Tải bản đầy đủ (.doc) (96 trang)

luận văn thạc sĩ quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thái bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (538.44 KB, 96 trang )

i

LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Lê Đức Giang
Sinh ngày: 14/02/1988 – Nơi sinh: Thái Bình
Là học viên cao học lớp: CH20B - Chuyên ngành Quản lý kinh tế.
Niên khóa: 2015 - 2016 - Trường Đại học Thương Mại.
Tôi xin cam đoan
1. Luận văn Thạc sỹ kinh tế: “Quản lý nhà nước đối với các Khu công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS. HÀ VĂN SỰ
2. Các số liệu, tài liệu trong Luận văn là do tôi tự thu thập, trung thực, bảo
đảm tính khách quan. Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
Tác giả luận văn

Lê Đức Giang


ii

LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và bản Luận văn này, bên cạnh những nỗ
lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy cô, bạn bè, gia đình trong suốt quá trình học tập, công tác.
Nhân đây, tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành tới:
- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Sự;
- Các thầy cô giáo Khoa Sau đại học - Trường Đại học Thương Mại;
- Tập thể lãnh đạo, cán bộ nhân viên Ban quản lý Khu công nghiệp của tỉnh
Thái Bình;
- Các cơ quan hữu quan, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình, các


nhà khoa học, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ hướng dẫn và cung cấp tài
liệu cho tôi trong quá trình thực hiện Luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành Luận văn bằng tất cả năng lực
của bản thân, tuy nhiên Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và bạn đọc để tác
giả có thể hoàn thiện tốt hơn Luận văn của mình.
Xin trân trọng cám ơn!
Thái Bình, ngày……tháng ….năm 2016
Tác giả

Lê Đức Giang


iii

MỤC LỤC


iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế theo nhóm ngành qua các năm của tỉnh .........33
Thái Bình.......................................................................................................33
Bảng 2.2 Số dự án đầu tư FDI vào một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng 42
Bảng 2.3 Ngành nghề đầu tư vào các KCN của tỉnh Thái Bình ............42
đến năm 2015...............................................................................................42
Bảng 2.4 Danh mục quy hoạch các KCN tỉnh Thái Bình đến năm 202044
Bảng 2.5 Tỷ lệ lấp đầy các KCN của tỉnh Thái Bình..............................45

Bảng 2.6 Cơ cấu tổ chức cán bộ BQL các KCN ở tỉnh Thái Bình..........50
Bảng 2.7 Các công ty đầu tư kinh doanh hạ tầng......................................54
vào KCN Thái Bình đến năm 2015............................................................54
SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình QLNN đối với các KCN..................................................................47
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức Ban quản lý các KCN của tỉnh Thái Bình............................49
Biều đồ 2.2. Số doanh nghiệp vi phạm các quy định tại các KCN...................................57
Biểu đồ 2.3 Đánh giá hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra.......................................59


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

TỪ VIẾT TẮT

NGHĨA TIẾNG VIỆT

1

BQL

Ban quản lý

2

BHXH


Bảo hiểm xã hội

3

BHYT

Bảo hiểm y tế

4

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

5

FDI

Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

6

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

7

HĐLĐ


Hợp đồng lao động

8

KCN

KCN

9

KK

Khu kinh tế

10

NĐ-CP

Nghị định – Chính phủ

11

QLNN

Quản lý nhà nước

12

TNHH MTV


Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

13

UBND

Ủy ban nhân dân

14

TTHC

Thủ tục hành chính

15

CCHC

Cải cách hành chính


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua thực tiễn phát triển của các nước trên thế giới, nhận thấy Việt Nam để tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế đòi hỏi số vốn đầu tư lớn. Việc thành lập các KCN
vừa thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, vừa là giải pháp quan trọng để đẩy
mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng Sông Hồng, miền Bắc Việt Nam.

Trung tâm của tỉnh là thành phố Thái Bình, cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía
đông nam, cách thành phố Hải Phòng 70km về phía tây nam. Thái Bình tiếp giáp
với 5 tỉnh, thành phố: Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phía tây bắc, Hải Phòng
ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây, Nam Định ở phía tây và tây nam, phía đông là
biển Đông.
Với vị trí địa lý thuận lợi, những năm qua, tỉnh Thái Bình đã có nhiều cố
gắng trong việc thu hút vốn đầu tư để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh
Thái Bình đã tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa bàn, xác định
các khu, các cụm công nghiệp để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tính đến cuối
năm 2015, toàn tỉnh Thái Bình đã có 6 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện
tích 979,8 ha. Thu hút 152 dự án đầu tư vào các KCN, với tổng số vốn đăng ký
đạt 12.332 tỷ đồng, giá trị sản xuất đạt được chiếm 36,6% giá trị sản xuất công
nghiệp toàn tỉnh.
Bên cạnh những kết quả đạt được các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình còn
tồn tại những hạn chế như công tác hoạch định chính sách, công tác quy hoạch
phát triển KCN chưa đáp ứng nhu cầu phát triển, trình độ năng lực của bộ máy
quản lý nhà nước đối với các KCN còn hàn chế, tình trạng ô nhiễm môi trường,
vi phạm các quy định trong quá trình hoạt động tại các KCN vẫn tiếp diễn …
những vấn đề còn tồn tại đó đặt ra yêu cầu cần phải hoàn thiện công tác QLNN
đối với các KCN. Với mong muốn thông qua việc đánh giá kết quả hoạt động của
các KCN và thực trạng công tác QLNN trong thực tiễn phát triển KCN của tỉnh


