Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI môn CHỦ NGHĨA DUY vật BIỆN CHỨNG lý LUẬN và vận DỤNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (213.57 KB, 25 trang )

1

MÔN CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG - LÝ LUẬN VÀ VẬN DỤNG
(23 vấn đề)
Câu 1.22. Phạm trù vật chất của triết học Mác - Lênin. Giá trị lịch sử và hiện thực?
Câu 2.19. Cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc phát huy vai trò nhân tố chủ quan
trong hoạt động thực tiễn. Vận dụng nguyên tắc trong hoạt động thực tiễn sư phạm?
Câu 3.17. Cơ sở lý luận tiếp cận, vận dụng mối quan hệ khách quan và chủ quan trong
hoạt động thực tiễn. Phê phán các biểu hiện sai lầm trong nhận thức, vận dụng mối quan hệ
khách quan và chủ quan?
Câu 4.13. Cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc khách quan. Vận dụng nguyên tắc
trong sự nghiệp đổi mới nước ta hiện nay?
Câu 5.1. Cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc toàn diện. Vận dụng xem xét các xu thế
lớn của thời cuộc hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Đaị hội XI của Đảng ta?
Câu 6.3 (21). Cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc lịch sử - cụ thể. Vận dụng nguyên tắc
trong đổi mới giáo dục và đào tạo theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay?
Câu 7.5. Cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc phát triển. Vận dụng xem xét con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?
Câu 8.20. Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật. Giá trị phương pháp luận
của nú trong nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?
Câu 9.15 (16). Bản chất khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật. Giá trị
của phép biện chứng duy vật đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay?
Câu 10.14 (23). Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật và
những yêu cầu đặt ra trong quá trình nhận thức, vận dụng vào hoạt động thực tiễn?
Câu 11.9. Vấn đề chuyển hoá trong phép biện chứng duy vật. Phê phán các quan điểm
sai lầm về vấn đề này?
Câu 12.7. Quy luật mâu thuẫn với tính cách là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Ý
nghĩa phương pháp luận của vấn đề trong xem xét chính sách đối ngoại của Đảng ta hiện nay?
Câu 13.11. Phân tích tính chu kỳ của sự phát triển theo quan điểm của phép biện
chứng duy vật. Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề trong xem xét quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay?


Câu 14.2 (4). Phân tích sự thống nhất và khác biệt giữa nhận thức cảm tính và nhận
thức lý tính. Phê phán những quan điểm sai lầm về vấn đề này?
Câu 15.10 (12). Phân tích cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn. Phê phán các biểu hiện sai lầm trong nhận thức, vận dụng nguyên tắc trên?
Câu 16.8. Cơ sở lý luận trực tiếp của quan điểm thực tiễn. Vận dụng quan điểm thực
tiễn trong quá trình đổỉ mới ở nước ta hiện nay?
Câu 17.18. Phân tích luận điểm của V.I.Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn
phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”. Ý nghĩa của vấn đề đối với sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam?
Câu 18.18. Nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức duy vật biện chứng. Vận dụng phê phán
các quan điểm ngoài mácxít về vấn đề này?


2

MÔN CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG - LÝ LUẬN VÀ VẬN DỤNG
(23 vấn đề)
CÂU 1.22. PHẠM TRÙ VẬT CHẤT CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN. GIÁ
TRỊ LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC?
Vật chất là phạm trù cơ bản của triết học; phạm trù xuất phát điểm của chủ nghĩa duy
vật, có lịch sử khoảng 2.500 năm. Vì vậy, từ khi mới ra đời cho đến nay luôn trở thành tiêu
điểm của cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
- Chủ nghĩa duy tâm: Phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất; vật chất chỉ là do
lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra là cái bóng, hoặc là hình ảnh của (ý niệm; ý niệm tuyệt đối;
chúa trời; thượng đế), hoặc là sản phẩm phức hợp của các cảm giác.
- Chủ nghĩa duy vật trước Mác: Thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất,
giải thích sự vận động, phát triển của thế giới vật chất như một hiện tượng tự thân, bác bỏ
vai trò sáng thế của tinh thần, thượng đế. Hạn chế: Đi tìm vật thể giản đơn nhất cấu tạo nên
vật chất. Do đó họ đã đồng nhất với vật thể cụ thể, với thuộc tính của nó.
1. Phạm trù vật chất của triết học Mác - Lênin

*Quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen về vật chất
C.Mác và Ph.Ăngghen chưa đưa ra định nghĩa về vật chất, nhưng đã đưa ra 3 kết luận
quan trọng nhằm phê phán chủ nghĩa duy vật trước Mác đó là:
- Không thể quy vật chất vào một vật thể cụ thể nào.
- Thuộc tính chung của mọi dạng vật chất là tồn tại khách quan, tức là không lệ thuộc
vào ý thức của con người.
- Muốn hiểu vật chất người ta phải đem nó đối lập với ý thức.
Những tư tưởng thiên tài trên đây đã có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoa học đương
thời và là cơ sở trực tiếp để V.I.Lênin kế thừa, phát triển học thuyết duy vật biện chứng về
vật chất sau này.
2. Định nghĩa của Lênin về vật chất:
- Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khoa học đã có hàng loạt phát minh quan trọng:
Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, Học thuyết tế bào, Thuyết tiến hóa.
-> Những phát minh trên chứng minh rằng sự đồng nhất vật chất với những dạng vật thể
cụ thể của vật chất, với những thuộc tính của vật chất mà các nhà triết học duy vật trước Mác
quan niệm không còn phù hợp nữa. Nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất, mà nó có thể
bị phân chia, chuyển hóa. Đứng trước những phát minh trên đây của khoa học tự nhiên,
không ít nhà khoa học và triết học đứng trên lập trường duy vật tự phát, siêu hình đã hoang
mang, dao động, hoài nghi tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật. Họ cho rằng, nguyên tử đã
bị phân chia, tan rã. Do đó, vật chất đã tiêu tan, chủ nghĩa duy vật không còn chổ đứng.
- Lênin đã đứng vững trên lập trường duy vật, khẳng định: “Không phải vật chất tiêu
tan mà chỉ có giới hạn hiểu biết của con người về vật chất là tiêu tan, nghĩa là cái mất đi
không phải là vật chất mà chỉ là giới hạn nhận thức của con người về vật chất”.
Trên cơ sở phân tích sâu sắc cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên; kế thừa những
giá trị của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử, những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen,
Lênin đã đưa ra một định nghĩa khoa học về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học
dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm


3


giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
(Lênin toàn tập, tập 18, tr.151).
*Định nghĩa vật chất của Lênin chỉ ra 3 nội dung cơ bản sau đây:
- Vật chất là một phạm trù triết học: Phạm trù triết học khác các phạm trù của các
ngành khoa học cụ thể. Nó là phạm trù rộng lớn nhất, khái quát nhất tất cả các sự vật hiện
tượng của thế giới. Nó là phạm trù nhận thức luận với chức năng giải quyết vấn đề cơ bản
của triết học, còn phạm trù của các ngành khoa học cụ thể chỉ khái quát từng lĩnh vực, từng
bộ phận riêng lẻ của thế giới. Do đó, mà chúng ta không đồng nhất vật chất với vật thể.
- Đặc tính duy nhất của vật chất là tồn tại hiện thực, khách quan, không phụ thuộc vào ý
thức.
Vật chất là hiện thực chứ không phải là hư vô và hiện thực này mang tính khách quan
chứ không phải hiện thực chủ quan. Do đó mọi sự vật hiện tượng từ vi mô đến vĩ mô, từ
những cái đã biết đến những cái chưa biết, từ những sự vật “giản đơn” nhất đến những hiện
tượng vô cùng “kỳ lạ”, dù tồn tại trong tự nhiên hay trong xã hội, nếu có đặc tính tồn tại
khách quan thì đều thuộc phạm trù vật chất, đều là các dạng cụ thể của vật chất. Cả con
người cũng là một dạng vật chất, là sản phẩm cao nhất trong giới tự nhiên mà chúng ta đã
biết. Xã hội loài người cũng là một dạng tồn tại đặc biệt của vật chất.
- Con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan.
Vì: Vật chất không phải là cái vô hình mà là cái hữu hình; nó được tồn tại dưới dạng
các sự vật hiện tượng cụ thể. Các sự vật hiện tượng cụ thể đó khi tác động vào chúng ta tạo
ra cho chúng ta cảm giác và chúng ta phản ánh được nó. Quá trình phản ánh đó chính là quá
trình nhận thức của chúng ta đối với các sự vật hiện tượng.
2. Giá trị lịch sử và hiện thực
*Giá trị lịch sử:
- Khẳng định lập trường, thế giới quan duy vật. Xác định địa vị đúng đắn của chủ
nghĩa duy vật, trang bị lại lập trường duy vật cho các nhà khoa học.
- Khẳng định bước ngoặc cách mạng trong triết học: Giải quyết được vấn đề cơ bản
của triết học theo lập trường duy vật biện chứng (đỉnh cao của triết học nhân loại).
- Là cơ sở để tham gia khẳng định các vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tống cổ

