Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

TIỂU LUẬN tôn GIÁO học một số NHẬN THỨC cơ bản về tôn GIÁO THEO QUAN điểm CHỦ NGHĨA mác lê NIN và sự vận DỤNG của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (184.07 KB, 29 trang )

MỞ ĐẦU
Tôn giáo là gì? Tôn giáo có nguồn gốc từ đâu? Bản chất, chức năng của
tôn giáo như thế nào? Sự tồn tại của tôn giáo trong tương lai ra sao?... Đây là
những câu hỏi lớn, trong lịch sử và hiện nay đã có rất nhiều cách tiếp cận, giải
thích. Tuy nhiên tuỳ theo nhận thức, lập trường thế giới quan, phương pháp
luận của mỗi học thuyết khác nhau mà người ta luận giải vấn đề không hoàn
toàn như nhau, thậm chí đối lập nhau. Dù giải thích của các học giả còn nhiều
vấn đề phải bàn ở cả giác độ lý luận và thực tiễn, nhưng có một thực tế là
trong thời đại ngày nay tôn giáo đang nổi lên như một vấn đề hết sức nóng,
gây sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia, dân tộc. Chính vấn đề tôn giáo
hiện nay đang đặt ra trong nhận thức và thực tiễn của con người những vấn đề
cần được cắt nghĩa mang tính khoa học, cách mạng. Để từ đó chúng ta có giải
pháp phù hợp để xử sự với nó cũng mang tính khoa học như đòi hỏi tất yếu
của chính vấn đề.
Để nhận thức và giải quyết vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo theo
định hướng trên, đòi hỏi chúng ta phải trên cơ sở những nguyên lý của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo trong điều kiện
thực tiễn hiện nay, phải tỏ rõ thái độ của người cộng sản trong giải quyết vấn
đề tôn giáo trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong phạm vi bài tiểu luận môn “Tôn học giáo”, học trò xin được trình
bày vấn đế “Một số nhận thức cơ bản về tôn giáo theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay”.

3


NỘI DUNG
I. MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ TÔN GIÁO THEO QUAN
ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Bằng sự tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của tư tưởng triết


học nhân loại mà nhất là những tư tưởng duy vật trước đó và từ thực tiễn đời
sống xã hội hiện tại lúc bấy giờ. Chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở thế giới
quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, đã chỉ rõ nguồn gốc, bản chất,
chức năng của tôn giáo, vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội và con
đường, biện pháp để khắc phục và loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội. Với
ý nghĩa đó, nhận thức đúng đắn những vấn đề cơ bản của tôn giáo theo quan
điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin là vấn đề hết sức quan trọng, cần thiết hiện nay.
1.1. Nhận thức vấn đề nguồn gốc của tôn giáo
Trước C.Mác và V.I.Lênin, trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều
nhà tư tưởng đề cập đến vấn đề tôn giáo. Những nhà tư tưởng duy vật trước
Mác mà tiêu biểu là Phoiơbắc với tác phẩm “Bản chất đạo Cơ đốc” đã trình
bày khá sâu sắc vấn đề tôn giáo. Phoiơbắc đã tích cực đấu tranh chống tôn
giáo, đã vạch ra những cơ sở, nguyên nhân sự xuất hiện của tôn giáo, đó là
biểu hiện sinh động của cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế
bảo thủ, phản động. Những luận điểm cơ bản của Phoiơbắc trình bày về tôn
giáo rất toàn diện, Phoiơbắc làm rõ: Con người không phải do trời sinh ra, mà
trái lại, con người đã tạo ra trời theo hình ảnh của riêng mình. Tình cảm tôn
giáo không phải là bẩm sinh ở con người. Tôn giáo ra đời không phải là ngẫu
nhiên mà có nguyên nhân khách quan ở đời sống của con người. Tôn giáo là
sự phản ánh của tồn tại khách quan, nhưng phản ánh một cách xuyên tạc, do
ảo tưởng của con người tạo nên. Con người sống khổ cực mong muốn được
sung sướng, nhưng tự mình không làm được nên họ tương tưởng tượng ra một
vị Chúa trời có khả năng đem lại hạnh phúc cho mình. Theo Phoiơbắc, tôn
giáo ra đời và tồn tại là do sự ngu dốt của con người; tôn giáo là có hại, làm
4


cho trí tuệ con người ngừng trệ, tiêu cực, tôn giáo đối lập với khoa học. Muốn
vạch mặt tôn giáo thì phải xé toang cái vỏ thần bí của nó, tôn giáo không có gì
là bí hiểm cả. Ông đã kéo tôn giáo từ trên trời xuống đất, trở về đời sống hiện

thực. Song đáng tiếc, Phoiơbắc không đặt vấn đề xoá bỏ tôn giáo mà muốn
hoàn thiện nó. Ông cho rằng, sự khác nhau giữa các thời đại loài người, về đại
thể chỉ là sự khác nhau ở sự thay đổi về phương diện tôn giáo. Ông lại chủ
trương xây dựng một tôn giáo không cần Thượng đế. Tôn giáo tình yêu!
Xuất phát từ phương pháp luận duy vật biện chứng cho rằng tôn giáo là
một hiện tượng lịch sử xã hội, được sinh ra trong xã hội loài người với những
nguyên nhân và điều kiện nhất định. C.Mác đã chỉ rõ “Con người sáng tạo ra
tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người” 1. Theo C.Mác, chính
con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người: “…
tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản
thân mình hoặc đã để mất bản thân mình một lần nữa. Nhưng con người
không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con
người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội
ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược” 2. Như vậy, tôn giáo là
một hiện tượng xã hội do con người sáng tạo ra. Con người ở đây là con
người xã hội, là nhà nước, xã hội. Nhìn lại lịch sử ta thấy tôn giáo ra đời trong
điều kiện lịch sử và trình độ sản xuất hết sức thấp kém, con người vừa thoát
khỏi cuộc sống mông muội của loài vật, hoàn toàn lệ thuộc vào tự nhiên.
Chính sự yếu kém, bất lực trước các hiện tượng của tự nhiên như: sấm, chớp,
mây, mưa, bệnh tật…mà họ không giải thích nổi dẫn đến sợ hãi và phản ứng
bằng cách giải thích rằng đó là do một lực lượng siêu nhiên nào đó mang lại
đối với họ. Ph.Ăngghen còn khẳng định rằng: “Từ thời đại nguyên thuỷ, tôn
giáo đã sinh ra từ những biểu tượng hết sức ngu muội tối tăm và nguyên thuỷ
của con người về bản chất của chính họ và về tự nhiên, bên ngoài bao quanh
1
2

C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.569.
C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.414.


