Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

Địa hình việt nam và một số bài tập liên quan đến địa hình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (215.65 KB, 35 trang )

TRƯỜNG THPT CHUYÊN BIÊN HÒA
Người viết: Nguyễn Thị Hà

BÀI THAM GIA HỘI THẢO CÁC
TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC
DUYÊN HẢI - ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
MÔN: ĐỊA LÝ

Đề tài: Địa hình Việt Nam và một số bài tập liên quan đến địa hình

PHẦN MỞ ĐẦU
Địa hình là thành phần cơ bản và bền vững nhất của cảnh quan. Đây cũng
là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người. Địa hình là yếu tố
đầu tiên con người phải tính đến trong quá trình tổ chức lãnh thổ của mình, từ thế
hệ này qua thế hệ khác. Để khai thác được kĩ càng nội dung này, ngoài việc nêu
những đặc điểm chung của địa hình, còn phải phân tích kĩ từng yếu của địa hình
cùng các nội dung liên quan, tác động thường xuyên đến địa hình. Khi khai thác,
tìm hiểu địa hình, trước hết phải nắm vững phần kiến thức cơ bản hay chính là
đặc điểm địa hình của nước ta. Sau đó, phân tích nó dưới nhiều góc độ, ở từng
khu vực khác nhau thông qua các dạng bài từ nhiều trang Atlat Địa lí Việt Nam.
Giáo viên nên đặt ra nhiều kiểu câu hỏi: phân tích, giải thích, chứng minh, so
sánh,…để khắc sâu kiến thức cho học sinh. Kết hợp giữa lí thuyết và vận dụng để
khai thác nhuần nhuyễn Atlat chính là yêu cầu không thể thiếu đối với học sinh
trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi.
Phần chuyên đề của chúng tôi dưới đây có những nội dung chính như sau:
- Chương 1: Đặc điểm chung của địa hình
- Chương 2: Các kiểu địa hình và các khu vực địa hình
- Chương 3: Ảnh hưởng của địa hình đến thiên nhiên và sự phát triển kinh
tế - xã hội
- Chương 4: Một số bài tập liên quan đến địa hình


1


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỊA HÌNH
1.1 Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp
1.1.1 Trên đất liền
Đồi núi chiếm tỉ lệ lớn, tới 3/4 diện tích lãnh thổ, phần còn lại là đồng
bằng. Đồi núi thấp chiếm hơn 60% diện tích nước ta. Nếu kể cả đồng bằng thì địa
hình thấp dưới 1000m chiếm 85% diện tích, địa hình cao trên 2000m chỉ chiếm
khoảng 1% diện tích của cả nước.
Bản thân nền móng các đồng bằng cũng là miền núi sụt võng, tách dãn
được phù sa sông bồi đắp tạo thành. Vì thế hiện tại trên các đồng bằng ở nước ta
còn có nhiều núi sót, nhô cao như Sài Sơn (Hà Nội), núi Voi (Hải Phòng), Non
Nước (Ninh Bình), Thất Sơn (An Giang), Hòn Đất (Kiên Giang).
Đồi núi tạo thành biên giới tự nhiên bao quanh phía bắc và phía tây giữa
Việt Nam và Trung Quốc, Việt Nam với Lào và phần lớn biên giới với
Campuchia.
1.1.2 Các hải đảo
Đồi núi nhấp nhô trên mặt biển làm thành các hải đảo, quần đảo ở Quảng
ninh, Hải Phòng, các đảo ngoài khơi Trung Bộ, Cù lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý,
Côn Đảo, Phú Quốc và các quần đảo ở Kiên Giang.
Đồi núi còn lan ngầm dưới đáy biển, tạo ra những thâm ngầm làm chỗ dựa
cho san hô phát triển hình thành các đảo san hô như Trường Sa và Hoàng Sa.
1.2 Cấu trúc địa hình nước ta khá đa dạng
1.2.1 Hệ thống núi già được tân kiến tạo nâng lên làm trẻ lại
Giai đoạn cổ kiến tạo đã tạo lập nền móng các đồi núi sau đó các hoạt động
ngoại lực đã làm cho địa hình đồi núi cổ bị san bằng thành dạng bán bình nguyên.
Đến thời kì Miôxen của đại Tân sinh cách đây hơn 23 triệu năm, những
vận động mới đã nâng cao những vùng núi cũ, nền móng cũ. Sông suối, nước

chảy trên mặt đã cắt xẻ sâu vào bán bình nguyên cổ để tạo nên những khe sâu,
2


những sườn núi dốc đứng hiện nay. Đây là kết quả của sự cắt xẻ bề mặt bán bình
nguyên cổ theo nhiều bậc của ngoại lực.
Tác động của dòng nước, của gió, của nhiệt độ... thường xuyên đã làm biến
đổi bề mặt địa hình cổ. Khi các lớp đất đá trẻ nhưng vụn bở bị bóc đi làm lộ ra
các vỉa đá rắn, nếp núi cổ như đỉnh Phu Hoạt, Pu Xai Lai Leng, Rào Cỏ, Mẫu
Sơn. Khi các lớp trầm tích trẻ không phủ hết cấu trúc cũ cũng làm lộ ra các địa
hình già như các núi sót ở các đồng bằng tạo nên sự tương phản trên địa hình: núi
nổi cao giữa đồng bằng.
Kiến trúc cổ chi phối hướng địa hình hiện đại, quy luật này thể hiện qua
hướng vòng cung của các nếp núi bao quanh khối Vòm sông Chảy ở khu vực
Đông Bắc và Việt bắc, hướng tây bắc - đông nam ở vùng núi Tây Bắc, Trường
Sơn Bắc do các nhân đá kết tinh cổ song song và kéo dài theo hướng tây bắc đông nam và hướng vòng cung của dãy núi Động Ngài, Bạch Mã, Lang Biang
bao quanh khối nền cổ Inđôxini.
Hướng các dòng sông lớn trùng với hướng các đứt gãy cổ kiến tạo quyết
định như sông Hồng, sông Chảy, sông Cả, sông Gianh.
Giữa địa hình và nham thạch cấu tạo nên địa hình có mối quan hệ chặt chẽ,
vì thế nhìn địa hình có thể đoán biết nham thạch:
- Địa hình mềm mại, lượn sóng: Thường là của đá phiến, đá cát kết, đá sét
kết. Nhân dân quen gọi là "núi kết" hoặc bán sơn địa.
- Địa hình caxtơ hiểm trở, vách dựng đứng nhiều hang động ngầm đặc
trưng cho cấu tạo đá vôi.
- Địa hình cao, đỉnh nhọn là các đá phun trào riolit như Tam Đảo, Mẫu Sơn.
- Địa hình cao nguyên rộng lớn, đất đá sẫm là đá badan phun trào.
- Địa hình thấp, bằng phẳng là do nham thạch phù sa bở rời.
1.2.2 Địa hình có tính phân bậc rõ rệt và thấp dần từ tây bắc xuống đông nam
Địa hình nước ta được phân thành khá nhiều bậc, bao gồm các bậc địa hình

núi cao trên 2000m, từ 1000m đến 2000m và dưới 1000m. Cụ thể:
- Địa hình núi cao trên 2000m: Ngoài các khu vực đỉnh núi đơn lẻ với độ
cao trên 2400m cho đến 3000m, ở các vùng núi cao có thể quan sát thấy một bậc
3


