Tải bản đầy đủ (.doc) (46 trang)

Skkn kết hợp thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế giúp tăng hứng thú và nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh lớp 11

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (607.49 KB, 46 trang )

Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

MỤC LỤC
1. Cơ sở đề xuất giải pháp...........................................................................................................4
1.1. Sự cần thiết hình thành giải pháp.........................................................................................4
1.2. Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp.................................................................5
1.2.1. Hứng thú...................................................................................................................5
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của lứa tuổi học sinh THPT với việc tiếp thu môn Hóa học.........9
1.2.3. Thực trạng về hứng thú học tập hóa học của học sinh............................................10
1.2.4. Vai trò của thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế trong dạy học bộ môn hóa
học......................................................................................................................................13
1.3. Mục tiêu của giải pháp....................................................................................................14
1.4. Các căn cứ đề xuất giải pháp..........................................................................................14
1.5. Phương pháp thực hiện...................................................................................................15
1.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:...........................................................................15
1.5.2. Phương pháp thống kê phân tích số liệu.................................................................15
1.5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm........................................................................15
1.6. Đối tượng và phạm vi áp dụng........................................................................................16
1.6.1. Đối tượng: Chương trình hóa học lớp 11................................................................16
1.6.2. Phạm vi áp dụng: Đề tài này có thể áp dụng cho tất cả các đơn vị trường học nhất
là các trường THPT............................................................................................................16
2. Quá trình hình thành và nội dung giải pháp..........................................................................16
2.1. Quá trình hình thành nên giải pháp.................................................................................16
2.2. Những cải tiến để phù hợp với thực tiến phát sinh.........................................................16
2.3. Nội dung của giải pháp mới hiện nay.............................................................................17
2.3.1. Thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế dùng để đặt tình huống vào bài mới.17
2.3.2. Thí nghiệm biểu diễn cùng với hiện tượng thực tế đặt ra trong quá trình dạy.......21
2.3.3.Thí nghiệm học sinh tự làm ở nhà...........................................................................30
3. Hiệu quả giải pháp................................................................................................................34


3.1. Thời gian áp dụng hoặc áp dụng thử của giải pháp........................................................34
3.2. Hiệu quả đạt được hoặc dự kiến đạt được: Để đánh giá hiệu quả áp dụng, tôi tiến hành
thực nghiệm sư phạm kiến thức lớp 11 hóa học ban cơ bản..................................................34
3.2.1. Kiểm tra trước tác động..........................................................................................34
3.2.2. Kiểm tra 45 phút sau tác động lớp TN và lớp ĐC..................................................36

1
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

3.3. Khả năng triển khai, áp dụng giải pháp..........................................................................37
3.4. Kinh nghiệm thực tiễn khi áp dụng giải pháp.................................................................38
4. Kết luận và đề xuất, kiến nghị..............................................................................................39
4.1. Kết luận:..........................................................................................................................39
4.3. Đề xuất, kiến nghị:..........................................................................................................39
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................40
PHỤ LỤC..................................................................................................................................41
2. Đề kiểm tra 45 phút sau tác động (10 câu trắc nghiệm và 3 câu tự luận).............................43

2
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017


CHỮ VIẾT TẮT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

GV:
HS:
TN:
ĐC:
SGK:
PPDH:
THPT:

Giáo viên
Học sinh
Thực nghiệm (Thí nghiệm)
Đối chứng
Sách giáo khoa
Phương pháp dạy học
Trung học phổ thông

3
GV: Đinh Thị Bé



Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

Giải pháp
KẾT HỢP THÍ NGHIỆM VUI CÙNG VỚI HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ GIÚP
TĂNG HỨNG THÚ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
LỚP 11
1. Cơ sở đề xuất giải pháp.
1.1. Sự cần thiết hình thành giải pháp.
Đại hội XII tiếp tục khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển
giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện
năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát
triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và
bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học – công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
và thị trường lao động”. Như vậy, phải nói rằng giáo dục và công cuộc đổi mới phương
pháp dạy học đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và ngành giáo dục.
Để đạt được hiệu quả trong công tác đổi mới thì sự hứng thú, thái độ và sự quan
tâm của người học đối với môn học đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay tại
các trường trung học phổ thông tồn tại thực trạng là học sinh không hứng thú với các
môn học nói chung và môn hóa học nói riêng. Vấn đề này đã gây ảnh hưởng rất nhiều
cho quá trình dạy học trên lớp của giáo viên và sự hưng phấn của giáo viên trong quá
trình dạy học. Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp
với từng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng
cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm
học tập cho học sinh.


4
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

Xuất phát từ những thực tế đó và một số kinh nghiện trong giảng dạy bộ môn
hóa học, tôi thấy để có chất lượng giáo dục bộ môn hóa học cao, người giáo viên
ngoài phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm các thí
nghiệm hóa học vui trong đời sống, câu hỏi thực tiễn đưa vào bài giảng bằng nhiều
hình thức khác nhau nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo niềm
tin, niềm vui, hứng thú trong học tập bộ môn. Từ những lí do đó tôi chọn giải pháp:
“Kết hợp thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế giúp tăng hứng thú và nâng cao
hiệu quả học tập cho học sinh lớp 11”.
1.2. Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp.
1.2.1. Hứng thú.
a) Khái niệm hứng thú.
Hứng thú là một thuộc tính tâm lý của nhân cách, là một hiện tượng tâm lý phức
tạp được thể hiện khá rộng rãi trong cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như trong các
lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Có nhiều quan điểm khác nhau về hứng thú, thậm chí
trái ngược nhau:
Theo các nhà tâm lý học nước ngoài:
A.K. Markova và V.V. Repkin cho rằng: “Hứng thú học tập là một loại hứng thú
chưa được ý thức một cách rõ ràng, có tính chất tình huống, thường chú ý tới những
khía cạnh bên ngoài của đối tượng hoạt động học tập, ít có tác dụng thúc đẩy hành
động học tập theo sáng kiến riêng của người học, được xuất hiện dưới những phản ứng
rất mãnh liệt nhưng ngắn ngủi”.
A.G. Covaliop cho rằng: “Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của

