Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

Định tội danh đối với tội giết người theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố đà nẵng)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 114 trang )

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGễ VN DINH

ĐịNH TộI DANH ĐốI VớI TộI GIếT NGƯờI
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Đà Nẵng)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGễ VN DINH

ĐịNH TộI DANH ĐốI VớI TộI GIếT NGƯờI
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Đà Nẵng)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN KHC HI

H NI - 2016



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin
cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

NGÔ VĂN DINH


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI
TỘI GIẾT NGƯỜI ......................................................................................8
1.1.

KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI
DANH ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƢỜI..............................................................8

1.1.1.

Khái niệm định tội danh đối với tội giết ngƣời .............................................8

1.1.2.


Phân loại các trƣờng hợp định tội danh đối với tội giết ngƣời ..................12

1.1.3.

Ý nghĩa của việc định tội danh đối với tội giết ngƣời .................................17

1.2.

CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỊNH TỘI DANH
ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƢỜI .......................................................................21

1.2.1.

Cơ sở pháp lý của định tội danh đối với tội giết ngƣời ...............................21

1.2.2.

Cơ sở khoa học của định tội danh đối với tội giết ngƣời ..........................26

1.3.

CÁC GIAI ĐOẠN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƢỜI ......29

1.3.1.

Thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ chứng minh sự thật
của vụ án giết ngƣời .....................................................................................30

1.3.2.


So sánh, đối chiếu các tình tiết của vụ án đã đƣợc làm rõ với quy định
của Điều 93 Bộ luật hình sự để xác định sự tƣơng đồng ..............................32

1.3.3.

Đƣa ra kết luận về tội danh ngƣời đã thực hiện hành vi quy định tại
Điều 93 Bộ luật hình sự...............................................................................33

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI GIẾT
NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................35
2.1.

KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƢỜI.............35

2.1.1.

Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, dân cƣ thành phố Đà Nẵng ........35


2.1.2.

Tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự về tội giết ngƣời của Tòa án
nhân dân thành phố Đà Nẵng ......................................................................41

2.2.

THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƢỜI TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .........................................................44


2.2.1.
2.2.2.

Định tội danh đối với tội giết ngƣời trong trƣờng hợp tội phạm hoàn thành ....44
Định tội danh đối với tội giết ngƣời trong các trƣờng hợp đặc biệt ............59

2.2.3.

Một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản ....................................68

Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT

3.1.

LƯỢNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .......................................................80
CÁC YÊU CẦU BẢO ĐẢM CHẤT LƢỢNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI

3.1.1.
3.1.2.
3.1.3.
3.2.

VỚI TỘI GIẾT NGƢỜI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........80
Yêu cầu về chính trị, xã hội.........................................................................80
Yêu cầu về lý luận và thực tiễn ...................................................................81
Yêu cầu về lập pháp hình sự .......................................................................82
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM


3.2.1.
3.2.2.
3.3.

3.3.1.
3.3.2.
3.3.3.
3.3.4.

NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH
ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƢỜI ......................................................................83
Hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam .........................................................83
Giải pháp hƣớng dẫn thi hành pháp luật, tổng kết xét xử ..........................88
NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TRONG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI
GIẾT NGƢỜI ...............................................................................................91
Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và làm tốt công tác tổ chức,
cán bộ tƣ pháp, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán...........................................91
Giải pháp giám đốc xét xử, xây dựng án lệ ................................................94
Giải pháp nâng cao năng lực ngƣời tiến hành tố tụng và luật sƣ tại
phiên tòa ......................................................................................................97
Tăng cƣờng công tác phối hợp, xử lý nghiêm minh khi xét xử và
trong việc áp dụng đúng các tình tiết liên quan đến việc định tội danh
và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ...........................98

KẾT LUẬN ............................................................................................................101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................104


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ


Số hiệu,
bảng, biểu đồ

Tên bảng, biểu đồ

Trang

Bảng 2.1: Tình hình xét xử chung và tình hình xét xử tội giết
ngƣời của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng trong
giai đoạn 05 năm (2011 – 2015)

42

Bảng 2.2: Tỷ lệ tình hình xét xử chung và tình hình xét xử tội giết
ngƣời của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng trong
giai đoạn 05 năm (2011 - 2015)
Biểu đồ 2.1: Tình hình xét xử chung và tình hình xét xử tội giết
ngƣời của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng trong
giai đoạn 05 năm (2011 – 2015)

43

42


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tính mạng con ngƣời là giá trị cao nhất của con ngƣời. Quyền đƣợc sống,
đƣợc tôn trọng và bảo vệ là quyền cơ bản hàng đầu của con ngƣời, của công dân.

