Tải bản đầy đủ (.doc) (74 trang)

Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện của Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.25 MB, 74 trang )

Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

MỞ BÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm 60 của thế kỷ XX, Viện sĩ A. I. Berg (Nga) đã dự báo: Thông tin
sẽ trở thành khái niệm dẫn đầu trong các khoa học của thế kỷ XXI. Thế kỷ XXI,
loài người bước sang kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên thông tin, được đánh dấu bằng sự
ra đời của nền kinh tế mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế mạng... Cùng với đó,
một xu thế mới hình thành: xu thế toàn cầu hóa, giao lưu, hợp tác, chia sẻ cùng phát
triển. Bên cạnh đó là sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin
(CNTT) và viễn thông…tất cả những yếu tố này đã góp phần làm thay đổi bộ mặt
kinh tế, văn hoá, xã hội của cả loài người.
Trong kỷ nguyên mới, vai trò của thông tin ngày càng trở nên quan trọng và
không thể thiếu trong mọi lĩnh vực đời sống - xã hội. Thông tin góp phần làm nên
sức mạnh của một cá nhân nói riêng và của cả một dân tộc nói chung. Ngày nay,
thông tin cùng với vật chất và năng lượng trở thành 3 trụ cột chính quyết định sự
tồn tại của mỗi quốc gia. Các nguồn thông tin ra đời với tốc độ tăng chóng mặt và
số lượng tăng nhanh với cấp số nhân. Sự phát triển mạnh mẽ của thông tin kết hợp
với sự phát triển của CNTT và viễn thông đã nâng cao giá trị của mình để từ đó
hình thành nên môi trường thông tin số toàn cầu.
Nằm trong xu thế chung toàn cầu đó, Việt Nam cũng đang có những bước
phát triển mạnh mẽ dựa trên sự phát triển của CNTT và viễn thông. Theo Quỹ
nghiên cứu Internet GOV3 (Government for the third millennium – Chính phủ của
thiên niên kỷ thứ 3) của Anh công bố kết quả điều tra tình hình phát triển Internet
trên toàn thế giới ngày 17/11/2005: Việt Nam đứng thứ 3 về tốc độ phát triển
Internet trong 4 năm qua, với số người sử dụng tăng 27,48%, trong đó 7,2% dân sử
dụng thường xuyên. Những điều này cho thấy nhu cầu thông tin của con người ngày
càng cao. Việc phát triển một hệ thống thông tin nhằm cung cấp cho người sử dụng
ngày càng trở nên cần thiết.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện



Page 1


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Cùng với xu thế phát triển của tất cả các lĩnh vực, các trung tâm TT-TV cũng
không ngừng thay đổi, phát triển để tạo ra những nguồn thông tin cho người dùng
tin (NDT). Hiện nay việc xây dựng một hệ thống các loại hình sản phẩm và dịch vụ
thông tin - thư viện (SP&DV TT-TV) là công việc cần thiết và quan trọng đối với
tất cả các cơ quan TT-TV . SP&DV TT-TV không chỉ đơn thuần phục vụ NDT và
cán bộ thư viện trong quá trình tác nghiệp, nó còn có ý nghĩa quan trọng giúp các
trung tâm TT–TV có thể liên kết chặt chẽ với nhau kể cả trong nước và quốc tế
nhằm tạo ra một nguồn lực thông tin đa dạng, phong phú và đầy đủ nhất có thể phục
vụ NDT đồng thời tiết kiệm được kinh phí và công sức cho cán bộ thư viện. Từ đây,
có thể đánh giá sự phát triển của trung tâm TT-TV, đồng thời khẳng định vai trò và
tầm quan trọng của nó trong xã hội.
Sự thay đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ của các trường đại học
đã tác động và làm thay đổi phương thức học của sinh viên và dạy của giảng viên.
Điều này càng làm cho các trung tâm TT-TV có vai trò ngày càng lớn, đặc biệt là
các trung tâm TT-TV đại học. Chất lượng và hiệu quả phục vụ của các trung tâm
TT-TV sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo của các nhà trường. Vì vậy
các trung tâm TT-TV cần nhanh chóng nắm bắt xu hướng phát triển, bám sát kế
hoạch đào tạo của nhà trường để có những biện pháp bổ sung vốn tài liệu và phát
triển hệ thống SP&DV TT-TV một cách hợp lý nhất.
Hiện nay, việc cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời, đáp ứng cả về số lượng
và chất lượng đặt ra cho các trung tâm thông tin thư viện nói chung và Trung tâm
Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội (ĐH GTVTHN) viết tắt là Trung tâm - nói riêng những nhiệm vụ to lớn, phức tạp. Để làm được điều
này đòi hỏi các trung tâm TT-TV phải không ngừng xây dựng hệ thống SP&DV
TT-TV, từ đó đáp ứng nhu cầu khai thác và sử dụng thông tin của NDT ở mọi lúc

mọi nơi một cách nhanh nhất, kịp thời nhất. Việc đa dạng và phong phú hoá các loại
hình SP&DV TT-TV gắn liền với việc ứng dụng CNTT là yếu tố sống còn của
Trung tâm, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Với ý nghĩa to lớn của SP&DV TT–TV trong hoạt động TT–TV tôi đã lựa
chọn vấn đề “Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện của Trung tâm
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện

Page 2


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Thông tin Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội” làm đề tài khoá
luận của mình.
1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu toàn bộ hệ thống SP&DV TT–TV của Trung tâm TT–TV
Trường ĐH GTVTHN. Trên cơ sở đó, đánh giá những ưu nhược điểm để:
* Mục đích: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống
SP&DV TT-TV của Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN.
* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài đi sâu giải quyết các vấn đề
sau:
- Tìm hiểu sơ lược về Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN.
- Nghiên cứu đặc điểm NDT và nhu cầu của NDT tại Trung tâm TT–TV
Trường ĐH GTVTHN.
- Tìm hiểu vai trò của SP&DV TT-TV đối với Trung tâm TT–TV Trường
ĐH GTVTHN.
- Tìm hiểu thực trạng và phân tích các SP&DV TT-TV của Trung tâm.
- Đánh giá những ưu, nhược điểm của hệ thống SP&DV TT-TV của Trung
tâm, những thuận lợi và khó khăn của Trung tâm khi tiến hành xây dựng, hoàn thiện
và phát triển hệ thống SP&DV TT-TV này.

- Đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống
SP&DV TT-TV của Trung tâm.
1.3. Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
Đối với Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN đã có một số tài liệu viết
về quá trình xây dựng, thực trạng cũng như khả năng phát triển của hệ thống
SP&DV TT-TV của Trung tâm và cũng đã có những nghiên cứu đi khá sâu về vấn

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện

Page 3


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

đề này. Theo hướng nghiên cứu của đề tài, đã có một số tài liệu hướng dẫn, bài viết
đăng trên kỷ yếu hội thảo, báo cáo khoa học và các luận văn tốt nghiệp về các khía
cạnh hoạt động của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN. Cụ thể như:
Bài viết của Ths. Hoàng Thị Minh Phúc (Phó Giám đốc Trung tâm TT-TV
Trường ĐH GTVTHN): “Những điều bạn cần biết về Trung tâm Thông tin-Thư
viện” đăng trên Tạp chí Giao thông Vận tải số 34; “Đánh giá chất lượng giảng dạy
của Khoa Thông tin-Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” trên
kỷ yếu hội thảo khoa học ngành Thông tin-Thư viện năm 2006.
Các báo cáo khoa học sinh viên về các vấn đề của Trung tâm TT-TV Trường
ĐH GTVTHN: “Tìm tin trong mục lục trực tuyến của Trung tâm Thông tin- Thư
viện Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội” năm 2005 của Vũ Thị Thuý Nhài; “Tìm
hiểu nguồn bổ sung vốn tài liệu tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Giao
thông Vận tải” năm 2005 của Nguyễn Thị Huyền.
Bên cạnh đó là một loạt các luận văn tốt nghiệp về các hoạt động tại Trung
tâm: “Nghiên cứu văn hoá đọc của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải”
năm 2007 của Bùi Phương Hoa; “Tìm hiểu vấn đề tự động hoá tại Trung tâm Thông

tin-Thư viện Trường Đại học Giao thông-Vận tải Hà Nội” năm 2007 của Nguyễn
Thanh Huyền; “Tìm hiểu công tác phát triển vốn tài liệu tại Trung tâm Thông tinThư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải” năm 2005 của Nguyễn Thị Huyền;
“Tìm hiểu công tác tự động hoá tại Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Giao
thông Vận tải” năm 2006 của Hoàng Thanh Huyền; “Tìm hiểu công tác tổ chức và
khai thác cơ sở dữ liệu tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Giao thông Vận
tải” của Vũ Thị Hồng Nhung; “Tìm hiểu quá trình xử lý tài liệu tại Trung tâm
Thông tin-Thư viện Đại học Giao thông Vận tải” năm 2008 của Bùi Thị Thuy; “Tìm
hiểu công tác tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin-Thư
viện Trường Đại học Giao thông Vận tải” năm 2008 của Vũ Văn Hồng…
Về vấn đề SP&DV TT-TV của Trung tâm cũng đã có 01 đề tài luận văn tốt
nghiệp: “Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện của Thư viện Đại học
Giao thông Vận tải” năm 2005 của Vũ Thị Thuý Nhài. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ đề

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện

Page 4


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

cập tới những SP&DV TT-TV dạng truyền thống, ít đề cập đến các SP&DV TT-TV
hiện đại.
Đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện của
Trung tâm Thông tin-Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội” sẽ đi
sâu vào các loại hình SP&DV TT-TV hiện đại, sẽ là đề tài phát triển cao hơn, hoàn
thiện hơn so với các tài liệu về vấn đề SP&DV TT-TV của Trung tâm đã được đề
cập đến trước đó.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu: Khoá luận tìm hiểu và đánh giá hiệu quả hệ thống các
SP&DV TT–TV của Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt thời gian: Tìm hiểu hệ thống SP&DV TT–TV từ năm 2005 đến nay.
- Về mặt không gian: Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN.
1.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
1.5.1. Cơ sở lý luận
- Khoá luận dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tường
Hồ Chí Minh về công tác sách báo và thư viện.
- Khoá luận dựa vào các tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hoạt động
thông tin khoa học và công nghệ.
- Nghiên cứu tổng hợp các tài liệu lý luận về SP&DV TT–TV, các công trình
nghiên cứu khoa học và những nội dung tài liệu có liên quan tới khoá luận.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện

Page 5


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

1.5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong cả quá trình thực hiện, khoá luận đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Thống kê, tổng hợp, phân tích thông tin, tài liệu, số liệu từ nhiều nguồn.
- Khảo sát hoạt động tạo lập và triển khai các SP&DV TT–TV tại Trung tâm.
- Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với các chuyên gia TT–TV, cán bộ thư viện và
NDT của Trung tâm.
- Phát và thu thập bảng hỏi điều tra NCT
1.6. Đóng góp về mặt khoa học của đề tài
- Khoá luận giới thiệu hệ thống các SP&DV TT–TV của Trung tâm TT–TV
Trường ĐH GTVTHN, trong đó nhấn mạnh vào các loại hình SP&DV TT–TV hiện

đại hiện đang là thế mạnh của Trung tâm.
- Khoá luận đưa ra đánh giá, nhận xét về hệ thống SP&DV TT–TV của
Trung tâm, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng SP&DV TTTV. Khoá luận sẽ là góp ý để Ban lãnh đạo Trung tâm xem xét và nâng cao hơn
chất lượng hoạt động TT–TV của mình.
1.7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung khóa luận gồm có 3
chương:
Chương 1: Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông
Vận tải Hà Nội trước nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường
Chương 2: Thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của
Trung tâm Thông tin – thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện

Page 6


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trung tâm Thông tin – thư viện Trường
Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện

Page 7


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN


NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ - VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI TRƯỚC NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO VÀ
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NHÀ TRƯỜNG
1.1. Vài nét về Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giao thông là một trong những yếu
tố thiết yếu nhất, là điều kiện quyết định đối với đời sống, đối với sản xuất và chiến
đấu: “Giao thông là mạch máu của tổ chức, giao thông tốt các việc đều dễ dàng,
giao thông xấu thì các việc đình trệ” . Chính vì những ý nghĩa quan trọng này, ngày
15/11/1945, Trường Cao đẳng Giao thông Công chính khai giảng lớp học đầu tiên
theo Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong những năm 1945 – 1960, Nhà
trường thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ cao đẳng và trung cấp. Tháng
10 năm 1947, Nhà trường đã khai giảng 2 lớp cao đẳng và một lớp trung cấp. Trong
hoàn cảnh chiến tranh, mặc dù Nhà trường đã phải sơ tán, chuyển đến nhiều nơi,
chia cắt hoặc sát nhập, nhưng vẫn đảm bảo được quá trình đào tạo và chất lượng
đào tạo của mình, cung cấp đội ngũ cán bộ kỹ thuật cho ngành giao thông, bưu điện,
thủy lợi. Góp phần quan trọng vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.
Tháng 8/1960, Bộ giao thông vận tải quyết định lập Ban Xây dựng Trường
Đại học Giao thông Vận tải. Tháng 12/1960, Trường Đại học Giao thông Vận tải
chính thức khai giảng lớp học đầu tiên với 117 sinh viên với các ngành Cầu, Đường
sắt, Đường bộ, Bưu điện, Quản lý công trình, Quản lý cơ khí và đến năm 1961 thì
có thêm lớp Bưu điện chuyển về. Ngày 24/3/1962, theo Quyết định số 42/CP của
Thủ tướng Chính phủ, Đại học Giao thông Vận tải chính thức được thành lập.
Trước yêu cầu của thực tiễn và sự phát triển cả về quy mô và ngành nghề đào tạo,
ngày 23/7/1968, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Giao
thông Vận tải được tách ra thành Trường Đại học Giao thông Đường sắt- Đường bộ
ở Hà Nội và Trường Đại học Đường thủy ở Hải Phòng. Nhà trường từng bước hoàn
thiện về cơ cấu, nội dung đào tạo cũng như hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật… phục
vụ cho việc vừa giáo dục, vừa chiến đấu.
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện


Page 8


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Trong những năm 1972-1973, do hoàn cảnh chiến tranh Nhà trường phải đi
sơ tán. Tuy nhiên, Nhà trường vẫn tham gia đóng góp xây dựng được nhiều công
trình giao thông quan trọng cho Đất nước. Đến năm 1973, Nhà trường trở về Hà
Nội, ngay lập tức bắt tay vào công tác ổn định và tiếp tục sự nghiệp giáo dục, đào
tạo của mình. Năm 1984, Trường chuyển về Bộ Đại học và Trung học chuyên
nghiệp ( Nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) quản lý. Năm 1985, Trường được đổi tên
thành Trường ĐH GTVTHN. Từ những cơ sở này, Nhà trường không ngừng nỗ lực
kiện toàn, hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
cán bộ kỹ thuật có trình độ cho Đất nước.
Hiện nay, Trường ĐH GTVTHN có đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân
viên là 1.003 người. Trong đó: 452 Đảng viên; 726 Giảng viên; 4 Giáo sư; 42 Phó
Giáo sư; 2 Tiến sỹ Khoa học; 106 Tiến sỹ; 225 Thạc sỹ; 2 Nhà giáo Nhân dân và 18
Nhà giáo ưu tú.
Trong hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển của mình, Trường ĐH
GTVTHN đã đạt được rất nhiều thành tựu, được Đảng và Nhà nước nhiều lần tặng
bằng khen: Huân chương kháng chiến hạng nhì (1973); 02 huân chương lao động
hạng ba (1966 và 1999); 02 huân chương lao động hạng nhì (1977 và 2004); 02
huân chương lao động hạng nhất (1982 và 1990); 01 huân chương độc lập hạng ba
(1986); 01 huân chương độc lập hạng nhì (1995); 01 huân chương độc lập hạng nhất
(2000); 01 huân chương Hồ Chí Minh (2005); 01 danh hiệu Anh hùng lao động
(2007); 02 huân chương tự do, 01 huân chương lao động hạng nhất, 01 huân chương
hữu nghị của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào; Nhiều tập thể, cá nhân trong
trường được nhận huân chương, huy chương các loại…
Trường ĐH GTVTHN kỳ vọng trở thành một trường đại học kỹ thuật- công

nghệ tiên tiến, đa ngành, đa cấp học; có chất lượng đào tạo cao, có đội ngũ Giảng
viên và cán bộ quản lý đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng; có cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại; có năng lực tài chính dồi dào; có cơ chế quản lý năng động và hiệu
quả; có khả năng hợp tác và cạnh tranh tốt; sớm tiếp cận với trình độ đào tạo của
các trường đại học trong khu vực và trên thế giới.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện

Page 9


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

1.2. Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà trường.
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN là một bộ phận của Trường ĐH
GTVTHN, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Trường (1962). Khi mới
thành lập, Trung tâm là một bộ phận của Ban Giáo vụ. Đến năm 1984, Thư viện
tách ra thành một đơn vị riêng trực thuộc Ban Giám hiệu. Ngày 21/02/2002, theo
Quyết định số 753 QĐ/BGD &ĐT-TCCB, Trung tâm TT-TV Trường ĐH
GTVTHN chính thức được ra đời. Từ đó đến nay Trung tâm không ngừng hoàn
thiện và phát triển từ một thư viện truyền thống, nhỏ bé thành một thư viện hiện đại
hàng đầu trong cả nước.
Từ năm 2000, Trường ĐH GTVTHN không ngừng tham gia các chương
trình dự án Giáo dục đào tạo ở các mức A, B, C. Cùng với đó, Thư viện của Trường
được quan tâm và phát triển mạnh mẽ. Từ dự án mức A năm 2000 “Xây dựng hệ
thống mạng máy tính để tăng cường công tác quản lý và đào tạo”, Trung tâm TTTV đã được trang bị máy tính. Từ đó các hệ thống máy tính nội bộ phục vụ công tác
quản lý, làm thẻ mã vạch, mã vạch hoá các loại hình tài liệu và sử dụng phần mềm
thư viện của một số cơ sở sẵn có dần được triển khai. Tiếp đến dự án mức B của

Nhà trường đã cho phép mở rộng mạng máy tính của Trung tâm TT-TV lên tới 50
máy tính. Đến năm 2003-2004, Trường tham gia dự án mức C “Xây dựng trung tâm
tài nguyên TT-TV”. Đây là một dự án lớn góp phần làm thay đổi căn bản Trung tâm
cả về lượng và chất. Dự án này đã cho phép xây dựng một cơ sở hạ tầng thông tin
hiện đại, trang bị số lượng lớn tài liệu truyền thống và tài liệu điện tử bằng tiếng
Việt và tiếng nước ngoài mới nhất. Đồng thời dự án còn bao gồm cả chương trình
đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước nhằm nâng cao nghiệp vụ thư viện và trình
độ quản lý đội ngũ cán bộ thư viện.
Hiện nay, Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN được đánh giá là Trung
tâm TT-TV hiện đại nhất cả nước và là thư viện điện tử đóng góp hiệu quả vào quá
trình phát triển của Trường ĐH GTVTHN.
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
10

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

1.2.2 .Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng
Trung tâm Thông tin Thư viện Trường ĐH GTVTHN nằm trong hệ thống
TT-TV cả nước. Bên cạnh đó, Trung tâm được định hướng là bộ phận tư liệu của
Trường ĐH GTVTHN hoạt động phù hợp với xu hướng hiện đại của xã hội và yêu
cầu đào tạo của Nhà trường. Đây là Trung tâm TT-TV chuyên ngành. Vì vậy, Trung
tâm vừa mang những chức năng chung của một Trung tâm TT–TV, vừa có chức
năng riêng phục vụ cho các chuyên ngành giao thông vận tải của Nhà trường.
Trong hoạt động TT-TV của các trường đại học, ngoài chức năng cơ bản của
một thư viện là tàng trữ nguồn thông tin, văn hoá, giáo dục. Trung tâm TT-TV
Trường ĐH GTVTHN có vai trò quan trọng là giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa

học, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triển con người toàn diện
cho ngành giao thông vận tải. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng có trách nhiệm thực
hiện các DV TT-TV phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao
công nghệ, ứng dụng các lĩnh vực giao thông vận tải của Trường vào đời sống kinh
tế xã hội của Đất nước.
* Nhiệm vụ
- Xây dựng và phát triển hệ thống các SP&DV TT-TV nhằm đáp ứng NCT
của NDT.
- Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin, thiết lập mạng lưới truy nhập và tìm tin
tự động hoá, tổ chức cho NDT của Trung tâm khai thác và sử dụng thuận lợi và có
hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin của Trung tâm.
- Không ngừng mở rộng, hợp tác, giao lưu, trao đổi với các cơ quan TT–TV,
tổ chức khoa học, trường đại học trong và ngoài nước nhằm nâng cao khả năng
phục vụ của Trung tâm đối với NDT, đặc biệt đối với các tài liệu chuyên ngành về
các lĩnh vực Nhà trường đào tạo.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
11

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

- Lập kế hoạch cho Ban Giám hiệu Nhà trường về công tác TT-TV phục vụ
cho nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.
- Tổ chức các tọa đàm, trao đổi, hướng dẫn về thông tin tư liệu, phương thức
khai thác, tìm kiếm thông tin đối với NDT.
- Tổ chức, sắp xếp, lưu trữ và bảo quản kho tài liệu của Trung tâm.
- Có nhiệm vụ quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của Trung tâm được

giao, gồm toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất trang thiết bị, hệ thống tài nguyên thông
tin của Trung tâm.
- Tổ chức các công tác in ấn, xuất bản chung của Nhà trường, các tài liệu
giảng dạy, học tập dùng trong nội bộ Nhà trường.
- Tiếp tục cập nhật kiến thức, không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ, tin
học, ngoại ngữ… cho các cán bộ của đơn vị.
1.2.3. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trung tâm
* Cơ cấu tổ chức
Theo quyết định số 753QĐ/BGD &ĐT/TCCB năm 2002, cơ cấu tổ chức của
Trung tâm được tổ chức một cách chặt chẽ, cụ thể gồm 01 Giám đốc, 02 Phó giám
đốc quản lý các Phòng, Ban trực thuộc của Trung tâm