chủ nghĩa duy tâm ra khỏi căn hầm trú ẩn cuối cùng (CNDVBC và CNDVLS là 2 mặt của
một tấm thép).
- Khắc phục được khủng hoảng thế giới quan trong KHTN cuối TK 19 đầu TK 20.
*Giá trị hiện thực:
- Cơ sở lý luận trực tiếp cho quan điểm lịch sử - cụ thể: khi xem xét, cải tạo sự vật,
hiện tượng phải đặt trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng.
- Trang bị thế giới quan, phương pháp luận cho con người trong quá trình nhận thức và
cải tạo thế giới, mở đường cho sự phát triển của khoa học đi sâu nghiên cứu, khám phá thế
giới, cải tạo thế giới phục vụ đời sống của con người và xã hội, củng cố lòng tin cho con
người trong hoạt động thực tiễn.
- Đấu tranh chống quan điểm sai trái: chủ nghĩa duy tâm, nhị nguyên luận và thuyết
bất khả tri, khắc phục các quan điểm của chủ nghĩa duy vật cũ; khẳng định giá trị khoa học
của định nghĩa (khoa học càng nghiên cứu thế giới vĩ mô sâu sắc càng khẳng định sự đúng
đắn, khoa học của định nghĩa).


4

Trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đặc biệt qua tâm dến việc xuất phát từ thực
tiễn cuộc sống và cách mạng Việt Nam để đề ra đường lói, xác định chủ trương giải pháp.
Trong quân sự, phải phản ánh đúng bản chất quy luật vận động của chiến tranh và đấu
tranh vũ trang của quá trình xây dựng quân đội, để có đường lối xây dựng quân đội phù
hợp.


5

CÂU 2.19. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP CỦA NGUYÊN TẮC PHÁT HUY
VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN. VẬN DỤNG
NGUYÊN TẮC TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN SƯ PHẠM?

1. Cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc: Đi từ vấn đề ý thức và bản chất của ý thức
(tính tích cực, chủ động sáng tạo của ý thức).
- Ý thức: Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao là bộ óc
con người. Là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người.
- Bản chất của ý thức: ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc
con người một cách tích cực, chủ động, sáng tạo. Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan
của thế giới khách quan.
+ Ý thức là hình ảnh của sự vật, là sự phản ánh thế giới khách quan được thực hiện
trong não người, gắn liền hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có tính định hướng, có
lựa chọn nhằm sáng tạo ra những tri thức về sự vật hiện tượng của thế giới khách quan.
+ Nội dung của ý thức do thực tại khách quan quy định.
+ Ý thức là phản ánh chủ quan của thế giới khách quan nhưng là sự phản ánh mang
tính sáng tạo, tích cực về thế giới khách quan
+ Sự phản ánh của ý thức mang dấu ấn của chủ thể phản ánh: Sự phản ánh phụ thuộc
vào trình độ năng lực chủ thể trong quá trình phản ánh; phụ thuộc vào kinh nghiệm của chủ
thể; phụ thuộc vào lập trường giai cấp của chủ thể.
2. Nội dung của nguyên tắc
- Phát huy tất cả các thành tố cấu thành
+ Tri thức: là trình độ nhận thức, hiểu biết của con người, là nội dung cơ bản của ý thức.
+ Tình cảm: Là cảm xúc, rung động của con người trong quan hệ với sự vật và với bản
thân mình.
+ Niềm tin: Là sự hoà quyện giữa tri thức và tình cảm, nó góp phần nâng cao ý thức
tích cực, tự giác trong hiện thực hoá tri thức.
+ Ý chí: Là sự thể hiện quyết tâm cao, tinh thần vuợt mọi khó khăn gian khổ để thực
hiện các mục tiêu, lý tưởng đã đặt ra.
+ Sức khỏe
+ Năng lực thực tiễn.
- Phát huy bằng cách: thông qua hoạt động
3. Vận dụng nguyên tắc trong hoạt động thực tiễn sư phạm
- Nhân tố chủ quan trong thực tiễn hoạt động sư phạm: chủ thể (thầy - trò), nhân tố chủ

quan: tri thức, Tình cảm, Niềm tin, Ý chí, Sức khỏe, Năng lực thực tiễn.
- Phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế, khắc phụ những yếu tố tiêu cực trong các sự
vật, hiện tượng, làm cho hoạt động thực tiễn sư phạm tốt hơn, hiệu quả hơn, chất lượng cao
hơn trên thực tiễn.
+ Phát huy vai trò tích cực, chủ động của người học.
+ Tránh việc “bày cỗ sẵn”, áp đặt một chiều.
+ Người giáo viên cần tự học tập nâng cao trình độ, đổi mới phương pháp, ứng dụng
khoa học kỹ thuât vào giảng dạy.
- Chống tư tưởng thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính sáng tạo.


6

CÂU 3.17. CƠ SỞ LÝ LUẬN TIẾP CẬN, VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ KHÁCH
QUAN VÀ CHỦ QUAN TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN. PHÊ PHÁN CÁC
BIỂU HIỆN SAI LẦM TRONG NHẬN THỨC, VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ
KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN?
1. Cơ sở lý luận tiếp cận, vận dụng mối quan hệ khách quan và chủ quan trong
trong hoạt động thực tiễn: Đi từ vấn đề vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa
vật chất và ý thức.
- Vật chất
- Ý thức: Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao là bộ óc
con người. Là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người.
- Mối quan hệ: Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong mối
quan hệ đó, vật chất là cái có trước, quyết định ý thức; ý thức có vai trò tác động to lớn trở
lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
+ Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức: Vật chất quyết định về nguồn gốc, nội
dung và sự biến đổi của ý thức.
+ Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất theo hai chiều hướng
thúc đẩy hoặc kìm hãm; Tự bản thân ý thức không thể cải biến được thế giới mà phải thông

qua hoạt động thực tiễn của con người.
2. Nội dung mối quan hệ khách quan và chủ quan
- Khách quan: là phạm trù chỉ tất cả những gì tồn tại khách quan không lệ thuộc vào
chủ thể, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên và trực tiếp quy định mọi mặt
hoạt động của chủ thể.
- Chủ quan: Chủ quan là phạm trù dùng để chỉ tất cả những gì cấu thành phẩm chất và
năng lực của một chủ thể nhất định, phản ánh vai trò của chủ thể ấy đối với những hoàn
cảnh hiện thực (khách quan) trong hoạt động nhận thức và cải tạo khách thể.
- Mối quan hệ: Khách quan và chủ quan là hai mặt, 2 yếu tố không thể tách rời nhau
trong mọi hoạt động của mỗi chủ thể, giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau nhau
nhưng có vai trò không giống nhau. Trong đó khách quan là tính thứ nhất quyết định chủ
quan, chủ quan là tính thứ hai tác động trở lại khách quan.
+ Khách quan là tính thứ nhất, là cơ sở, tiền đề, xuất phát điểm, là cái giữ vai trò quyết
định suy đến cùng đối với chủ quan:
Quyết định sự ra đời của cái chủ quan: quyết định sự nảy sinh ý định của chủ thể).
Ví dụ: Căn cứ vào tình hình địch - ta, điều kiện thời tiết, khí hâu, địa hình… mà người
chỉ huy đề ra phương án tác chiến tối ưu để đánh thắng kẻ thù.
Quyết định nội dung của chủ quan: quyết định mục đích, kế hoạch, phương pháp, biện
pháp cải tạo khách quan.
Ví dụ: Căn cứ vào đối tượng cụ thể để người chính trị viên đề ra mục đích, yêu cầu,
nội dung, phương pháp tiến hành giáo dục chính chị cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị một
cách có hiệu quả.
Quyết định phạm vi, giới hạn thành công của chủ quan: Tức là phạm vi, giới hạn thành
công của chủ quan phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, khả năng khách quan và phụ thuộc
vào khách thể.
Quyết định sự biến đổi của chủ quan: Tức là chủ quan phải biến đổi phù hợp với sự
biến đổi, phát triển của khách quan.


