ chức chiến đấu, tổ chức đấu tranh của
nhân dân của nhân dân là một nội dung cơ bản của vũ trang toàn dân. Thông
qua việc xây dựng, phát triển các tổ chức chính trị-xã hội của quần chúng,
cũng như hệ thống chính trị của nhà nước dân chủ nhân dân, nhà nước xã hội
chủ nghĩa (ở miền Bắc), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến
việc hoàn thiện, nâng cao hiệu lực đánh giặc của các tổ chức chiến đấu, tổ
chức đấu tranh của nhân dân. Người cho rằng: “Thiết thực tổ chức và thiết
thực huấn luyện dân quân du kích từng làng. Lấy dân quân du kích làng làm
nền tảng, đồng thời phải kiện toàn các đội du kích thoát ly sinh sản”.
Có thể nói Vũ trang toàn dân đã kế thừa truyền thống cha ông “Toàn
dân vi binh, cử quốc nghênh địch” tạo nên hình ảnh cả dân tộc đứng lên
chống kẻ thù bằng sức mạnh tổng hợp, bằng cả nền văn hiến hàng nghìn
năm của mình.
Muốn sử dụng được sức mạnh toàn dân thì phải xây dựng, phát triển
lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa
phương và dân quân, tự vệ là lực lượng nòng cốt của toàn dân đánh giặc.

Đảng ta và Hồ Chí Minh đã có nhiều quan điểm mới về lực lượng vũ
trang cách mạng, lực lượng vũ trang của công nông gồm nhiều thứ quân,
nhiều loại hình lực lượng ngay từ những năm 1930 trong luận cương chính trị
của Đảng Cộng Sản Đông Dương, trong nghị quyết về đội tự vệ 1935 đã ghi
5


rõ tổ chức công nông tự vệ đội và tổ chức đội tự vệ công nông thường trực.
Đặc biệt trong tác phẩm “Con đường giải phóng” năm 1940 Hồ Chí Minh
xác định “về mặt quân sự phải tổ chức ra các đội tự vệ để làm quân chủ lực
trong khởi nghĩa…phải định đội nào làm tiên phong, đội nào làm hậu bị”. Để
đáp ứng đòi hỏi của cách mạng Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị về thành lập đội
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944, nêu rõ quan điểm về
quân chủ lực và quân địa phương trong cuộc kháng chiến toàn dân.
Từ lực lượng cách mạng, lực lượng chính trị của quần chúng, chủ yếu
là công nông, xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, lực lượng
vũ trang nhân dân, xây dựng phát triển quân đội cách mạng, quân đội nhân
dân. Đảng ta và Hồ Chí Minh đã phát hiện ra quy luật này trong quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Trải qua gần một thế kỷ nhân dân ta đã kháng chiến chống giặc ngoại
xâm bằng sức mạnh đoàn kết dân tộc. Chính sức mạnh ấy đã đưa dân tộc ta
dành thắng lợi qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ. Để có được như vậy thì Đảng và nhà nước ta đã thực hiện động viên
toàn dân, vũ trang toàn dân. Muốn thực hiện động viên toàn dân, vũ trang
toàn dân phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Lực lượng
vũ trang nhân dân được chia thành ba thứ quân đó là: bộ đội chủ lực, bộ đội
địa phương và dân quân tự vệ. “ Đã nói đến chiến tranh nhân dân thi không
thể thiếu được một trong ba thứ quân, không thể thiếu bộ đội chủ lực, mà
cũng không thể thiếu bộ đội địa phương, không thể thiếu lực lượng dân quân
tự vệ đông đảo”. Mỗi một thứ quân đảm đương một nhiệm vụ khác nhau

nhưng cả ba đều có nhiệm vụ chung là xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Bộ đội chủ lực giữ địa vị chiến lược chủ yếu trong đấu tranh vũ trang,
là lực lượng cơ động đánh địch trên chiến trường cả nước trong chiến tranh
nhân dân, chiến tranh giải phóng. Chức năng và nhiệm vụ cơ bản là thực hiện
những đòn đánh tiêu diệt lớn lực lượng chủ lực, lực lượng chiến lược chủ yếu