chủ thể với đối tượng của hoạt động học tập về sự cuốn hút về tình cảm và ý nghĩa
thiết thực của nó trong đời sống cá nhân”.

5
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

Nhà tâm lý học I.PH. Shecbac cho rằng: “Hứng thú là thuộc tính bẩm sinh vốn có
của con người, nó được biểu hiện thông qua thái độ, tình cảm của con người vào một
đối tượng nào đó trong thế giới khách quan”.
Annoi nhà tâm lý học người Mỹ lại cho rằng: “Hứng thú là một sự sáng tạo của tinh
thần với đối tượng mà con người hứng thú tham gia vào”.
Theo các nhà tâm lý học, giáo dục học Việt Nam
Các tác giả: Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy cho rằng: Khi ta có
hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của
nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó,
do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát
khao tiếp cận đi sâu vào nó .
Có nhiều quan niệm khác nhau về hứng thú, tuy nhiên có thể coi quan niệm của
GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn là bao hàm nhất: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân
đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại
khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”.
Khái niệm này vừa nêu được bản chất của hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt
động của cá nhân. Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng, thể
hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng sự thích thú được
thỏa mãn với đối tượng.

b) Vai trò của hứng thú trong dạy học.
Có nhiều công trình nghiên cứu đã đồng nhất hứng thú học tập với hứng thú nhận
thức. Theo chúng tôi thì hứng thú học tập chỉ là một bộ phận của hứng thú nhận thức.
Hứng thú nhận thức là một hiện tượng tâm lý diễn ra trong quá trình con người
tiến hành hoạt động nhận thức. Hứng thú nhận thức là khuynh hướng lựa chọn của cá
nhân nhằm vào việc nhận thức được hoặc một số lĩnh vực khoa học nhằm vào mặt nội
dung và quá trình hoạt động của nó. Trong quá trình này cá nhân không chỉ dừng lại ở

6
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng mà còn xu thế đi sâu vào cái bản chất
bên trong của sự vật hiện tượng muốn nhận thức.
Hứng thú học tập quan hệ mật thiết với tính tò mò, ham hiểu biết của cá nhân.
Hứng thú là nguồn kích thích mạnh mẽ tính tích cực cá nhân. Khi có hứng thú học sinh
sẽ tích cực học tập hơn và học tập có hiệu quả hơn. Thái độ học tập tích cực được thể
hiện ở việc tiến hành nhiều hình thức học tập khác nhau và học tập một cách không
mệt mỏi .
c) Hứng thú và vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Để tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS thì hứng thú được các thầy giáo
quan tâm nhất, vì:
1. Hứng thú có quan hệ rất chặt chẽ đến tinh thần học tập. Khi học sinh đã hứng
thú vấn đề nào đó thì các em tích cực học tập ngay, điều đó xảy ra như một phản ứng
dây chuyền một cách tự nhiên và trực tiếp mà không cần một thao tác trung gian nào
khác.

2. Hứng thú là một yếu tố có tính biện chứng rất cao, có thể hình thành ở HS một
cách nhanh chóng bất cứ lúc nào trong quá trình dạy học.
3. Điều quan trọng hơn cả là nó nằm trong tay của người thầy. Người thầy có thể
điều khiển hứng thú của HS qua các yếu tố của quá trình dạy học: Nội dung, phương
pháp, phương tiện, hình thức tổ chức qua các bước lên lớp: Mở bài, giảng bài mới,
củng cố, vận dụng, kiểm tra kiến thức, qua mối quan hệ thầy, trò v.v…, nghĩa là qua
hoạt động hàng ngày của họ.
Để kích thích hứng thú học tập cần chú ý những vấn đề gì?
Hứng thú là sự phản ánh thái độ (mối quan hệ) của chủ thể đối với thế giới khách
quan. Như vậy hứng thú không phải mà một quá trình khép kín mà phải có nguồn gốc
từ cuộc sống tự nhiên và xã hội xung quanh. Nếu điều kiện thay đổi thì hứng thú có thể