7


Ví dụ: Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc
thắng chắc” trong chiến dịch Điện Biên phủ của quân ta.
+ Chủ quan không hoàn toàn thụ động mà có vai trò to lớn trong việc biến đổi, cải tạo cái
khách quan thông qua hoạt động thực tiễn. (Vai trò của con người). Song, chủ quan tác động
trở lại khách quan dù to lớn đến đâu cũng vẫn trên cơ sở tính thứ nhất của khách quan và phải
phù hợp với khách quan, chứ không tự ý bịa đặt, thay đổi bất chấp quy luật khách quan.
3. Phê phán các biểu hiện sai lầm trong nhận thức, vận dụng mối quan hệ khách
quan và chủ quan
- Tuyệt đối hóa một mặt:
+ Tuyệt đối hóa chủ quan: chủ nghĩa chủ quan duy ý chí
+ Tuyệt đối hóa khách quan: chủ nghĩa khách quan, thuyết định mệnh.
- Đồng nhất mối quan hệ vật chất và ý thức với khách quan và chủ quan.
*Lưu ý: Trong hoạt động thực tiễn, chủ quan có thể quyết định mặt này, mặt kia trong
những thời điểm xác định. Chủ quan có thể biến cái này thành cái khác. Tuy nhiên, xét trên
tổng thể thì khách quan vẫn là nhân tố quyết định.
CÂU 5.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP CỦA NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN.
VẬN DỤNG XEM XÉT CÁC XU THẾ LỚN CỦA THỜI CUỘC HIỆN NAY THEO
TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐAỊ HỘI XI CỦA ĐẢNG TA?
1. Cơ sở của nguyên tắc
- Xuất phát từ tính thống nhất vật chất của thế giới: Thế giới là một chỉnh thể thống
nhất, luôn có sự tác động ảnh hưởng, ràng buộc, qui định ảnh hưởng lẫn nhau giữa các mặt,
các bộ phận, các thuộc tính bên trong sự vật và giữa các sự vật với nhau.
- Cơ sở trực tiếp của nguyên tắc là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Mọi sự vật, hiện
tượng trong thế giới vật chất đều tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất thông qua mối liên
hệ khách quan, phổ biến, đa dạng và phong phú.
2. Nội dung
- Xem xét và cải tạo sự vật trong một chỉnh thể của tất cả các mặt, các bộ phận, các
yếu tố, các thuộc tính, cùng các mối liên hệ của chúng trong bản thân sự vật, mối liên hệ
giữa sự vật này với các sự vật khác và với môi trường xung quanh, kể cả các mặt, các mối

liên hệ trung gian, gián tiếp. Đồng thời, phải có cách xem xét, cải tạo sự vật phù hợp với vị
trí, vai trò của các mối liên hệ xác định.
- Để nhận thức được sự vật chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu
thực tiễn của con người. Cùng một sự vật, xuất phát từ nhu cầu khác nhau chủ thể sẽ phản
ánh những mặt khác nhau của sự vật và do vậy, nó biểu hiện ra những cái khác nhau. Phải
xem xét toàn diện tất cả các mặt của những mối quan hệ của sự vật đòi hỏi phải chú ý đến
sự phát triển cụ thể của các quan hệ đó.
3. Yêu cầu của nguyên tắc
- Trong nhận thức: Nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể của nó, nghiên cứu tất cả các
mặt... cấu tạo nên sự vật; Xem xét sự liên hệ và tác động qua lại giữa các mặt..., giữa sự vật
đó với sự vật khác; Đánh giá vị trí, vai trò các mối liên hệ...(toàn diện nhưng có trọng tâm,
trọng điểm).


8

- Trong thực tiễn: Sử dụng sức mạnh tổng hợp, các phương tiện và biện pháp khác
nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất; tác động cải tạo sự vật phù hợp với vị trí, vai trò của các
mối liên hệ xác định, gắn với nhu cầu thực tiễn của từng chủ thể
- Liên hệ phải luôn gắn với phát triển.
- Phê phán: quan điểm phiến diện, chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện.
4. Ý nghĩa trong nhận thức, đánh giá xu thế lớn thời cuộc hiện nay
- Xem xét một cách toàn diện xu thế phát triển của thế giới: kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội. Tập trung vào bản chất kinh tế chính trị trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh,
phức tạp, khó lường. (ĐH 11 tr.27- 28, 67-69).
+ Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột dân tộc, tôn giáo,
chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an
ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao tiếp tục gia tăng.
+ Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, lương thực, biến đổi khí hậu, thiên
tai…tiếp tục diễn biến phức tạp đòi hỏi sự hợp tác, tinh thần trách nhiệm của các quốc gia,

dân tộc.
+ Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học phát triển mạnh mẽ.
+ Kinh tế thế giới phục hồi sau khủng hoảng, nhưng cũng khó khăn bất ổn, cạnh tranh
kinh tế thương mại gay gắt.
+ Cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân sinh, dân chủ tiến bộ xã hội tiếp tục
phát triển, đấu tranh giai cấp, dân tộc diễn biến phức tạp.
+ Cương lĩnh bổ sung 2011 khẳng định: Chủ nghĩa tư bản cũng còn tiềm năng phát
triển song mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với
chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa trở nên sâu sắc… Theo quy luật tiến hóa của
lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: Trong thập niên tới, hòa bình, hợp
tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh giành tài
nguyên và lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với
những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên
nhiên... buộc các quốc gia phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động (tr.95-96).


9

CÂU 4.13. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP CỦA NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN.
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI NƯỚC TA HIỆN NAY?
*Vị trí: là nguyên tắc hàng đầu của triết học macxit.
1. Cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc khách quan
Xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa duy vật máxxít, trực tiếp là vấn đề vật chất
+ Thế giới vật chất tồn tại khách quan, tự thân, vốn có, nó là một chỉnh thể thống nhất,
luôn có sự tác động ảnh hưởng, ràng buộc, qui định ảnh hưởng lẫn nhau giữa các mặt, các
bộ phận, các thuộc tính bên trong sự vật và giữa các sự vật với nhau.
+ Vật chất tồn tại thông qua vật thể, vố có tự thân.
- Xuất phát từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Xuất phát từ mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan

2. Nội dung của nguyên tắc khách quan
- Khách quan: là phạm trù chỉ tất cả những gì tồn tại khách quan không lệ thuộc vào chủ
thể, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên và trực tiếp quy định mọi mặt hoạt động
của chủ thể.
- Nội dung nguyên tắc: Xem xét, cải tạo sự vật, hiện tượng phải vốn có, không áp đặt
chủ quan mà phải đúng như vốn có của nó: Điều kiện khách quan; Quy luật khách quan; khả
năng khách quan.
+ Con người muốn đạt được mục đích không có cách nào khác là phải nhận thức và tác
động vào thế giới đúng như vốn có của nó; không bao giờ được tô hồng, bóp méo bản chất
của sự vật, hay tác động vào sự vật bằng các phương thức chủ quan tuỳ tiện.
+ Mục đích, chủ trương, giải pháp mà chúng ta đề ra chỉ có phản ánh đúng đắn thế giới
khách quan, hoàn toàn xuất phát từ thực tế khách quan thì mới có khả năng được thực hiện.
+ Các chủ thể phải coi nguyên nhân, điều kiện, khả năng, phương tiện, lợi ích vật chất
là nền tảng, là cái suy đến cùng quyết định mọi hiện tượng, quá trình xã hội. Nếu chỉ xuất
phát từ nguyện vọng chủ quan, bất chấp hiện thực khách quan, ắt sẽ rơi vào chủ nghĩa chủ
quan, duy ý chí và phải trả giá trong thực tiễn.
3. Vận dụng nguyên tắc trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Trog sự nghiệp cách mạng Việt Nam: Đảng ta luôn quán triệt và vận dụng sáng tạo
nguyên tắc khách quan.
- Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các
đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước.
- Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường
lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước.
- Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động
lực chủ yếu để phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau (lợi ích kinh
tế, lợi ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích
xã hội ….) thành động lực mạnh mẻ thúc đẩy công cuộc đổi mới.
- Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước đổi mới,
Đảng ta kết luận: “mọi đường lối, chủ trương của đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng
quy luật khách quan”.

Đại hội XI: “Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo,
bám sát thực tiễn đất nước, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới” (tr.22)


10

CÂU 6.3 (21). CƠ SỞ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP CỦA NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ CỤ THỂ. VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TRONG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THEO QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY?
*Ví trí: là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, xem xét sự vật, hiện tượng trong
những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
1. Cơ sở của nguyên tắc
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật máxxít về phương thức và các hình thức tồn tại của
vật chất
+ Phương thức tồn tại của vật chất: Vận động, đứng im tương đối, các hình thức vận
động cơ bản (cơ học, lý học, hóa học, sinh học, xã hội).
+ Hình thức tồn tại cơ bản của vật chất: Không gian và thời gian.
+ Vật chất tồn tại bằng cách vận động thì không thể vận động ở đâu khác ngoài không
gian và thời gian.
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật: mọi sự vật, hiện
tượng trong thế giới vật chất đều tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất thông qua mối liên
hệ khách quan, phổ biến, đa dạng và phong phú.
- Lý luận nhận thức duy vật máx xít về tính cụ thể của chân lý: Tính cụ thể của chân lý
là đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội dung phản ánh với một đối tượng nhất định cùng
các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Điều đó có nghĩa là mỗi tri thức đúng đắn bao giờ
cũng có một nội dung cụ thể xác định.
2. Yêu cầu của nguyên tắc
- Xem xét, cải tạo sự vật không chỉ tính đến những yếu tố khách quan bên ngoài tác
động đến sự vật mà còn phải xem xét sự vận động, biến đổi ở bên trong của mỗi sự vật.
- Xem xét, cải tạo các sự vật, hiện tượng phải gắn với không gian, thời gian và mối quan
hệ xác định.