5


họ”3. Từ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã tiếp tục khẳng
định và phát triển quan điểm về nguồn gốc, bản chất tôn giáo lên một tầm cao
mới trong điều kiện cách mạng mới, Người viết: “Sự áp bức công nhân về
mặt kinh tế nhất định gây nên và đẻ ra mọi hình thức áp bức chính trị đối với
quần chúng, làm cho địa vị xã hội của quần chúng thấp kém đi, làm cho đời
sống tinh thần và đạo đức của quần chúng mê muội và tối tăm” 4 và “Tôn giáo
là thuốc phiện của nhân dân. Tôn giáo là thứ rượu tinh thần, làm cho những
người nô lệ của tư bản mất phẩm cách con người và quên mất hết những điều
họ đòi hỏi để được sống một cuộc đời đôi chút xứng đáng với con người” 5. Ở
đây V.I.Lênin đã vạch rõ, khi con người đã xây dựng được niềm tin thì chính
niềm tin đó lại thống trị con người, buộc chặt con người vào vòng luẩn quẩn
do chính con người sáng tạo ra.Tôn giáo nó làm con người mê muội, quên đi,
đánh mất chính bản thân mình, làm cho con người mất đi phẩm cách của con
người trong đời sống hiện thực và đó là sự mất đi bản chất người của con
người. Cái mà ở bên ngoài, xa lạ và đối lập với con người, cái ảo tưởng xa rời
hiện thực thì lại được con người coi là cái thiêng liêng, cái cứu vớt con người
ra khỏi nỗi thống khổ thực tại đang đầy đoạ con người. Tôn giáo là thuốc
phiện, là thứ rượu tinh thần của những người nô lệ, của những người cùng
khổ. Khi nó đã thấm, đã ngấm sâu vào tinh thần, tư tưởng của họ thì nó lại trở
thành xiềng xích cột chặt họ vào những niềm tin ảo tưởng, vào sự đền bù hư
ảo ở bên ngoài trần thế, nó làm cho con người mất hết lý trí, rơi vào vòng luẩn
quẩn không lối thoát trong thế giới hư ảo, hão huyền do chính họ sáng tạo ra.
Và như vậy, tôn giáo không còn là xa lạ, bên ngoài con người nữa, mà nó đã
xâm nhập vào bên trong của mỗi con người, du ngủ con người cam chịu cuộc
sống hiện tại và tin vào sự đền bù ở thế giới bên kia. Do đó, đấu tranh chống
tôn giáo không còn là cuộc đấu tranh của người trần tục chống người thầy tu
C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.484.

V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1979, tr.169.
5 V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1979, tr.170.
3
4

6


ở bên ngoài trần tục nữa mà là cuộc đấu tranh chống người thầy tu ở bên
trong bản thân mình, chống cái bản tính thầy tu của mình. Con người chỉ phải
nhận thức bản thân mình, làm cho bản thân mình trở thành thước đo của mọi
quan hệ sống. Không nên đi tìm chân lý ở những miền hão huyền của thế giới
bên kia, ở ngoài thời gian và không gian, ở một “Thượng đế” nào đó dường
như đang sống ở bên trong thế giới hoặc đối lập với thế giới đó, mà phải đi
tìm chân lý gần hơn rất nhiều, ngay ở trong lòng mỗi người. Vì bản chất riêng
của con người vĩ đại hơn nhiều và cao quý hơn nhiều, so với bản chất tưởng
tượng của tất cả những “Thượng đế” có thể có, vì những Thượng đế này chỉ
là sự phản ánh ít nhiều mập mờ và bị bóp méo của bản thân con người. Chính
vì vậy, một lần nữa C.Mác chỉ rõ: “Người công nhân càng làm kiệt sức mình
trong công việc thì thế giới vật phẩm xa lạ đối với anh ta do bản thân anh ta
tạo ra chống lại chính anh ta, trở nên càng mạnh; bản thân anh ta, thế giới bên
trong của anh ta trở nên càng nghèo; của cải thuộc về anh ta càng ít. Trong
tôn giáo tình hình cũng hoàn toàn giống như vậy. Con người hiến cho thần
thánh càng nhiều, thì cái bản thân trong con người càng ít” 6.
Cùng với nguồn gốc tự nhiên là nguồn gốc xã hội, bên cạnh những hiện
tượng tự nhiên hàng ngày tác động tới cuộc sống thì con người còn gặp phải
những mâu thuẫn trong xã hội như vấn đề chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật và
những áp bức, bất công, nhất là từ khi xã hội có phân chia giai cấp, có đối
kháng giai cấp. Ph.Ăngghen nhận định: “Chẳng bao lâu, bên cạnh những sức
mạnh thiên nhiên lại xuất hiện những sức mạnh xã hội, những sức mạnh đối

lập với người ta và đối với người ta thì sức mạnh xã hội này cũng lại y như
sức mạnh tự nhiên vậy, lúc đầu cũng không thể hiểu được và cũng chi phối
người ta với cái vẻ tất yếu, bề ngoài thật như sức mạnh tự nhiên vậy” 7. Từ đó
họ lâm vào trạng thái khủng hoảng mất lòng tin vào khả năng tự giải phóng
mình và họ tìm lối thoát cho mình bằng tín ngưỡng tôn giáo.
6
7

C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.129.
C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.437.