địa hình ở độ cao 2100m đến 2200m vốn nằm chung trên một mặt bằng bán bình
nguyên cổ sau đó bị chia cắt mà thành các đỉnh núi đơn độc hoặc các dải núi kéo
dài. Điển hình nhất của địa hình này là vung núi cao Hoàng Liên Sơn.
- Bậc địa hình có độ cao từ 1000m đến 2000m bao gồm:
+ Bậc địa hình từ 1500m đến 1800m: Đay cũng vốn là các bán bình
nguyên cổ của nước ta còn sót lại khá rộng như các cao nguyên đá vôi Đồng Văn,
Bắc Hà, vùng núi Sa Pa, Đà Lạt.
+ Bậc địa hình có độ cao từ 1000m đến 1400m: Khá phổ biến ở vùng núi
phía Bắc, Trường Sơn và Tây Nguyên.
- Các bậc địa hình của vùng đồi núi và đồng bằng có độ cao dưới 1000m:
+ Bậc địa hình có độ cao từ 600 - 900m: Đây là bậc địa hình có độ cao
trung bình tiêu biểu cho vùng núi thấp tập trung nhiều ở vùng núi phía bắc và cao
nguyên Kon Tum, Plây Cu, Đắk Lắk ở Tây Nguyên.
+ Bậc địa hình có độ cao từ 200 - 600m: Là bậc địa hình có diện tích lớn
nhất nước ta và phân bố rộng khắp ở trung du Bắc Bộ, các vùng đồi núi thấp chân
núi ở Trung Bộ và nam Tây Nguyên đến đồng bằng Nam Bộ.
+ Bậc địa hình có độ cao từ 25 - 100m: Bậc địa hình này là vùng đồi gò
thấp phần lớn là các bậc thềm phù sa có tuổi đệ tứ ở đồng bằng Bắc Bộ và đồng
bằng Nam Bộ.
+ Bậc địa hình thấp dưới 15m: Tập trung ở vùng đồng bằng và ven biển là
các bậc thềm sông và thềm biển hiện đại.
- Cấu trúc địa hình gồm 2 hướng chính:
+ Hướng tây bắc - đông nam thể hiện rõ rệt từ hữu ngạn sông Hồng đến
dãy Bạch mã.

+ Hướng vòng cung thể hiện ở vùng núi Đông Bắc và khu vực Nam Trung
Bộ (Trường Sơn Nam).
1.3 Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
Biểu hiện ở xâm thực mạnh ở miền đồi núi, bồi tụ nhanh ở hạ lưu, lớp vỏ
phong hóa dày với nhiều hiện tượng đất trượt và sụt lở trên bề mặt địa hình.

4


1.3.1 Xâm thực mạnh ở miền đồi núi
Nền nhiệt ẩm cao với một mùa mưa và một mùa khô xen kẽ thúc đẩy quá
trình xâm thực mạnh mẽ, bề mặt địa hình bị cắt xẻ, đất bị bào mòn rửa trôi...
- Điều kiện nóng ẩm đẩy nhanh cường độ phong hóa, xâm thực, bào mòn,
rửa trôi đất đá trên sườn dốc. Biểu hiện của quá trình này là bề mặt địa hình bị cắt
xẻ, hẻm vực, khe sâu, đất bị bào mòn rửa trôi nhiều nơi chỉ còn trơ sỏi đá, những
hiện tượng đất trượt, đá lở thành những nón phóng vật tích tụ ở dưới chân núi.
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đẩy nhanh tốc độ hòa tan và phá hủy đá
vôi, tạo thành các địa hình caxtơ với các hang động ngầm, suối cạn, thung khô,
các đồi đá vôi sót ở vùng núi đá vôi.
- Khí hậu đã làm sâu sắc hơn, rõ nết hơn tính chất trẻ của địa hình đồi núi
Việt Nam do Tân kiến tạo để lại. Có thể nói quá trình xâm thực bào mòn của do
tác động của dòng nước là quá trình địa mạo đóng vai trò chủ yếu tạo nên hình
thái của địa hình đồi núi nước ta hiện nay.
1.3.2 Bồi tụ nhanh ở hạ lưu
- Hệ quả của quá trình xâm thực, bào mòn mạnh ở miền núi là sự bồi tụ,
mở mang nhanh các đồng bằng hạ lưu sông.
- Rìa phía đông nam của đồng bằng sông Hồng và rìa phía tây nam của
đồng bằng sông Cửu Long hàng năm lấn ra biển từ vài chục đến gần trăm mét.
1.3.3 Lớp vỏ phong hóa dày
Bị mưa nắng công phá, bề mặt địa hình bị thay đổi tạo nên lớp vỏ phong

hóa dày, có nơi tới 10 - 15m. Trên cùng của lớp vỏ phong hóa là tầng đất mềm
(thổ nhưỡng) và rừng cây che phủ bảo vệ. Lớp vỏ phong hóa có đặc tính thấm
nước, vụn bở dễ dàng bị phá hủy, xói mòn và rửa trôi nhất là những nơi có địa
hình dốc, lớp phủ thực vật và thổ nhưỡng bị tàn phá. Ở nước ta quá trình phong
hóa hóa học diễn ra mạnh. Các vùng núi đá vôi bị nước mưa hòa tan tạo nên
những hang động lớn và suối ngầm. Còn các vùng đá măcma, biến chất quá trình
phong hóa diễn ra yếu và chậm hơn.

5


1.3.4 Các hiện tượng đất trượt và sụt lở trên bề mặt địa hình
Địa hình nước ta thường xuyên xảy ra các hiện tượng thiên nhiên bất lợi
như đất trượt, đất chảy, đá đổ, hang động ngầm. Ở miền núi khi gặp mưa lớn
thường xảy ra lũ bùn, lũ quét. Hiện tượng kết von và đá ong hóa xảy ra trong lớp
vỏ phong hóa và thổ nhưỡng diễn ra khá mạnh.
1.4 Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người
Con người từ khi xuất hiện đã tác động lên địa hình theo cả hai hướng: tích
cực và tiêu cực, để phục vụ cho mục đích cư trú và sản xuất của mình. Các hoạt
động thường diện ra ở vùng đồng bằng như đắp đe, đào sông, xây dựng... đã tạo
nên nhiều dạng địa hình mới. Ở miền núi điển hình với hoạt động phá rừng, làm
nương rẫy, ruộng bậc thang...cũng đã làm cho địa hình miền núi thay đổi lớn. Hiện
nay, nước ta có dân số đông nên vẫn đang tiếp tục tác động sâu sắc lên địa hình.

6


CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU ĐỊA HÌNH VÀ CÁC KHU VỰC ĐỊA HÌNH
2.1 Các kiểu địa hình
Căn cứ vào các dấu hiệu bên ngoài, còn gọi là hình thái và trắc lượng hình

thái của địa hình, có thể phân biệt địa hình nước ta thành các kiểu hình thái địa
hình như sau:
- Kiểu địa hình núi:
Kiểu địa hình núi với đặc điểm chung là độ cao tuyệt đối và tương đối khá
lớn. Về ngoại hình, thường là các khối núi hay dãy núi, có độ chia cắt sâu và
sườn dốc lớn.
+ Kiểu địa hình núi cao: có độ cao trên 2000m, chiếm tỉ lệ diện tích không
lớn lắm, tập trung ở biên giới phía bắc từ Hà Giang đến Lai Châu và biến giới
phía tây thuộc 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh như đỉnh Phu Hoạt, Pu Xai Lai Leng,
Rào Cỏ. Tiêu biểu là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Si Păng cao 3143m. Ở
khu vực phía nam dãy Trường Sơn cũng có một số đỉnh cao trên 2000m như
Ngọc Linh, Ngọc Kring, Vọng Phu...
+ Kiểu địa hình núi trung bình: có độ cao tuyệt đối từ 1000m đến dưới
2000m, chiếm diện tích không lớn nhưng cũng được phân bố khá rộng khắp từ biên
giới phía bắc đến phía nam dãy Trường Sơn. Kiểu địa hình này thường có thung
lũng hẹp, sườn dốc 25 - 30o, có dạng đỉnh núi, khối núi và dãy núi đơn độc tách biệt
với vùng núi cao như đỉnh Phia Ya, Mẫu Sơn, Nam Châu Lãnh, Tam Đảo... hoặc
gắn liền với các vùng núi cao ở Tây Bắc, bắc và nam dãy núi Trường Sơn.
+ Kiểu địa hình núi thấp: có độ cao trung bình từ 500m đến dưới 1000m,
thường liền kề với vùng núi trung bình và vùng đồi thành một dải liên tục với các
bậc địa hình cao thấp khác nhau, thậm chí kiểu địa hình này còn gặp ở ngay vùng
đồng bằng và vùng ven biển dưới dạng núi sót như núi Voi, núi Đồ Sơn, núi Bà
Đen, núi Thất Sơn và các đảo ven bờ. Kiểu địa hình này tập trung thành một khu
vực rộng lớn ở Nam Trung Bộ, thành khối núi rời rạc ở Việt Bắc, Đông Bắc và
dải hẹp ở biên giới Việt - Lào thuộc Bắc Trung Bộ.
- Kiểu địa hình cao nguyên:
7