7
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

thay đổi. Điều đó có nghĩa là có thể điều khiển được hứng thú, khác với quan niệm cho
rằng hứng thú là một cái gì bẩm sinh, bất biến.
Điều mà thầy giáo phải thực hiện thường xuyên là kích thích hứng thú trong quá
trình dạy học thông qua: Nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức…
Hiện nay việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS chủ yếu tập trung vào hướng
này.
d) Hứng thú học tập môn Hóa học
Vai trò của hứng thú trong học tập môn hóa học:
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động
nhận thức, tăng sức làm việc. Vì thế cùng với nhu cầu hứng thú là một trong những hệ

thống động lực của nhân cách.
Trong bất kỳ hoạt động nào, tạo được hứng thú là điều cực kỳ quan trọng, làm
cho các em say sưa với công việc của mình, đặc biệt là học tập.
Đối với môn Hóa học, có hứng thú các em sẽ có tinh thần học bài, tìm thấy các lý
thú, cái hay trong môn học, không cảm thấy môn học khô khan, khó hiểu nữa. Từ đó
tạo niềm tin say mê học tập, đồng thời nó làm cho các em nhận thức đúng đắn hơn vai
trò của môn Hóa học trong trường phổ thông.
Hứng thú học tập môn Hóa học còn tạo ra những xúc cảm, tình cảm tích cực ở
HS trong quá trình học tập. Nó tạo ra sự say mê, thích thú khi tiếp nhận tri thức, tạo ra
sự hài lòng với kết quả học tập. Đây chính là động lực thúc đẩy các em tìm tòi, sáng
tạo trong học tập hóa học. Vì vậy, hứng thú học tập hóa học tác động đến toàn diện bản
thân người học và hiệu quả của quá trình dạy học môn Hóa học.
Hứng thú học tập môn Hóa học tác động đến HS cả trong và ngoài giờ lên lớp,
kích thích họ tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo để thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng
thời suy nghĩ tìm ra nhiều hình thức học tập hiệu quả hơn.

8
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

Chính vì vậy, hình thành và phát triển hứng thú học tập cho HS là mục tiêu quan trọng
mà mỗi GV hướng tới để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.
Các biểu hiện của hứng thú học tập hóa học: Hứng thú học tập hóa học biểu hiện ở
cả trong và ngoài giờ học, bao gồm biểu hiện về mặt nhận thức, về mặt thái độ và về
mặt hành vi. Những biểu hiện của hứng thú học hóa học có thể được liệt kê qua các chỉ
số tiêu biểu sau :

+ Hào hứng say mê khi học tập, chú ý nghe giảng, hăng hái phát biểu ý kiến.
+ Mong muốn được thầy cô gọi trả lời câu hỏi, thường nêu thắc mắc nhờ thầy cô giải
đáp.
+ Thích thú với nhiều hình thức học tập: nghe giảng lý thuyết, làm thí nghiệm ứng
dụng kiến thức vào thực tiễn…
+ Thực hiện đầy đủ, có chất lượng nhiệm vụ học tập ở nhà.
+ Đọc thêm các sách tham khảo về hóa học, tìm hiểu các hiện tượng hóa học trong tự
nhiên, tìm cách giải thích dựa vào kiến thức đã học.
+ Cảm thấy giờ học trôi nhanh, sảng khoái với giờ học, không muốn nghỉ buổi học có
môn Hóa học.
+ Thích thú làm các thí nghiệm hóa học, hăng hái tham gia các buổi sinh hoạt tìm hiểu
về hóa học, câu lạc bộ Hóa học…
Những biểu hiện của hứng thú học tập của mỗi HS về môn Hóa học ở mỗi lớp, mỗi
lứa tuổi là khác nhau. Tuy nhiên nếu chịu khó quan sát ta có thể nhận biết được, bởi
các em thường bộc lộ cảm xúc, tình cảm ra bên ngoài rất dễ nhận biết.
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của lứa tuổi học sinh THPT với việc tiếp thu môn Hóa học
Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng biệt, với lứa tuổi từ 15 đến 18 tuổi là giai
đoạn đầu tuổi thanh niên (thanh niên học sinh). Nội dung và tính chất của hoạt động
học tập khác rất nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên, hoạt động học tập và
độc lập ở mức cao hơn nhiều, kinh nghiệm sống các em phong phú hơn, các em ý thức
9
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Do vậy, thái độ có ý thức của
các em đối với học tập ngày càng phát triển .

Thái độ đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn. Ở các em hình thành hứng
thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Các em đã xác định cho mình một
hứng thú ổn định về một số môn học nào đó và thường liên quan đến việc chọn nghề
của HS, nên nhiều em rất tích cực học một số môn mà các em chọn thi đại học, mặt
khác các em lại sao nhãng các môn học khác. Hơn nữa, hứng thú nhận thức của thanh
niên sâu và bền vững hơn thiếu niên.
Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo,
tư duy của các em chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán hơn. Những đặc điểm đó tạo điều
kiện cho HS thực hiện các thao tác tư duy phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của khái
niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên. Các em có khả
năng tự làm thí nghiệm, tự tạo ra các thí nghiệm đơn giản, sử dụng được các phương
tiện kỹ thuật hiện đại. Do vậy, các em thuận lợi hơn trong việc tiếp thu các kiến thức về
Hóa học và vận dụng vào thực tiễn.
1.2.3. Thực trạng về hứng thú học tập hóa học của học sinh.
a) Hứng thú của HS đối với giờ học hóa học
Với mục đích tìm hiểu mức độ biểu hiện hứng thú của HS đối với giờ học hóa
học đưa ra các mức độ. Kết quả điều tra 62 HS (2 lớp) về mức độ biểu hiện hứng thú
của HS: Bảng 3.1. Hứng thú của HS đối với giờ học hóa học
Mức độ
Số lượng
%
Rất thích
6
10
Thích
20
32
Bình thường
31
50