- Xem xét một luận điểm, một chân lý nào đó phải gắn với những điều kiện hoàn cảnh
lịch sử - cụ thể của chân lý đó, nếu không mọi chân lý sẽ trở thành trừu tượng và trống rỗng,
lý thuyết suông.
- Vận dụng lý luận vào thực tiễn không dừng lại ở công thức, sơ đồ chung mà phải tính
đến những điều kiện lịch sử - cụ thể của sự vận dụng.
- Cần chống bệnh rập khuôn, giáo điều, máy móc, chủ nghĩa hư vô lịch sử, bệnh “chung
chung trừu tượng”, quan điểm chân lý vĩnh cửu, chân lý tuyệt đích.
4 Vận dụng nguyên tắc trong đổi mới giáo dục và đào tạo theo quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay
Nghị số 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Nghị quyết Trung ương
8, khóa XI): Đổi mới giáo dục và đào tạo phải đáp ứng nhu cầu trong nước và hội nhập
quốc tế, phù hợp với giai đoạn phát triển mới: Quan điểm chỉ đạo:
2. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối
tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình,
bước đi phù hợp.
3. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học.


11

4. Phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học
và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu
theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
7. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời
giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.
Như vậy:
- Đổi mới trên cơ sở nguyên tắc, phương châm giáo dục đào tạo và thực tiễn từng nhà
trường cụ thể.
- Đổi mới toàn diện, nội dung chương trình, phương pháp dạy học sát đối tượng, yêu

cầu nhiệm vụ nhà trường, yêu cầu nhiệm vụ quân đội.
- Đổi mới giảng dạy phải sáng tạo, không dập khuôn máy móc: Giảng viên bám sát đối
tượng, yêu cầu cụ thể và tùy từng hoàn cảnh cụ thể; lý luận phải gắn với thực tiễn và sự phát
triển của phương pháp dạy học hiện đại, kết hợp phương pháp truyền thống và hiện đại./.

CÂU 7.5. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP CỦA NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN.
VẬN DỤNG XEM XÉT CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY?
1. Cơ sở của nguyên tắc
- Nguyên tắc phát triển cũng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản,
quan trọng của hoạt động nhận thức thực tiễn. Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là
nguyên lý về sự phát triển của phép biện chựng duy vật.
*Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp
đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện.
- Phát triển là khuynh hướng chung của sự vật hiện tượng trong thế giới (TN-XH-TD)
- Phát triển là một quá trình vận động tự thân của sự vật, có nguồn gốc từ sự thống
nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật hiện tượng (quy luật mâu thuẫn).
- Cách thức của sự p.triển là quá trình biến đổi dần dần về lượng đến mức độ nhất định
sẽ dẫn tới sự biến đổi về chất và ngược lại (quy luật lượng chất).
- Khuynh hướng của sự phát triển là tiến lên. Con đường tiến lên quanh co, phức tạp,
thậm chí có những bước thụt lùi tạm thời (quy luật phủ định của phủ định).
- Phát triển là quá trình cái mới ra đời, cái mới là hợp quy luật, là cái tất thắng.
2. Nội dung nguyên tắc
- Khi xem xét các sự vật hiện tượng phải đặt chúng trong sự vận động, p.triển; vạch ra
xu hướng biến đổi và chuyển hóa của chúng.
- Khi phân tích sự vật không chỉ nắm cái hiện tồn của sự vật mà phải thấy được
khuynh hướng biến đổi và chuyển hoá trong tương lai của nó, đặc biệt phải tìm ra khuynh
hướng biến đổi chính của sự vật. Đồng thời tìm ra được mâu thuẫn của sự vật, sự chuyển
hóa của sự vật cũ sang sự vật mới. Nghĩa là phải phát hiện cái mới và ủng hộ cái mới, tìm ra
động lực bên trong của sự phát triển.

- Trong xem xét sự vật phải tính đến các giai đoạn phát triển của nó. Trên cơ sở đó tìm
ra phương pháp nhận thức và cách thức tác động thích hợp nhằm thúc đẩy hay kìm hãm sự
phát triển của sự vật tuỳ theo nhu cầu, lợi ích, mục đích của chủ thể.


12

4. Vận dụng xem xét con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
- Khẳng định tính tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta: “Đi lên chủ
nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt
Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” (tr.70).
- Nhận thức mô hình chủ nghĩa xã hội càng sáng tỏ hơn: Đại hội 9 có 6 đặc trưng, Đại
hội 11 có 8 đặc trưng:
Một là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo
vệ tài nguyên môi trường.
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ nghĩa.
Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắ dân tộc, xây dựng con người,
nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và
phát triển, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tăng
cường mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Bảy là, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.
- Thực chất phát triển quá độ bỏ qua tư bản chủ nghĩa ở nước ta: là bỏ qua việc xác lập
vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng kế
thừa phát huy thành tựu đạt được của chủ nghĩa tư bản.
- Tin vào sự thắng lợi của cái mới, tránh bi quan dao động trước những thất bại tạm
thời của cái mới.

CÂU 8.20. BẢN CHẤT KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA PHÉP BIỆN
CHỨNG DUY VẬT. GIÁ TRỊ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT ĐỐI VỚI SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY?
Phép biện chứng duy vật là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động,
phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Phép biện chứng “là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự
phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy “ (t.20, tr.201).
*Khái quát về lịch sử phép biện chứng trong triết học
- Phép biện chứng tự phát thời cổ đại: Heraclit, Arixtot, Denon..
- Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức: Can tơ, Heghen...
- Phép biện chứng duy vật: C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, Lênin bổ sung, phát triển.
1. Bản chất khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật
*Bản chất khoa học:
- Phép biện chứng duy vật không phải là một sản phẩm thuần tuý của tư duy, cũng
không phải được rút ra từ một lực lượng siêu nhiên thần bí nào mà nó được rút ra từ giới tự
nhiên và lịch sử.
- Phép biện chứng duy vật luận chứng bằng khoa học, phản ánh những quy luật khách
quan của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới.
- Mang tính hệ thống: hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù.
*Bản chất cách mạng:


13

- Lần đầu tiên trong lịch sử chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng có sự thống nhất với
nhau, là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử.
- Là vũ khí lý luận sắc bén để giai cấp công nhân và nhân dân lao động tự giải phóng
mình và xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn.
2. Giá trị của phép biện chứng duy vật đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận biện chứng, cho phép chúng ta xem xét một

cách khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể trong xu thế phát triển về quá trình đổi mới ở nước
ta hiện nay. Đặc biệt, là xem xét và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, như:
- Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển.
- Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
- Quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuát xã
hội chủ nghĩa.
- Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và p.triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội.
- Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.
- Quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
CÂU 9.15 (16). ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT.
GIÁ TRỊ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NÓ TRONG NHẬN THỨC CON ĐƯỜNG
ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY?
Phép biện chứng duy vật là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động,
phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Phép biện chứng “là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự
phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy “ (t.20, tr.201).
1. Những đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật
*Thống nhất giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan
- Biện chứng khách quan là biện chứng của sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại ở bên
ngoài và độc lập với ý thức con người.
- Biện chứng chủ quan là tư duy biện chứng và biện chứng của quá trình phản ánh hiện
thực khách quan vào đầu óc con người.
- Sự thống nhất giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan trong phép biện
chứng duy vật khẳng định: Biện chứng chủ quan là sự phản ánh của biện chứng khách quan.
Sự phản ánh này mang tính tích cực, sáng tạo và có vai trò chỉ đạo hoạt động cải tạo sự vật,
hiện tượng. Lênin: “Biện chứng của sự vật sản sinh ra biện chứng của ý niệm, chứ không
phải ngược lại”.
*Thống nhất giữa nhận thức thế giới và cải tạo thế giới thông qua hoạt động thực tiễn

của con người
- Phép biện chứng duy vật trở thành phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa
học và thực tiễn cách mạng. Nó vạch ra những tính chất biện chứng của thế giới, từ đó rút
ra những quan điểm, nguyên tắc định hướng, chỉ đạo mọi hoạt động của con người. Sự
thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và phương pháp thể hiện trong từng nguyên lý, quy luật,
phạm trù của phép biện chứng duy vật.