2

Thái Bình để từ đó chỉ rõ nguyên nhân của thành công và hạn chế trong công tác
QLNN của tỉnh Thái Bình đối với các KCN nhằm đề ra những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả của công tác. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác QLNN đối
với KCN ở tỉnh Thái Bình. Tôi đã lựa chọn vấn đề: “Quản lý nhà nước đối với các
KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình” Luận văn tốt nghiệp của mình. Đây là một đề

tài chứa đựng nhiều vấn đề có ý nghĩa thực tiễn và lý luận, nhất là khi các KCN
hiện đang trở thành một thực thể kinh tế quan trọng đóng góp ngày càng lớn trong công
CNH, HĐH đất nước.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu về các KCN ở
Việt Nam nói chung và ở tỉnh Thái Bình nói riêng. Đó là tác giả:
- Phạm Thị Ánh Nguyệt (2014), Chính sách khuyến khích đầu tư phát triển
KCN của tỉnh Thái Bình, Luận án Tiến sỹ kinh tế tại trường Đại học Kinh tế Quốc
dân. Công trình đã phân tích thực trạng các chính sách khuyến khích đầu tư phát
triển KCN của tỉnh Thái Bình, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách
khuyến khích đầu tư phát triển KCN của tỉnh Thái Bình.
- Nguyễn Quốc Bình (2005), “Một số giải pháp nhằm phát triển các KCN và
cụm công nghiệp trên địa bàn Hà Nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”,
Luận án tiến sỹ kinh tế,NXB Đại học Ngoại thương. Công trình đã đề xuất một số
giải pháp nhằm tổ chức, quản lý và vận hành có hiệu quả đối với các KCN ở Hà Nội
cho phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Lê Tuấn Dũng (2009),“Hoàn thiện hoạch định chính sách đầu tư phát triển
KCN Việt Nam giai đoạn hiện nay”, Luận án Tiến sỹ kinh tế tại Trường Đại học
Thương Mại. Mục đích nghiên cứu của Luận án là luận giải cơ sở khoa học về
hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN ở Việt Nam, từ đó, đề xuất phương
hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN
ở nước ta trong thời gian tới.
- Ngô Quang Đông (2011) “Công tác quản lý nhà nước đối với các KCN trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh: Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sỹ làm rõ thực


3

trạng của công tác QLNN và đề xuất giải pháp đổi mới hoàn thiện công tác QLNN
góp phần vào sự phát triển của các KCN.

- Nguyễn Thị Mai Khanh (2013) “Quản lý của thành phố đối với hoạt động
của các KCN và khu chế xuất trên địa bàn Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ. Công
trình nghiên cứu hướng tới việc hoàn thiện chính sách QLNN đối các hoạt động
của KCN.
- Lê Hồng Yến (2007), “Hoàn thiện chính sách và mô hình tổ chức quản lý
nhà nước đối với việc phát triển KCN Việt Nam – thông qua thực tiễn các KCN
miền Bắc”, Luận án Tiến sỹ kinh tế tại Trường Đại học Thương Mại. Luận án đề
xuất một số phương hướng và giải pháp sơ bộ nâng cao năng lực hoạch định chính
sách phát triển KCN ở nước ta.
Nhìn chung, các công trình trên đã có những cách tiếp cận khác nhau hoặc
trực tiếp, hoặc gián tiếp đến vấn đề quản lý nhà nước đối với các KCN đó là nguồn
tài liệu đáng quý giúp tôi có được những số liệu và thông tin cần thiết để kế thừa và
phát triển trong luận văn của mình. Tuy nhiên, trong số các công trình đã xuất bản
chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa
bàn tỉnh Thái Bình với tư cách là luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế. Trong luận văn
này, tác giả sẽ cố gắng nghiên cứu vấn đề này một cách cơ bản và hệ thống.
3. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là những lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà
nước đối với các KCN của các cấp chính quyền tỉnh Thái Bình (UBND tỉnh, các Sở
ban ngành có liên quan, BQL các KCN của tỉnh) đối với các KCN trên địa bàn tỉnh
Thái Bình được Chính phủ thành lập và các KCN và sẽ được thành lập trong tương
lai nằm trong quy hoạch đã được duyệt.
- Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của Luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận
và phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đề
xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trên địa bàn
tỉnh Thái Bình theo hướng CNH, HĐH.


4


- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Luận văn văn nghiên cứu công tác quản lý nhà nước
đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình hiện nay, thực trạng công tác quản lý
nhà nước đối với các KCN từ đó có phương hướng hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước của tỉnh Thái Bình.
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với các
KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 - 2016 và đưa ra những giải pháp,
đề xuất để tỉnh Thái Bình hoàn thiện công tác quản lý nhà nước giai đoạn 20162020 và những năm tiếp theo.
Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu tình hình hoạt động của các KCN và
công tác QLNN của các cơ quan thuộc chính quyền tỉnh Thái Bình.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận, phương pháp thu thập dữ
liệu, phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu.
- Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng ta về mở cửa, hội nhập kinh tế, CNH, HĐH và phát triển KCN
- Phương pháp thu thập dữ liệu
+ Số liệu thứ cấp: là số liệu về cơ sở lý luận, thực tiễn ở Việt Nam và thế giới
được thu thập thông qua việc tra cứu, chọn lọc thông tin từ các nguồn sách báo,
internet, các nghiên cứu của các tác giả có liên quan, tổng hợp từ các báo cáo của
UBND tỉnh Thái Bình, các sở ban ngành liên quan, báo cáo của BQL các KCN của
tỉnh Thái Bình, …
+ Số liệu sơ cấp: Tác giả tiến hành khảo sát đối tượng chịu tác động của chính
sách là các doanh nghiệp đầu tư ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh và khảo sát các
cán bộ quản lý (chủ thể hoạch định và tổ chức thực thi chính sách). Việc điều tra,
khảo sát nhằm mục đích tiếp cận tốt hơn và sát thực hơn với tình hình thực tế.
Luận án sử dụng 2 mẫu phiếu để tiến hành điều tra, khảo sát:


5


Mẫu 1: Khảo sát doanh nghiệp đầu tư vào KCN.
Nội dung: Thăm dò ý kiến về công tác QLNN đối với các KCN trên địa bàn
tỉnh Thái Bình
Tổng số phiếu phát ra là 200 phiếu, tổng số phiếu thu về là 148 phiếu.
Mẫu 2: Phỏng vấn cán bộ quản lý nhà nước (chủ thể hoạch định và tổ chức
thực thi chính sách). Tổng số phiếu phát ra là 110 phiếu, thu về 95 phiếu.
Nội dung: Thăm dò ý kiến về công tác QLNN đối với các KCN trên địa bàn
tỉnh Thái Bình.
Mẫu 3: Phỏng vấn doanh nghiệp và cán bộ QLNN.
Nội dung: Phỏng vấn về công tác QLNN đối với các KCN trên địa bàn tỉnh
Thái Bình.
Thông qua việc phỏng vấn đưa ra những nhận xét, đánh giá đảm bảo độ tin cậy
và chính xác.
- Phương pháp phân tích: Bao gồm các phương pháp so sánh, phương pháp
thống kê, phương pháp phân tích có định tính.
+ Phương pháp so sánh: phương pháp này dùng để đánh giá hiệu quả quản lý
các KCN ở từng thời kỳ, quá trình hoạt động của các KCN…
+ Phương pháp thống kê: là phương pháp sử dụng các phép tính thống kê để xử
lý các số liệu thu lượm được từ các cuộc khảo sát, điều tra, trao đổi, thực nghiệm…
+ Phương pháp phân tích có định tính: phương pháp này phụ thuộc nhiều vào
ý kiến của chuyên gia, kinh nghiệm và sự phân tích đánh giá của người viết đề tài.
Ngoài ra, đề tài cũng quan tâm tới kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có và bổ
sung và phát triển những luận cứ khoa học và thực tiễn mới cho phù hợp với mục
tiêu nghiên cứu của Luận văn.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
5.1 Về mặt lý luận
Bước đầu luận văn làm sáng tá một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối
với các KCN; hệ thống các vấn đề lý luận về QLNN của cấp tỉnh đối với các KCN
ở Thái Bình.

5.2 Về mặt thực tiễn


6

- Phân tích thực trạng QLNN của tỉnh Thái Bình đối với các KCN trên địa
bàn tỉnh được Chính phủ phê duyệt, đưa ra những đánh giá về thành công, tồn tại và
nguyên nhân của các tồn tại .
- Đưa ra một số giải pháp về quản lý Nhà nước đề góp phần cho sự phát triển
nhanh hiệu quả và bền vững đối với các KCN trên địa bàn tỉnh.
6. Kết cấu khóa luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục bảng biểu, từ viết tắt, tài liệu tham
khảo thì Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Một số lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với các KCN tại các
địa phương cấp tỉnh
Chương 2. Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các
KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Chương 3. Một số giải pháp và kiến nghị đối với công tác quản lý nhà nước
đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình đến năm 2020 và những năm tiếp theo.


7

CHƯƠNG I. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG
CẤP TỈNH
1.1. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA QLNN ĐỐI VỚI CÁC KCN
1.1.1. Bản chất của quản lý nhà nước đối với các KCN
1.1.1.1 Khái niệm, phân loại, đặc điểm và vai trò của các KCN
* Khái niệm KCN

Khái niệm về KCN được quy định tại Luật Đầu tư được Quốc hội khoá 12,
thông qua ngày 26/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 định nghĩa: “KCN là khu
vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” [14].
* Phân loại KCN
Có nhiều cách tiếp cận về KCN, vì vậy tùy từng cách tiếp cận với những tiêu chí
khác nhau có các cách phân loại KCN khác nhau:
- Theo mục đích sản xuất: Người ta chia ra KCN và khu chế xuất. KCN bao gồm
các cơ sở sản xuất hàng công nghiệp để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Khu chế xuất là
một dạng của KCN chuyên làm hàng xuất khẩu.
- Theo mức độ mới – cũ: KCN chia làm 3 loại:
+ Các KCN cũ xây dựng trong thời kỳ bao cấp (từ trước khi có chủ trương xây
dựng khu chế xuất năm 1990) như KCN Thượng Đình - Hà Nội, KCN Việt Trì,
KCN Gang thép Thái Nguyên v.v...
+ Các KCN cải tạo, hình thành trên cơ sở có một số xí nghiệp đang hoạt động.
+ Các KCN xuất hiện trên địa bàn mới
- Theo tình trạng cho thuê: Có thể chia số KCN thành ba nhóm có diện tích
cho thuê được lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100%.
- Theo quy mô: Hình thành 3 loại KCN: lớn, vừa và nhá. Các chỉ tiêu phân bổ
quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu tư,
tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng. Các KCN lớn được thành lập phải có quyết


8

định của Thủ tướng Chính phủ. Các KCN vừa và nhá thuộc quyền quyết định của Chủ
tịch UBND tỉnh, thành phố. Trong giai đoạn đầu hiện nay ta chú trọng xây dựng các
KCN vừa và nhá để sớm khai thác có hiệu quả.
- Theo trình độ kỹ thuật: Có thể phân biệt
+ Các KCN bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều.