Không thích
5
8
Biểu đồ 3.1. Biểu thị hứng thú của HS đối với giờ học Hóa học

10
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

Số HS “rất thích” giờ học hóa là 10%, “thích” là 32%, trong đó có 8% không
thích giờ hóa, vậy số HS thật sự hứng thú với giờ học hóa đối với các em là thấp. Điều
này chứng tỏ vai trò của thầy giáo trong dạy học hóa học chưa kích thích hứng thú học
hóa cho các em.
b) Những hoạt động học tập tác động đến hứng thú của HS
Kết quả điều tra 62 HS về sở thích, hứng thú của HS trong giờ hóa cho thấy các
hoạt động đem lại hứng thú nhất cho người học là những hoạt động trong đó người học
phát huy tính tự lực như: tự làm thí nghiệm, làm bài tập ... Đặc biệt đáng mừng là
người học trong giờ hóa học rất thích được tự tay làm thí nghiệm (27,7%).

Biểu đồ 3.2. Các hoạt động ảnh hưởng hứng thú học tập môn Hoá học

11
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du


Năm học 2016 - 2017

Trong khi các hoạt động tự lực kích thích hứng thú của HS thì các hoạt động thụ
động không thể làm được điều đó, chỉ có 8,5% số HS được điều tra cảm thấy hứng thú
khi theo dõi GV làm thí nghiệm và 15,6% tìm thấy sự hứng thú khi ngồi nghe thầy giáo
giảng bài.
- Tình trạng lớp học tương đối trầm ở các trường lớp THPT khá phổ biến hiện
nay. Khi khảo sát ngẫu nhiên 2 lớp THPT, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ phát biểu ít chiếm
quá nửa 50% , rồi đến tỷ lệ những học sinh chưa bao giờ phát biểu khá cao (xấp xỉ
43%), còn lại lượng học sinh hăng hái phát biểu không đáng kể.

12
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

Nguyên nhân gây nên hiện tượng này khá phức tạp, bắt nguồn từ tâm lý chung
của học sinh (sợ bị chê cười khi phát biểu sai, chưa tự tin vào năng lực của mình, chưa
hiểu rõ tác dụng của việc phát biểu xây dựng bài), do cá nhân chưa chuẩn bị bài kỹ,
đến phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa gây hứng thú tới học sinh…
1.2.4. Vai trò của thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế trong dạy học bộ môn
hóa học
Đối với bộ môn Hóa học: Các khái niệm, định luật, hiện tượng, bản chất hóa học
nhiều khi rất trìu tượng, khó hiểu, khô cứng làm HS khó tiếp thu, dễ nhàm chán, đặc
biệt các HS có tư duy không tốt sẽ có xu hướng sợ bộ môn Hóa học.
Để nâng cao hứng thú học tập bộ môn hóa của học sinh ở trường phổ thông hiện nay,

người giáo viên ngoài các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm các hiện
tượng hóa học thực tiễn trong đời sống, các thí nghiệm vui hóa học đưa vào bài giảng
nhằm phát huy tính tích cực, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập bộ môn.
a) Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh lập mối liên hệ giữa nội dung bài học và
thực tiễn.
Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học,
giáo viên luôn có liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa và thực tiễn đời
sống hàng ngày. Rất nhiều kiến thức hóa học có thể liên hệ được với các hiện tượng tự
nhiên xung quanh chúng ta bằng các thí nghiệm hóa học.
b) Liên hệ thức tế trong bài dạy
Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống thì
sẽ chú ý tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu và dễ nhớ hơn. Do đó mỗi bài học giáo
viên đưa ra những ứng dụng thực tiễn, những thí nghiệm vui sẽ lôi cuốn sự chú ý của
học sinh.

13
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

1.3. Mục tiêu của giải pháp.
- Xây dựng hệ thống các thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế cho các bài
giảng trong chương trình hóa học THPT
- Vận dụng hệ thống các thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế để xây dựng
các bài dạy nhằm tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh.
1.4. Các căn cứ đề xuất giải pháp.
- Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, hầu hết kiến thức hóa học đều được

rút ra từ quan sát thí nghiệm, trong dạy học hóa học ở trường phổ thông TN luôn giữ
một vai trò hết sức quan trọng.
- Trước hết TN hóa học góp phần tạo trực quan sinh động, nhằm hổ trợ cho tư
duy trừu tượng của HS, giúp cho HS tư duy trên những hiện tượng cụ thể, xảy ra trước
mắt họ. Nhờ TN góp phần làm đơn giản hoá hiện tượng, làm nổi bậc những khía cạnh
cần nghiên cứu. Tức là nhờ TN mà các quá trình tự nhiên được tái hiện lại trước mắt
HS ở dạng rõ ràng nhất. Nhờ đó, HS dễ dàng nhận ra những tính chất đặc trưng của các
hiện tượng, quá trình và mối quan hệ giữa các tính chất đó.
- Sử dụng thí nghiệm hoá học trong dạy học hoá học được coi là tích cực khi thí
nghiệm hoá học được dùng làm nguồn kiến thức để học sinh khai thác, tìm tòi kiến
thức hoặc dùng để kiểm chứng, kiểm tra những dự đoán, suy luận lý thuyết, hình thành
khái niệm. Các thí nghiệm trong giờ học chủ yếu do học sinh thực hiện nhằm nghiên
cứu kiến thức, kiểm tra dự đoán.
- Thí nghiệm hóa học là một trong những PPDH hóa học ở trường phổ thông,
giúp cho HS tự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đặc biệt rèn luyện cho các em kỹ
năng, kỹ xảo thực hành. Ngoài ra, TN còn giúp cho việc dạy học hóa học không còn xa
vời với thực tiễn.
- Nếu vận dụng tốt hệ thống các thí nghiệm hóa học vui cùng với hiện tượng
thực tế vào bài giảng trong chương trình hóa THPT sẽ làm tăng ý nghĩa thực tiễn của
14
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