14

- Trong luận cương thứ 11 về phoiơbắc (t.3, tr.12), Mác viết: “Các nhà triết học đã chỉ
giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”.
*Thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng
- Tính khoa học: Phép biện chứng duy vật không phải là một sản phẩm thuần tuý của
tư duy, cũng không phải được rút ra từ một lực lượng siêu nhiên thần bí nào mà nó được rút
ra từ giới tự nhiên và lịch sử. Phép biện chứng duy vật luận chứng bằng khoa học, phản ánh
những quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Nó không chỉ giải thích thế giới mà
còn cải tạo thế giới.
- Tính cách mạng: Lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng có
sự thống nhất với nhau, là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử.
Là vũ khí lý luận sắc bén để giai cấp công nhân và nhân dân lao động tự giải phóng mình và
xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn.
*Thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học
- Sự thống nhất giữa biện chứng khách quan của sự vật, hiện tượng và quá trình biện
chứng của tư duy.
- Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học là sự thống nhất
trên cơ sở thực tiễn.
Lênin: Lôgíc biện chứng, lý luận nhận thức và phép biện chứng là một (Bút ký triết học).
2. Giá trị phương pháp luận của phép biện chứng duy vật đối với nhận thức thời
cuộc hiện nay

- Thời đại ngày nay là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
- Hiện nay có những đặ điểm mới: cuộc cách mạng khoa học công nghệ; xu thế hợp tác, mở
cửa; vấn đề chạy đua vũ trang, chiến tranh; các vấn đề toàn cầu.
- Giá trị phương pháp luận thể hiện thông qua chức năng và hệ thống các nguyên tắc:
toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể.
- Nắm vững phép biện chứng duy vật
+ Là cơ sở khoa học để đề ra các nguyên tắc phương pháp luận trong nhận thức tình hình
thời cuộc hiện nay.
+ Đánh giá một cách khách quan, toàn diện thuận lợi, khó khăn, đặt trong bối cảnh lịch
sử, theo điều kiện cụ thể mỗi quốc gia, khu vực; sự phát triển xu thế xã hội, thời cuộc: thời
kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; tư bản còn khả năng phát triển nhưng
không khắc phục được mâu thuẫn nội tại; những mâu thuẫn thời đại vẫn tồn tại đan xen;
loài người tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội.
+Là vũ khí tinh thần, tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc
đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột.
+ Mở đường cho sự phát triển của khoa học tự nhiên và các khoa học khác.


15

CÂU 10.14 (23). NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÉP
BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH
NHẬN THỨC, VẬN DỤNG VÀO HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN?
Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật bao gồm: Nguyên
tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử - cụ thể.
1. Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
*Vị trí: là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép
biện chứng duy vật.
*Nội dung nguyên tắc: muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng chúng ta
phải xem xét sự tồn tại của nó trong các mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc

tính khác nhau trong chỉnh thể sự vật, hiện tượng ấy và trong mối liên hệ với các sự vật,
hiện tượng khác.
*Yêu cầu:
- Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, chỉ ra
đâu là mối liên hệ bản chất quy định sự vận động phát triển của sự vật (chống chủ nghĩa
chiết chung kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ, coi cái cơ bản thành không cơ bản... dẫn
đến nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản chất của sự vật, hiện tượng).
- Xem xét sự vật trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người, gắn với mỗi
hoàn cảnh nhất định (tránh tuyệt đối hóa tri thức đã có về sự vật, hiện tượng, coi đó là
những chân lý bất biến, không bổ sung, không phát triển).
- Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện một chiều; đối lập với chủ
nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện (chủ nghĩa chiết chung chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối
liên hệ của sự vật, hiện tượng nhưng không rút ra được mặt bản chất, mối liên hệ cơ bản,
mà xem xét bình quân, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau; thuật ngụy biện
đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất).
- Từ quan điểm toàn diện trong nhận thức, chúng ta rút ra cái nhìn đồng bộ trong hoạt
động thực tiễn. Trong hoạt động thực tiễn phải áp dụng đồng bộ các biện pháp, các phương
tiện khác nhau để cải tạo sự vật, hiện tượng. Trong mỗi giai đoạn phải xác định khâu trọng
tâm, then chốt để tập trung lực lượng giải quyết vấn đề.
- Trong hoạt động thực tiễn (các ngành KHTN và KHXH) phải quán triệt quan điểm
toàn diện. Chúng ta không thể hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng nếu tách nó ra khỏi
những mối liên hệ, những tác động qua lại giữa chúng. Đây là cơ sở phương pháp luận
trong xem xét công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam hiện nay (nếu không phân tích
toàn diện những mối liên hệ, quan hệ... sẽ không đánh giá đúng tình hình, thuận lợi, khó
khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh).
2. Nguyên tắc phát triển.
*Vị trí: đây là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
*Nội dung:

- Phát triển là sự vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động và
trong sự phát triển sẽ nảy sinh những tính quy định mới, cao hơn về chất, nhờ đó, cơ cấu tổ
chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng cùng chức năng của nó ngày


16

càng hoàn thiện hơn.
- Để nhận thức được sự tự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng phải thấy được
sự thống nhất giữa sự biến đổi về lượng với sự biến đổi về chất trong quá trình phát triển;
phải tìm ra nguồn gốc, động lực bên trong, nghĩa là tìm ra và biết cách giải quyết mâu
thuẫn; phải xác định xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng do sự phủ định biện chứng
quy định; coi phủ định là tiền đề cho sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới; sự vật, hiện
tượng mới ra đời phù hợp với quy luật vận động và phát triển, bởi vậy phải ủng hộ cái mới,
cái tiến bộ.
*Yêu cầu:
- Khi xem xét sự vật, hiện tượng, phải đặt nó trong trạng thái vận động, biến đổi,
chuyển hóa để không chỉ nhận thức sự vật, hiện tượng trong trạng thái hiện tại, mà còn thấy
được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai, ... cần phải chỉ ra nguồn gốc, động
lực của sự phát triển là mâu thuẫn.
- Phải nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nhạy cảm với cái mới, sớm phát hiện ra
cái mới, ủng hộ cái mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho cái mới đó phát triển thay thế cái
cũ; chống quan điểm bảo thủ, trì trệ...
- Vận dụng quan điểm phát triển vào nhận thức con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
3. Nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và thực tiễn.
*Vị trí: đây cũng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng

trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
*Nội dung: xem xét sự vật, hiện tượng phải xem xét sự hình thành, tồn tại và phát triển
của nó trong trong điều kiện, môi trường cụ thể, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể; nghiên cứu sự
vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển trong từng giai đoạn cụ thể của nó.
*Yêu cầu:
- Nhận thức được vận động có tính phổ biến, là phương thức tồn tại của vật chất: vận
động làm cho sự vật, hiện tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật nhất định và hình
thức của vận động quyết định bản chất của nó; phải chỉ rõ được những giai đoạn cụ thể mà
nó đã trải qua...
-Nhận thức những thay đổi diễn ra trong sự vật, hiện tượng, trạng thái chất lượng thay
thế nhau, chỉ ra quy luật khách quan quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện
tượng, quy định sự tồn tại hiện thời và khả năng chuyển hóa của nó.
- Xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ cụ thể của chúng. Xem xét các mặt,
các mối liên hệ cụ thể của sự vật, hiện tượng trong quá trình hình thành, phát triển cũng như
diệt vong của chúng cho phép nhận thức đúng đắn bản chất sự vật, hiện tượng từ đó có định
hướng đúng cho hoạt động thực tiễn của con người.
- Xem xét các mối liên hệ, sự biến đổi của sự vật, hiện tượng theo thời gian, cũng như
trong những không gian tồn tại khác nhau của mỗi mặt, mỗi thuộc tính, đặc trưng của sự
vật, hiện tượng; tránh khuynh hướng giáo điều, chung chung, trừu tượng không cụ thể. Mặt
khác, đề phòng khuynh hướng tuyệt đối hóa tính cụ thể, không thấy sự vật, hiện tượng trong
cả quá trình vận động, biến đổi.
Kết luận: Các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật có mối liên