+ Các KCN cao, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp mũi nhọn như
công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v.v...
làm đầu tàu cho sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội dài hạn.
- Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm:
+ Các KCN chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước.
+ Các KCN hỗn hợp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước và
nước ngoài.
+ Các KCN chỉ gồm các doanh nghiệp, các dự án 100% vốn đầu tư nước
ngoài.
- Theo tính chất ngành công nghiệp Có KCN chế biến nông lâm hải sản; KCN
khai thác quặng, dầu khí, hóa dầu; KCN điện tử, tin học; KCN điện, năng lượng,
KCN phục vụ vận tải, KCN vật liệu xây dựng v.v...
- Theo lãnh thổ địa lý: phân chia các KCN theo ba miền Bắc, Trung, Nam,
theo các vùng kinh tế xã hội (hoặc theo các vùng kinh tế trọng điểm); và theo các
tỉnh thành để phục vụ cho việc khai thác thế mạnh của mỗi vùng, làm cho kinh tế xã
hội của các vùng phát triển tương đối đồng đều, góp phần bảo đảm nền kinh tế quốc
dân phát triển bền vững.
- Phân theo quy mô diện tích các KCN: có 2 loại KCN tập trung (có quy mô từ
50 ha trở lên và KCN vừa và nhá (có quy mô dưới 50 ha)
* Đặc điểm của KCN
- Về không gian: là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các
vùng lãnh thổ khác và thường không có cư dân sinh sống.


9

Các KCN đều được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng rào KCN,
phân biệt với các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia. Mọi hoạt động đầu tư, sản
xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của

pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng và được hưởng rất
nhiều ưu đãi. Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật KCN này được xây dựng phục vụ cho hoạt
động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ phục vụ công nghiệp, không phục
vụ mục đích sống dân cư, kể cả người Việt Nam, người nước ngoài làm việc
trong KCN.
- Về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp
và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp trong KCN này là sản xuất
công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Trong KCN, không có
các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho loại hình
sản xuất này.
- Về thành lập: KCN không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được
thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt.
Để phát triển các KCN, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi,
bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách
toàn diện, đồng bộ. Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các
KCN, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng chúng.
- Về đầu tư cho sản xuất: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong KCN,
có khu vực hoặc doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu (được gọi là khu chế
xuất, doanh nghiệp chế xuất).
Phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt và dự án
đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, trong phạm vi KCN có thể thành lập khu
vực riêng bao gồm: các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ hoặc cũng có thể chỉ thành lập doanh
nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (doanh nghiệp chế xuất).


10

- Về điều kiện tự nhiên:

KCN thường được xây dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi như gần các
đường giao thông, thuận tiện trong giao lưu với các trung tâm kinh tế lớn, gần cảng
biển, sân bay… Ngoài ra, các KCN còn đòi hái phải có diện tích đất khá lớn, tập
trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp cho xây dựng các
công trình công nghiệp, gần nguồn nước, có cơ sở hạ tầng thích hợp. Do các đặc
điểm này, nên quỹ đất xây dựng KCN thường lấn chiếm quỹ đất nông nghiệp và đất
khu đô thị. Khi các KCN được xây dựng nhiều sẽ gây sức ép, thậm chí xung đột với
nhu cầu đất của dân cư. Chính vì vậy, xây dựng các KCN phải theo quy hoạch cân
đối, hài hòa hợp lý các khu đất dành cho sinh hoạt, cho nông, lâm nghiệp, thủy sản
và cho các KCN tập trung.
- Về kinh tế - kỹ thuật KCN
KCN thường tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất ra các sản phẩm
công nghiệp khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lượng lớn nguyên, nhiên vật liệu,
năng lượng và thải ra lượng chất thải khổng lồ. Do tính tập trung sản xuất công
nghiệp ở mật độ cao như vậy nên các vấn đề kinh tế - kĩ thuật của KCN trở nên rất
khác biệt.
* Vai trò của các KCN
Trong thực tiễn hoạt động của KCN thường có các vai trò sau đây:
Thứ nhất, KCN góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, đào tạo nguồn
nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ người lao động. KCN là nơi có
nhu cầu sử dụng lao động rất lớn phục vụ công tác sản xuất kinh doanh vì vậy KCN
tập trung rất nhiều lao động làm việc qua đó góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp. Ngoài
ra thông qua việc đào tạo và sử dụng lao động trong các KCN, trình độ và kỹ năng
của người lao động được cải thiện.
Thứ hai, thu hút vốn đầu tư tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển
kinh tế: Vốn đầu tư là nhu cầu tất yếu trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh
tế. KCN hình thành và phát triển góp phần thu hút lượng lớn vốn đầu tư trong và
ngoài nước đóng góp quan trọng trong quá trình CNH - HĐH.