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
12

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội

Ban
Giám
đốc

Bộ
phận
nghiệp
vụ


Bộ
phận
lưu
thông

Phòng

Phòng

Phòng

quản trị

nghiệp

bán

mạng

vụ

sách

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện

Phòng
mượn
trả tài
liệu


Bộ
phận
phục vụ
NDT

Phòng
đọc
Việt

Phòng
đọc
báo-tạp
chí…

Page 13

Phòng
đọc
điện tử

Phòng
đọc
sách
tiếng
Nga


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN


Mỗi phòng ban, bộ phận của Trung tâm có trách nhiệm chung nhằm làm cho
Trung tâm phát triển thống nhất. Bên cạnh đó, mỗi phòng ban, bộ phận cũng chịu
trách nhiệm riêng theo chuyên môn riêng của từng phòng.
- Ban Giám đốc: Chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo các hoạt động chung của
cơ quan. Ban Giám đốc có trách nhiệm thu thập những thông tin từ trong và ngoài
hệ thống để đưa ra những quyết định chỉ đạo đúng đắn và chính xác cho sự phát
triển của Trung tâm.
- Phòng mượn giáo trình và sách tham khảo: có nhiệm vụ làm các thủ tục
mượn để cung cấp các tài liệu giáo trình và sách tham khảo phục vụ cho hoạt động
học tập, nghiên cứu của sinh viên, giảng viên trong Trường.
- Phòng đọc sách tiếng Việt: phục vụ theo hình thức đọc tại chỗ các tài liệu
tiếng Việt.
- Phòng nghiệp vụ: có nhiệm vụ xử lý các loại hình tài liệu từ các hoạt động
bổ sung, biên mục, phân loại…cả tài liệu truyền thống và tài liệu hiện đại để đưa
vào phục vụ.
- Phòng đọc sách ngoại văn, luận văn, luận án, nghiên cứu khoa học: phục vụ
theo hình thức đọc tại chỗ, kho mở các tài liệu tiếng nước ngoài (tiếng Anh, Pháp,
Nga…), các luận văn, luận án và nghiên cứu khoa học của giảng viên, sinh viên
trong Trường.
- Phòng quản trị mạng: quản lý, điều khiển cả hệ thống mạng của Trung tâm
- Phòng đọc điện tử: phục vụ việc tra cứu, tìm kiếm nguồn tài liệu điện tử
cho NDT.
- Phòng hội thảo: phục vụ các cuộc hội thảo, họp mặt của Trung tâm.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
14

Page



Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

* Đội ngũ cán bộ
Hiện nay, Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN có 20 cán bộ, các cán bộ
của Trung tâm đều là những cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ cao về nghiệp vụ
TT-TV, đồng thời có chuyên môn, kiến thức về chuyên ngành giao thông vận tải.
Trong đó có: 04 thạc sỹ, 15 cử nhân, 01 trung cấp.
Hàng năm, Trung tâm vẫn không ngừng tiếp tục bổ sung số lượng cán bộ,
đồng thời tổ chức đào tạo, đào tạo lại chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ để cán bộ
của Trung tâm có thể bắt kịp với nhịp độ phát triển chung của ngành TT-TV trong
nước cũng như thế giới để nâng cao chất lượng phục vụ cho NDT của Trung tâm.
Các cán bộ thư viện của Trung tâm luôn được quan tâm về đời sống vật chất và tinh
thần tạo điều kiện cho họ có thể học tập, nâng cao chuyên môn, khả năng nghiệp vụ,
yên tâm phát huy hết khả năng, năng lực của bản thân nhằm nâng cao chất lượng
phục vụ NDT.
1.2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lực thông tin của Trung tâm
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng và các thiết bị vật chất kỹ thuật
Để trở thành Trung tâm TT–TV hiện đại hàng đầu cả nước như hiện nay
Trung tâm đã trải qua những khó khăn, nỗ lực không ngừng, biết tận dụng những cơ
hội cũng như phát huy những khả năng nội tại của Trung tâm. Năm 2005, được sự
đầu tư, hỗ trợ của Dự án Giáo dục Đại học do World Bank tài trợ ở mức C, hầu hết
trang thiết bị của Trung tâm được trang bị mới hoàn toàn từ đầu. Hiện nay, Trung
tâm đã xây dựng được một mặt bằng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật kiện toàn, hiện
đại với khuôn viên rộng 4000 m2, khang trang, thoáng mát, đảm bảo các điều kiện
cho các công tác nghiệp vụ của Trung tâm. Hệ thống cơ sở vật chất cần thiết cho
công tác phục vụ NDT như hệ thống bàn ghế, tủ kệ, tủ trưng bày, máy tính, quạt,
bóng điện, máy điều hoà….cũng được đầu tư và trang bị đầy đủ.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện

15

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Trung tâm có 4 phòng đọc với 712 chỗ ngồi phục vụ cho NDT sử dụng thư
viện:
+ Phòng đọc sách tiếng Việt: 280 chỗ ngồi.
+ Phòng đọc báo- tạp chí/ sách ngoại văn, luận văn, luận án và nghiên
cứu khoa học: 256 chỗ ngồi.
+ Phòng đọc sách tiếng nước ngoài trước năm 1990/ tạp chí đóng
quyển: 88 chỗ ngồi.
+ Phòng đọc điện tử: 88 chỗ ngồi.
Tất cả các phòng đọc và phòng mượn của Trung tâm đều được trang
bị máy điều hoà, nhiệt độ, trong đó có 13 máy tủ điều hoà nhiệt độ 50.000 BTU và
20 máy điều hoà treo tường 18.000 BTU.
Hạ tầng cơ sở thông tin.
Hạ tầng phần cứng: Hạ tầng phần cứng bao gồm các thiết bị phần cứng phục
vụ cho các hoạt động của Trung tâm
Trung tâm đã xây dựng khá kiện toàn hệ thống cơ sở vật chất điện tử để tiến
tới đồng bộ hoá cơ sở vật chất tạo điều kiện cho quá trình tự động hoá trong hoạt
động TT-TV. Cơ sở hạ tầng thông tin để đáp ứng cho quá trình tự động hoá bao
gồm: Hạ tầng mạng thông tin (Mạng nội bộ, mạng không dây, mạng diện rộng,
mạng kết nối Internet), hệ thống máy chủ, máy trạm, các trang thiết bị ngoại vi.
Hiện nay Trung tâm có 157 máy tính trong đó có 17 máy chủ, còn lại là máy
trạm. Mạng máy tính được liên kết qua các đầu mối tới các nguồn tạo điều kiện cho
việc chuyền tải thông tin qua các thiết bị liên kết chuyển đổi. Các máy trạm phục vụ
cho các hoạt động nghiệp vụ TT-TV. Các phân hệ của Trung tâm tài nguyên TT-TV