6


của quân địch bằng tác chiến tập trung, tác chiến hiệp đồng các binh chủng,
quân chủng, tác tiến hiện đại, giải phóng và bảo vệ các vùng lãnh thổ quan
trọng; phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng thực hiện những đòn
đánh quyết định trên hướng chiến lược chủ yếu, chiến trường chủ yếu, làm
chuyển biến so sánh lực lượng và cục diện chiến tranh có lợi cho ta, và kết
thúc thắng lợi cuộc chiến tranh, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, dân
quân tự vệ hình thành, phát triển thế trận chiến tranh nhân dân nhằm chủ
động tiến công, bao vây, chia cắt, phân tán lực lượng địch, đẩy chúng vào thế
bị động, suy yếu; kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, khởi nghĩa của
quần chúng và các lực lượng đấu tranh khác.
Bộ đội địa phương là lực lượng nòng cốt của đấu tranh vũ trang, của
chiến tranh nhân dân ở địa phương, là lực lượng tác chiến tại chỗ tiêu diệt,
tiêu hao quân địch, bảo vệ địa phương. Cùng với bộ đội chủ lực và dân quân
du kích tự vệ hình thành, phát triển thế trận chiến tranh nhân dân ở địa
phương và thế trận chiến tranh nhân dân trên cả nước, nhằm chủ động tiến
công, bao vây, chia cắt, phân tán lực lượng địch; phối hợp với dân quân du
kích, chiến tranh nhân dân địa phương tiến công địch ở địa phương, hiệp
đồng với bộ đội chủ lực trong các trận đánh, các chiến dịch, các hoạt động
chiến lược; giúp sức cho đấu tranh chính trị, khởi nghĩa quần chúng; là lực
lượng bổ sung, phát triển bộ đội chủ lực.
Lực lượng dân quân tự vệ một trong những thứ quân của lực lượng vũ

trang sau cách mạng tháng Tám được xác định là một công cụ chủ yếu của
chính quyền nhân dân cơ sở.
Ngày 28-3-1935 Đảng ta đã có “Nghị quyết về Đội Tự Vệ” ngay sau
đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng các đội tự vệ công nông mang tính chất là
những tổ chức vũ trang quần chúng lần lượt được ra đời và là những mầm
mống đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân.

7


Như vậy, dân quân tự vệ là lượng vũ trang quần chúng, được hình
thành từ quần chúng nhân dân những người lao động, những tầng lớp trí
thức,....Và dân quân tự vệ cũng là một bộ phận của lượng vũ trang nhân dân
Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam sáng lập và tổ chức lãnh
đạo. Và chịu sự quản lý điều hành của chính phủ và uỷ ban nhân dân, chịu sự
chỉ đạo trực tiếp của cơ quan quân sự các cấp.
Thông qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thì lực lượng dân
quân tự vệ đã được chứng minh vai trò, nhiệm vụ lịch sử đảm nhận. Vì thế
lực lượng dân quân tự vệ ngày càng phát triển và lớn mạnh không ngừng về
mọi mặt. Lực lượng dân quân đã trở thành một lực không thể thiếu của chiến
tranh nhân dân Việt Nam. Và đã được Bác Hồ nói là :"dân quân tự vệ và du
kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức
tường sắt của tổ quốc, vô luận kẻ địch hung bạo thế nào hễ động vào lực
lượng đó, bức tường đó thì kẻ địch nào cũng phải tan rã". Quả thực, trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cao trào kháng Nhật, rồi đến chống
đế quốc Mỹ thì những người dân quân tự vệ đã trực tiếp tham gia vào công
cuộc bảo vệ tổ quốc bằng những công việc thiết thực: canh gác, giữ bí mật và
bảo đảm an toàn cho bộ đội chủ lực hành quân, trú quân, bảo đảm đường sá,
cầu cống được thông suốt, tiếp tế đạn dược, lương thực, vận chuyển thương
binh.. Không chỉ dừng lại đó mà những người thanh niên nam nữ đã trực tiếp

tham gia chiến đấu và họ đã lập nên những chiến công rực rỡ, tạo nên những
trang sử vẻ vang chống chiến tranh của nhân dân, cũng như lực lượng dân
quân tự vệ. Như lực lượng dân quân trong kháng chiến chống Mỹ đã trực tiếp
tham vào công việc bảo vệ vùng trời tổ quốc bằng việc tham gia vào bắn máy
bay, tàu chiến, bắt giặc lái, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, bổ xung
cho bộ đội chủ lực, bổ xung cho bộ đội địa phương chiến đấu và phục vụ
chiến đấu, rồi những người dân quân ấy lại tiếp tục bảo vệ giao thông vận tải
được coi như huyết mạch của đất nước và tham gia khắc phục những hậu quả
của bom đạn địch gây.
8