+ Cao nguyên đá vôi điển hình ở phía bắc và tây bắc nước ta. Đặc điểm

chung là độ cao khá lớn nhưng bề mặt khá bằng phẳng, mạng lưới sông suối thưa
thớt và rất hiếm nước, nhất là vào mùa khô. Điển hình như cao nguyên Đồng
Văn, Sơn La, Mộc Châu...
+ Cao nguyên badan: tập trung ở Tây Nguyên và rìa của vùng Đông Nam
Bộ. Địa hình có dáng mềm mại, bằng phẳng hơn so với cao nguyên đá vôi, trên
mặt cao nguyên còn có nhiều di tích của các hoạt động núi lửa như nón miệng núi
lửa, hồ tròn. Điển hình như cao nguyên Kom Tum - Plây Cu, Đăk Lăk, Mơ Nông,
Di Linh.
+ Cao nguyên hỗn hợp các loại đá trầm tích, măcma và biến chất: là các
cao nguyên bóc mòn có độ cao khá lớn ở phía bắc tỉnh Lâm Đồng. Ở đây địa hình
bằng phẳng xen kẽ với dãy đồi và ngọn đồi thoải, tiêu biểu là cao nguyên Lâm
Viên - Đà Lạt...
- Kiểu địa hình sơn nguyên có độ cao tuyệt đói như độ cao của núi, nhưng
vùng đỉnh vẫn giữ dạng đồi thấp, lượn sóng với độ cao tương đối 25 - 100m.
- Kiểu địa hình đồi:
Có độ cao tuyệt đối dưới 500m, độ cao tương đối 25 - 200m. Địa hình đồi
thường gắp ở vùng giáp ranh có tính chất chuyển tiếp từ địa hình miền núi xuống
đồng bằng. Kiểu địa hình đồi của nước ta thường phổ biến dưới 2 dạng:
+ Đồi bát úp: Chủ yếu gồm những quả đồi riêng biệt có kích thước tương
tự nhau và được ngăn cách với nhau bởi các thung lũng xâm thực.
+ Dãy đồi: Gồm các các đồi nối tiếp nhau dưới dạng yên ngựa hoặc lượn
sóng. Các dãy đồi thường nằm xen kẽ nhau, giữa chúng là các khoảng trũng hoặc
các thung lũng.
- Kiểu địa hình bán bình nguyên: hình thành tại vùng Tân kiến tạo ổn định,
ở ranh giới giữa vùng nâng và vùng sụt, độ cao tuyệt đối 100 - 200m, độ dốc dưới
8o. Phân bố ở rìa các đồng bằng lớn (vùng trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Đông Nam Bộ) hoặc bên trong các đồng bằng duyên hải
(Móng Cái, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận).

8



- Kiểu địa hình đồng bằng: Thuộc bậc địa hình thấp nhất, phần lớn nằm ở
phái đông lãnh thổ tiếp giáp với biển Đông. Có đặc điểm chung là rất bằng
phẳng, tuyệt đại bộ phận có độ cao thấp, thường không vượt quá 15m, được bồi
đắp bằng trầm tích biển, trầm tích lục địa và phù sa các con sông lớn trên các
vùng trũng, sụt lún mạnh. Kiểu địa hình đồng bằng điển hình nhất ở nước ta là hai
vùng đồng bằng lớn là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ, ngoài ra cũng
có một số nét riêng ở dải đồng bằng ven biển miền Trung.
- Các kiểu địa hình đặc biệt:
+ Kiểu địa hình caxtơ: thung - động caxtơ (rìa núi Bắc Sơn), núi caxtơ (Pu
Tha Ca - Hà Giang), sơn nguyên caxtơ (Quản Bạ - Đồng Văn), hang động caxtơ
(Phong Nha).
+ Thung lũng và lòng chảo miền núi: Điện Biên, Nghĩa lộ, An Khê.
+ Kiểu địa hình bờ biển: bờ biển bồi tụ (khu vực cửa sông Hồng, từ cửa
sông Sài Gòn đến Hà Tiên), bờ biển mài mòn (từ mũi Đại Lãnh đến Mũi Dinh),
bồi tụ - mài mòn (khu vực ven biển Quảng Ninh, miền Trung từ Thanh Hóa đến
mũi Dinh...)
+ Kiểu địa hình đảo: đảo núi đất, núi đá ven bờ; đảo san hô.
2.2 Các khu vực địa hình
2.2.1 Khu vực đồi núi
2.2.1.1 Vùng núi Đông Bắc
Vị trí nằm ở tả ngạn sông Hồng. Bao gồm một loạt các dãy núi chạy theo
hướng cánh cung uốn quanh khối núi đá kết tinh cổ thượng nguồn sông Chảy.
Các cánh cung này mở rộng về phía bắc và quy tụ ở núi Tam Đảo, bao gồm các
cánh cung Sông Gâm, cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung
Đông Triều.
Do ảnh hưởng của hoạt động Tân kiến tạo nên khu vực này được nâng lên
với cường độ trung bình và dốc từ tây bắc về đông nam. Đa số các núi thuộc loại
thấp, từ độ cao 2000m xuống còn 1500m - 500m và thấp dần ra biển. Khu vực

mang hình thái của núi già được trẻ hóa: đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc và độ chia
cắt yếu.
9


Ngoài cánh cung còn có những dải sơn nguyên đá vôi, độ cao trung bình
1000m và chạy dọc biên giới Việt - Trung từ Lào Cai đến Cao Bằng. Đó là các
sơn nguyên Mường Khương (772m), sơn nguyên Bắc Hà (974m), sơn nguyên
Sinmacai, sơn nguyên Quản Bạ (870m), sơn nguyên Đồng Văn (1842m) và sơn
nguyên Mèo Vạc (950m). Trên nền các sơn nguyên đá vôi có các khối núi cao
trên dưới 2000m như: Tây Côn Lĩnh (2431m), Kiều Liêu Ti (2403m), Pu Tha Ca
(2274m), Phia Ya (1979m), Phia Uăc (1931m). Trung tâm là vùng đồi núi thấp
500 - 600m. Giữa vùng núi và đồng bằng là vùng đồi trung du thấp dưới 100m.
2.2.1.2 Vùng núi Tây Bắc
Khu vực núi nằm giữa sông Hồng và sông Cả, có hướng nghiêng và hướng
núi tây bắc - đông nam. Là khu vực cao và đồ sộ nhất Việt Nam với nhiều đỉnh
cao trên 2000m, có những đỉnh trên 3000m: Phan Si Păng (3143m), Pu Si Lung
(3076m), Pu Trà (2504m), Phu Luông (2985m)... Núi cao và núi trung bình
chiếm ưu thế. Khu vực mang đặc điểm hình thái của núi trẻ với sống núi rõ, sắc
sảo, sườn dốc, khe sâu, độ chia cắt ngang và chia cắt sâu lớn.
Khu vực gồm có 3 mạch núi chính:
+ Phía đông là dãy Hoàng Liên Sơn gồm nhiều đỉnh núi cao nhất cả nước.
+ Phía tây là vùng núi cao trung bình cảu các dãy núi chạy dọc theo biên
giới Việt - Lào.
+ Ở giữa thấp hơn là các dãy núi, sơn nguyên, cao nguyên đá vôi như Sơn
La, Mộc Châu...
Nối tiếp với những dãy núi trên là vùng núi Ninh Bình - Thanh Hóa.
Xen giữa các dãy núi, cao nguyên là các bồn trũng, mở rộng thành các
cánh đồng giữa núi như đồng bằng Nghĩa Lộ ở Điện Biên, đồng bằng Mường
Thanh... Ở đây, các thung lũng sông nằm giữa các dãy núi có cùng hướng tây bắc