đều được trang bị hệ thống máy tính để phục vụ NDT.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
16

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Ngoài ra còn có một số thiết bị mạng Swich, thiết bị không dây để đảm bảo
khả năng hỗ trợ các kết nối tốc độ cao, hỗ trợ các công nghệ tiên tiến, truyền thông
đa phương tiện (mutilmedia). Đồng thời tăng khả năng truy nhập hệ thống, cho
phép các giáo viên và học viên trong Trường có thể đồng thời sử dụng các máy tính
cá nhân của mình để truy cập mạng khi cần thiết…
- Máy in Lazer các cỡ phục vụ cho công tác nghiệp vụ và NDT sao chụp tài
liệu.
- Hệ thống kiểm tra từ: Được đặt ở 3 phòng đọc mở để bảo đảm an toàn cho
nguồn tài liệu.
- Hệ thống Camera theo dõi: Được đặt ở tất cả các phòng của Trung tâm. Có
khoảng 30 camera có khả năng lưu giữ hình ảnh, được lắp đặt ở các vị trí khác nhau
giúp cho cán bộ Trung tâm có thể quan sát NDT thuận tiện và dễ dàng.
- Hệ thống khoá và mở cửa tự động dùng thẻ từ cho các phòng nghiệp vụ của
Trung tâm.
- Nhãn từ tính: Được dán trên khoảng 6000 đầu tài liệu được sử dụng trong
phòng đọc tự chọn.
- Các máy đọc mã vạch sử dụng ở các quầy cho mượn sách.
- Máy photocopy phục vụ cho nghiệp vụ và NDT sử dụng…
Hạ tầng phần mềm: Trung tâm không ngừng xây dựng và phát triển hệ thống
phần mềm ứng dụng nhằm tăng hiệu quả hoạt động nghiệp vụ của Trung tâm:

+ Các phần mềm ứng dụng:
- Portal (cổng thông tin): Đây là phần mềm ứng dụng web (web- based
application) mà thông qua đây, người sử dụng có thể khai thác, tìm kiếm, giao tiếp
với các ứng dụng, thông tin và người sử dụng khác
- Phần mềm quản trị thư viện truyền thống và thư viện số
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
17

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Phần mềm quản trị thư viện số gồm:
OPAC: Cung cấp giao diện cho người dùng, qua đó truy cập đến các chức
năng của hệ thống thư viện số như: tra cứu tài liêu, đọc tài liệu…
Library Server: Tích hợp với hệ thống thư viện điện tử cung cấp các giao
diện để truy cập thông tin NDT, bản ghi thư mục…
Object Server: Là nơi lưu trữ và cung cấp nội dung tư liệu
Authority Coltrol: Có chức năng thực hiện, kiểm soát và ghi nhận các truy
cập hệ thống, từ đó có thể đưa ra các báo cáo thống kê, thu phí…
+ Các phần mềm quản trị:
- Phần mềm điều hành và quản trị mạng (Network Management Sofware):
Windows 2000/Linux/Unix
- Phần mềm quản trị dữ liệu Oracle 9i Database
- Phần mềm máy chủ ứng dụng Oracle 9i Application Server
- Phần mềm quản trị hệ thống mạng SAN (Storage Area Network)
- Phần mềm quản trị hệ thống mạng và quản trị truy cập
- Phần mềm sao lưu, phục hồi dữ liệu
- Phần mềm chống Virus cho toàn mạng

- Phần mềm quản lý thư viện ILIB của công ty CMC
- Phần mềm thư viện số DLIB
- Phần mềm xuất bản thông tin.
- Công nghệ RFID.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
18

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Cùng một số phần mềm công cụ phục vụ cho ứng dụng và phát triển các tiện
ích khác.
* Nguồn lực thông tin
• Nguồn tin truyền thống.
Nguồn tin truyền thống của Trung tâm hiện có rất đa dạng và phong phú cả
về số lượng và loại hình. Theo thống kê năm 2006, Trung tâm có tổng số 40.960
đầu sách với 127.358 cuốn tài liệu với tất cả các loại hình: giáo trình, sách tham
khảo, sách ngoại văn, tài liệu tra cứu, luận văn, luận án, nghiên cứu khoa học, báo,
tạp chí tiếng Việt, tạp chí tiếng nước ngoài… Các tài liệu này chủ yếu về lĩnh vực
chuyên ngành giao thông vận tải, chuyên ngành Nhà trường đào tạo: CNTT, Cơ khí,
Thủy lợi, Kiến trúc… Ngoài ra cũng có những tài liệu về xã hội, các tài liệu giải trí,
văn học…
Hầu hết các nguồn tài liệu này đang được Trung tâm tiến hành số hoá để đưa
vào phục vụ NDT một các thuận tiện hơn. Bên cạnh đó Trung tâm vẫn thường
xuyên mua, xử lý, số hoá và phục vụ NDT 200 loại báo, tạp chí các loại (gồm cả
trong nước và ngoài nước).
Bảng 1: Nguồn lực thông tin truyền thống của Trung tâm Thông tin – Thư viện

Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
Loại hình tài liệu
1

Tổng số sách

2

Số lượng đầu sách

Số lượng cuốn

40.960

127.358

Giáo trình

397

59387

3

Tham khảo

3199

10.792


4

Ngoại văn

3778

4639

5

Sách tra cứu

28

37

6

Luận văn

963

1102

7

Luận án

34


34

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
19

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

8

Đề tài nghiên cứu khoa học

542

551

9

Báo, tạp chí tiếng việt

186

186

10

Tạp chí tiếng nước ngoài


52

52

11

Tạp chí đóng quyển

4091

4091



Nguồn tin điện tử: Bao gồm các CSDL ngoại nhập và CSDL nội sinh.