11

Thứ ba, các KCN góp phần hình thành mối liên kết giữa các địa phương và
nâng cao năng lực sản xuất ở từng vùng, miền. Tầm quan trọng của KCN chính là
đầu tầu tăng trưởng có tác động lan táa của nó đối với các vùng lân cận và cả nền
kinh tế chứ không chỉ ở năng suất lao động hay thu nhập của người lao động tăng lên.
Thứ tư, sự phát triển các KCN đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo sự phát
triển đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng xã
hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Các KCN đã khẳng định vai trò rất quan trọng
tác động và ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các khu đô thị. Chính
hạt nhân từ các KCN đã hình thành các khu đô thị mới, cùng các công trình hạ tầng
xã hội đã đưa mạng lưới đô thị ngày cảng mở rộng và phát triển.
Thứ năm, các KCN góp phần phát triển kết cấu hạ tầng của đất nước. Để thu
hút đầu tư vào KCN tạo điều kiện cho nhà đầu tư triển khai nhanh dự án các KCN
cần hoàn thiện kết cầu hạ tầng đi kèm. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng
rào KCN phải đồng bộ, hiện đại vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu
tư vào KCN mà còn kích thích sự phát triển của kinh tế địa phương nơi có KCN
hoạt động.
Thứ sáu, sự phát triển của các KCN thúc đẩy phát triển các loại hình dịch vụ
phục vụ sản xuất công nghiệp. Việc phát triển các KCN có tăng động lan táa đến
các hoạt động dịch vụ và ngược lại, các hoạt động dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu
của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất. Các dịch vụ như: Lĩnh vực
tính dụng – ngân hàng, lĩnh vực dịch vụ bưu chính viễn thông, điện lực, dịch vụ
logicstic…
1.1.1.2. Bản chất của QLNN đối với các KCN
QLNN đối với KCN là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan
hành chính Nhà nước, được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật
điều chỉnh các hoạt động đầu tư và sản xuất - kinh doanh có liên quan tới KCN
nhằm khuyến khích và bảo đảm cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tiến
hành các hoạt động đầu tư tại các KCN trên cơ sở tuân thủ pháp luật và các quy

định về KCN.


12

Bản chất của quản lý nhà nước đối với các KCN chính là việc thực hiện công
tác hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch; tổ chức triển khai thực hiện chính
sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN; thành lập KCN, thẩm tra, thẩm định dự
án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN; vận động, thu hút đầu tư;
thẩm định, cấp giấy chứng nhận đầu tư; quản lý hoạt động KCN, KCX và doanh
nghiệp. Việc quản lý này được thực hiện theo cơ chế “một cửa, tại chỗ" và đã phát
huy tác dụng tích cực trong việc phát triển KCN, KCX. Ngoài các Bộ, ngành Trung
ương và UBND cấp tỉnh, Chính phủ đã hình thành một hệ thống BQL KCN cấp tỉnh
để quản lý trực tiếp các KCN trong từng địa phương.
1.1.2. Vai trò quản lý nhà nước đối với các KCN
KCN có thể do Chính phủ hoặc tư nhân sở hữu, nhưng dù ở bất cứ hình thức
nào, KCN đều là đối tượng quản lý của Nhà nước. Bộ máy QLNN đối với các KCN
có vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của các KCN Nếu bộ máy
quản lý chuyên nghiệp, có trình độ, hiệu sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của các
KCN và ngược lại. Vai trò của QLNN đối với KCN bao gồm:
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN góp phần phát triển KCN
theo đúng mục đích, định hướng, đúng quy hoạch đề ra nhằm thực hiện mục tiêu
chiến lược đề ra tránh chệch hướng.
- Việc ban hành các chính sách, các quy định áp dụng đối với các KCN tạo ra
hành lang pháp lý cho việc phát triển các KCN đảm bảo lợi ích của các chủ thể
tham gia hoạt động trong các KCN. Kịp thời bổ sung, điều chỉnh những chính sách,
nội dung còn thiếu, không phù hợp, chưa phù hợp với thực tế góp phần đưa chính
sách pháp luật vào cuộc sống.
- Thông qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động tại các KCN sẽ giúp
nắm bắt thường xuyên hoạt động trong các KCN từ đó kịp thời phát hiện, ngăn chặn

và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, cùng với đó tìm ra những những mặt tích
cực để phát huy, khuyến khích nhân rộng từ đó tạo môi trường phát triển công bằng,
lành mạnh trong hoạt động tại các KCN.


13

1.2. MỤC TIÊU VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU CÔNG NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG
CẤP TỈNH
1.2.1. Mục tiêu và phân cấp QLNN đối với các KCN tại các địa phương
cấp tỉnh
1.2.1.1 Mục tiêu của QLNN đối với các KCN
Nhiều thập kỷ qua, KCN được coi như là cửa ngõ quan trọng để các nước
đang phát triển hội nhập nhanh hơn với thế giới bên ngoài, tạo điều kiện cho các
quốc gia vừa khai thác được các lợi thế quốc tế, vừa phát huy được tiềm năng trong
nước thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, rút ngắn được các khoảng cách
chênh lệch với các nước phát triển. Chính vì thế, QLNN không phải chỉ nhằm kiểm
soát KCN mà quan trọng hơn là nhằm phát triển KCN và các doanh nghiệp trong
KCN theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Theo góc độ đó, có
thể thấy, QLNN đối với các KCN nhằm các mục tiêu cụ thể sau:
- Kiểm soát các hoạt động đầu tư vào KCN: Để thu hút hoạt động đầu tư vào
các KCN, các tỉnh, thành phố đã ban hành rất nhiều các chính sách ưu đãi đầu tư
trên cơ sở quy định của Nhà nước và pháp luật, nhằm tăng mức độ hấp dẫn đối với
nhà đầu tư. Tuy nhiên cũng có nhiều nhà đầu tư đôi khi cũng lợi dụng sự thông
thoáng trong chính sách ưu đãi, cấp phép đầu tư để trục lợi. Một số nhà đầu tư sau
khi được cấp phép đã thực hiện đầu tư không đúng mục đích theo cam kết... Do đó,
QLNN ở cấp tình nhằm hướng tới mục tiêu tạo môi trường đầu tư thông thoáng đê
thu hút đầu tư và có các biện pháp nhằm quản lý, kiểm soát các hoạt động đầu tư
theo đúng quy định.

- Đẩy mạnh cơ cấu đầu tư: Với việc phát triển mạnh các KCN hướng tới mục
tiêu thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia vào KCN tuy nhiên các nhà đầu tư đa dạng
về mức độ đầu tư, loại hình đầu tư, lĩnh vực đầu tư… vì vậy quản lý nhà nước phải
định hướng và cân đối cơ cầu đầu tư tại địa phương. Vì thế, QLNN đối với KCN
phải được hoạch định và có tầm nhìn rộng về cơ cấu, lĩnh vực đầu tư.