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã thể hiện tinh thần bảo vệ các quyền con ngƣời
thông qua nhiều quy định mà trƣớc tiên phải nhắc đến đó là Điều 19 khẳng định
quyền sống của mọi ngƣời, về sự bảo hộ của pháp luật đối với tính mạng của con
ngƣời và không ai bị tƣớc đoạt tính mạng trái pháp luật. Thêm vào đó Hiến pháp
khẳng định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật” [38, Điều 31]. Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định: "Không ai bị coi
là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật". Điều đó có nghĩa chừng nào chƣa có bản án kết tội của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật thì ngƣời bị buộc tội vẫn đƣợc coi là ngƣời chƣa có tội. Nhƣ vậy,
hoạt động xét xử của Tòa án (định tội danh) là hoạt động mang tính chất quyết định,
xác định một ngƣời có tội hay không có tội. Đây là nội dung cơ bản của việc áp
dụng pháp luật hình sự trong quá trình xét xử và là một trong những biện pháp đƣa
các quy phạm pháp luật vào cuộc sống. Trên cơ sở xác định ngƣời phạm tội đã thực
hiện hành vi phạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình sự, cơ quan
có thẩm quyền (Tòa án) sẽ quyết định một hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm
tội đó. Vì thế, định tội đƣợc xem là tiền đề, điều kiện cho việc quyết định hình phạt
đúng đắn, góp phần mang lại hiệu quả trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm. Trong trƣờng hợp định tội không chính xác, mặc dù mức hình phạt có thể đã
tƣơng xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nhƣng
việc kết án sai tội danh sẽ liên quan đến nhiều hậu quả pháp lý khác mà bị cáo phải
gánh chịu nhƣ: xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm, tính thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự, thời hạn xác định án tích…
Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng

1


còn gặp nhiều khó khăn, vƣớng mắc trong việc định tội danh, trong đó có cả tội giết
ngƣời. Thời gian gần đây tội giết ngƣời có xu hƣớng gia tăng, diễn biến phức tạp ở

nhiều địa bàn, bao gồm cả thành phố Đà Nẵng, gây thiệt hại về tính mạng và sức
khỏe của con ngƣời, ảnh hƣởng đến an ninh và trật tự chung của xã hội với nhiều
thủ đoạn tinh vi từ chủ thể thực hiện tội phạm. Bộ luật hình sự do Nhà nƣớc ban
hành quy định các hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, tuy vậy những
quy định này chỉ nêu lên các dấu hiệu đặc trƣng cơ bản nhất của một cấu thành tội
phạm, trong khi trên thực tế tội phạm xảy ra vô cùng phức tạp và đa dạng. Có khá
nhiều trƣờng hợp khi tập hợp các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm có những
dấu hiệu giống nhau nên thƣờng dễ bị lúng túng gây nhiều tranh cãi và dẫn đến định
tội danh thiếu chính xác, chẳng hạn việc xác định lỗi cũng nhƣ một số tình tiết định
tội của các hành vi xâm phạm tính mạng con ngƣời nhƣ tội giết ngƣời và giết ngƣời
do vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng...
Quá trình giải quyết vụ án một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật,
đồng thời bảo vệ một cách vững chắc các quyền và tự do của công dân bằng pháp
luật hình sự là một trong những nguyên tắc trong giai đoạn xây dựng Nhà nƣớc
pháp quyền Việt Nam hiện nay. Ý thức đƣợc tầm quan trọng đó, Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng không ngừng đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lƣợng giải quyết,
xét xử các loại vụ án, phấn đấu không để xảy ra việc kết án oan ngƣời không có tội
và bỏ lọt tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất các bản án, quyết định bị hủy, sửa do
lỗi chủ quan của Thẩm phán, đảm bảo các quyết định của Tòa án đúng pháp luật, đầy
đủ, rõ ràng, dễ hiểu, có sức thuyết phục cao và có tính khả thi. Tuy nhiên, vẫn còn
một số ít trƣờng hợp áp dụng không đúng, chƣa xem xét đầy đủ tính chất, mức độ
phạm tội nên dẫn đến việc định tội danh thiếu chính xác, việc hủy án, sửa án vẫn
còn tồn tại ở tội giết ngƣời.
Với lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: "Định tội danh đối với tội giết
người theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành
phố Đà Nẵng)".