+ CSDL nội sinh: là CSDL do Trung tâm xây dựng. Hiện nay, Trung tâm đã
xây dựng được 80 CSDL điện tử, 500 CSDL báo- tạp chí điện tử và 10 CSDL về
chuyên ngành GTVT từ mạng Internet…
Ngoài ra còn có các CSDL được lưu trữ dưới dạng đĩa CD–ROM về các
luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học của các giảng viên, sinh viên... trong
Trường.
+ Nguồn tài liệu ngoại nhập: là CSDL do Trung tâm mua và trao đổi trong
nước và nước ngoài. Hiện nay, Trung tâm có 8 CSDL chuyên ngành bằng tiếng Anh
Trung tâm mua từ nước ngoài:
- CSDL Tiêu chuẩn Giao thông Vận tải.
- CSDL tiêu chuẩn về giao thông vận tải của Viện tiêu chuẩn Anh (BSI).
- Tạp chí điện tử của Viện Điện – Điện tử - Kỹ thuật Mỹ.
- CSDL tiêu chuẩn về giao thông vận tải của Viện tiêu chuẩn Anh (BSI).
- Tạp chí điện tử toàn văn của Hội Kỹ thuật dân dụng Mỹ (ASCE).

- Sách điện tử Knovel .
- Sách điện tử eBrary: Engineering & Technology Subject Colliction.
- Sách điện tử: Digital Engineering Library (DEL)

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
20

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Ngoài ra còn có các nguồn tài liệu có thể được khai thác trực tuyến thông
qua cổng khai thác thông tin của Nhà trường tới nguồn tài liệu của các Trung tâm
TT-TV viện khác…
Trên cơ sở nguồn lực thông tin phong phú và đa dạng đã có, Trung tâm TTTV Trường ĐH GTVTHN đã xây dựng được hệ thống các loại hình SP&DV TTTV phong phú, đa dạng để phục vụ NDT.
1.3. Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin của Trung tâm Thông tin – Thư
viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
1.3.1. Đặc điểm người dùng tin của Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại
học Giao thông Vận tải Hà Nội
Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử
dụng thông tin nhằm duy trì và phát triển hoạt động sống của mình.
Người dùng tin chính là chủ thể của NCT. Họ là người tiếp nhận và sử dụng
thông tin. Mỗi đối tượng NDT có đông cơ và mục đích sử dụng thông tin khác
nhau. Họ chính là đối tượng sử dụng các SP&DV TT–TV của các cơ quan TT–TV.
Thành phần NDT của Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN khá phong
phú và đa dạng về thành phần và trình độ học vấn. Bao gồm: cán bộ lãnh đạo, giảng
viên, sinh viên, giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, tiến sỹ khoa học, thạc sỹ, cử nhân...
NDT tại Trung tâm có thể chia thành 03 nhóm:
Nhóm 1: Nhóm NDT là cán bộ lãnh đạo quản lý

Nhóm NDT là cán bộ lãnh đạo và quản lý bao gồm: Ban Giám hiệu Nhà
trường, cán bộ các phòng, ban chức năng, ban chủ nhiệm khoa, chủ nhiệm môn và
các cấp lãnh đạo thuộc ĐH GTVTHN.
Nhóm 2: Nhóm NDT là cán bộ giảng dạy

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
21

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

Nhóm NDT là cán bộ giảng dạy bao gồm: Đội ngũ cán bộ của Trung tâm,
chủ yếu là những cán bộ có trình độ cao, sử dụng CNTT thành thạo để phục vụ cho
công tác nghiệp vụ của họ. Hiện nay, Trường ĐH GTVTHN có đội ngũ cán bộ,
giảng viên, công nhân viên là 1.003 người. Trong đó: 452 Đảng viên; 726 Giảng
viên; 04 Giáo sư; 42 Phó Giáo sư; 02 Tiến sỹ Khoa học; 106 Tiến sỹ; 225 Thạc sỹ;
02 Nhà giáo Nhân dân và 18 Nhà giáo ưu tú. Đây là những cán bộ trực tiếp trong
công tác giảng dạy của Nhà trường. Trung tâm cần quan tâm đến đối tượng này,
cung cấp cho họ những thông tin phù hợp và có phương pháp cung cấp phù hợp để
họ có được thông tin một cách nhanh nhất và đầy đủ nhất.
Nhóm 3: Nhóm NDT là nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và sinh viên
Nhóm NDT là nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và sinh viên: là đối
tượng phục vụ chủ yếu của Trung tâm. Đây là đối tượng có NCT phong phú và đa
dạng nhất và cũng là đối tượng dùng tin có trình độ cao, có khả năng sử dụng CNTT
trong khai thác và sử dụng thông tin.
1.3.2. Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin Trường Đại học Giao thông Vận tải
Hà Nội.
Tương ứng với từng nhóm NDT khác nhau của Trung tâm sẽ có những đặc

điểm về nhu cầu tin khác nhau:
- Đặc điểm NCT của NDT là cán bộ quản lý: Đây là nhóm NDT cần thông
tin để phục vụ cho việc đưa ra quyết định của mình. Vì vậy, ngoài những thông tin
chuyên ngành về các lĩnh vực chuyên môn mà Nhà trường đào tạo, họ còn cần
những thông tin về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để phục vụ cho
quá trình ra quyết định của mình. Các thông tin phải được cung cấp nhanh chóng,
kịp thời... dưới dạng các bản tin tóm tắt, tin vắn, tổng luận phân tích…
- Đặc điểm NCT của NDT là cán bộ giảng dạy: Là những người cần những
thông tin chuyên ngành ở trình độ cao và sẽ sử dụng các thông tin này trong quá
trình nghiên cứu, giảng dạy cũng như sẽ tạo ra các nguồn thông tin mới.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
22