- đông nam khiến địa hình tăng thêm sự chia cắt sâu sắc.
2.2.1.3 Vùng núi Trường Sơn Bắc
Khu vực kéo dài từ phía nam sông Cả đến núi Bạch Mã. Núi Trường Sơn
được nâng lên với hai sườn không đối xứng. Sườn phía tây (trên lãnh thổ Lào)

10


rộng và thoải dần về thung lũng sông Mê Công, còn sườn phía đông (thuộc Việt
Nam) hẹp và dốc, núi lan ra sát biển.
Dãy núi Trường Sơn Bắc bao gồm một chuỗi các dãy núi cùng hướng tây
bắc - đông nam, có đường chia nước chạy dọc biên giới Việt - Lào, phân chia 2
lưu vực giữa sông Mê Công và các sông ven biển miền Trung. Ngoài ra còn có
hướng tây - đông (dãy Bạch Mã). Núi ở đây không cao lắm, chỉ trên dưới 1000m
song có một vài đỉnh cao trên 2000m nhu Pu Lai Leng (2771m), Rào Cỏ
(2235m).Các đỉnh núi nhô cao phần lớn là những khối nền cổ đá măcma xâm
nhập được Tân kiến tạo nâng lên mạnh. Nơi thấp nhất của các đường chia nước là
các đèo.
2.2.1.4 Vùng núi Trường Sơn Nam
Khu vực này nằm ở phía nam dãy Bạch Mã đến hết vùng núi cực Nam
Trung Bộ. Gồm các khối núi và cao nguyên cao hơn ở khu vực Trường Sơn Bắc
do được Tân kiến tạo nâng lên mạnh. Kèm theo sự nâng lên là sự phun trào mãnh
liệt đá badan tạo nên một vùng cao nguyên đá đỏ rộng lớn. Vùng núi hướng vòng
cung, dựng đứng ở phía đông và thoải dần về phía tây:
- Phía đông khối núi Kon Tum và cực Nam Trung Bộ có địa hình mở rộng,
nâng cao đồ sộ, địa hình xô về phía đông với nhiều đỉnh cao trên 2000m: Ngọc
Linh (2598m), Vọng Phu, Chư Yang Sin...
- Phía tây là các cao nguyên có bề mặt mở rộng khá bằng phẳng, có độ cao
trung bình 500 - 1000m và các bán bình nguyên xen đồi.
2.2.2 Địa hình bán bình nguyên và vùng đồi trung du

Dạng địa hình bán bình nguyên và vùng đồi trung du nằm ở nơi chuyển
tiếp giữa miền núi và đồng bằng:
- Địa hình bán bình nguyên phổ biến chủ yếu ở Đông Nam Bộ với các bậc
thềm phù sa cổ ở độ cao 100m và bề mặt phủ badan ở độ cao chừng 200m.
- Địa hình đồi trung du chủ yếu ở rìa đồng bằng sông Hồng và thu hẹp ở rìa
đồng bằng duyên hải miền Trung. Chủ yếu là các bậc thềm phù sa cổ bị chia cắt
do tác động của dòng chảy.

11


2.2.3 Khu vực đồng bằng
Khu vực đồng bằng có diện tích nhỏ, chiếm khoảng 1/4 diện tích đất tự
nhiên, phân bố chủ yếu ở phía đông - nam thành một dải liên tục từ bắc vào nam.
Đồng bằng nước ta được hình từ hai nguồn chính là do phù sa sông bồi đắp (đồng
bằng châu thổ) và do cả sông và biển bồi tụ (đồng bằng ven biển).
2.2.3.1 Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng có nguồn gốc là sự bồi tụ phù sa của sông Hồng và
sông Thái Bình. Đồng bằng có dạng một tam giác cân, đáy là đoạn bờ biển từ Hải
Phòng đến Ninh Bình, đỉnh là Việt Trì ở độ cao 15m. Đồng bằng rộng 15000km 2,
thấp dần từ tây bắc xuống đông nam.
Địa hình khá bằng phẳng, trong đồng bằng có xen kẽ một số ô trũng, ao hồ
dễ ngập úng và một số khu vực đồi núi sót. Trong vùng có trên 2000m đê lớn,
nhỏ chia cắt đồng bằng thành từng ô trũng, khó thoát nước vào mùa mưa lũ. Ô
trũng lớn nhất nằm ở vùng trong đê giữa sông Hồng và sông Đáy. Do địa hình đã
được con người khai thác từ lâu đời nên bị biến đổi mạnh. Bở biển phẳng, thêm
lục địa nông, mở rộng nên khả năng mở rộng lớn, sông Hồng vẫn tiếp tục bồi đắp
phù sa cho châu thổ sông Hồng và hàng năm lấn ra biển hàng chục mét.
Đất của đồng bằng chủ yếu là đất phù sa ngọt trong đê không được bồi đắp
hàng năm. Ngoài ra, bên ngoài đê có diện tích nhỏ đất phù sa được bồi tụ hàng

năm, vùng ven biển có diện tích nhỏ đất ngập mặn đang được cải tạo thành ruộng
cói, ruộng lúa hoặc nuôi thả tôm cua.
2.2.3.2 Đồng bằng sông Cửu Long
Là đồng bằng châu thổ được bồi tụ bởi phù sa hàng năm của hệ thống sông
Cửu Long (sông Tiền và sông Hậu). Đồng bằng có dạng tứ giác châu thổ, thấp
dần từ tây bắc xuống đông nam. Với diện tích khoảng 40000km 2, địa hình thấp và
bằng phẳng hơn so với địa hình đồng bằng sông Hồng. Trên bề mặt đồng bằng
không có đê nhưng có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, về mùa lũ
nước ngạp trên diện rộng, còn về mùa cạn, nước triều lấn mạnh làm cho gần 2/3
diện tích đồng bằng là đất phèn, đất mặn. Địa hình có xen kẽ những vùng trũng
lớn chưa được phù sa bồi tụ đầy như khu vực Đồng Tháp Mười, tứ giác Long
12


Xuyên, giữa bán đảo Cà Mau. Địa hình bở biển phẳng, thềm lục địa nông và mở
rộng hơn so với thềm lục địa của đồng bằng sông Hồng, vì vậy khả năng mở rộng
đồng bằng còn rất lớn, lớn hơn nhiều so với đồng bằng sông Hồng.
Về cơ cấu đất: Chủ yếu là đất phù sa được bồi đắp hàng năm, chia thành 3
loại: Đất phù sa ngọt phân bố chủ yếu dọc sông Tiền, sông Hậu, chiếm diện tích
lớn là đất bị nhiễm phèn và đất bị nhiễm mặn.
2.2.3.3 Đồng bằng duyên hải miền Trung
Đồng bằng có diện tích khảng 15000km2. Biển có vai trò quan trọng trong
việc hình thành đồng bằng này. Đồng bằng kéo dài, hẹp ngang và bị chia cắt
mạnh bởi các mạch núi ăn lan ra sát biển, chia đồng bằng thành nhiều đồng nhỏ,
trong đó lớn nhất là đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh.
Ở nhiều đồng bằng thường có sự phân chia thành ba dải: giáp biển, ở giữa
và trong cùng. Trong đó, dải giáp biển có nhiều cồn cát, đầm phá, thường xuyên
chịu tác động của biển. Ở giữa là vùng trũng thấp. Dải trong cùng được bồi tụ
thành đồng bằng. Địa hình bờ biển khúc khuỷu, thềm lục địa hẹp và sâu nên khả
năng mở rộng đồng bằng chậm.