7


Sau này khi giai cấp bóc lột đã áp đặt quyền thống trị của mình trong xã
hội, họ đã triệt để lợi dụng tôn giáo như một thứ vũ khí áp bức tinh thần đối
với quần chúng nhân dân lao động. Do nhận thức, quần chúng nhân dân
không thể hiểu được nguyên nhân của sự nghèo đói, áp bức bóc lột mặc dù họ
phải nai lưng quần quật suốt cả ngày mà một bên thì “ngồi mát ăn bát vàng”,
bởi vậy họ càng tin vào “số mệnh”, tin vào lời răn của “chúa”, của đức Phật.
V.I.Lênin đã khái quát toàn bộ những quan điểm của C.Mác về nguồn gốc tự
nhiên và xã hội của tôn giáo bằng một công thức ngắn gọn: “Sự bất lực của
giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin
vào cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của
người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần
thánh, ma quỷ, vào những phép màu…”8.
Nhận thức thế giới khách quan của con người là một quá trình lâu dài và
phức tạp, phụ thuộc rất lớn trình độ của chủ thể nhận thức, trạng thái tâm lý
của từng con người. Hiện thực khách quan phản ánh vào đầu óc con người
thông qua lăng kính chủ quan của chủ thể nhận thức, sự phản ánh đó có thể

đúng hoặc sai lệch với hiện thực khách quan. Sự phản ánh sai lệch, việc giải
thích không đúng những hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội nhất là những
vấn đề có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của con người, số phận của con
người… là những tiền đề quan trọng để hình thành tín ngưỡng tôn giáo.
Hơn nữa, trong quá trình tồn tại, các tác động với thế giới hiện thực (cả
tự nhiên và xã hội) do trình độ nhận thức có hạn trước những hiện tượng
phong phú, vừa khó hiểu, vừa gần gũi, vừa xa lạ, vừa bí hiểm đã làm nảy sinh
tâm lý lo sợ, ngưỡng vọng dẫn đến ý thức cho rằng có sự tồn tại thực của
những lực lượng siêu nhiên, đó là cơ sở tâm lý của tôn giáo.

8

V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1979, tr.169-170.

8


Như vậy, tôn giáo nảy sinh, tồn tại và phát triển có nguồn gốc từ những
điều kiện cụ thể trên cơ sở khả năng nhận thức và tình cảm của con người
trước những hiện thực khách quan.
1.2. Nhận thức về bản chất của tôn giáo
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo là sự sáng tạo ảo
tưởng, là thế giới quan lộn ngược, là sự phản ánh xuyên tạc, sai lệch thế giới
hiện thực. Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo là sự phản
ánh tồn tại xã hội nhưng đó là sự phản ánh hư ảo, sai lệch trước các hiện
tượng tự nhiên, hiện tượng trong xã hội do trình độ nhận thức của con người
còn thấp kém, không thể giải thích nổi những hiện tương đó. Bằng sự tưởng
tượng, suy tưởng của con người mà các biểu tượng tôn giáo ra đời. Tôn giáo
là sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào đầu óc con người, là “thế giới
quan lộn ngược”, là biến cái tự nhiên thành như cái siêu nhiên, cái trần thế

biểu hiện như cái thần thánh, sức mạnh trần gian như sức mạnh siêu nhiên,
biến con người trở thành nô lệ cho những sức mạnh đó. C.Mác từng kết luận:
“Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa
là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài
của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống
như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc
phiện của nhân dân”9. Tôn giáo chính là mối quan hệ hạn chế giữa con người
trong quá trình nhận thức tự nhiên và mối quan hệ con người với con người là
bất lực, yếu kém của con người trong quá trình chinh phục cải tạo thế giới tự
nhiên và xã hội. Đặc trưng của sự phản ánh của hình thái ý thức tôn giáo là:
Sự phản ánh hư ảo, là ảo tưởng, là sự tưởng tượng, là thế giới quan lộn ngược.
Đúng như Ph.Ăngghen đã vạch rõ: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự
phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên
ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó
9

C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.570.

9


những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần
thế”10. Những sức mạnh siêu nhiên đó, lúc đầu mới chỉ là những biểu tượng,
suy tưởng của người ta trước sự tác động của các lực lượng tự nhiên chi phối
các quy luật xã hội. Về sau, nó được tưởng tượng và tô vẽ thành những lực
lượng thần bí, những cái chi phối hiện thực và trở thành niềm tin tôn giáo.
Cuối cùng, những suy tưởng hoang đường, những niềm tin ảo tưởng, phi thực
tiễn đó trở lại chi phối đời sống hiện thực của con người. Đó là bản chất của
sự sai lệch, hoang đường, ảo tưởng trong phản ánh tôn giáo. Từ đó,
Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: Tôn giáo là hình thái ý thức “Cách xa đời sống vật chất

hơn cả và hình như xa lạ với đời sống vật chất hơn cả”. V.I.Lênin cũng đã chỉ
ra: Tôn giáo là do con người sáng tạo ra; thế giới quan tôn giáo là thế giới
quan lộn ngược; niềm tin tôn giáo là niềm tin gắn liền sự mù quáng ảo tưởng
của một bộ phận quần chúng nhân dân. Người viết: “Tôn giáo là một trong
những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng
lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác
hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc”11.
1.3. Nhận thức về kết cấu của tôn giáo
Bất cứ một tôn giáo nào cũng là một hệ thống với kết cấu : Niềm tin tôn
giáo; tình cảm tôn giáo; tổ chức tôn giáo. Ba yếu tố này gắn bó chặt chẽ, tác
động lẫn nhau, trong đó ý thức tôn giáo - niềm tin hư ảo - là cái xuyên suốt,
bản chất nhất. Yếu tố tổ chức, hành động tôn giáo giữ vai trò rất quan trọng
trong sự tồn tại và phát triển của tôn giáo. Vì vậy, về bản chất, tôn giáo là một
hình thái ý thức xã hội. Nhưng xem xét toàn diện với cả ba yếu tố đó, tôn giáo
không chỉ là một hình thái ý thức xã hội, mà còn là một hiện tượng xã hội
thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội và là một tổ chức, một lực lượng xã
hội - văn hoá - tâm linh khá đông đảo, rộng rãi. Cũng như những hình thái ý
thức xã hội khác, ý thức tôn giáo là sự phản ánh tồn tại xã hội, ra đời từ đời
10
11

C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.437-438.
V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1979, tr.170.