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

- Đặc điểm NCT của NDT là nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và sinh
viên: thông tin nhòm này cần là các thông tin chuyên ngành phù hợp với chuyên
ngành đào tạo của họ, phục vụ cho các bài học, bài tập và các kỳ thi của họ. Bên
cạnh đó, họ cũng có nhu cầu về các nguồn thông tin giải trí với mục đích nâng cao
đời sống tin thần của họ.
1.4. Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong hoạt động thông
tin – thư viện của Trung tâm
Hoạt động TT-TV là hệ thống các quá trình thu thập, xử lý, bảo quản và phổ
biến thông tin, tài liệu phù hợp với nhu cầu của NDT. Về mặt nội dung hoạt động
TT-TV có động cơ là nhu cầu có khả năng đáp ứng một cách chính xác đầy đủ và
kịp thời thông qua hệ thống các phương tiện lưu trữ, công cụ sử lý và truy cập tới

thông tin, tài liệu. Về mặt hình thức, hoạt động TT-TV bao gồm các hoat động bổ
sung, xử lý, lưu trữ, bảo quản tài liệu...
Nhằm mục đính đánh giá đúng vai trò của SP&DV TT-TV trong hoạt động
TT-TV, cần phải hiểu rõ khái niệm về SP&DV TT-TV.
Sản phẩm thông tin - thư viện (SP TT-TV) là kết quả của quá trình xử lý
thông tin, do một cá nhân/ tập thể nào đó thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của
NDT. [12, tr. 21]
Dịch vụ thông tin - thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thoả mãn nhu
cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan TT-TV nói
chung. [12, tr. 24]
Đối với hoạt động TT-TV, SP&DV TT-TV là công cụ cơ bản để thoả mãn
nhu cầu thông tin của NDT. SP&DV TT-TV chính là thước đo để nghiên cứu đánh
giá hoạt động, xác định được đóng góp của các cơ quan TT-TV trong quá trình phát
triển của cơ quan chủ quản nói riêng và quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói
chung.

Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
23

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN

SP&DV TT-TV đóng vai trò quan trọng trong hoạt động TT-TV của Trung
tâm. Chúng được xem là công cụ, phương tiện hoạt động do Trung tâm tạo ra để
xác định, truy nhập, khai thác, quản lý các nguồn tin nhằm đáp ứng nhu cầu của
NDT. SP&DV TT-TV là cầu nối giữa NDT với các nguồn lực thông tin của Trung
tâm. Do đó chất lượng của SP&DV TT-TV được xem là thước đo, là nhân tố quyết
định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động phục vụ nhu cầu thông tin cho NDT của

Trung tâm - là yếu tố cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm.
Để Trung tâm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ cung cấp thông tin cho
NDT thì Trung tâm phải quản lý tốt nguồn tin của mình. Các SP&DV TT-TV giúp
Trung tâm quản lý, kiểm soát và cung cấp thông tin một cách hiệu quả từ đó phục
vụ tốt NCT của NDT đồng thời dễ dàng chia sẻ nguồn lực thông tin với các cơ quan
TT-TV khác. SP&DV TT-TV phản ánh năng lực và vai trò của Trung tâm với quá
trình phát triển của Trường ĐH GTVTHN.
Hệ thống SP&DV TT-TV là tập hợp các công cụ, phương tiện, do các cơ
quan TT-TV tạo ra nhằm thực hiện việc tìm kiếm, truy cập, khai thác, quản lý các
nguồn lực thông tin, đáp ứng nhu cầu tin của NDT. Đồng thời nó hỗ trợ NDT có
thể mở rộng phạm vi tra cứu, tìm kiếm của mình ra ngoài phạm vi của Trung tâm,
Giúp NDT có thể sử dụng được nguồn thông tin có hiệu quả hơn.
Các SP&DV TT-TV còn hỗ trợ cán bộ thư viện trong các công tác phục vụ
NDT. SP TT-TV là tiền đề để các Trung tâm triển khai và phát triển các DV TTTV, đồng thời cũng là nguồn khai thác thông tin tin cậy và quan trọng nhất của
Trung tâm.
Trong hoạt động TT-TV, khi không sử dụng các SP&DV TT-TV thì NDT sẽ
gặp khó khăn và không khai thác được các nguồn tin của Trung tâm. Do đó, họ
không thoả mãn được nhu cầu thông tin của mình. Công tác phục vụ NDT của
Trung tâm sẽ không hiệu quả.
Vì vậy, trong hoạt động TT-TV của Trung tâm, SP&DV TT-TV có vai trò
hết sức quan trọng. Các SP&DV TT-TV ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả phục vụ
NDT của Trung tâm. Do đó, việc phát triển các SP&DV TT-TV nhằm thực hiện tốt
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
24

Page


Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN


các nhiệm vụ mà Nhà Trường đã giao phó cho Trung tâm lại càng trở nên quan
trọng và cấp bách.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN
– THƯ VIỆN CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI
2.1. Thực trạng các sản phẩm thông tin thư viện của Trung tâm Thông tin Thư
viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội.
2.1.1. Hệ thống mục lục
Hệ thống mục lục là tập hợp các đơn vị/ phiếu mục lục được sắp xếp theo
một trình tự nhất định, phản ánh nguồn tin của một/ một nhóm cơ quan TT–TV.
[12, tr. 37]
Vì vậy, ta cũng có thể hiểu: Mục lục là một tập hợp có thứ tự các điểm truy
nhập, cùng với các mô tả thư mục tới nguồn tài liệu của một/ một nhóm cơ quan
TT–TV cụ thể.
Hệ thống mục lục được xây dựng với những chức năng, mục đích quan
trọng:
+ Cho phép NDT xác định được vị trí của tài liệu trong kho, các thông tin về
tài liệu.
+ Hệ thống mục lục phản ánh được trữ lượng, thành phần kho tài liệu.
+ Trợ giúp cho việc lựa chọn tài liệu của NDT.
Đây là một loại SP TT có vai trò quan trọng: “là công cụ tra cứu quan trọng
vào bậc nhất trong thư viện” (M. Bloomberg và G.E. Evans) [12, tr. 38]
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
25

Page



×