Đất phù sa cát chiếm diện tích chủ yếu trong cơ cấu đất của đồng bằng.
Loại đất này thường nghèo dinh dưỡng, kém hơn phù sa đồng bằng sông Hồng và
đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra trong vùng cũng có đất phù sa ngọt (diện
tích không đáng kể), đất phù sa cổ.

13


CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỊA HÌNH ĐẾN THIÊN NHIÊN
VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
3.1 Ảnh hưởng của địa hình đến các thành phần tự nhiên
3.1.1 Ảnh hưởng đến cảnh quan thiên nhiên nước ta
- Địa hình nhiều đồi núi làm thiên nhiên phân hóa đa dạng theo độ cao.
Ngoài ra, hướng sơn văn của địa hình đồi núi nước ta làm thiên nhiên phân hóa
theo chiều bắc - nam, đông - tây.
- Cảnh quan thiên nhiên phân hóa theo độ cao:
+ Địa hình ở độ cao dưới 600 - 700m ở miền Bắc, 900 - 1000m ở miền
Nam, thiên nhiên mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa.
+ Từ 600 - 700m đến 2600m ở miền Bắc và 900 - 1000m đến 2600m ở
miền Nam: Thiên nhiên mang tính chất nhiệt đới ẩm trên núi, khí hậu mang tính
chất á nhiệt đới mát mẻ, mùa hạ nhiệt độ dưới 25 oC, xuất hiện đất feralit có mùn
(do quá trình ferralit yếu dần), về sinh vật xuất hiện loại thú lông dày, ưa lạnh.
+ Trên 2600m, thiên nhiên giống như vùng ôn đới, xuất hiện khí hậu ôn
đới núi cao lạnh, nhiệt độ trung bình dưới 15oC, nhiệt độ tháng lạnh dưới 5oC, chủ
yếu là loại đất mùn thô và sinh vật ôn đới.
- Thiên nhiên phân hóa bắc - nam, đông - tây do hướng sơn văn: Cảnh quan
thiên nhiên thay đổi từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, từ đồng bằng lên miền
núi. Tương ứng với sự thay đổi cảnh quan khác nhau: từ rừng ẩm ướt đến rừng
thưa cây bụi gai khô hạn, từ rừng nhiệt đới ẩm chân núi đến rừng ôn đới núi cao.
- Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo toàn

tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của nước ta:
+ Do phần lớn là đồi núi thấp nên tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của khí hậu
nước ta được bảo toàn (dưới 600 - 700m ở miền Bắc, 900 - 1000m ở miền Nam)
+ Miền đồi núi có nhiều đai cao nhưng đai nhiệt đới chân núi chiếm diện
tích rộng nhất, quá trình feralit phát triển mạnh. Rừng nhiệt đới ẩm gió mùa phát
triển trên đất feralit chiếm ưu thế, thành phần loài nhiệt đới chủ yếu.
- Địa hình đồi núi cũng gây cho nước ta nhiều thiên tai: xói mòn, lũ quét, lũ
ống... ở miền núi, ngập lụt ở đồng bằng.
14


3.1.2 Ảnh hưởng của địa hình đến khí hậu
* Độ cao địa hình là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khí hậu, đặc biệt là
chế độ nhiệt
- Do phần lớn là đồi núi thấp nên tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của khí
hậu nước ta được bảo toàn ở vành đai chân núi (dưới 600 - 700m ở miền Bắc,
900 - 1000m ở miền Nam)
- Do địa hình nước ta 3/4 là đồi núi nên ngoài sự phân hóa theo chiều bắc nam, khí hậu có sự phân hóa theo độ cao khá rõ:
+ Địa hình ở độ cao dưới 600 - 700m ở miền Bắc, 900 - 1000m ở miền
Nam là đai nhiệt đới gió mùa. Khí hậu biểu hiện rõ rệt ở nền nhiệt độ cao, mùa hạ
nóng. Độ ẩm thay đổi tùy nơi từ khô hạn đến ẩm ướt.
+ Từ 600 - 700m đến 2600m ở miền Bắc và 900 - 1000m đến 2600m ở
miền Nam là đai cận nhiệt gió mùa trên núi, khí hậu mát mẻ, mùa hạ nhiệt độ
dưới 25oC, mưa nhiều độ ẩm tăng.
+ Trên 2600m, là đai ôn đới gió mùa trên núi (chỉ có ở Hoàng Liên Sơn)
khí hậu có nết giống với khí hậu ôn đới, nhiệt độ trung bình dưới 15 oC, nhiệt độ
tháng lạnh dưới 5oC.
- Theo quy luật đai cao, cư lên cao khoảng 100m thì nhiệt độ giảm khoảng
0,6oC. Vì vậy những vùng núi cao của nước ta có nhiệt độ thấp hơn so với nền
nhiệt độ trung bình của nước ta.

* Hướng nghiêng chung của địa hình và hướng núi ảnh hưởng rất lớn đến
đặc điểm khí hậu
- Ảnh hưởng của hướng nghiêng địa hình đến đặc điểm chung của khí hậu.
Do địa hình nước ta có hướng nghiêng chung là tây bắc - đông nam thấp dần ra
biển kết hợp với hướng các loại gió thịnh hành trong năm nên ảnh hưởng của
biển có thể tác động sâu vào trong lục địa khiến tính lục địa của địa phương
không thể hiện rõ nét, làm cho khí hậu nước ta mang tính chất khí hậu hải dương
điều hòa hơn khác hẳn với các nước cùng vĩ độ ở Tây Á, Đông Phi, Bắc Phi.
- Ảnh hưởng của hưởng của hướng núi đến sự phân hóa khí hậu theo chiều
bắc - nam, đông - tây.
15


+ Hướng vòng cung
\ Các cánh cung ở Đông Bắc hút gió làm vùng có mùa đông lạnh nhất cả
nước. Phía đông cánh cung Đông Triều mưa nhiều do địa hình đón gió trong khi
vùng thung lũng Lạng Sơn, Cao Bằng mưa ít do bị khuất bởi những cánh cung này.
\ Dãy Trường Sơn Nam làm cho đồng bằng duyên hải mưa vào thu đông do
đón gió, trong khi mùa hạ khô hạn ít do địa hình song song với hướng gió. Còn
Tây Nguyên có mưa nhiều vào mùa hạ, mùa khô sâu sắc.
+ Hướng tây bắc - đông nam
\ Dãy Hoàng Liên Sơn: có vai trò ngăn gió mùa đông bắc, làm Tây Bắc có
mùa đông đến muộn, kết thúc sớm, đỡ lạnh hơn Đông Bắc.
\ Dãy Trường Sơn Bắc: gây hiệu ứng phơn cho đồng bằng duyên hải miền
Trung vào mùa hạ, đồng thời gây mưa vào thu đông do địa hình đón gió.
+ Hướng tây - đông: điển hình là dãy Bạch Mã ngăn gió mùa đông bắc
xâm nhập sâu xuống phía nam, góp phần làm miền Nam có nhiệt độ cao hơn
phần lãnh thổ phía Bắc.
+ Các địa điểm nằm ở sườn đón gió của dãy núi thì có lượng mưa lớn, nằm
ở sườn khuất gió thì có lượng mưa nhỏ hơn. Vùng núi thượng nguồn sông Chảy,

vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, vùng đồng bằng ven biển Quảng Ninh, duyên hải
Thừa Thiên - Huế là những nơi mưa nhiều nhất nước ta, trong khi những nơi
khuất gió như thung lũng sông Cả, sông Mã, sông Ba lượng mưa trung bình năm
rất thấp.
- Địa hình làm khí hậu nước ta phân hóa theo vùng miền, thành các kiểu
khí hậu khác nhau, làm tăng thêm tính thất thường của khí hậu.
3.1.3 Địa hình ảnh hưởng đến đặc điểm sông ngòi
- Hướng nghiêng của địa hình ảnh hưởng đến hướng chảy của sông. Địa
hình nước ta nghiêng hướng tây bắc - đông nam thấp dần ra biển nên hầu hết các
sông đều đổ ra biển Đông (trừ một số sông ở Tây Nguyên do địa hình nghiêng
đông - tây nên sông đổ sang Campuchia).
- Độ cao, độ dốc địa hình, sự phân bậc địa hình làm cho sông ngòi bị chia
cắt phức tạp, vận tốc chảy lớn. Ở vùng miền núi sông ngòi có độ dốc lớn, nhiều
16