môn học, làm cho các bài học trở nên hấp dẫn và lôi cuốn học sinh hơn. Đồng thời góp
phần năng cao năng lực nhận thức, tự học, tích cực chủ động học tập của học sinh.
Điều đó làm tăng hứng thú học tập mang lại kết quả học tập bộ môn cao hơn. Với

mong muốn cải thiện thực trạng hứng thú học tập bộ môn của học sinh hiện nay nhằm
góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh chúng tôi đã chọn giải pháp: “Kết
hợp thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế giúp tăng hứng thú và nâng cao hiệu
quả học tập cho học sinh lớp 11”.
1.5. Phương pháp thực hiện.
1.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Tài liệu chuyên môn: Bộ sách giáo khoa và sách GV môn hóa học 11; Tài liệu
bồi dưỡng giảng dạy thực hiện chương trình sách giáo khoa môn Hóa học, Tài liệu
chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học THPT; Tài liệu tâp huấn GV dạy học, kiểm tra
đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông môn
Hóa học cấp THPT; Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn hóa cấp trung học phổ thông.
- Tài liệu sư phạm: Lý luận dạy học hóa học;
- Tạp chí hóa học và ứng dụng.
- Trang website: Dạy và học môn hóa học.
1.5.2. Phương pháp thống kê phân tích số liệu
Thu thập các số liệu, xử lý thống kê và đánh giá.
1.5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm cho lớp thực nghiệm (TN) 11a11 và lớp đối
chứng (ĐC) 11a12, năm học 2016 – 2017 tại THPT Nguyễn Du, tỉnh Bà Rịa Vũng
Tàu

15
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017


- Kiểm tra, đánh giá hiệu quả hệ thống câu hỏi qua bài kiểm tra 15 phút và bài
kiểm tra 45 phút.
1.6. Đối tượng và phạm vi áp dụng.
1.6.1. Đối tượng: Chương trình hóa học lớp 11
1.6.2. Phạm vi áp dụng: Đề tài này có thể áp dụng cho tất cả các đơn vị trường học
nhất là các trường THPT.
2. Quá trình hình thành và nội dung giải pháp
2.1. Quá trình hình thành nên giải pháp
Stt
1
2
3
4
5
6

Thời gian
Từ 1/8/2016

Kế hoạch thực hiện
Xác định đề tài nghiên cứu

đến 20/8/2016
Từ 20/8/2016

Xây dựng đề cương chi tiết
Thu thập tư liệu lý luận dạy học, tư liệu phương tiện dạy

đến 21/9/2016
Từ 21/9/2016


học

đến 18/10/2016
Từ 18/10/2016
đến 30/11/2016
Từ 30/11/2016
đến 15/12/2016
Từ 15/12/2016
đến 4/1/2017

Nghiên cứu, viết phần cơ sở lý luận
Thực nghiệm sư phạm và khảo sát đánh giá kết quả thực
nghiệm sư phạm.
Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm.
Viết, kiểm tra và hoàn tất đề tài.

2.2. Những cải tiến để phù hợp với thực tiến phát sinh.
Với những giải pháp hiện có thì phần lớn là GV tự làm TN. Với giải pháp mới
của chúng tôi là muốn học sinh tự thực hiện các thí nghiệm đó dưới sự hướng dẫn của
GV sẽ giúp học sinh có kĩ năng làm thí nghiệm và khắc sâu được kiến thức

16
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017


Để làm TN thành công không những hóa chất phải đúng, tốt mà người giáo viên
phải có, kinh nghiệm, kiến thức vững thì vận dụng mới đạt kết quả cao. Tuy nhiên mỗi
giáo viên có một phong cách dạy riêng nên tùy vào mỗi giáo viên mà thí nghiệm đó,
câu hỏi đó có thể vận dụng vào những tình huống khác nhau trong quá trình dạy học
hóa học cho hiệu quả. Có những kinh nghiệm có thể áp dụng cho nhiều người, nhưng
có những phong cách không thể áp dụng cho giáo viên khác. Vì phong cách dạy “nó
như tính cách của mỗi con người không thể ai cũng giống ai” nhưng phải đảm bảo
được nội dung dạy học theo yêu cầu của chương trình. như vậy không có nghĩa người
giáo viên không đổi mới phương pháp giảng dạy mà mỗi giáo viên luôn phải tìm cách
đổi mới trong phong cách dạy của mình theo yêu cầu của thực tiễn hiện hành.
2.3. Nội dung của giải pháp mới hiện nay
TN hóa học cùng với hiện tượng thực tế được sử dụng ở nhiều giai đoạn khác
nhau trong quá trình học. Chẳng hạn, TN được tiến hành nhằm đề xuất vấn đề, nghiên
cứu tài liệu mới hoặc củng cố bài. TN có thể do GV tiến hành hay HS tiến hành dưới
sự chỉ dẫn của GV. Tuy nhiên, HS hứng thú nhất khi trực tiếp làm TN. Vì vậy, với giải
pháp này thì chủ yếu GV tạo điều kiện cho các em được trực tiếp thực hiện đặc biệt là
các TN đơn giản mà các em tự tạo được và TN thực hành hóa học.
Khi dạy học và biểu diễn thí nghiệm minh họa về hiện tượng hóa học, giáo viên
có thể gia công những thí nghiệm đó bằng những dụng cụ đơn giản trong đời sống để
học sinh dễ thực hiện, điều đó sẽ giúp học sinh có thể tự thực hành và kích thích sự tìm
hiểu, khám phá ở học sinh.
2.3.1. Thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế dùng để đặt tình huống vào bài
mới
Tình huống có vấn đề là hoàn cảnh trong đó xuất hiện mâu thuẫn nhận thức mà
HS chấp nhận việc giải quyết mâu thuẫn đó như một nhiệm vụ học tập và sẵn sàng đem
sức lực trí tuệ ra giải quyết.
17
GV: Đinh Thị Bé



Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

Khi ở trong tình huống có vấn đề, trạng thái tâm lý của HS có sự chuyển biến rõ
rệt. Học sinh sau khi chấp nhận mâu thuẫn của bài toán nhận thức, sẽ xuất hiện nhu cầu
bức thiết muốn tìm đáp số của bài toán. Lúc này tính tò mò vốn có ở HS bị kích
thích.Trạng thái tâm lý ngạc nhiên, tò mò, hứng thú là điểm khởi đầu để các em đi tìm
lời giải đáp. Những yếu tố đó tạo nên động cơ học tập của HS trong giờ học.
Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học
sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng
ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình
học tập.
a) Bài: “Hợp chất của cacbon” – Hóa học 11.
- GV đặt vấn đề: Vì sao khi mở nắp chai nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí
thoát ra? Đó là khí gì? Những ngày nóng nực vì sao mọi người thích uống nước uống
có gas? Hãy làm thí nghiệm sau để tìm các câu giải đáp.
- Chuẩn bị:
+ Tìm một miếng bọt xốp gọt thành một chiếc nút chai, đục một lỗ ở góc nút để lồng
khít vào một ống cao su.
+ Ở trong một lọ rộng miệng, đặt vào một cây nến đang cháy.
+ Cốc thủy tinh chứa nước vôi trong.
- Cách làm:
+ Mở nắp chai nước uống có gas, dùng chiếc nút chai đã chuẩn bị để nút miệng chai
nước uống có gas, để một đầu ống cao su thò vào trong lọ rộng miệng, rồi nhè nhẹ xóc
chai nước uống có gas thì chất khí bốc lên trong chai nước uống có gas sẽ theo ống cao
su sang lọ rộng miệng, chỉ lát sau đã làm tắt ngọn nến đang cháy.
+ Nếu thử chuyển đầu ống cao su cắm vào trong nước vôi, nước vôi trong sẽ trở nên
đục ngầu.


18
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

+ Chúng ta có thể phán đoán chất khí trong nước uống có gas chính là khí cacboníc. Ở
các nhà máy nước ngọt người ta dùng áp lực lớn để ép CO 2 hòa tan trong nước sau đó
nạp vào bình đóng kín thu được nước ngọt. Những ngày nóng nực, mọi người thích
uống nước uống có gaz vì khi uống nước có gas, dạ dày và ruột không hấp thu CO 2,
nhiệt độ ở dạ dày cao hơn nên khí thoát ra ngoài theo đường miệng thì sẽ không ngừng
ợ ra thứ khí đó, từ đó mà thải ra theo một phần nhiệt lượng trong cơ thể làm cho người
có cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Ngoài ra, CO 2 có tác dụng kích thích nhẹ thành dạ dày,
tăng cường tiết dịch vị giúp dễ tiêu hóa .
b) Bài : Silic và hợp chất của silic “Hợp chất của silic” – Hóa học 11
- GV đặt vấn đề: Dung dịch HF là một axit yếu, SiO 2 (thành phần chính của thủy
tinh) là một oxitaxit, vậy giữa chúng có phản ứng hóa học xảy ra hay không? Để tìm
hiểu vấn đề này, chúng ta cùng làm thí nghiệm sau:
- Chuẩn bị:
+ Một tấm thủy tinh trơn không màu.
+ Parafin
+ Dung dịch axit flohiđric
-Cách làm:
+ Muốn chạm khắc các hoa văn hay khắc chữ trên bề mặt thủy tinh. Trước tiên ta quét
đều đặn lên bề mặt thủy tinh một lớp parafin.
+ Sau đó ta chạm trổ các hình hoa văn lên lớp parafin đó, làm cho phần thủy tinh cần
khắc sẽ lộ ra.
+ Sau khi khắc, trổ xong , dùng một lượng axit Flohiđric (HF) quét, bôi nhẹ nhàng lên

lớp parafin; chất này gặp phần thủy tinh lộ ra do chạm khắc liền ăn mòn và tạo nên hoa
văn trên thủy tinh
+ Có một số sản phẩm thủy tinh sau khi dùng axit Flohiđric làm xong công việc điêu
khắc lại gia công thêm màu sắc rực rỡ làm cho tác phẩm điêu khắc trên thủy tinh càng
thêm lộng lẫy, đẹp mắt.
19
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