10


sống hiện thực với những hình thức khác nhau theo quy luật chung của ý thức
xã hội và quy luật riêng của nó, phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội.
Đồng thời tôn giáo cũng có tính độc lập tương đối, có tính đặc thù của nó và

từ đặc thù đó mà tác động đến tồn tại xã hội, đến các hình thái ý thức xã hội
khác, đặc biệt là hình thái ý thức chính trị, triết học, văn học nghệ thuật.
Như vậy, theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen thì tôn giáo là một
hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội; là “thế giới quan lộn ngược”
trong giải quyết mối quan hệ giữa con người với siêu nhiên, cái hiện thực với
cái hư ảo, cái trần tục với cái thiêng liêng, cái trần gian với cái siêu trần gian;
là sự phản ánh hư ảo hoang tưởng những sức mạnh bên ngoài, trong đó sức
mạnh trần gian mang sức mạnh siêu thế gian, tưởng tượng thành sức mạnh
siêu nhiên chi phối toàn bộ đời sống con người và cả cộng đồng người. Tôn
giáo với hình thức phát triển hoàn chỉnh, hiện đại của nó bao giờ cũng gồm
các yếu tố: Quan niệm, niềm tin tôn giáo; tình cảm tôn giáo; hành vi tôn giáo.
Các yếu tố đó quan hệ chặt chẽ với nhau không tách rời, trong đó niềm tin tôn
giáo giữ vai trò quyết định.
1.4. Nhận thức về giải quyết vấn đề tôn giáo
Trên lập trường duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin đã kịch liệt phản
đối những hành vi cực đoan, tấn công trực diện vào tôn giáo một cách thô
bạo. Bản thân tôn giáo không có tội và vì vậy, không nên phê phán tôn giáo
mà cần phê phán cái hiện thực đã làm nảy sinh tôn giáo. Việc phê phán tôn
giáo không thể được tiến hành trực diện mà cần “làm cho con người thoát
khỏi ảo tưởng, để con người tư duy, hành động, xây dựng tính hiện thực của
mình với tư cách một con người vừa thoát khỏi ảo tưởng và đạt đến tuổi có lý
trí; để con người vận động xung quanh bản thân mình, nghĩa là vận động
xung quanh cái mặt trời thật sự của mình. Tôn giáo chỉ là cái mặt trời ảo
tưởng, nó vận động xung quanh con người chừng nào con người còn chưa bắt

11


đầu vận động xung quanh bản thân mình”... 12. Như vậy, theo quan điểm của
C.Mác, tôn giáo chỉ thật sự mất đi khi con người ta tự nhận thức được về bản

thân mình, từ bỏ những ảo tưởng thần thánh để quay trở về với cuộc sống
hiện thực.
Phê phán các nhà duy vật vô thần trước đó, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng
định, thật sai lầm nếu cho rằng sẽ đánh tan được những thiên kiến tôn giáo chỉ
bằng tuyên truyền, giáo dục hay mệnh lệnh hành chính. Tôn giáo là một hình
thái ý thức xã hội nên về nguyên tắc, nó chỉ thay đổi khi bản thân tồn tại xã
hội được thay đổi, nó chỉ được giải quyết khi bản thân hiện thực nảy sinh tôn
giáo được cải tạo. Cũng trong “Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”,
C.Mác đã nêu rõ nguyên tắc này: “Xoá bỏ tôn giáo, coi là hạnh phúc ảo tưởng
của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân dân. Đòi hỏi
nhân dân từ bỏ những ảo tưởng về tình cảnh của mình nghĩa là đòi hỏi nhân
dân từ bỏ một tình cảnh đang cần có ảo tưởng. Do đó, việc phê phán tôn giáo
là hình thức manh nha của sự phê phán cái biển khổ ấy, cái biển khổ mà tôn
giáo là vòng hào quang thần thánh”13. Do đó, theo ông, “nhiệm vụ của lịch sử,
sau khi thế giới bên kia của chân lý đã mất đi, là xác lập chân lý của thế giới
bên này… Như vậy, phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê
phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành
phê phán chính trị”14.
Vì vậy, muốn khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, trước hết
cần phải tạo lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo
đói, thất học…, một thế giới hiện thực không còn cần đến “sự đền bù hư ảo”
của tôn giáo mà người ta có thể tìm thấy những hạnh phúc thật sự ngay trong
cuộc sống, một xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. Đó là một quá trình cách
mạng lâu dài, gian khổ gắn liền với cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.569-570.
C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.570.
14 C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.570.
12

13


12


Xuất phát từ nhận thức tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân và đó là nhu cầu hoàn toàn chính đáng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa
cần phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không được
chống tôn giáo mà chỉ chống những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
chống phá cách mạng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuyệt đối không
được nóng vội, chủ quan trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo. Về vấn đề này,
V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Những lời tuyên chiến ầm ĩ với chủ nghĩa duy tâm,
những mệnh lệnh ngăn cấm tín ngưỡng, tôn giáo là những hành vi dại dột, vô
chính phủ, làm cho kẻ thù lợi dụng để kích động tình cảm tôn giáo của tín đồ,
làm cho họ ngày càng gắn bó với tôn giáo, xa lánh thậm chí đi đến chống lại
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đương nhiên, như vậy không có nghĩa
là coi nhẹ việc giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học, thế giới quan duy vật
cho toàn dân, trong đó có những tín đồ tôn giáo, việc làm đó góp phần nâng
cao trình độ kiến thức cho toàn dân”15. Từ đó, V.I.Lênin chỉ rõ: cần tìm mọi
biện pháp để tập hợp quần chúng không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo; không
tuyên chiến, xúc phạm tôn giáo; vạch rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo
của giai cấp thống trị; sử dụng sức mạnh tổng hợp để nâng cao giác ngộ, giáo
dục vô thần; “…phải cung cấp cho quần chúng ấy đủ các thứ tài liệu tuyên
truyền vô thần, giới thiệu cho họ những sự việc lấy trong mọi mặt sinh hoạt
thực tế, dùng mọi cách để làm cho họ hứng thú, kéo họ ra khỏi sự mê muội
tôn giáo, thức tỉnh họ từ mọi phía và bằng đủ mọi phương pháp” 16.
Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội, mà còn là một thiết
chế xã hội, nó biến đổi cùng với sự biến đổi của lịch sử. ở từng thời kỳ lịch
sử, vai trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội không giống nhau. Quan điểm,
thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội
luôn có sự khác biệt. Do đó, cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, trong

15
16

Dẫn theo: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. tr.236.
V.I.Lênin: Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1981, tr.410.