thác ghềnh, lòng sông hẹp sâu và dốc. Còn sông ngòi ở khu vực đồng bằng, tốc
độ dòng chảy nhỏ hơn, giảm sự đào sâu lòng mà thay vào đố là mở rộng lòng
sông, sông có hiện tượng uốn khúc nhiều hơn so với sông ngòi miền núi.
- Hướng sơn văn của địa hình quy định hướng chảy của sông:
+ Hướng tây bắc - đông nam của vùng Tây Bắc và Trường Sơn Bắc làm
cho các sông của khu vực có hướng tây bắc - đông nam là chủ yếu: Sông Hồng,
sông Mã, sông Đà...
+ Hướng vòng cung của vùng núi Đông Bắc quy định hướng chảy của sông
Cầu, sông Thương, sông Lục Nam
- Địa hình ảnh hưởng đến cường độ lũ của sông: Địa hình đồi núi có sự
phân bậc, chia cắt phức tạp làm cho sông ngòi có cường độ lũ lớn, lên nhanh, rút
nhanh, nhất là miền Trung.
- Địa hình cũng góp phần tạo nên lượng phù sa lớn cho sông ngòi nước ta.
- Thông qua khí hậu, địa hình ảnh hưởng đến thủy chế sông ngòi.

3.1.4 Địa hình ảnh hưởng đến đất
- Ảnh hưởng của địa hình đến đất chủ yếu thông qua tác động phân phối lại
các nguyên tố địa hóa trong lớp vỏ phong hóa và điều kiện nhiệt ẩm theo các yếu
tố địa hình (đỉnh, sườn, chân) và nhất là độ cao địa hình.
- Địa hình nước ta chủ yếu là đồi núi thấp nên quá trình hình feralit thành
đất diễn ra mạnh. Vùng đồi núi nước ta chủ yếu là đất feralit vàng đỏ, nâu đỏ,
chiếm 65% diện tích đất tự nhiên.
- Địa hình phân bậc theo độ cao nên đất cùng có sự phân hóa theo đai cao:
+ Nhiệt đới gió mùa chân núi: đất feralit chủ đạo.
+ Cận nhiệt gió mùa trên núi có giới hạn từ 600 - 700m đến 2600m ở miền
Bắc và 900 - 1000m đến 2600m ở miền Nam:
\ Từ 600 - 700m đến 1600 - 1700m và 900 - 1000m đến 1600 - 1700m:
Hình thành đất feralit có mùn do quá trình feralit yếu dần, mùn được tích lũy.
Đồng thời quá trình phong hóa yếu đi nên tầng đất mỏng hơn.
\ Từ 1600 - 1700m đến 2600m, quá trình feralit ngưng trệ, hình thành đất
mùn alit.
17


+ Đai ôn đới gió mùa trên núi hình thành đất mùn thô do nhiệt độ và mưa
giảm mạnh.
- Địa hình đồi núi làm đất có độ dốc lớn, tầng mỏng,dễ bị xói mòn, rửa trôi,
nghèo dinh dưỡng (nhất là ở những nơi lớp phủ thực vật bị tàn phá).
- Địa hình có độ dốc lớn cùng với tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa nên quá
trình xâm thực rửa trôi diễn ra mạnh ở miền núi và bồi tụ nhanh ở hạ lưu sông, là
cơ sở hình thành các đồng bằng phù sa bồi tụ.
3.1.5 Địa hình ảnh hưởng đến sinh vật
Địa hình tác động tới sự phát triển và phân hóa của giới sinh vật chủ yếu
thông qua sự tác động đến các yếu tố của khí hậu, mà chủ yếu là theo độ cao.
Chính vì vậy, sinh vật có sự phân hóa theo độ cao địa hình.

- Từ độ cao dưới 600 - 700m ở miền Bắc và dưới 900 - 1000m ở miền
Nam: Chiếm ưu thế là kiểu hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa. Ở những vùng
núi thấp mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, mùa khô không rõ rệt, hình thành hệ sinh
thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh.
- Ở độ cao từ 600 - 700m đến 1600 - 1700m: đai rừng cận nhiệt đới gió
mùa trên núi với thành phần chủ yếu là các loài cây thuộc họ dẻ, re, hồ đào và
rừng á nhiệt lá đới lá kim như thông, sa mu, pơ mu.
- Từ trên 1600 - 1700m đến 2600m là phạm vi phân bố của rừng á nhiệt
đới mưa mù trên đất alit với các cây ôn đới như đỗ quyên, thiết sam, lãnh sam.
Trong rừng xuất hiện các loại chim thú á nhiệt đới phương bắc như gấu, sóc, cầy,
cáo có bộ lông dày.
- Trên 2600m chủ yếu là quần hệ thực vật núi cao, rừng phát triển kém,
cành lá cong queo.
3.2 Thế mạnh và hạn chế của thiên nhiên các khu vực địa hình đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội
3.2.1 Khu vực đồi núi, bình nguyên và vùng đồi trung du
- Thế mạnh
+ Vùng đồi núi có nhiều cao nguyên rộng lớn, khá bằng phẳng với nhiều
loại đất feralit khác nhau, đất xám phù sa cổ là điều kiện thuận lợi để hình thành và
phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp và cây ăn quả; có nhiều đồng cỏ rộng
18


lớn để phát triển chăn nuôi đại gia súc. Ngoài các cây trồng, vật nuôi nhiệt đới, các
vùng cao có thể trồng các loại cây và nuôi các loài vật cân nhiệt và ôn đới.
+ Địa hình bán bình nguyên và vùng đồi trung du thích hợp để trồng các
loại cây công nghiệp, cây ăn quả và cây lương thực.
+ Phần lớn diện tích rừng tập trung ở vùng đồi núi. Vì thế phát triển lâm
nghiệp là một thế mạnh lớn của vùng đồi núi.
+ Là nơi tập trung nhiều loại khoáng sản, đặc biệt là các mỏ khoáng sản

nội sinh, đó là nguyên liệu, nhiên liệu cho nhiều ngành công nghiệp.
+ Một thế mạnh kinh tế hết sức quan trọng là phát triển thủy điện. Vì đây là
vùng tập trung nhiều sông lớn, dốc, lắm thác ghềnh nên tiềm năng thủy điện rất lớn.
+ Với khí hậu mát mẻ, có nhiều phong cảnh đẹp, miền núi có nhiều điều kiện
để phát triển các loại hình du lịch: thăm quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái…
- Hạn chế
+ Địa hình đồi núi nước ta chủ yếu là đồi núi thấp, nhưng bị chia cắt mạnh,
nhiều sông suối, hẻm vực, sườn dốc gây trở ngại cho giao thông, vận tải, giao lưu
kinh tế giữa các vùng.
+ Do mưa nhiều, sườn dốc mạnh nên thường sảy ra một số thiên tai: lũ
ống, lũ quét, xói mòn,...gây trượt lở đất. Tại các nơi đứt gãy còn có nguy cơ phát
sinh động đất, nơi khô nóng sảy ra cháy rừng.
+ Miền núi đá vôi thiếu đất trồng trọt và khan hiếm nước vào mùa khô.
+ Các thiên tai khác: lốc, mưa đá, sương muối, rét hại…. thường sảy ra gây
ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư.
+ Biên giới giữa nước ta với các nước chủ yếu là địa hình cao, hiểm trở nên
việc bảo vệ an ninh quốc phòng gặp nhiều khó khăn, tốn kém.
3.2.2 Khu vực đồng bằng
- Thế mạnh
+ Địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ là cơ sở để phát triển nền nông
nghiệp nhiệt đới, đa dạng hóa các loại nông sản, gạo là nông sản chính.
+ Cung cấp các nguồn lợi thiên nhiên khác: thủy sản, khoáng sản và lâm
sản (rừng ngập mặn).
+ Là nơi có điều kiện để tập trung các thành phố, các khu công nghiệp và
các trung tâm thương mại, các đầu mối giao thông vận tải, đặc biệt phát triển giao
thông vận tải đường bộ, đường sông.
- Hạn chế: Thường xuyên có thiên tai: bão, lũ lụt, hạn hán… gây thiệt hại
lớn về người và tài sản.
19