17

hệ hữu cơ và phụ thuộc nhau một cách tất yếu. Mỗi nguyên tắc tuy có vị trí, vai trò riêng,
nhưng trong tính chỉnh thể của nó. Các nguyên tắc này tạo thành hệ thống nguyên tắc phương
pháp luận chung nhất định hướng cho toàn bộ nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn của
con người. Do đó, yêu cầu khi vận dụng hệ thống nguyên tắc phương pháp luận của phép

biện chứng duy vật phải có quan điểm tổng hợp. Tuy nhiên, trong từng trường hợp phải xác
định và tập trung vào những nguyên tắc xác định. Đồng thời cùng với sử dụng nguyên tắc của
phép biện chứng phải kết hợp sử dụng các nguyên tắc của khoa học cụ thể trong từng lĩnh
vực cụ thể.
CÂU 11.9. VẤN ĐỀ CHUYỂN HOÁ TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT.
PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI LẦM VỀ VẤN ĐỀ NÀY?
Chuyển hóa là quá trình nhảy vọt về chất được xác định bằng cái mới. Nó đươc thể
hiện tronng những nội dung của phép biện chứng duy vật.
- Trong quy luật lượng - chất: Quá trình chuyển hóa là quá trình biến đổi dần về lượng
làm thay đổi tương quan so sánh giữa hai mặt đối lập, từng bước tích luỹ những nhân tố
mới cho sự vật mới. Đó là quá trình triển khai mâu thuẫn với xu hướng ngày càng gay gắt
giữa lượng và chất, đến điểm nút, phá vỡ độ, mâu thuẫn được giải quyết, tạo ra bước nhảy
về chất làm sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Sự vật mới ra đời lại có chất và lượng mới,
chất và lượng mới lại tiếp tục mâu thuẫn, đấu tranh với nhau tạo nên sự vận động, phát triển
không ngừng của sự vật. Sự biến đổi về lượng đến “điểm nút” phá vỡ “độ” dẫn tới bước
nhảy vọt, chuyển hoá về chất của sự vật. Chất mới ra đời là kết quả của quá trình tích luỹ về
lượng, nó có vai trò tác động trở lại lượng đã thay đổi của sự vật. Sự tác động của chất mới
đến lượng mới được thể hiện ở quy mô tồn tại của sự vật, nhịp điệu của sự vận động và phát
triển của sự vật đó.
- Trong quy luật mâu thuẫn: “sự chuyển hoá sang các mặt đối lập” là một phương thức
giải quyết mâu thuẫn. Hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật song vai trò, vị trí của
chúng không giống nhau, tương quan lực lượng giữa chúng cũng luôn thay đổi. Sự chuyển
hoá của hai mặt đối lập chính là sự chuyển hoá vị trí, vai trò của hai mặt đối lập cho nhau.
Đây không phải là sự “đổi chỗ cho nhau”. Cơ sở để các mặt đối lập có thể chuyển hóa được
cho nhau là do giữa các mặt đối lập có những đặc trưng, những yếu tố nào đó giống nhau,
“đồng nhất” với nhau. Các hình thức chuyển hoá của các mặt đối lập: theo Ph.Ăngghen, có
hai hình thức chuyển hóa của các mặt đối lập. Một là, hai mặt đối lập chuyển hoá cho nhau,
và Hai là, cả hai mặt đối lập cùng chuyển hóa sang một cái mới.
- Trong quy luật phủ định của phủ định: Biện chứng giữa cái cũ và cái mới. Qua hoàn
thiện lần phủ định thứ 2 sẽ tạo nên sự chuyển hóa về chất của sự vật.

*Phê phán quan điểm sai lầm
- Phê phán quan điểm cho rằng chuyển hóa là sự thay đổi vị trí cho nhau. Thực chất sự
chuyển hóa là sự tương tác hữu cơ với nhau giữa các sự vật, hiện tượng tạo ra sự nhảy vọt
về chất.
- Phê phán quan điểm cho rằng sự chuyển hóa là sự thay đổi của các sự vật hiện tượng
khi đặt chúng trong các mối quan hệ khác nhau và có những đặc trưng khác nhau.
- Phê phán quan điểm không nhận thấy được sự chuyển hóa.


18

CÂU 12.7. QUY LUẬT MÂU THUẪN VỚI TÍNH CÁCH LÀ HẠT NHÂN CỦA
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
TRONG XEM XÉT CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY?
Quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, đóng
vai trò là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Nó chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự phát
triển của sự vật, hiện tượng
V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất
của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi
hỏi phải có sự giải thích và một sự phát triển thêm “( tập 29, tr.249.).
1. Quy luật mâu thuẫn với tính cách là hạt nhân của phép biện chứng
*Quy luật mâu thuẫn đã giải quyết được vấn đề then chốt của phép biện chứng duy
vật.
- Nội dung quan trọng nhất mà phép biện chứng duy vật cần hướng tới là làm sáng tỏ
những nhân tố dẫn tới sự phát triển.
- Quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển là sự thống nhất và
đấu tranh của các mặt đối lập vốn có của các sự vật, hiện tượng đang phát triển đó.
*Mỗi khái niệm, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật đều là sự thống nhất
của các mặt đối lập.
- Toàn bộ triết học mácxít và các khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép

biện chứng duy vật đều có hai chức năng cơ bản: Chức năng thế giới quan và chức năng
phương pháp luận.
- Các khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng duy vật đề cập tới
những mặt, những khía cạnh, những phương diện khác nhau của quá trình vận động, phát
triển trong hiện thực khách quan và tư duy.
*Quy luật mâu thuẫn là “chìa khóa” để hiểu sâu sắc hơn các quy luật khác và các cặp
phạm trù của phép biện chứng duy vật.
- Hiểu được phạm trù vật chất thông qua phạm trù ý thức.
- Tất cả các quy luật cơ bản và quy luật không cơ bản của phép biện chứng duy vật đều
là sự tác động qua lại giữa hai mặt đối lập, đều là sự thể hiện của quy luật mâu thuẫn trong
những phương diện khác nhau của quá trình vận động, phát triển.
*Coi quy luật mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng duy vật là khẳng định tính
chỉnh thể, tính hệ thống, qua đó bảo vệ tính khoa học của phép biện chứng duy vật.
*Chống quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của quy luật mâu thuẫn hay quan điểm khi
nghiên cứu phép biện chứng duy vật chỉ cần nghiên cứu quy luật mâu thuẫn là đủ.
2. Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề trong xem xét chính sách đối ngoại của
Đảng ta hiện nay
- Đảng ta phân tích đánh giá thời cuộc hiện nay, xem nó như là một chỉnh thống nhất
nhưng đầy rẫy những mâu thuẫn giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, các lực lượng,
các khuynh hướng chính trị, giữa thời cơ và thách thức, giữa vận hội và nguy cơ.
- Trên cơ sở lý luận mâu thuẫn, Đảng ta khẳng định mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn
tồn tại và sâu sắc hơn trước.
- Từ đó Đảng ta xác định chính sách đối ngoại rộng mở có nguyên tắc: độc lập tự chủ,
hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước.


19

- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa đối tượng và đối tác (Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI):

+ Đối tác: Tất cả các nnước trong hợp tác kinh tế hai bên cùng có lợi, tôn trọng chủ
quyền độc lập, không can thiệp vào nội bộ của nhau.
+ Đối tượng: Những nước đi ngược lại lợi ích của dân tộc ta, cản trở, phá hoại sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đe dọa đến an ninh chính trị của quốc gia hoặc xâm
phạm đến lãnh thổ… của nước ta là đối tượng đấu tranh.

CÂU 13.11. PHÂN TÍCH TÍNH CHU KỲ CỦA SỰ PHÁT TRIỂN THEO QUAN
ĐIỂM CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
CỦA VẤN ĐỀ TRONG XEM XÉT QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?
*Vị trí: nằm trong quy luật phủ định của phủ định, là nội dung cơ bản của quy luật.
Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng
duy vật, nó nói lên khuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc của các sự vật hiện tượn
trong thế giới.
1. Tính chu kỳ của sự phát triển theo quan điểm của phép biện chứng duy vật
Chu kỳ của sự phát triển: Từ một điểm xuất phát, trải qua một số lần phủ định, sự vật
dường như lại quay trở lại điểm xuất phát nhưng trên cơ sở cao hơn.
- Sự phát triển phải thông qua nhiều lần phủ định biện chứng và có tính chu kỳ. Một
chu kỳ ít nhất phải qua hai lần phủ định cơ bản. Ngoài ra, tùy sự vật, hiện tượng mà còn có
các lần phủ định khác mang tính trung gian, quá độ.
+ Phủ định cơ bản lần 1: là quá trình phủ định biện chứng nhằm chuyển hoá cái xuất
phát ban đầu (cái khẳng định) sang cái đối lập với nó (cái phủ định) để tạo ra bước trung
gian trong sự phát triển của sự vật. Phủ định lần một, mặc dù chưa nói lên sự phát triển
nhưng rất quan trọng, vì nó tạo điều kiện, tiền đề cho bước phủ định biện chứng lần thứ hai.
+ Phủ định cơ bản lần 2: là phủ định biện chứng nhằm chuyển hoá khâu trung gian (cái
phủ định) sang cái đối lập với nó, sự vật mới ra đời dường như lặp lại cái ban đầu (cái
khẳng định), nhưng trên cơ sở cao hơn. Do vậy, kết quả của phủ định lần hai đã nói rõ được
sự phát triển của sự vật, hiện tượng. Phủ định lần hai được gọi là phủ định của phủ định.
Sau phủ định lần hai, sự vật, hiện tượng đã kết thúc một chu kỳ phủ định của phủ định.
+ Ngoài hai lần phủ định cơ bản trong một chu kỳ, quá trình phát triển của sự vật có

thể có một số lần phủ định trung gian, quá độ khác (phủ định không cơ bản). Phủ định
không cơ bản là sự phủ định cùng tính chất, chưa làm cho sự vật trở thành cái đối lập.
- Phát triển của sự vật, hiện tượng là một quá trình liên tục hết chu kỳ này lại mở ra
một chu kỳ tiếp theo.
2. Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề trong xem xét quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Tính tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta: “Đi lên chủ nghĩa xã
hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và
Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” (tr.70).