13


những điều kiện cụ thể mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa xác định thái độ, cách
ứng xử phù hợp.
II. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ QUAN ĐIỂM, CHÍNH
SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, vấn đề tín ngưỡng tôn giáo là một vấn
đề hết sức nhạy cảm, nó có ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định chính trị xã hội,
an ninh quốc phòng, sự phát triển kinh tế, văn hoá đất nước. Trong tình hình
hiện nay vấn đề tôn giáo là vấn đề được đặt ra hết sức cấp thiết. Hiện nay chủ
nghĩa đế quốc dùng tôn giáo như một thứ vũ khí lợi hại để thực hiện âm mưu
“diễn biến hoà bình” nhằm xoá bỏ thành quả cách mạng của nước ta. Chính vì
vậy, trong tình hình hiện nay giải quyết vấn đề tôn giáo là vấn đề hết sức phức
tạp, đòi hỏi chúng ta cần tập trung thực hiện tốt quan điểm, đường lối và
chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước. Trung thành và vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Thực hiện nhất quán quan điểm tôn trọng tự
do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Nghiêm cấm mọi hành vi
vi phạm đến tự do tín ngưỡng của nhân dân, và quyền tự do không tín ngưỡng
của nhân dân, được bảo đảm bằng pháp luật. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hoạt động tín ngưỡng tôn giáo. Nhà nước không can thiệp vào
công tác nội bộ của các tôn giáo, tuy nhiên nhà nước quản lý tôn giáo bằng
pháp luật theo nguyên tắc đoàn kết, tự do, không khuyến khích, không tài trợ

song cũng không ngăn cấm các hoạt động tôn giáo mà pháp luật cho phép.
Đối với các cấp chính quyền, đoàn thể cần tăng cường giá dục cho toàn dân
nói chung, đồng bào tôn giáo nói riêng nhận thức đầy đủ và tự giác tuân theo
pháp luật của nhà nước. Kiên quyết xử lý các hành động chống phá khối đại
đoàn kết, và những hành vi tuyên truyền tín ngưỡng lạc hậu. Cần xây dựng hệ
thống chính trị vững mạnh ở các vùng có đồng bào tôn giáo, khai thác những
điểm tương đồng giữa các tôn giáo, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công
14


tác tôn giáo. Thực hiện “…Đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng
bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hoà thuận ấm no, xây dựng Tổ
quốc. Phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đối với tất
cả các tôn giáo”17.
Về thực tiễn, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn
trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam và đã thu được những
thắng lợi to lớn. Về vấn đề tôn giáo, Đảng cũng đã tiếp thu, vận dụng và phát
triển một cách sáng tạo nguyên lý Chủ Nghĩa Mác vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam. Trên cơ sở những nhận thức đó, Đảng khẳng định và thừa nhận
tính tất yếu tồn tại lâu dài của tôn giáo; có quan điẻm chỉ đạo, định hướng vấn
đề tôn giáo một cách đúng đắn trong các thời kỳ, giai đoạn cách mạng và đã
phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2.1. Giải quyết vấn đề tôn giáo trong những năm trước đây
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên
quan điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín
ngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đoàn kết tôn giáo, hòa

hợp dân tộc. Tinh thần đó được Đảng và Nhà nước Việt Nam thể hiện bằng hệ
thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng và đã có từ khi mới
thành lập Đảng. Trong Chỉ thị của Thường vụ Trung ương về vấn đề thành
lập Hội phản đế Đồng Minh ngày 18/11/1930, Đảng đã có tuyên bố đầu tiên
về chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của quần chúng: “... phải lãnh đạo
từng tập thể sinh họat hay tập đoàn của nhân dân gia nhập một tổ chức cách
mạng, để dần dần cách mạng hóa quần chúng và lại đảm bảo tự do tín ngưỡng
17

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.606.

15


của quần chúng...”18. Sau khi đất nước giành được độc lập, trong phiên họp
đầu tiên của Chính phủ (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Tín
ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”19. Theo đó, Đảng và Nhà nước ta đã
ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh,
nghị định về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo; qua đó, góp phần củng cố,
phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đóng góp
của đồng bào các tôn giáo vào thắng lợi của cách mạng.
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày 11/11/1977,
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 297-CP về “Một số chính sách đối với tôn
giáo” trong đó nêu lên 5 nguyên tắc về tự do tôn giáo.
Nghị quyết 40 của Ban Bí thư (khoá IV) năm 1981 nêu lên bốn nhiệm vụ
chung: Một là, cảnh giác, đấu tranh trấn áp bọn phản động. Hai là, vận động
quần chúng tăng cường đoàn kết toàn dân, cùng toàn dân xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ba là, tranh thủ cải tạo giáo sĩ và
giáo hội theo hướng phục tùng pháp luật, đi với dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Bốn là, giáo dục quần chúng nhất là lớp trẻ về nhân sinh quan, thế giới quan

cách mạng, khoa học giúp quần chúng thoát dần khỏi mê tín tôn giáo.
Để đáp ứng với yêu cầu của quá trình đổi mới, ngày 21/3/1991, Hội
đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 59-HĐBT “Quy định về các hoạt
động tôn giáo”. Nghị định 59 là văn bản mang tính pháp quy, là sự kế thừa
thực tiễn của quá trình thực hiện công cuộc đổi mới. Sự nghiệp cách mạng là
của toàn dân, đổi mới về nhận thức và thực hiện tốt công tác quản lý Nhà
nước đối với các hoạt động tôn giáo là nhằm đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng
chính đáng của nhân dân. Qua đó đã phát huy được năng lực, sức sáng tạo của
hàng chục triệu đồng bào theo tôn giáo, góp phần dân chủ hoá đời sống xã hội
trên cơ sở ổn định chính trị.
18
19

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.231.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.8.