CHƯƠNG 4: MỘT SỐ BÀI TẬP LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA HÌNH
Bài tập 1: Dựa vào Atlat địa lí và kiến thức đã học hãy trình bày các
kiểu địa hình thuộc khu vực đồi núi nước ta?
Trả lời
Căn cứ vào các dấu hiệu bên ngoài, còn gọi là hình thái và trắc lượng hình
thái của địa hình, có thể phân biệt địa hình đồi núi nước ta thành các kiểu hình
thái địa hình như sau:
- Kiểu địa hình núi:
Kiểu địa hình núi với đặc điểm chung là độ cao tuyệt đối và tương đối khá
lớn. Về ngoại hình, thường là các khối núi hay dãy núi, có độ chia cắt sâu và
sườn dốc lớn.
+ Kiểu địa hình núi cao: có độ cao trên 2000m, chiếm tỉ lệ diện tích không
lớn lắm, tập trung ở biên giới phía bắc từ Hà Giang đến Lai Châu và biến giới
phía tây thuộc 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh như đỉnh Phu Hoạt, Pu Xai Lai Leng,
Rào Cỏ. Tiêu biểu là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Si Păng cao 3143m. Ở
khu vực phía nam dãy Trường Sơn cũng có một số đỉnh cao trên 2000m như
Ngọc Linh, Ngọc Kring, Vọng Phu...
+ Kiểu địa hình núi trung bình: có độ cao tuyệt đối từ 1000m đến dưới
2000m, chiếm diện tích không lớn nhưng cũng được phân bố khá rộng khắp từ
biên giới phía bắc đến phía nam dãy Trường Sơn. Kiểu địa hình này thường có
thung lũng hẹp, sườn dốc 25 - 30 o, có dạng đỉnh núi, khối núi và dãy núi đơn độc
tách biệt với vùng núi cao như đỉnh Phia Ya, Nam Châu Lãnh, Tam Đảo... hoặc
gắn liền với các vùng núi cao ở Tây Bắc, bắc và nam dãy núi Trường Sơn.
+ Kiểu địa hình núi thấp: có độ cao trung bình từ 500m đến dưới 1000m,
thường liền kề với vùng núi trung bình và vùng đồi thành một dải liên tục với các
bậc địa hình cao thấp khác nhau, thậm chí kiểu địa hình này còn gặp ở ngay vùng
đồng bằng và vùng ven biển dưới dạng núi sót như núi Voi, núi Đồ Sơn, núi Bà
Đen, núi Thất Sơn và các đảo ven bờ. Kiểu địa hình này tập trung thành một khu
vực rộng lớn ở Nam Trung Bộ, thành khối núi rời rạc ở Việt Bắc, Đông Bắc và

dải hẹp ở biên giới Việt - Lào thuộc Bắc Trung Bộ.
20


- Kiểu địa hình cao nguyên:
+ Cao nguyên đá vôi điển hình ở phía bắc và tây bắc nước ta. Đặc điểm
chung là độ cao khá lớn nhưng bề mặt khá bằng phẳng, mạng lưới sông suối thưa
thớt và rất hiếm nước, nhất là vào mùa khô. Điển hình như cao nguyên Đồng
Văn, Sơn La, Mộc Châu...
+ Cao nguyên badan: tập trung ở Tây Nguyên và rìa của vùng Đông Nam
Bộ. Địa hình có dáng mềm mại, bằng phẳng hơn so với cao nguyên đá vôi, trên
mặt cao nguyên còn có nhiều di tích của các hoạt động núi lửa như nón miệng núi
lửa, hồ tròn. Điển hình như cao nguyên Kom Tum - Plây Cu, Đăk Lăk, Mơ Nông,
Di Linh.
+ Cao nguyên hỗn hợp các loại đá trầm tích, măcma và biến chất: là các
cao nguyên bóc mòn có độ cao khá lớn ở phía bắc tỉnh Lâm Đồng. Ở đây địa hình
bằng phẳng xen kẽ với dãy đồi và ngọn đồi thoải, tiêu biểu là cao nguyên Lâm
Viên - Đà Lạt...
- Kiểu địa hình sơn nguyên có độ cao tuyệt đói như độ cao của núi, nhưng
vùng đỉnh vẫn giữ dạng đồi thấp, lượn sóng với độ cao tương đối 25 - 100m.
- Kiểu địa hình đồi:
Có độ cao tuyệt đối dưới 500m, độ cao tương đói 25 - 200m. Địa hình đồi
thường gắp ở vùng giáp ranh có tính chất chuyển tiếp từ địa hình miền núi xuống
đồng bằng. Kiểu địa hình đồi của nước ta thường phổ biến dưới 2 dạng:
+ Đồi bát úp: Chủ yếu gồm những quả đồi riêng biệt có kích thước tương
tự nhau và được ngăn cách với nhau bởi các thung lũng xâm thực.
+ Dãy đồi: Gồm các các đồi nối tiếp nhau dưới dạng yên ngựa hoặc lượn
sóng. Các dãy đồi thường nằm xen kẽ nhau, giữa chúng là các khoảng trũng hoặc
các thung lũng.
- Kiểu địa hình bán bình nguyên: hình thành tại vùng Tân kiến tạo ổn định,

ở ranh giới giữa vùng nâng và vùng sụt, độ cao tuyệt đối 100 - 200m, độ dốc dưới
8o. Phân bố ở rìa các đồng bằng lớn (vùng trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Đông Nam Bộ) hoặc bên trong các đồng bằng duyên hải
(Móng Cái, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận).
21


- Các kiểu địa hình đặc biệt:
+ Kiểu địa hình caxtơ: thung - động caxtơ(rìa núi Bắc Sơn), núi caxtơ (Pu
Tha Ca - Hà Giang), sơn nguyên caxtơ (Quản Bạ - Đồng Văn), hang động caxtơ
(Phong Nha).
+ Thung lũng và lòng chảo miền núi: Điện Biên, Nghĩa Lộ, An Khê.
Bài tập 2: Dựa vào Atlat Địa lí và kiến thức đã học, trình bày và giải
thích đặc điểm địa hình miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ?
Trả lời
1. Khái quát vị trí
Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ có ranh giới phía tây và tây nam nằm ở
hữu ngạn sông Hồng và rìa phía tây và tây nam đồng bằng Bắc Bộ. Phía bắc giáp
Trung Quốc, phía đông và đông nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây và tây nam giáp
miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
2. Đặc điểm chung của địa hình
- Gồm 2 bộ phận chính là đồi núi và đồng bằng:
+ Bộ phận đồi núi chiếm 2/3 diện tích, tập trung ở phía bắc.
+ Bộ phận đồng bằng phân bố ở phía nam.
- Hướng nghiêng chung của địa hình là hướng tây bắc - đông nam do vào
thời kì Tân kiến tạo phần phía bắc, tây bắc được nâng lên cao, trong khi vùng
phía nam, đông nam lại là vùng sụt lún và được bồi tụ.
3. Đặc điểm từng dạng địa hình
a, Miền núi
- Đồi chiếm khoảng 2/3 diện tích toàn miền, phân bố chủ yếu ở phía bắc.