14

- Bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững: KCN là nguồn phát sinh các
ô nhiễm môi trường với mật độ cao, là nơi tập trung khối lượng chất thải công
nghiệp lớn và phức tạp về thành phần chất gây ô nhiễm, dễ gây ra những sự cố môi
trường không những trong KCN mà ra cả vùng lân cận bên ngoài hàng rào. Do vậy
công tác quản lý môi trường phải đặt lên hàng đầu. Phát triển KCN là mục tiêu quan
trọng nhưng song song với đó cần quan tâm bảo vệ môi trường sống trong và vùng
lân cận bên ngoài hàng rào KCN nhằm hướng tới phát triển bền vững.
- Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động: Khi các KCN phát triển
thu hút được các nhà đầu tư để đầu tư, vấn đề lao động cũng là một vấn đề rất quan
trọng, các vấn đề xoay quanh tuyển dụng, đào tạo lao động cho phù hợp với yêu cầu
các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các quyền căn bản của người lao động cũng vẫn được
bảo vệ nhất là về lương, bảo hộ lao động và giải quyết tranh chấp.
1.2.1.2 Phân cấp QLNN đối với các KCN
Kể từ khi KCN đầu tiên ra đời, mô hình QLNN KCN đã trải qua nhiều lần
thay đổi, cụ thể:
Quy chế KCN ban hành kèm theo Nghị định 192/CP/1994 giúp Chính phủ
quản lý KCN đã hình thành bộ máy tổ chức bao gồm các bộ ngành Trung ương,
UBND cấp tỉnh và BQL các KCN cấp tỉnh. Trong đó BQL các KCN cấp tỉnh là cơ
quan trực tiếp quản lý các KCN, trực tiếp giải quyết các vấn đề phát sinh thuộc
thẩm quyền, là đầu mối phối hợp với các cơ quan QLNN khác giải quyết các vấn đề
vượt thẩm quyền. Các Bộ ngành trung ương tủy theo chức năng mà ủy quyền cho

BQL KCN cấp tỉnh giải quyết một số vấn đề liên quan đến hoạt động của các KCN.
Năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập BQL KCN Việt Nam để giúp
Thủ tướng xem xét giải quyết các vấn đề liên quan đến KCN thuộc thẩm quyền
quyết định của Thủ tướng. Tuy nhiên, BQL KCN Việt Nam đã không có đủ thẩm
quyền, thực quyền để giải quyết các vấn đề có liên quan đến KCN.
Đến năm 2000, thực hiện cải cách hành chính, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành quyết định số 99/QĐ-TTg và Quyết định số 100/QĐ-TTg về việc chuyển BQL
KCN cấp tỉnh trực thuộc UBND cấp tỉnh. BQL KCN cấp tỉnh có cơ quan chủ quản


15

là UBND cấp tỉnh. Đồng thời chịu sự chỉ đạo của các Bộ, ngành Trung ương về
quản lý ngành trên địa bàn lãnh thổ, được giao nhiều quyền hơn nên có thực quyền
và trách nhiệm rõ ràng hơn.
Sau đó đến ngày 14/3/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số
29/2008/NĐ-CP là cơ sở pháp lý quan trọng hoàn thiện và kiện toàn BQL KCN với
chức năng nhiệm vụ rõ ràng đầy đủ thẩm quyền để thực hiện công tác QLNN đối
với các KCN theo cơ chế “một cửa, tại chỗ”.
Hiên nay, QLNN về KCN được thực hiện theo cơ chế phân cấp, ủy quyền. Cụ
thể như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về KCN, KCX, KKT trong phạm vi
cả nước trên cơ sở phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng Bộ, ngành,
UBND cấp tỉnh và Ban Quản lý; chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế
hoạch phát triển và ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về KCN,
KCX, KKT.
- Thủ tướng Chính phủ có quyền hạn và trách nhiệm: chỉ đạo các Bộ, ngành,
địa phương thực hiện luật pháp, chính sách về KCN, KCX, KKT; phê duyệt và điều
chỉnh Quy hoạch tổng thể về KCN, KCX, KKT; quyết định thành lập, mở rộng
KKT; phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng KKT; cho phép mở rộng và điều chỉnh

giảm quy mô diện tích, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã được phê duyệt trong
KCN, các khu chức năng trong KKT; chỉ đạo xử lý và giải quyết những vấn đề
vướng mắc vượt thẩm quyền.
- Các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực và
hành chính lãnh thổ đối với KCN, KCX, KKT; hướng dẫn hoặc ủy quyền cho Ban
Quản lý thực hiện một số nhiệm vụ QLNN thuộc thẩm quyền theo quy định của
pháp luật.
- Ban Quản lý KCN, KKT thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối
với KCN, KKT; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành
chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất


16

kinh doanh cho nhà đầu tư trong KCN, KKT. Ban Quản lý KCN, KKT có thẩm
quyền trực tiếp trong quản lý về đầu tư và quản lý KCN, KKT trên một số lĩnh vực
theo hướng dẫn, ủy quyền của các Bộ và cơ quan có thẩm quyền: thương mại, xây
dựng, lao động, môi trường. Ngoài ra, Ban Quản lý KKT được giao thêm một số
thẩm quyền như quyết định đầu tư các dự án nhóm B, C sử dụng vốn ngân sách
theo ủy quyền của UBND cấp tỉnh; giao đất theo quy định của pháp luật về đất
đai...
1.2.2. Những nội dung cơ bản của QLNN đối với các KCN tại địa phương
cấp tỉnh
1.2.2.1 Nội dung cơ bản của QLNN đối với các KCN tại địa phương cấp tỉnh
a, Hoạch định chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN
Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chiến lược phát
triển vùng, chiến lược phát triển công nghiệp, địa phương xây dựng chiến lược phát
triển các KCN phù hợp với khả năng của địa phương. Bởi vậy, khi xây dựng chiến
lược, quy hoạch phát triển KCN, phải nghiên cứu tổng thể các điều kiện tự nhiên và

xã hội của địa phương trong chiến lược phát triển kinh tế chung, phải tạo được bước
đi phù hợp với khả năng của địa phương về tài chính, thu hút đầu tư, phát triển hạ
tầng…; phải tính đến sự phân bổ lực lượng sản xuất trên lãnh thổ nhằm bảo đảm sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực và bảo vệ môi trường, môi sinh; bảo đảm tính khả
thi của KCN; cân nhắc, quyết định số lượng KCN cần xây dựng trong từng giai
đoạn cụ thể. Trong quy hoạch phải công bố danh mục các KCN dự kiến thành lập
trong từng thời kỳ, quy mô, vị trí và dự kiến thời gian thành lập; cần làm rõ hình
thức để hình thành KCN (thành lập mới thu hút doanh nghiệp trong và ngoài nước;
thành lập trên cơ sở một số doanh nghiệp được thành lập từ trước nhằm tạo quy
hoạch thu hút thêm doanh nghiệp mới vào địa bàn...); cần nêu rõ các vấn đề về: quy
hoạch phân khu chức năng, quy hoạch ngành, nghề đầu tư vào khu, xử lý chất thải,
hạ tầng kỹ thuật - xã hội ở khu vực phát triển KCN. Sự phối hợp chặt chẽ của các
địa phương trong xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát
triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội bên ngoài KCN.


17

b, Tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cơ quan QLNN
về KCN
KCN là một thực thể kinh tế phức tạp bao gồm trong nó không chỉ hoạt động
sản xuất công nghiệp đơn thuần, mà còn chứa đựng nhiều hoạt động khác như
thương mại, nhất là xuất, nhập khẩu, dịch vụ cho hoạt động công nghiệp như ngân
hàng, đào tạo, tư vấn... Do đó, cần phải tổ chức bộ máy quản lý KCN thực hiện chức
năng QLNN đối với các KCN năng động, chuyên nghiệp, hiệu quả đáp ứng nhu cầu
phát triển KCN. Song song với việc xây dựng đội ngũ công chức toàn tâm, toàn ý, có
trình độ năng lực thực thi công việc quản lý nhà nước trong các KCN cần kết hợp
với chính sách đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và đảm bảo quyền lợi cho cán bộ, công
chức tham gia hoạt động QLNN đối với các KCN.
c, Tổ chức thực hiện các chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN

Nếu công tác hoạch định chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN
mang tính định hướng thì công tác tổ chức thực hiện các chính sách, quy hoạch, kế
hoạch phát triển KCN mang tính cụ thể hóa. Đây là nội dung quan trọng trong công
tác QLNN các KCN tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của KCN.
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách, quy hoạch, kế hoạch
phát triển KCN cần bám sát các nội dung đề ra, thường xuyên giám sát đánh giá kết
quả, tính hiệu quả của chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN để từ đó
điều chỉnh, bổ sung kịp thời về chính sách cũng như quy hoạch sao cho phù hợp với
thực tiễn nâng cao hiệu quả của chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN.
Muốn làm tốt nội dung trên phải thường xuyên quan tâm đến công tác tuyên truyền
phổ biến chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN thông qua các phương
tiện thông tin đại chúng để từ đó giúp cán bộ và nhân dân nắm rõ chính sách và quy
hoạch phát triển KCN tạo sự đồng thuận cao trong quá trình thực hiện phát triển
KCN.


18

d, Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các hoạt động của
KCN
Các nhà đầu tư vào KCN cần có sự tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh tuy nhiên cũng đòi hỏi cần có sự kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện
theo đúng quy định của giấy phép và của pháp luật. Doanh nghiệp tự chủ trong kinh
doanh nên QLNN đối với doanh nghiệp trong KCN là quá trình giám sát, kiểm tra
sản xuất kinh doanh theo đúng quy định của giấy phép và của pháp luật nhằm định
hướng hoạt động của các KCN theo quy định của pháp luật và giải quyết các vấn đề
phát sinh trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN, kiểm soát và
xử lý các vi phạm của doanh nghiệp trong việc thực hiện các quy định của pháp luật
của nhà nước và quy chế hoạt động KCN, nhưng công tác kiểm tra, thanh tra, giám
sát không được can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh

nghiệp. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực
thực hiện giấy phép đầu tư, các quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao
động tập thể, an toàn lao động, tiền lương; kiểm tra việc bảo vệ môi trường trong
KCN; kiểm tra việc tổ chức phòng và chống cháy nổ; kiểm tra các lĩnh vực khác
được cơ quan có thẩm quyền ủy quyền…
1.2.2.2. Để thực hiện được các nội dung đó cơ quan QLNN các KCN cấp tỉnh
sử dụng một số các công cụ sau:
- Thứ nhất, công cụ Pháp luật: Thứ nhất, công cụ Pháp luật: Pháp luật là công
cụ tạo sự bình đẳng, công bằng giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động của KCN.
Để thực hiện QLNN đối với các KCN ở cấp tỉnh cần phải ban hành các quy định
chính sách tạo hành lang pháp lý trong thực hiện quản lý các KCN. Các quy định
chính sách của cấp tỉnh phải cụ thể hóa các quy định pháp luật của Nhà nước, Trung
ương áp dụng đối với các KCN trong quá trình quản lý đối với các KCN ở địa
phương cấp tỉnh.
Một số những quy định pháp luật chung như: luật Đầu tư, luật Thương mại,
luật Doanh nghiệp, luật Lao động, luật Bảo vệ môi trường….và các quy định pháp
lý riêng cho KCN như Nghị định số 29/2008/NĐ – CP của Chính phủ ban hành ngày