16


Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn có quan
điểm, thái độ rõ ràng về tín ngưỡng, tôn giáo. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã khẳng định: “Tín ngưỡng
tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và còn tồn tại lâu
dài.... Nhà nước cần ban hành các chính sách thể hiện nhất quán chính sách
của Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân,
thực hiện bình đẳng và đoàn kết lương - giáo, chăm lo giải quyết những lợi
ích thiết thân của đồng bào có đạo, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, giúp
đồng bào nâng cao trình độ mọi mặt và phát huy khả năng đóng góp vào sự
nghiệp chung của dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Khắc phục mọi thái
độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, vi phạm chính

sách tôn giáo của Nhà nước, đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi
lợi dụng tôn giáo, phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa
xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”20.
Chủ trương, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo từng bước
được hoàn thiện. Đến đầu thập kỷ 90, trong những năm đầu thực hiện công
cuộc đổi mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 24-NQ/TƯ về công tác tôn giáo
trong tình hình mới, ghi dấu son về sự đổi mới đường lối, chính sách tín
ngưỡng, tôn giáo. Sau gần 10 thực hiện Nghị quyết 24, Đảng ta đã tổng kết,
đánh giá những thành tựu và nêu rõ những khuyết điểm, đồng thời Bộ Chính
trị ra Chỉ thị 37-CT/W ngày 02/7/1998 về công tác tôn giáo trong tình hình
mới. Cho đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá IX về công tác tôn giáo (Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12/3/2003)
quan điểm, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được
khẳng định và phát triển thêm một bước mới phù hợp với sự nghiệp đổi mới
của Đảng. Đó là “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
20

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 50, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.494-495.

17


xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do,
tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo
bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ
pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”.
Những quan điểm của Đảng ta từ ngày thành lập đến nay chứng minh
rằng Đảng coi quyền tự do tín ngưỡng là một nhu cầu quan trọng của con

người, là một trong những quyền công dân, quyền chính đáng của con người.
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng đức tin của đồng bào theo
tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; tôn trọng quyền được theo bất cứ tôn giáo
nào cũng như quyền không theo tôn giáo nào, mong muốn cho người dân theo
tôn giáo được “phần hồn thong dong, phần xác ấm no”.
Từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, nước ta đã có 4 Hiến
pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và năm 2013), trong đó Hiến pháp đầu
tiên năm 1946 đã khẳng định quyền của người dân Việt Nam: “Công dân Việt
có quyền tự do tín ngưỡng” (Điều 10, mục B, Chương II). Từ những nguyên
tắc cơ bản đó, Điều 80 Hiến pháp 1980 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do tín
ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn
giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Điều 70 của Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 được bổ sung rõ
hơn: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc
không theo tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những
nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được
xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Điều 24 (Chương II) của
Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước
pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
18


3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Như vậy, Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền nhân thân cơ bản của
công dân cũng được đề cập trong Bộ luật Dân sự, được bảo vệ bằng pháp luật
và được cụ thể hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng ở mức
độ cao hơn, hoàn thiện hơn. Sau 5 năm thực hiện Nghị định số 26/1999/NĐCP, ngày 19/4/1999 về các hoạt động tôn giáo đã được thay thế bằng Pháp

lệnh tín ngưỡng, tôn giáo do ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XI thông qua
ngày 18/6/2004 và Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 29/6/2004.
Những quan điểm, chính sách về tín ngưỡng tôn giáo tiếp tục được Đảng
ta khẳng định trong các Nghị quyết của các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX. X.
XI. Điều đó chứng tỏ tính nhất quán và sự vận dụng vào giải quyết có hiệu
quả vấn đề tôn giáo trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nước Việt
Nam. Nhất quán quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo tôn giáo của nhân dân; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác
nhau, đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, tại Đại hội XI, Đảng ta
tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và phát triển những quan điểm, chính sách của
mình về tôn giáo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ra đời là một minh chứng, một bước tiến
và một lần nữa tiếp tục khẳng định nguyên tắc nhất quán trong chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng tự do tín ngưỡng,
tôn giáo.
Thực tế, những chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo không phải
chỉ được khẳng định ở Hiến pháp, pháp luật hay trong các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng mà được thể hiện sống động trong cuộc sống hàng ngày.
Trong điều kiện mới, để tăng cường hơn nữa sự đoàn kết gắn bó đồng
bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta chỉ rõ: “Lấy
19


mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, phấn đấu vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương
đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở
trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mọi mặc cảm,
định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những
ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc” 21. Nghị quyết chỉ rõ:

“Cần đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, một yếu tố quan trọng để
đạt được sự đồng thuận xã hội”22. Đây vừa là sự kế thừa vừa là sự phát triển
mới đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa hiện nay. Sự phát triển đó đã chỉ rõ Đảng ta luôn quán triệt sâu
sắc quan điểm duy vật lịch sử vào xem xét giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn
giáo ở Việt Nam. Quan điểm đó, một mặt thừa nhận và tôn trọng sự khác
nhau về đời sống tâm linh giữa đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo,
mặt khác chỉ rõ mục tiêu và con đường, biện pháp duy nhất đúng để đoàn kết
gắn bó đồng bào các tôn giáo không chỉ là xây dựng “tốt đời”, xây dựng
“thiên đường” thực sự trên trái đất, mà còn phải bảo vệ nó trước sự tấn công
phá hoại ngày càng gay gắt của các thế lực thù địch. Do vậy, mục tiêu giữ
vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh không chỉ là cái đích hướng tới là động lực thúc đẩy
mà còn là cơ sở, nền tảng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mọi chủ trương, chính sách và hoạt động
của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm xử lý, giải quyết vấn đề tôn
giáo đều phải xuất phát và hướng đến mục tiêu trên. Đồng thời, một trong
những nội dung chủ yếu của công tác tuyên truyền vận động đối với đồng bào
có đạo, nhất là các chức sắc tôn giáo là phải làm cho họ thấy rõ: thực hiện
mục tiêu trên không chỉ là phù hợp với nguyện vọng thiết tha của toàn thể dân
tộc Việt Nam, trong đó có đồng bào có đạo, mà còn góp phần tạo ra những
21
22

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.239.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.241.