Trong thời bình, lực lượng dân quân lại tham gia vào công cuộc xây
dựng và kiến thiết đất nước để đưa đất nước tiến lên theo con được xã hội
chủ nghĩa mà Đảng và nhà nước đã vạch ra. Họ những con người ấy đã góp
phần không nhỏ vào sự bình yên của tổ quốc. Trong chiến tranh họ đã bảo vệ
từng mảnh đất và nếu tổ quốc gọi họ sẵn sàng tham gia trực tiếp vào các trận
đánh để giúp bộ đội ta dành thắng lợi. Không chỉ vậy mà ngày nay trong thời
kỳ xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước khỏi sự phá hoại của kẻ thù bên
ngoài. Nhất là những năm gần đây lực lượng dân quân tự vệ đã tích cực
chống lại chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ các thế lực thù địch,
toàn vẹn lãnh thổ, an ninh đất nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ sự
bình yên cho công cuộc hoà bình kiến thiết đất nước.
Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân
dân ta, bên cạnh những thuận lợi, còn nhiều khó khăn, thách thức. Chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng
Việt Nam bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn biện pháp tinh vi, xảo quyệt.
các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa
bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài như dân chủ, nhân
quyền, dân tộc, tôn giáo, hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Thực tiễn ấy phải đòi hỏi vận vụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về
quân sự nói chung về xây dựng lực lượng trong khởi nghĩa vũ trang nói
riêng. Để phát huy sức mạnh toàn dân trong khởi nghĩa vũ trang hiện
nay phải thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, nhằm quy tụ, tập hợp mọi lực lượng của đất nước thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng thành công khối đại đoàn kết
toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và
tầng lớp trí thức, tạo nên sức mạnh to lớn nhằm ngăn chặn, đẩy lùi
những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định
về chính trị để đưa đất nước phát triển tiến lên.

9


Cách mạng là sự nghiệp của toàn dân. Sự nghiệp cách mạnh muốn
thắng lợi phải khơi dậy, phát huy sức mạnh toàn dân. Trong giai đoạn
hiện nay càng đòi hỏi phải phát huy sức mạnh của toàn dân, sức mạnh
tổng hợp của cả nước, của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân,
sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân vào sự nghiệp bảo
vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Xây dựng và phát huy sức mạnh
tổng hợp đã trở thành một trong những quy luật cơ bản giành thắng lợi
của cách mạng Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc trước
đây và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Quy luật
đó được hình thành trải qua quá trình dựng nước và giữ nước hàng
nghìn năm của dân tộc.
Đến thời đại Hồ Chí Minh, quy luật này càng được khẳng định
rõ hơn. Lý luận và thực tiễn chứng minh, để chống lại đội quân xâm
lược có ưu thế về kinh tế và quân sự, về vũ khí và trang bị hiện đại,
chúng ta phải phát huy sức mạnh toàn dân, mới đánh thắng được kẻ
thù. Sức mạnh để bảo vệ tổ quốc là sức mạnh tổng hợp do nhiều yếu

tố tạo thành trong đó quan trọng nhất là sức mạnh của toàn dân để
phát huy đươch sức mạnh của toàn dân Đảng, Nhà nước phải kế
hoạch về xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp và vững
mạnh. Đây là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm luôn chủ động sẵn sàng đối phó
với mọi tình huống có thể xảy ra. Trong thế trận chiến tranh nhân
dân, quân đội phải thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng địa bản chiến
lược, kết hợp xây dựng kinh tế gắn với giữ vững an ninh chính trị, an
toàn xã hội theo điều kiện vùng miền khác nhau. Thống nhất từ nhận
thức đến hành động về phân biệt tiền tuyến với hậu phương chỉ là
tương đối trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay, coi trọng cả về
hậu phương và tiền tuyến. trên cơ sở xây dựng toàn diện các mặt đối
với lực lượng vũ trang, phải coi trọng xây dựng vững mạnh về chính
10


trị, từng bước hiện đại hóa lực lượng vũ trang trong điều kiện cho
phép, phát huy sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân của đất
nước và con người Việt Nam.
Việc xác định lực lượng khởi nghĩa vũ trang trong tư tưởng quân sự Hồ
Chí Minh đặc biệt là trong tác phẩm “Con đường giải phóng” có ý nghĩ hết
sức quan trọng trong chiến tranh cách mạng và trong thực tiễn xây dựng lực
lượng vũ trang của Đảng ta giai đoạn hiện nay. Tác phẩm còn có giá trị lý
luận và thực tiễn rất lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giành, giữ chính quyền
của nhân dan ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và tiếp tục soi sáng cho sự nghiệp
xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa
hiện đại hóa.

11




×