19

14/3/2008 về quy chế KCN, KCX, KCN mà từng địa phương sẽ xây dựng quy chế
quản lý KCN, xây dựng các chính sách phát triển KCN cho riêng địa phương đó.
- Thứ hai, công cụ kế hoạch hóa: Cơ quan QLNN cấp tỉnh sử dụng công cụ kế
hoạch hóa để định hướng và điều hành các KCN. Các quy định chiến lược xây
dựng, phát triển các KCN của địa phương phải nằm trong quy hoạch tổng thể của cả
nước và hướng đến thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương và cả nước. Qua đó đảm bảo rằng, các KCN vừa sử dụng hiệu quả nguồn
lực, vừa là công cụ thực thi đường lối phát triển kinh tế ở địa phương và cả nước.
Để làm được như vậy, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của cấp tỉnh phải có

chất lượng, ổn định trong thời gian dài, việc điều chỉnh không làm thay đổi mục tiêu
và định hướng chiến lược.
- Thứ ba, công cụ bộ máy hành chính quản lý: Bộ máy hành chính quản lý là
chủ thể thực hiện công tác QLNN đối với các KCN mà ở đây là UBND cấp tỉnh,
các Sở ban ngành trực thuộc UBND cấp tỉnh có liên quan, BQL các KCN của tỉnh.
Bộ máy hành chính quản lý có nhiệm vụ quản lý điều hành và phát triển các KCN.
Thứ tư, công cụ kinh tế: Công cụ kinh tế như công cụ thuế, lệ phí, lãi suất
ngân hàng, các khoản hỗ trợ… Công cụ kinh tế giúp cơ quan QLNN thông qua nó
để tác động đến các đối tượng quản lý mà ở đây chính là các thực thể trong KCN.
Đây cũng là công cụ quan trọng cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các nhà
đầu tư vào KCN và kết hợp hài hòa giữa các lợi ích.
- Thứ năm, công cụ chính sách: UBND cấp tỉnh có thể ban hành hoặc thực thi
các chính sách của Nhà nước để quản lý hoạt động các KCN. Các chính sách góp
phần thúc đầy phát triển các KCN.
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH
1.3.1 Nhóm yếu tố thuộc về các quy định pháp luật, thể chế và chính sách
của Nhà nước
Quy định pháp luật, thể chế, chính sách của Nhà nước ảnh hưởng đến quản lý
nhà nước đối với KCN trên các mặt:


20

- Chính sách phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, vùng, ngành, địa phương,
vùng, lãnh thổ, loại hình doanh nghiệp… đều tác động đến mục tiêu, nội dung và
phương thức quản lý của Nhà nước đối với KCN. Chế độ, chính sách chung của
Nhà nước rõ ràng, minh bạch có độ nhất quán và ổn định cao thì tạo cơ sở pháp lý
cho quản lý hiệu quả của Nhà nước đối với KCN. Ngược lại, chế độ, chính sách
chung của Nhà nước thiếu minh bạch, không rõ ràng, thiếu tính nhất quán có thể

cản trở các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với các KCN
- Thể chế hoá của Nhà nước về các mặt tài chính, tiền tệ, giá cả, đầu tư,
thương mại, ngân sách, tiết kiệm,... phù hợp hay không phù hợp với kinh tế thị
trường cũng ảnh hưởng lớn đến quản lý nhà nước đối với KCN. Bởi vì, nếu thể chế,
chính sách của Nhà nước phù hợp với kinh tế thị trường thì sẽ hỗ trợ quản lý nhà
nước, làm cho quản lý nhà nước đối với KCN đơn giản hơn, chi phí thấp hơn, hiệu
quả cao hơn, khuyến khích các KCN phát triển hiệu quả. Nếu việc thể hoá không
phù hợp với kinh tế thị trường thì sẽ làm cho quản lý nhà nước đối với KCN vừa
nặng nề, áp đặt mệnh lệnh hành chính quan liêu, do đó chi phí quản lý cao, hiệu quả
quản lý thấp, các cơ quan quản lý KCN quá tải, bản thân KCN bị kìm hãm, không
phát triển được.
1.3.2. Nhóm yếu tố thuộc về các công cụ quản lý và năng lực, trình độ của
chính quyền quản lý địa phương
Các KCN thường gắn liền với việc sử dụng đất, cơ sở hạ tầng, trong đó có
nhiều nội dung liên quan đến quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương.
Chính vì thế, năng lực, trình độ và nhãn quan của cấp chính quyền địa phương ảnh
hưởng rất lớn đến quản lý nhà nước đối với KCN.
Thứ nhất, ảnh hưởng của trình độ ban hành chính sách đối với KCN của cấp
tỉnh. Khía cạnh ảnh hưởng ở đây là năng lực chủ trì xây dựng và điều chỉnh quy
hoạch phát triển các KCN trên địa bàn phù hợp với quy hoạch tổng thể của cả nước.
Mặc dù quy hoạch KCN ở địa phương phải phù hợp với quy hoạch chung của vùng
và cả nước, nhưng nội dung và chất lượng quy hoạch KCN của từng địa phương
phụ thuộc rất lớn vào sự quan tâm, tầm nhìn và quyết tâm chỉ đạo của chính quyền


×