20



điều kiện để các tôn giáo hoạt động thuận lợi; không chỉ góp phần từng bước
nâng cao đời sống vật chất tinh thần của toàn thể quần chúng nhân dân, mà
còn từng bước thực hiện những ước nguyện cao nhất của các tôn giáo; không
chỉ góp phần làm cho “tốt đời” mà còn góp phần làm cho “đẹp đạo”. Sự phát
triển nhận thức mới của Đảng cũng chính là cơ sở khoa học để đánh bại mọi
thủ đoạn tuyên truyền kích động, xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với
các quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng ta.
2.2. Giải quyết vấn đề tôn giáo trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, trong xu thế phát triển hội nhập, đa phương hoá, đa dạng hoá
các mối quan hệ, kẻ thù luôn tìm mọi cách lợi dụng tôn giáo để chống phá
cách mạng nước ta. Do đó, vấn đề đặt ra ở đây là phải không ngừng tiếp thu
và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề tôn giáo trong điều kiện mới của cách mạng Việt Nam, phải
nhất quán với chính sách tôn giáo, phải thực hiện lương giáo đoàn kết cùng
nhau xây dựng một xã hội phồn thịnh và phát triển.
Trên thực tế có những tôn giáo trong tiến trình ra đời, tồn tại và phát
triển của mình đã trải qua những thăng trầm, biến cố do sự phát triển vận
động của quy luật xã hội, nhưng trên cơ sở và những yếu tố tích cực của tôn
giáo chân chính đó, cộng thêm sự kiên trì giữ vững lòng tin vào tín ngưỡng
tôn giáo của mình của một bộ phận nhân dân đã góp phần xây dựng, củng cố
các giá trị đạo đức, luận lý và nhân bản trong xã hội, trong gia đình trong
nhiều năm thậm trí là nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển của các tôn giáo và
điều đó đã được phát huy rất có hiệu quả trong cuộc sống đời thường của
nhân dân ta.
Do nhận thức rõ yếu tố tích cực của các tôn giáo, nên Đảng và nhà nước
ta có quan điểm, chính sách về tín ngưỡng tôn giáo và đã xác định rõ: “Tiếp
tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan
điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn
21



giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo,
tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan
tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương,
điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định
của pháp luật. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với
những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại
khối đoàn kết dân tộc23.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, một văn kiện quan
trọng thể hiện quan điểm của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo, đó là Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển
2011) đã khái quát: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và
không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật”24.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi tự do tín ngưỡng, tôn giáo là
một trong những quyền cơ bản của công dân, được pháp luật bảo hộ. Đồng
thời, Đảng ta không chỉ khẳng định cần phát huy những giá trị văn háo đạo
đức tốt đẹp của các tôn giáo nói chung mà còn cần chắt lọc trong các giáo lý,
giáo luật, lễ nghi của các tôn giáo, nhất là các chuẩn mực giá trị đạo đức của
tất cả các tôn giáo hợp pháp đã được Nhà nước công nhận những giá trị tốt
đẹp để góp phần xây dựng đời sống văn hoá tinh thần trong vùng đồng bào có
đạo. Việc bổ sung này càng khẳng định quan điểm tôn trọng tự do tín ngưỡng
của nhân dân và đối xử bình đẳng với mọi tôn giáo hợp pháp, tạo nên sự phấn
khởi tin tưởng hơn nữa của đồng bào có đạo vào quan điểm, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta nói chung và quan điểm, chính sách tôn giáo
nói riêng, đồng thời đó còn là cơ sở lý luận để chống mọi sự kỳ thị, phân biệt
đối với các tôn giáo, chống lại mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù
địch đối với quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà
nước ta. Mặt khác, phải kiên quyết đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện, hành
23
24


Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.245.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.81.

22


vi lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta và đấu tranh
ngăn chặn các hoạt động vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân, Đại hội
XI của Đảng đã chỉ chỉ rõ: “... chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với
những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại
khối đại đoàn kết dân tộc”25. Quan điểm trên vừa phản ánh tình hình các thế
lực thù địch ngày càng gia tăng các hoạt động lợi dụng tôn giáo can thiệp vào
công việc nội bộ của nước ta vừa khẳng định quyết tâm và nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải không ngừng đề cao cảnh giác cách mạng,
chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng đánh thắng mọi âm mưu thủ
đoạn của các thế lực thù địch thù địch lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân
quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng chống phá cách mạng nước ta. Tôn trọng
tự do tín ngưỡng, đồng thời phải kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng tự do tín
ngưỡng để trục lợi, gây rối trật tự, an toàn xã hội là hai nội dung cơ bản thể
hiện tính khoa học và cách mạng trong quan điểm tôn trọng tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của Đảng ta. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo khẳng định: “Nghiêm cấm lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây
rối, xâm phạm an ninh quốc gia”. Như vậy, đi đôi với tôn trọng, đảm bảo
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, pháp luật của Việt Nam cũng
nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và
đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản các tín đồ thực hiện
nghĩa vụ công dân; đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động lợi dụng

tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân
dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Chủ động phòng ngừa, kiên quyết
đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia
rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc…” 26, “đấu tranh và xử lý nghiêm đối với
25
26

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.239.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.45.

23


mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn
giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”27.
Trong điều kiện hiện nay, để thực hiện tốt quan điểm, chính sách tín
ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện tốt một số vấn đề cơ
bản sau:
Trước hết, phải làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh trở thành hệ tư tưởng chủ đạo, chi phối dẫn dắt, định hướng các học
thuyết, các tôn giáo; trên cơ sở nhận thức đúng và vận dụng linh hoạt sáng tạo
vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, phải làm cho mọi người nhận
thức được rằng: Con người hoàn toàn có đủ khả năng xây dựng được hạnh
phúc thực sự ở trần gian, chứ không phải chờ đến hạnh phúc “hư ảo” ở thế
giới bên kia.
Hai là, phải hiện thực hoá các quan điểm, chính sách, pháp lệnh của Đảng
và Nhà nước về tôn giáo, như là: Nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm,
trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội về vấn đề tôn giáo. Giáo dục
truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, làm
cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái

thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Tăng cường công tác vận động quần
chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở cơ sở; Tăng cường quản lý nhà nước về
tôn giáo; Tăng cường công tác tổ chức, cán bộ làm công tác tôn giáo.
Ba là, Đảng và Nhà nước phải luôn quan tâm, tạo điều kiện mọi mặt để
phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho đồng bào vùng sâu, đồng bào vùng có đạo, phải xây dựng cho được thiên
đường ở trần gian thì thiên đường bên kia sẽ mất đi, xây dựng thành công
chế độ xã hội: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thực hiện chủ nghĩa cộng sản là lập trường với tính cách là phủ định của phủ
định, cho nên nó là nhân tố hiện thực, cần thiết cho giai đoạn phát triển lịch
27

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.81.