20

- Thực chất phát triển quá độ bỏ qua tư bản chủ nghĩa ở nước ta: là bỏ qua việc xác lập
vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng kế
thừa phát huy thành tựu đạt được của chủ nghĩa tư bản.
- Con đường quanh co, phức tạp, quá trình phủ định biện chứng cái cũ mất đi, nhân tố
mới của chủ nghĩa xã hội ra đời trên tất cả các lĩnh vực, phát triển kinh tế trọng tâm, xây
dựng Đảng then chốt. Trong thời kỳ quá độ cái mới, cái cũ đan xen, vừa có chủ nghĩa xã
hội, vừa chưa có chủ nghĩa xã hội…
- Tin vào sự thắng lợi của cái mới, tránh bi quan dao động trước những thất bại tạm
thời của cái mới.

CÂU 14.2 (4). PHÂN TÍCH SỰ THỐNG NHẤT VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHẬN
THỨC CẢM TÍNH VÀ NHẬN THỨC LÝ TÍNH. PHÊ PHÁN NHỮNG QUAN ĐIỂM
SAI LẦM VỀ VẤN ĐỀ NÀY?
Nhận thức là một quá trình biện chứng phức tạp thông qua mối quan hệ giữa các nhân
tố. Trong “Bút ký triết học” V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, từ tư duy trừu tượng tới thực tiễn - đó là con đường biện chứng của quá trình nhận
thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”. (tập 29, tr.179).

Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức,
chủ thể gắn liền với khách thể, với trình độ phản ánh đi vào các mặt, các bộ phận bên ngoài
của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, là cơ sở cho quá trình nhận thức tiếp theo,
với các hình thức phản ánh: cảm giác, tri giác, biểu tượng.
Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, phản
ánh bản chất, quy luật bên trong của sự vật, hiện tượng; chủ thể không gắn liền với khách
thể, phản ánh một cách tự giác, gián tiếp trong tư duy, bao gồm các hình thức như khái
niệm, phán đoán, suy luận…
Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) là
hai giai đoạn khác nhau của nhận thức, nhưng thống nhất với nhau.
*Thống nhất:
- Có chung đối tượng phản ánh là thế giới vật chất; có cùng một cơ sở sinh lý duy nhất
là hệ thần kinh của con người; cùng chịu sự chi phối của thực tiễn lịch sử - xã hội.
- Là một quá trình biện chứng phức tạp, chủ thể gắn liền với khách thể, thông qua hoạt
động.
- Tuân thủ các quy luật của phá trình nhận thức, phép biện chứng.
- Đây là những nấc thang hợp thành chu trình nhận thức, chúng bổ sung, hỗ trợ lẫn
nhau, đem lại cho con người những hiểu biết sâu sắc về sự vật. Không có trực quan sinh động
thì không có tư duy trừu tượng (cung cấp tài liệu cảm tính). Ngược lại, tư duy trừu tượng giúp
cho trực quan sinh động nắm bắt được nhiều tri thức một cách nhanh chóng.


21

*Khác biệt:
Nội dung
Trực quan sinh động
Tư duy trừu tượng
Là giai đoạn mà con người sử dụng Là giai đoạn phản ánh gián tiếp,
các giác quan để tác động trực tiếp trừu tượng và khái quát những

Khái niệm
vào các sự vật nhằm nắm bắt các sự thuộc tính, những đặc điểm bản
vật ấy.
chất của đối tượng.
Llà giai đoạn đầu, giai đoạn thấp Là giai đoạn tiếp theo và cao hơn
Vị trí
của quá trình nhận thức.
về chất của quá trình nhận thức.
Nhận thức ở trình độ thấp, hời hợt Là nhận thức ở trình độ cao, sâu sắc
cung cấp cho ta những hiểu biết về hơn, chính xác hơn và toàn diện
Trình độ
những hiện tượng, những mối liên hơn cái bản chất của các sự vật hiện
hệ bên ngoài của sự vật, quá trình, tượng; là hiểu biết ở trình độ lý
sự hiểu biết kinh nghiệm cụ thể.
luận, trừu tượng.
Hình thức Cảm giác, tri giác, biểu tượng.
Khái niệm, phán đoán, suy luận.
*Phê phán những quan điểm sai lầm về vấn đề này
- Tuyệt đối hóa một yếu tố hoặc tách rời.
- Trong hoạt động nhận thức phải chú ý cả hai giai đoạn.
Trong hoạt động giáo dục, bên cạnh những lập luận lôgíc, lý luận chặt chẽ, tổ chức và
kết cấu khoa học hướng tới làm rõ, sâu hệ thống khái niệm với tư cách là công cụ của tư
duy. Người giáo viên cần chú ý kết hợp phương pháp trực quan, dạy học thực hành, cầm tay
chỉ việc, hành động kiểu mẫu (trực quan sinh động).
CÂU 15.10 (12). PHÂN TÍCH CƠ SỞ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP CỦA NGUYÊN
TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. PHÊ PHÁN CÁC BIỂU
HIỆN SAI LẦM TRONG NHẬN THỨC, VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TRÊN?
Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin và triết học Mác - Lênin. Việc nhận thức nắm chắc nguyên tắc
này có ý nghĩa rất lớn đối với thực tiễn.

- Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm và tri thức của loài người về tự nhiên, xã
hội. Lý luận là hệ thống tri thức khái quát từ thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất,
quy luật của hiện thực khách quan.
- Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của
con người, nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và cải tạo bản thân con người.
1. Cơ sở lý luận trực tiếp của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
*Xuất phát từ mục đích của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác - Lênin
nói riêng
- Các nhà triết học trước Mác đưa ra hệ thống lý luận của mình chỉ nhằm mục đích
tranh luận, giải thích về thế giới; khẳng định vị trí, đẳng cấp của bản thân mình,…Các nhà
triết học trước Mác chỉ ngắm nhìn thế giới chứ không cải tạo thế giới.
- Triết học Mác: Không chỉ nhằm mục đích giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới.
Hệ thống lý luận này được khái quát từ thực tiễn, quay về phục vụ thực tiễn và kiểm
nghiệm qua thực tiễn.


22

- Hồ Chí Minh: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng.
Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” (t.8, tr.496)
*Xuất phát từ thế giới quan và phương pháp luận trong giải quyết vấn đề cơ bản của
triết học của Triết học Mác - Lênin
- Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức, ý thức có tác
động to lớn trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
- Khách quan quyết định chủ quan, chủ quan có tác động to lớn trở lại khách quan
thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
*Xuất phát từ lý luận nhận thức mácxít
- Quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn: từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý
tính, từ nhận thức lý tính trở về thực tiễn đều có sự xuất hiện của thực tiễn, trên cơ sở thực

tiễn và quay về cải tạo thực tiễn, được thực tiễn kiểm nghiệm.
- Lý luận, thực tiễn và mối quan hệ giữa chúng
+ Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
+ Lý luận là sản phẩm cao của quá trình nhận thức, là hệ thống tri thức phản ánh mối
liên hệ bản chất, nhưng quy luật của thế giới khách quan.
+ Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
. Thực tiễn là cơ sở, động lực chủ yếu và trực tiếp nhất của lý luận; thực tiễn là mục
đích của lý luận; thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
. Lý luận hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, lý luận khoa học là “kim chỉ nam “ cho thực
tiễn; vạch ra phương hướng mới cho thực tiễn; tạo ra sức mạnh vật chất to lớn khi nó thâm
nhập vào quần chúng.
- Vấn đề chân lý: Chân lý là tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực
tiễn kiểm nghiệm.
2. Phê phán các biểu hiện sai lầm trong nhận thức và vận dụng nguyên tắc
- Từ vai trò to lớn của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận, đòi hỏi chủ thể hoạt động
phải luôn quán triệt đúng đắn quan điểm thực tiễn. Trong nhận thức, phải xuất phát từ thực
tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn,
nghiên cứu lý luận. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều,
quan liêu và chủ nghĩa xét lại.
- Lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, cùng với
nhận thức được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của lý luận thì chủ thể hoạt động không
nên cường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn, tách lý luận khỏi thực tiễn.
Đảng ta xác định: Đổi mới toàn diện kinh tế, chính trị, văn hóa…giải quyết tốt mối
quan hệ đổi mới ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; kinh tế thị
trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.
“Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề đảng
cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn
đề nảy sinh trong quá trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ
trương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước…” (tr.255).