2



2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Định tội danh đúng có ý nghĩa rất to lớn về mặt chính trị- xã hội, đạo đức và
pháp luật. Vì vậy mà hoạt động định tội đã đƣợc đề cập trong rất nhiều công trình
nghiên cứu khoa học của các chuyên gia luật hình sự của nƣớc ta, trong đó phải kể
đến một số công trình nghiên cứu của PGS.TSKH. Lê Cảm, "Một số vấn đề lý luận
chung về định tội danh", chƣơng I, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội
phạm) của khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (Tập thể tác giả do
PGS.TSKH. Lê Cảm chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003; "Định tội
danh- lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành", Lê Cảm và Trịnh Quốc
Toản chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004; Trịnh Quốc Toản: "Một số vấn
đề lý luận về định tội danh và hướng dẫn phương pháp định tội danh", Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội; Định tội danh- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của PGS.TS.
Lê Cảm, Tạp chí Tòa án nhân dân các số 3, 4, 5, 8, 11 năm 1999; Đỗ Đức Hồng Hà,
Mặt khách quan của Tội giết người - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí
Nhà nƣớc và pháp luật, số 06/2004; Đỗ Đức Hồng Hà, Một số quan điểm khác nhau
về định nghĩa về đối tượng tác động của tội giết người, Tạp chí Tòa án, số 13/2004;
Đỗ Đức Hồng Hà, Chủ thể của Tội giết người - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
Tạp chí Tòa án, số 23/2004; Đỗ Đức Hồng Hà, Lịch sử phân hóa trách nhiệm hình
sự về Tội giết người từ năm 1945 đến nay, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, số
03/2006; Trần Văn Luyện (2001), Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm của con người, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Phùng Thế Vắc - Trần
Văn Luyện, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2001; Trần Văn Luyện (2000), Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự của con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Những bài nghiên cứu trên đã khái quát đƣợc một số vấn đề lý luận liên quan
đến hoạt động định tội danh và thực tiễn định tội; phân tích, đánh giá, nhận định
một số nhận định liên quan đến yếu tố định tội danh, đồng thời phân biệt với một số
tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999…
Tuy vậy, hiện nay vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề định tội
danh đối với tội giết ngƣời trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.


3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là phân tích khoa học để làm
sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh nói chung và định tội
danh đối với tội giết ngƣời nói riêng, cũng nhƣ đánh giá thực tiễn áp dụng trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó đƣa ra đề xuất yêu cầu và những giải pháp
nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của việc định tội danh đối với tội giết ngƣời trên
địa bàn Đà Nẵng nói riêng, cả nƣớc nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên
cứu cụ thể nhƣ sau:
1) Xây dựng khái niệm định tội danh và định tội danh đối với tội giết ngƣời;
2) Phân loại và nêu ý nghĩa của việc định tội danh đối với tội giết ngƣời;
3) Phân tích cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học của việc định tội danh đối với
tội giết ngƣời; cũng nhƣ các giai đoạn định tội danh đối với tội giết ngƣời;
4) Đánh giá, phân tích thực trạng định tội danh đối với tội giết ngƣời trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên
nhân cơ bản;
5) Luận chứng và đề xuất yêu cầu và những giải pháp nâng cao chất lƣợng,
hiệu quả của việc định tội danh đối với tội giết ngƣời trên địa bàn Đà Nẵng nói
riêng, cả nƣớc nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về đối tƣợng nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu về thực tiễn định tội
danh đối với tội giết ngƣời tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng trên cơ sở Bộ
luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009 và những văn bản pháp luật
có liên quan.