24


sử sắp tới, của sự giải phóng con người và của sự giành lại con người. Chủ
nghĩa cộng sản là hình thức tất yếu và là nguyên tắc kiên quyết của tương lai
sắp tới.
Tóm lại, tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, vô cùng phức
tạp và nhạy cảm; là vấn đề đang nổi lên hiện nay không chỉ ở Việt Nam, mà
trên khắp thế giới; là vấn đề mà kẻ địch đang tìm mọi cách lợi dụng để chống
phá, chia rẽ các dân tộc, các tôn giáo ở các nước, các khu vực trên khắp thế
giới trong đó có Việt Nam. Nhận thức được vấn đề đó, ngay từ đầu Đảng và
Nhà nước ta qua các giai đoạn cách mạng đều xác định: Công tác tôn giáo là
vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng. Từ đó, Đảng, Nhà nước ta đã
luôn nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo những quan điểm, tư tưởng của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam và đã thu được kết quả to lớn, là xây dựng và phát huy được sức

mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo là một bộ phận của hệ thống
quan điểm, chính sách của Đảng. Do vậy, toàn quân ta cần phải cùng với toàn
Đảng, toàn dân quán triệt sâu sắc, thực hiện triệt để và kiên quyết bảo vệ quan
điểm, chính sách của Đảng. Trước hết, cần nhận thức sâu sắc rằng các quan
điểm, chính sách tôn giáo là một bộ phận quan trọng, gắn bó chặt chẽ, không
tách rời với các quan điểm, chính sách khác của Đảng. Từ đó cần không
ngừng nâng cao năng lực vận dụng sáng tạo quan điểm chính sách tôn giáo
của Đảng trong quá trình thực hiện chức năng công tác, nhất là đối với nhiệm
vụ vận động quần chúng đối với quân nhân có đạo và công tác vận động quần
chúng trong vùng đồng bào có đạo; đồng thời cần chủ động, kiên quyết hơn
trong việc bảo vệ quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng trên cả mặt trận tư
tưởng lý luận và đấu tranh vũ trang. Phải không ngừng nâng cao nhận thức
cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội về quan điểm, chính sách tôn giáo của
25


Đảng, làm cho mọi người hiểu rằng quan điểm, chính sách tôn giáo là một bộ
phận trong hệ thống quan điểm, chính sách của Đảng, do đó khi quán triệt, tổ
chức thực hiện phải đồng bộ, nhất quán và giữ vững nguyên tắc; làm cho mọi
quân nhân, nhất là quân nhân có đạo nhận thức đúng và thực hiện tốt nghĩa vụ
với đạo và nghĩa vụ với Tổ quốc, trong đó nghĩa vụ với Tổ quốc là trên hết,
trước hết; tiến hành công tác tôn giáo phải phù hợp với điều kiện hoàn cảnh
của từng đơn vị, từng khu vực; làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng
gắn với tuyên truyền chủ nghĩa vô thần khoa học; phối hợp cùng với chính
quyền địa phương nơi đóng quân, động viên, giúp đỡ đồng bào các tôn giáo
tích cực tham gia lao động sản xuất phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá-xã
hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, xây dựng cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc thực sự bằng chính sức lực của mình và trên chính mảnh đất

quê hương mình, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xây dựng đất nước phồn vinh, gia đình
hạnh phúc, thực hiện đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội. Đồng thời kiên
quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện và hành vi mê tín dị đoan, tà đạo, lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại cuộc sống của nhân dân, chia
rẽ đoàn kết các tôn giáo và dân tộc.
Quân đội ta là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất.
Ngoài chức năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, quân đội còn
tham gia tích cực có hiệu quả vào việc phát triển kinh tế xã hội mà trực tiếp là
trên địa bàn đóng quân, tích cực tuyên truyền và vận động nhân dân thực hiện
các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có
những vấn đề về tôn giáo. Trên những địa bàn xung yếu, địa bàn tôn giáo,
quân đội cùng với các lực lượng chính trị xã hội khác cần phải thực sự là “tai
mắt” của Đảng, Nhà nước, kịp thời phát hiện và cùng với tổ chức Đảng, chính
quyền và các đoàn thể xã hội địa phương, giải quyết một cách hiệu quả tình
hình phức tạp tôn giáo nảy sinh. Để thực hiện tốt quan điểm, đường lối của
26


Đảng về vấn đề tôn giáo, chúng ta phải thực hiện tốt một số biện pháp trong
quân đội:
Một là, không ngừng tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách tôn
giáo của Đảng và Nhà nước cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và cho nhân
dân địa phương nơi đóng quân.
Hiện nay, có nhiều yếu tố làm cho tín ngưỡng, tôn giáo tác động tiêu cực
vào đời sống tinh thần quân nhân. Trong đó có cả yếu tố khách quan, chủ
quan, yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội tác động tổng hợp tạo nên
những ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo đối với đời sống tinh thần
quân nhân theo nhiều chiều: cản trở việc hình thành, phát triển thế giới quan
khoa học của quân nhân; cản trở sự phát triển văn hoá, đạo đức của quân nhân

và cản trở việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân nhân. Do vậy, mỗi đơn vị
quân đội cần thường xuyên tổ chức học tập, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác -Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, chiến sĩ, làm cho quân nhân nhận thức đầy
đủ tính chất phản khoa học của tín ngưỡng tôn giáo, từ đó xây dựng lập trường
tư tưởng cách mạng khoa học. Tập trung giáo dục, tuyên truyền toàn diện, chú
trọng vào những quan điểm, chính sách, nhiệm vụ công tác tôn giáo, nhằm
thống nhất nhận thức của cán bộ, chiến sĩ, loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực
của tín ngưỡng tôn giáo ra khỏi đời sống tinh thần của quân nhân.
Tăng cường việc tuyên truyền đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước cho nhân dân địa phương, công tác tuyên truyền phải giúp nhân
dân hiểu được cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai; nhận rõ âm mưu thâm độc của
các thế lực phản động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ giữa
dân với Đảng, với Nhà nước và với quân đội. Trên cơ sở đó vận động nhân
dân thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng
thời làm cho nhân dân địa phương nắm chắc, hiểu rõ chính sách nhất quán tôn
trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào, vận động nhân dân thực hiện

27


×