-Chứng tỏ: Thủy tinh bị ăn mòn bởi axit Flohiđric. (Axit Flohiđric có khả năng
ăn mòn thủy tinh)
Phản ứng hóa học xảy ra: 4HF + SiO2 → SiF4 + 2H2O
Chính vì vậy trong phòng thí nghiệm, axit Flohiđric không đựng trong bình thủy tinh
được, thường đựng trong bình bằng chì hay bằng nhựa.
c) Bài: “Photpho” – Hóa học 11
GV đặt vấn đề: Trong “Văn tế thập loại chúng sinh”, thi hào Nguyễn Du đã
viết : “Lập lòe ngọn lửa ma trơi Tiếng oan văng vẵng tối trời còn thương” Thế “ma
trơi” là hiện tượng gì ? Các nhà văn tưởng tượng ra chăng ? Không phải, “ma trơi” quả
là có thật. Nếu các em có dịp đi qua các nghĩa trang hoặc đầm lầy (nơi có xác chết của
động thực vật) vào ban đêm thì các em sẽ thấy những ngọn lửa màu xanh lãng đãng
lập lòe mà dân gian thường gọi là “ma trơi”. Bài học ngày hôm nay sẽ giúp các em
hiểu được hiện tượng này. Đó là bài PHOT PHO.
Sau khi học xong bài Photpho giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu được hiện tượng trên là
do : Trong cơ thể người, động vật (chủ yếu là xương ) có chứa một hàm lượng photpho
khi chết phân hủy tạo một phần thành khí PH 3 (photphin), khi có lẫn một chút khí P 2H4
(diphotphin), khí PH3 tự bốc cháy ngay trong điều kiện thường tạo thành khối cầu khí

(lửa “ma trơi”) bay trong không khí khi có gió hoặc người di chuyển (sợ mà chạy). Bất
kể ngày hay đêm đều có PH3 bay ra ở các nghĩa trang, chỉ có điều là ban ngày ánh sáng
mặt trời quá mạnh nên ta không thấy được hiện tượng. 2PH 3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O.
Điều trùng lặp ngẫu nhiên là : Người ta thường gặp “Ma trơi” ở các nghĩa địa càng
tăng thêm sự mê tính dị đoan.
GV có thể hướng dẫn HS làm thí nghiệm này sau buổi học (tiết thực hành tại phòng
thí nghiệm):
Thí nghiệm : Hiện tượng “ma trơi”
Dụng cụ, hoá chất: chậu thủy tinh, canxi photphua, nước.

20
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

Tiến hành TN:
Lấy một chậu thủy tinh đựng đầy nước rồi cho vào đó vài mẫu canxi photphua Ca3P2.
Những bong bóng khí sẽ xuất hiện, khi thoát lên mặt nước chúng sẽ cháy tạo ra những
vòng sáng lập lòe và để lại những vòng khói trắng.
Phân tích:
- TN có hiện tượng rất giống với hiện tượng trong đời sống nên kích thích hứng thú
của HS.
- Để phát triển tư duy cho HS GV đưa ra các câu hỏi có vấn đề:
+ Chất nào sinh ra khi cho Ca 3P2 vào nước? Khí gì thoát ra? Trong không khí có khí
nào oxi hóa được khí đã thoát ra?
- Từ gợi ý của GV, HS vận dụng kiến thức để giải thích bằng phản ứng xảy ra. Biết
được P2O5 được điều chế từ PH3 và O2 nên các em sẽ suy luận được chất khí bay ra khi

cho Ca3P2 tác dụng với nước là PH3.
Giải thích:
Canxi photphua tác dụng với nước theo phản ứng:
Ca3P2+ 6H2O → 3Ca(OH)2 + 2PH3
Khí photphua hidro PH3 thoát lên mặt nước, gặp không khí nó sẽ tự bốc cháy
2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O
Khói trắng là những hạt P2O5 rất nhỏ. Biểu diễn thí nghiệm không có ánh đèn sẽ nhìn
rõ ánh sáng lập lòe.
2.3.2. Thí nghiệm biểu diễn cùng với hiện tượng thực tế đặt ra trong quá trình dạy.
TN biểu diễn là TN do GV tiến hành trên lớp để khảo sát hay kiểm chứng một hiện
tượng, định luật hay giả thuyết nào trong khi nghiên cứu tài liệu mới. TN biểu diễn nếu
tổ chức hợp lý sẽ giúp cho HS tiếp thu bài dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Với các thí nghiệm đơn giản, sử dụng hoá chất ít độc hại khó gây nguy hiểm cho học
sinh ta có thể cho học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
21
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

a) Thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế biểu diễn khi nghiên cứu tính chất
của một chất.
* Bài: “ Amoniac và muối amoni” – Hóa học 11
Thí nghiệm: Tính tan trong nước của NH3, tính bazơ của NH3.
 Dụng cụ, hoá chất: Bình cầu
chứa amoniac, trứng gà hoặc vịt luộc
chín, dd phenolphtalein