- Phần lớn địa hình là đồi núi thấp, độ cao trung bình dưới 1000m, một bộ
phận nhỏ có độ cao trên 1500m. Nguyên nhân do vận động nâng lên yếu.
- Có 2 hướng chính:
+ Hướng vòng cung là hướng chính của miền, thể hiện rõ nét qua 4 cánh
cung là Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều. Hướng các cánh cung này
được giải thích là do trong quá trình hình thành chịu tác động của khối Vòm sông

22


Chảy (Khối Việt Bắc). Càng về phía đông và đông và đông nam thì cường độ
nâng yếu dần nên độ cao của các cánh cung này cũng yếu dần.
+ Hướng tây bắc - đông nam được thể hiện hiện rõ nét qua hướng của dãy
núi Con Voi, do chịu tác động định hướng của khối nền cổ Hoàng Liên Sơn.
- Đặc điểm hình thái địa hình: Chủ yếu là núi già trẻ lại nên chủ yếu các
núi ở đây có đỉnh tròn, sườn thoải. Ngoài ra trong khu vực đồi núi còn có các
dạng địa hình caxtơ, lòng chảo, các cánh đồng giữa núi.
b, Miền đồng bằng
- Chiếm 1/3 diện tích toàn miền, phân bố ở phía nam, đông nam, trong đó
lớn nhất là đồng bằng Bắc Bộ.
- Độ cao rất thấp, dưới 50m.
- Hình dạng: đồng bằng có dạng tam giác châu điển hình ở nước ta với
đỉnh là Việt Trì, đáy kéo dài từ ven biển Quảng Ninh đến Ninh Bình.
- Nguồn gốc: Hình thành do hai hệ thống sông lớn nhất phía bắc là hệ
thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình bồi đắp (các đồng bằng ven biển
Quảng Ninh do các sông nhỏ bồi đắp).
- Đặc điểm hình thái: bằng phẳng bị chia cắt bởi hệ thống đê, vì thế phần
đất trong đê không được bồi đắp hàng năm. Trong vùng có một số địa hình trũng
bị ngập nước vào mùa lũ. Ở rìa phía bắc và phía nam của đồng bằng còn xuất
hiện dạng địa hình đồi núi sót.

- Hướng mở rộng phát triển của đồng bằng: hàng năm vẫn tiến ra biển ở
phía đông nam với tốc độ khá nhanh (có nơi lên đến 100m) do lượng phù sa của
các con sông mang theo lớn.
Ngoài ra còn có bộ phận thềm lục địa rộng với đặc điểm: nông, rộng và
thoải.
Bài tập tương tự bài tập 2:
- Dựa vào Atlat Địa lí và kiến thức đã học, trình bày và giải thích đặc điểm
địa hình miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ?
- Dựa vào Atlat Địa lí và kiến thức đã học, trình bày và giải thích đặc điểm
địa hình miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ?
23


Bài tập 3: Dựa vào Atlat Địa lí và kiến thức đã học, chứng minh dạng
địa hình nước ta là địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa?
Trả lời
Địa hình Việt Nam tiêu biểu cho quang cảnh địa hình của vùng nhiệt đới
ẩm giáo mùa, biểu hiện ở:
1. Xâm thực mạnh ở miền đồi núi
Nền nhiệt ẩm cao với một mùa mưa và một mùa khô xen kẽ thúc đẩy quá
trình xâm thực mạnh mẽ, bề mặt địa hình bị cắt xẻ, đất bị bào mòn rửa trôi...
- Điều kiện nóng ẩm đẩy nhanh cường độ phong hóa, xâm thực, bào mòn,
rửa trôi đất đá trên sườn dốc. Biểu hiện của quá trình này là bề mặt địa hình bị cắt
xẻ, hẻm vực, khe sâu, đất bị bào mòn rửa trôi nhiều nơi chỉ còn trơ sỏi đá, những
hiện tượng đất trượt, đá lở thành những nón phóng vật tích tụ ở dưới chân núi.
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đẩy nhanh tốc độ hòa tan và phá hủy đá
vôi, tạo thành các địa hình caxtơ với các hang động ngầm, suối cạn, thung khô,
các đồi đá vôi sót ở vùng núi đá vôi.
- Khí hậu đã làm sâu sắc hơn, rõ nét hơn tính chất trẻ của địa hình đồi núi
Việt Nam do Tân kiến tạo để lại. Có thể nói quá trình xâm thực bào mòn của do

tác động của dòng nước là quá trình địa mạo đóng vai trò chủ yếu tạo nên hình
thái của địa hình đồi núi nước ta hiện nay.
2. Bồi tụ nhanh ở hạ lưu
- Hệ quả của quá trình xâm thực, bào mòn mạnh ở miền núi là sự bồi tụ,
mở mang nhanh các đồng bằng hạ lưu sông.
- Rìa phía đông nam của đồng bằng sông Hồng và rìa phía tây nam của
đồng bằng sông Cửu Long hàng năm lấn ra biển từ vài chục đến gần trăm mét.
3. Lớp vỏ phong hóa dày
Bị mưa nắng công phá, bề mặt địa hình bị thay đổi tạo nên lớp vỏ phong
hóa dày, có nơi tới 10 - 15m. Trên cùng của lớp vỏ phong hóa là tầng đất mềm
(thổ nhưỡng) và rừng cây che phủ bảo vệ. Lớp vỏ phong hóa có đặc tính thấm
nước, vụn bở dễ dàng bị phá hủy, xói mòn và rửa trôi nhất là những nơi có địa
hình dốc, lớp phủ thực vật và thổ nhưỡng bị tàn phá. Ở nước ta quá trình phong
24


hóa hóa học diễn ra mạnh. Các vùng núi đá vôi bị nước mưa hòa tan tạo nên
những hang động lớn và suối ngầm. Còn các vùng đá măcma, biến chất quá trình
phong hóa diễn ra yếu và chậm hơn.
4. Các hiện tượng đất trượt và sụt lở trên bề mặt địa hình
Địa hình nước ta thường xuyên xảy ra các hiện tượng thiên nhiên bất lợi
như đất trượt, đất chảy, đá đổ, hang động ngầm. Ở miền núi khi gặp mưa lớn
thường xảy ra lũ bùn, lũ quét. Hiện tượng kết von và đá ong hóa xảy ra trong lớp
vỏ phong hóa và thổ nhưỡng diễn ra khá mạnh.
Bài tập 4: Dựa vào Atlat Địa lí và kiến thức đã học, chứng minh rằng
địa hình miền núi nước ta có sự phân hóa thành các vùng khác nhau? Giải
thích nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa địa hình?
Trả lời
1. Chứng minh
Địa hình miền núi phân hóa thành 4 vùng là: Đông Bắc, Tây Bắc, Trường

Sơn Bắc và Trường Sơn Nam.
- Vùng núi Đông Bắc: Vị trí nằm ở tả ngạn sông Hồng. Bao gồm một loạt
các dãy núi chạy theo hướng cánh cung. Các cánh cung này mở rộng về phía bắc
và quy tụ ở núi Tam Đảo, bao gồm các cánh cung Sông Gâm, cánh cung Ngân
Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều. Hướng các dãy núi là hướng
vòng cung của các thung lũng sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam.
Địa hình thấp dần từ tây bắc về đông nam. Đa số các núi thuộc loại thấp, từ
độ cao 2000m xuống còn 1500m - 500m và thấp dần ra biển. Khu vực mang hình
thái của núi già được trẻ hóa: đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc và độ chia cắt yếu.
Ngoài cánh cung còn có những dải sơn nguyên đá vôi, độ cao trung bình
1000m và chạy dọc biên giới Việt - Trung từ Lào Cai đến Cao Bằng. Trên nền
các sơn nguyên đá vôi có các khối núi cao trên dưới 2000m. Trung tâm là vùng
đồi núi thấp 500 - 600m. Giữa vùng núi và đồng bằng là vùng đồi trung du thấp
dưới 100m.
- Vùng núi Tây Bắc: Khu vực núi nằm giữa sông Hồng và sông Cả, có
hướng nghiêng và hướng núi tây bắc - đông nam. Là khu vực cao và đồ sộ nhất
25


×