23

CÂU 16.8. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP CỦA QUAN ĐIỂM THỰC TIỄN.
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔỈ MỚI Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY?
1. Cơ sở lý luận trực tiếp của quan điểm thực tiễn
Là quan điểm của triết học Mác - Lênin về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức.
- Theo quan điểm mácxít: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích,
mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
+ Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là những
hoạt động vật chất. (Hoạt động vật chất khác hoạt động tinh thần).
+ Thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với hoạt động tinh thần, tư tưởng.
+ Thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội. Hoạt động này mang tính tất yếu khách quan và
không ngừng phát triển bởi nhu cầu ngày càng cao của con người qua các thời kỳ lịch sử;
+ Các hình thức cơ bản của thực tiễn: Hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị
xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học. Mỗi hình thức có chức năng quan trọng riêng,
song hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với
các hoạt động khác.
- Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức: Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của
nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý.
2. Yêu cầu của quan điểm thực tiễn
- Trong nhận thức, phải xuất phát từ tình hình thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ.
- Việc đề ra chủ trương, kế hoạch trong các hoạt động phải bám sát sự phát triển mọi
mặt của tình hình.
- Phải thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm trong các hoạt động để tìm ra những bài
học nâng cao hiệu quả hoạt động.
- Chống bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường lý luận; giáo điều, quan liêu,…

3. Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề.
- Phạm trù thực tiễn theo quan điểm mácxít không chỉ làm rõ lập trường khoa học cho
lý luận nhận thức mácxít mà còn góp phần bổ sung cho thế giới quan duy vật biện chứng từ
đó đi đến giải quyết mọi vấn đề khác trong triết học.
- Phạm trù thực tiễn theo quan điểm mácxít đã xây dựng quan niệm duy vật mới không
chỉ đơn thuần dựa trên cơ sở tự nhiên thuần tuý mà còn dựa trên cơ sở con người hiện thực
đang cải tạo tự nhiên và xã hội.
- Phạm trù thực tiễn chỉ ra nguồn gốc sự sáng tạo của con người bằng việc bắt nguồn
từ thực tiễn, từ hoạt động vật chất.
4. Vận dụng quan điểm thực tiễn trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay
Từ vai trò to lớn của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận, đòi hỏi chủ thể hoạt động
phải luôn quán triệt đúng đắn quan điểm thực tiễn. Trong nhận thức, phải xuất phát từ thực
tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn,
nghiên cứu lý luận. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều,
quan liêu và chủ nghĩa xét lại.


24

CÂU 17.18. PHÂN TÍCH LUẬN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN: “QUAN ĐIỂM VỀ
ĐỜI SỐNG, VỀ THỰC TIỄN PHẢI LÀ QUAN ĐIỂM THỨ NHẤT VÀ CƠ BẢN
CỦA LÝ LUẬN NHẬN THỨC”. Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM?
*Nguồn gốc luận điểm: Quan điểm trên của Lênin được nêu trong tác phẩm chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (t.18, tr.167-168).
1. Nội dung của luận điểm: Khẳng định vai trò của thực tiễn trong lý luận nhận thức.
*Phạm trù thực tiễn: Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính
lịch sử - xã hội của con người, nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và cải tạo bản thân con người.
*Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức: Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của
nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý.

- Thực tiễn là cơ sở của nhận thức.
+ Trong quá trình thực tiễn, cải tạo thế giới mà nhận thức lý luận của con người mới
được hình thành và phát triển.
+ Thông qua thực tiễn, các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện, năng lực tư
duy lôgic, trí tuệ không ngừng được củng cố và phát triển; làm phong phú và sâu sắc hơn tri
thức của mình.
+ Trên cơ sở thực tiễn con người mới có khả năng trực tiếp tạo ra công cụ, phương tiện
phục vụ cho quá trình nhận thức.
+ Bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ
những thuộc tính, những quy luật để con người có điều kiện, khả năng nhận thức.
- Thực tiễn là động lực của quá trình nhận thức. Thông qua thực tiễn đã xuất hiện
những nhu cầu vật chất, tinh thần và nhu cầu đó ngày càng cao thúc đẩy quá trình nhận thức
của con người.
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Để sống, để tồn tại con người phải tìm hiểu thế
giới xung quanh, đồng thời những tri thức khoa học - kết quả nhận thức của con người chỉ
có ý nghĩa đích thực khi nó được vận dụng vào thực tiễn.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn luôn vận động biết đổi không ngừng,
do vậy chân lý cũng thường xuyên bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn mới.
Ngày nay, để bảo đảm yêu cầu trước sự phát triển phong phú, phức tạp của tri thức người
ta có thể lấy “tiêu chuẩn lôgíc “, “tính không mâu thuẫn “ của tư duy… làm tiêu chuẩn của
chân lý. Tuy nhiên, những cách kiểm nghiệm này suy đến cùng đều phải trên cơ sở thực tiễn.
*Yêu cầu của quan điểm: Nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực
tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn. Việc nghiên cứu lý luận
phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành.
2. Ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
- Khẳng định tính đúng đắn, tầm quan trọng của luận điểm.
- Trong nhận thức, phải xuất phát từ tình hình thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ.
- Việc đề ra chủ trương, kế hoạch trong các hoạt động phải bám sát sự phát triển mọi
mặt của tình hình.
- Phải thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm trong các hoạt động để tìm ra những bài

học nâng cao hiệu quả hoạt động.
- Chống bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường lý luận; giáo điều, quan liêu,…
- Mọi đường lối, chính sách đổi mới của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn.


25

CÂU 18. 18. NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT
BIỆN CHỨNG. VẬN DỤNG PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM NGOÀI MÁCXÍT VỀ
VẤN ĐỀ NÀY?
1. Nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức duy vật biện chứng
Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý của các học thuyết đã có, khái quát các thành tựu
khoa học, Lênin đã xây dựng nên lý luận nhận thức duy vật biện chứng. Học thuyết ra đời
đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức vì đã xây dựng được những quan
điểm khoa học đúng đắn về bản chất của nhận thức.
Cụ thể, trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
(tr.117) V.I.Lênin đã rút ra ba kết luận quan trọng làm nền tảng cho nhận thực luận mácxít,
đó là:
- Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người: “Có
những sự vật tồn tại độc lập với ý thức của chúng ta, độc lập với cảm giác của chúng ta, ở
ngoài chúng ta…” .
- Thừa nhận khả năng nhận thức của con người. Coi nhận thức là sự phản ánh hiện
thực khách quan vào trong bộ óc người. Không có cái gì là không thể nhận thức được mà
chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thức được: “Dứt khoát là không
có và không thể có sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiện tượng và vật tự nó. Chỉ có sự
khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được nhận thức”.
- Phản ánh hiện thực khách quan của bộ óc người là một quá trình biện chứng, tích cực,
tự giác và sáng tạo. Quá trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít
đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.
- Coi thực tiễn là cở sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích

của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn,
phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức” .
Dựa trên nguyên tắc đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: nhận thức là quá
trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu
óc con người trên cơ sở thực tiễn.
2. Phê phán quan điểm ngoài mácxít:
- Thuyết hoài nghi không thể biết (Cantơ và Hium): Thường hoài nghi phủ nhận khả
năng nhận thức đúng đắn của con người. Họ cho rằng, con người chỉ nhận thức những biểu
hiện bên ngoài của thế giới, không nhận thức được bản chất của nó.
- Chủ nghĩa duy tâm: Nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người,
hoặc coi nhận thức là sự hồi tưởng lại của linh hồn bất tử về thế giới các “ý niệm”, “ý niệm
tuyệt đối”. Họ phủ nhận khả năng nhận thức của con người đối với thế giới khách quan.
- Chủ nghĩa duy vật trước Mác thừa nhận khả năng nhận thức của con người và coi
nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người. Tuy nhiên
do hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình nên chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức
là sự phản ánh trực quan, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật. Họ chưa
thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước triết học Mác - Lênin đều quan niệm
sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức, những vấn đề về lý luận nhận thức chưa được giải quyết
một cách khoa học, đặc biệt chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.


×