Hình 2.3
 Tiến hành TN:
Trứng gà, vịt luộc chín kỹ, bóc vỏ, nhúng vào dd phenolphtalein. Thu amoniac
vào đầy một bình cầu có cổ dài (lựa bình có cổ hơi nhỏ hơn trứng một ít). Cho vào
bình một ít nước (lớn hơn 1/700 thể tích của bình) rồi nhanh chóng bịt kín miệng
bình. Đặt bình nằm ngang, cho đầu nhọn của trứng vào miệng bình, giữ trứng và
chờ một chút trứng sẽ từ từ chui vào bình. Khi trứng di chuyển được một đoạn dốc
ngược bình lên trứng vẫn cứ tiếp tục chui vào trong bình, khi chui vào bình, trứng lập
tức biến thành màu hồng.
Khi quả trứng đã chui vào gần hết cổ bình cầu, ta hơ nhẹ hông bình cầu có
nước ở trong, trứng sẽ từ từ chui ra.
● Giải thích:
Khí NH3 hòa tan rất nhiều trong nước ở nhiệt độ thường: 1 thể tích nước có thể
hòa tan tới 700 thể tích NH3 trong bình hòa tan hết, áp suất giảm xuống rất thấp. Áp
suất không khí bên ngoài bình lớn hơn sẽ đẩy quả trứng chui vào bình. Trong bình có
ion OH- (do phản ứng của NH3 với nước: NH3 + H2O ↔ NH4+ + OH-) nên
22
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

phenolphthalein chuyển sang màu hồng. Muốn lấy trứng ra chỉ việc chờ cho trứng rơi
vào cổ bình và hơ nóng bình cầu. Không khí trong bình nóng lên, nở ra sẽ đẩy quả
trứng chui ra. Ta hứng nó vào cốc đựng dung dịch axit, quả trứng sẽ trở lại màu trắng.
Những điều cần chú ý và kinh nghiệm để thí nghiệm thành công.
- Nhúng trứng vào dung dịch phenolphtalein trước khi cho chui vào bình.
- Yêu cầu học sinh giải thích các hiện tượng xảy ra.

●Phân tích:
- TN sẽ rất gây hứng thú với HS khi GV sử dụng để mở bài trong bài dạy amoniac
và muối amoni.
- Cũng có thể sử dụng TN trong các giờ thực hành hay giờ ngoại khóa.
- Để tạo hứng thú và kích thích sự phát triển tư duy của HS, GV nên cho HS tự
mình làm TN, sau đó vận dụng kiến thức để giải thích.
*Bài “Hợp chất cacbon”- Hóa học 11.
Sau khi học xong tính chất của muối cacbonat giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
GV: Bằng những hiểu biết hóa học, hãy giải thích quá trình hình thành thạch nhủ trong
các hang động đá vôi?

Động phong nha- kẻ bàng

23
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

HS: Trong hang động đá vôi, dưới tác dụng của CO2 và H2O, đá vôi bị chuyển hóa
thành Ca(HCO3)2 tan được trong nước.
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
Khi tiếp xúc với không khí, Ca(HCO3)2 dễ bị phân hủy theo phản ứng:
Ca(HCO3)2 → CaCO3↓ + CO2 + H2O
Quá trình này xảy ra rất chậm, trải qua thời gian hàng triệu năm, thạch nhũ dần hình
thành từ trên hang đá xuống, Mặt khác nước chứa Ca(HCO 3)2 còn có thể rơi xuống
phía dưới rồi mới phân hủy, nên hình thành thạch nhũ mọc từ phía dưới lên.
*Bài “Hợp chất cacbon”- Hóa học 11.

Sau khi học xong phần cacbon monooxit, GV có thể liên hệ thực tế như sau:
Tại sao sưởi than trong phòng kín có thể gây chết người?
HS: Than củi cháy trong điều kiện thiếu không khí sẽ tạo ra một loại khí cực độc là
cabon monooxit (CO). Nạn nhân khi hít phải khí này nặng thì bị tử vong, nhẹ hơn thì
để lại di chứng thần kinh - tâm thần.

Tuyệt đối không đốt than, củi trong phòng kín.
24
GV: Đinh Thị Bé


Trường THPT Nguyễn Du

Năm học 2016 - 2017

Khí cabon monooxit (CO) là một chất khí không màu, không mùi và không gây kích
thích cho nên khi bị ngộ độc, nạn nhân thường không biết. Cho đến khi nạn nhân nhận
biết được mình bị nhiễm độc thì bản thân họ không còn khả năng gọi cấp cứu được
nữa. Khí CO là chất gây ngạt, khi hít thở phải không khí có chứa nhiều khí này thì CO
sẽ kết hợp với Hemoglobin (trong máu) tạo thành hợp chất bền làm giảm nồng độ oxi
trong máu ở tất cả các cơ quan của cơ thể. Vì thế, những cơ quan nào sử dụng nhiều
oxy nhất sẽ bị tổn thương nặng nhất, theo đó, não và tim sẽ bị tổn thương nghiêm
trọng.
b) Thí nghiệm vui cùng với hiện tượng thực tế dùng để củng cố kiến thức
* Sau khi học xong phần axit – bài: “axit, bazơ và muối” – Hóa học 11, giáo viên
cho học sinh tự làm thí nghiệm để củng cố kiến thức.
Chuẩn bị:
Hai bình cầu chứa cùng thể tích: bình A chứa dung dịch HCl 2M, bình B chứa dung
dịch CH3COOH 2M.
Hai mẩu Mg có khối lượng như nhau.

Hai quả bóng cao su như nhau.
Tiến hành:
Cho hai mẩu Mg thả cùng lúc vào hai bình cầu rồi bịt kín bằng hai quả bóng cao su.
Nhận xét kết quả sau 1phút và sau 10 phút.

(A)

(B)

Sau 1 phút
ddHCl

(A)

(B)

Sau 10 phút

dCH3COOH

25
GV: Đinh Thị Bé


×