Về phạm vi nghiên cứu, luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn
về định tội danh đối với tội giết ngƣời theo luâ ̣t hin
̀ h sƣ̣ Viê ̣t Nam (nhƣ: khái niệm,
phân loại, cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học, các giai đoạn của việc định tội danh đối

4


với tội phạm này), đánh giá thực tiễn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn
05 năm (2011 - 2015), trên cơ sở đó, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên
nhân cơ bản, từ đó luận chứng và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu
quả của việc định tội danh đối với tội phạm này trên địa bàn Đà Nẵng nói riêng, cả
nƣớc nói chung.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hƣớng của Đảng về chính sách hình sự;
quan điểm, đƣờng lối xử lý các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm nói chung và tội giết ngƣời nói riêng.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một số phƣơng
pháp cụ thể nhƣ: phƣơng pháp thống kê, phân tích và tổng hợp số liệu dựa trên
những bản án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của các cấp Tòa án.
Phƣơng pháp so sánh pháp luật để đối chiếu với các quy định của pháp luật với
nhau nhằm tìm ra những điểm mới trong quá trình nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trong công cuộc cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta hiện nay, việc nghiên cứu để
làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh nói chung và định tội
danh đối với tội giết ngƣời nói riêng luôn là một trong những hƣớng cơ bản, đồng
thời cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của khoa học luật hình sự. Điều
này có ý nghĩa rất quan trọng, đƣợc thể hiện trên ba bình diện chủ yếu dƣới đây:

Về mặt lập pháp, việc hoàn thiện các quy định hiện hành nhƣ Bộ luật hình sự
năm 1999, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về
chống và phòng ngừa tội giết ngƣời đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cũng phải thực sự
chú trọng để làm cơ sở định tội danh, đủ sức răn đe đẩy lùi loại tội phạm nguy hiểm
này. Giải quyết những vƣớng mắc trong áp dụng quy định của pháp luật hình sự vào
việc định tội danh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc hoàn thiện các
văn bản quy phạm pháp luật.… dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ
trong áp dụng và giải thích pháp luật.

5


Về mặt thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn định tội danh đối với tội giết ngƣời
trên địa bàn cả nƣớc nói chung và ở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng nói riêng
đã cho thấy sự yếu kém của một bộ phận cán bộ, công chức trong việc nhận thức
cũng nhƣ áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật hình sự, dẫn đến hiệu quả
của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm chƣa cao, đôi khi còn bỏ lọt tội phạm,
gây thiệt hại cho các quyền của con ngƣời và của công dân, làm giảm hiệu quả của
cuộc đấu tranh chống tội phạm.
Về mặt lý luận, vấn đề định tội danh đối với tội giết ngƣời tuy đã đƣợc đề cập
trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau nhƣng hiện chƣa có một nghiên cứu nào
đề cập đến việc định tội danh đối với tội giết ngƣời trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Áp dụng vào thực tiễn, đề tài có thể đáp ứng một phần vào công tác cải cách
tƣ pháp, nâng cao chất lƣợng xét xử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, cụ thể là:
Thứ nhất, thông qua việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những khía cạnh
pháp lý về định tội danh nói chung và định tội danh đối với tội giết ngƣời tại thành
phố Đà Nẵng nói riêng góp phần xây dựng, hoàn thiện lý thuyết định tội danh trong
khoa học pháp lý hình sự.
Thứ hai, Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng
đặc biệt là Tòa án trong việc định tội danh giải quyết các vụ án giết ngƣời đƣợc

đúng đắn.
Thứ ba, Luận văn là cơ sở để đƣa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình
sự liên quan đến định tội danh nói chung và định tội danh đối với tội giết ngƣời nói
riêng tại Tòa án thành phố Đà Nẵng.
7. Những điểm mới của luận văn
Đề tài phân tích dựa trên những bản án, quyết định, báo cáo công tác ngành
Tòa án tại thành phố Đà Nẵng - đó là những số liệu thực tế góp phần làm rõ hơn về
thực trạng về định tội danh trên địa bàn này. Do đó, những điểm mới cơ bản của
luận văn nhƣ sau:
1) Xây dựng khái niệm định tội danh và định tội danh đối với tội giết ngƣời;
2) Phân loại và nêu ý nghĩa của việc định tội danh đối với tội giết ngƣời;

6


3) Phân tích cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học của việc định tội danh đối với
tội giết ngƣời; cũng nhƣ các giai đoạn định tội danh đối với tội giết ngƣời;
4) Đánh giá, phân tích thực trạng định tội danh đối với tội giết ngƣời trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên
nhân cơ bản;
5) Luận chứng và đề xuất yêu cầu và những giải pháp nâng cao chất lƣợng,
hiệu quả của việc định tội danh đối với tội giết ngƣời trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng nói riêng, cả nƣớc nói chung.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề chung về định tội danh đối với tội giết ngƣời.
Chương 2: Thực trạng định tội danh đối với tội giết ngƣời trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
Chương 3: Những yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lƣợng định tội danh

đối với tội giết ngƣời.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI
TỘI GIẾT NGƯỜI
1.1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH
ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƢỜI
1.1.1. Khái niệm định tội danh đối với tội giết người
Quyền sống đã đƣợc khẳng định về mặt chính trị - pháp lý là quyền thiêng
liêng, bất khả xâm phạm và là một trong những quyền cơ bản của con ngƣời. Quyền
sống đƣợc ghi nhận và bảo vệ, bảo đảm trong Điều 19 Hiến pháp năm 2013 của
Việt Nam. Ngoài ra, để bảo vệ quyền quan trọng này, pháp luật hình sự của hầu hết
các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều quy định nhóm các tội xâm phạm tính
mạng. Cho nên, định tội danh tối với các tội xâm phạm tính mạng nói chung, đối
với tội giết ngƣời nói riêng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, làm tiền đề cho việc
giải quyết các nhiệm vụ khác của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự.
Nghiên cứu về định tội danh đối với tội giết ngƣời, trƣớc hết cần làm rõ một
số nội dung về mặt lý luận mà trƣớc hết là khái niệm định tội danh. Có nhiều quan
điểm khoa học nghiên cứu về vấn đề này mà điển hình là các quan điểm sẽ đƣợc
nêu dƣới đây.
GS. TSKH. Lê Văn Cảm quan niệm định tội danh là quá trình áp dụng pháp
luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự:
Dƣới góc độ khoa học, định tội danh có thể đƣợc hiểu là quá trình
nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng
pháp luật hình sự cũng nhƣ pháp luật tố tụng hình sự và đƣợc tiến hành
trên cơ sở các chứng cứ tài liệu thu thập đƣợc tiến hành trên cơ sở các
chứng cứ các tài liệu thu thập đƣợc và các tình tiết thực tế của vụ án hình

sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho
xã hội đƣợc thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tƣơng
ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt đƣợc sự thật khách quan, tức là

8


đƣa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền
đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công
minh, có căn cứ và đúng pháp luật [7, tr. 496]; [8, tr. 21].
Còn GS. TS. Võ Khánh Vinh thì định tội danh chỉ là hoạt động áp dụng pháp
luật hình sự:
Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp
dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác
định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội đƣợc thực
hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu
thành tội phạm tƣơng ứng và mối liên hệ tƣơng đồng giữa các dấu hiệu
của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng
các phƣơng pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [72, tr. 27].
PGS.TS. Lê Văn Đệ quan niệm tƣơng tự:
Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù
hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã đƣợc
thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đƣợc pháp luật hình
sự quy định [16, tr. 24].
Trong khi đó, PGS. TS. Dƣơng Tuyết Miên định nghĩa bao gồm cả các chủ
thể định tội danh và nêu:
Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố
tụng (Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một ngƣời có
phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của

Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho
hành vi nguy hiểm đã thực hiện [31, tr. 9]; v.v...
Nhƣ vậy, mặc dù đƣợc diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, nhƣng về cơ bản
các nhà khoa học đều thống nhất ở một số khía cạnh dƣới đây:
Một là, định tội danh là hoạt động nhận thức có tính logic của con ngƣời về
việc có sự phù hợp hay không phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi

9


xảy ra ngoài thực tiễn khách quan với quy định của pháp luật hình sự về một tội
phạm cụ thể;
Hai là, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, nếu đƣợc thực
hiện bởi các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và ngƣời có thẩm quyền trong các cơ
quan đó trên cơ sở quy định của pháp luật. Cũng có tác giả cho rằng bao gồm cả hoạt
động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nếu hiểu định tội danh theo nghĩa rộng;
Ba là, định tội danh là cơ sở cho việc quyết định hình phạt và giải quyết các
vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của ngƣời phạm tội (trong trƣờng
hợp định tội danh chính thức).
Do đó, dƣới góc độ khoa học luật hình sự, theo ngƣời viết khái niệm đang
nghiên cứu đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
Định tội danh là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố
tụng hình sự của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền để
xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu
hiệu của hành vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu
của cấu thành tội phạm của điều luật tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật
hình sự quy định, qua đó làm tiền đề cho việc giải quyết các vấn đề trách nhiệm
hình sự và hình phạt của người phạm tội.
Ngoài ra, tội giết ngƣời là một loại tội phạm cụ thể đƣợc quy định tại Điều 93
Bộ luật hình sự Việt Nam. Một ngƣời đƣợc coi là chủ thể của tội phạm này khi đáp

ứng các điều kiện là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự, đồng thời là ngƣời đã thực hiện hành vi mà Điều 93 Bộ luật này quy
định với lỗi cố ý, xâm phạm bất hợp pháp đến đến quyền đƣợc bảo hộ về tính mạng.
Do đó, từ cơ sở lý luận về định tội danh nêu trên, kết hợp với quy định của
Bộ luật hình sự Việt Nam về tội giết ngƣời, có thể đƣa ra khái niệm đang nghiên
cứu nhƣ sau:
Định tội danh đối với tội giết người là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật
hình sự, pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và
người có thẩm quyền, được tiến hành trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập

10


được để xác định có hay không có sự phù hợp giữa hành vi xâm phạm tính mạng đã
xảy ra với các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội giết người quy định tại Điều 93
Bộ luật hình sự, làm tiền đề cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hình phạt
và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác.
Từ khái niệm định tội danh đối với tội giết ngƣời phản ánh các đặc điểm cơ
bản sau đây:
* Định tội danh đối với tội giết người là định tội danh đối với một loại tội
phạm cụ thể - tội giết người
Nhƣ vậy, ngoài đặc điểm chung của định tội danh với tƣ cách là hoạt động
nhận thức có tính logic của con ngƣời, thì định tội danh đối với tội giết ngƣời có đặc
điểm riêng liên quan đến đặc điểm của hành vi giết ngƣời xảy ra trong thực tế khách
quan và quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội phạm này.
Chủ thể định tội danh phải đối chiếu, so sánh và đƣa ra kết luận về việc có hay
không có sự phù hợp giữa hành vi xâm phạm tính mạng xảy ra trong thực tế với quy
phạm pháp luật quy định tội giết ngƣời trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành.
* Định tội danh đối với tội giết người là hoạt động áp dụng pháp luật, nếu chủ
thể định tội danh là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền

Do đó, quá trình định tội danh phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ về mặt tố
tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành. Mọi sự vi phạm pháp luật tố
tụng đều có nguy cơ dẫn đến oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, bỏ lọt ngƣời phạm tội, hạn
chế hiệu quả của cuộc đấu tranh. Còn để ra tội danh chính xác và phù hợp với các tình
tiết thực tế khách quan của vụ án, phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự.
* Định tội danh đối với tội giết người liên quan đến vấn đề chứng cứ đã
được thu thập, kiểm tra, đánh giá
Đối với hình thức định tội danh không chính thức, các tình tiết của vụ án đã
đƣợc mặc nhiệm coi là đúng và đã đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ mà các cơ
quan tiến hành tố tụng thu thập đƣợc. Tuy nhiên, đối với hình thức định tội danh
chính thức, xuất phát từ nguyên tắc trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các
cơ quan tiến hành tố tụng nên chƣa thể khẳng định ngay từ đầu bị can có phải là

11


ngƣời phạm tội hay không. Định tội danh đối với tội giết ngƣời là hoạt động đƣợc
tiến hành song song và tiếp liền với hoạt động thu thập, củng cố, kiểm tra, đánh giá
và sử dụng chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, định tội danh đối
với tội giết ngƣời gắn liền với hoạt động chứng minh tội phạm và ngƣời phạm tội
của các cơ quan nói trên.
1.1.2. Phân loại các trường hợp định tội danh đối với tội giết người
“Căn cứ vào các chủ thể tương ứng thực hiện việc định tội danh, khoa học
luật hình sự phân chia định tội danh làm hai dạng: định tội danh chính thức và định
tội danh không chính thức” [8, tr. 23]. Nhƣ vậy, theo cách tiếp cận này, có thể phân
chia định tội danh đối với tội giết ngƣời làm hai dạng (hay hai trƣờng hợp) tƣơng ứng
- định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức đối với tội giết ngƣời.
* Hình thức định tội danh chính thức đối với tội giết người
Hiện nay, dƣới góc độ khoa học luật hình sự, “định tội danh chính thức là sự
đánh giá về mặt nhà nước, tính chất pháp lý hình sự về một hành vi phạm tội cụ thể

do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện” [8, tr. 23]. Do đó, định tội danh
đối với tội giết ngƣời là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng
hình sự của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong hoạt động đấu tranh với
tôi phạm giết ngƣời. Vì vậy, đặc điểm cơ bản của hình thức định tội danh này có thể
đƣợc xác định nhƣ nhƣ sau:
Thứ nhất, định tội danh chính thức đối với tội giết ngƣời là hoạt động mang
tính tổ chức - quyền lực Nhà nƣớc. Chủ thể tiến hành hình thức định tội danh này
đƣợc Nhà nƣớc quy định rõ trong Bộ luật tố tụng hình sự. Đó là các cơ quan tiến
hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003, các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm
sát, Tòa án. Ngƣời tiến hành tố tụng gồm có: Điều tra viên, Phó Thủ trƣởng, Thủ
trƣởng Cơ quan Điều tra; Kiểm sát viên, Phó Viện trƣởng, Viện trƣởng Viện Kiểm
sát nhân dân và Viện Kiểm sát Quân sự các cấp; Thẩm phán, Hội thẩm (bao gồm
Hội thẩm nhân dân và Hội thẩm quân nhân) và Thƣ ký Tòa án. Những chủ thể nói
trên tiến hành định tội danh đối với tội giết ngƣời khi thực hiện chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của họ.

12


Thứ hai, định tội danh chính thức đối với tội giết ngƣời đƣợc tiến hành trong
tất cả các giai đoạn tố tụng, từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử (gồm cả xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm). Ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án,
Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:
1. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy
đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến
nghị khởi tố do cơ quan nhà nƣớc chuyển đến. Viện kiểm sát có trách
nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan Điều tra có
thẩm quyền. 2. Trong thời hạn hai mƣơi ngày, kể từ ngày nhận đƣợc tố

giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan Điều tra trong
phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và
quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Trong trƣờng hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị
khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều
địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn,
nhƣng không quá hai tháng.
Từ kết quả xác minh nguồn tin, khi xác định có dấu hiệu của tội phạm, Cơ
quan Điều tra phải sơ bộ định tội danh đối với tội phạm đó. Trƣờng hợp xác định có
dấu hiệu của tội giết ngƣời thì phải ra quyết định khởi tố vụ án giết ngƣời. Quyết
định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố, điều khoản của Bộ
luật hình sự đƣợc áp dụng (khoản 1, 2, 3 hay 4 Điều 140 Bộ luật hình sự) và họ tên,
chức vụ ngƣời ra quyết định.
Các quyết định hoặc văn bản tố tụng trong các giai đoạn sau nhƣ quyết định
khởi tố bị can, bản kết luận điều tra, bản cáo trạng và bản án đều phải thể hiện chính
thức quan điểm chính thức của ngƣời tiến hành tố tụng về tội giết ngƣời trong đó.
Trƣờng hợp đã khởi tố, điều tra, truy tố xét xử về tội phạm khác, song trong quá
trình tố tụng mà phát hiện việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội giết ngƣời thì
phải định tội danh lại, nghĩa là phải thay đổi tội danh trong các văn bản tố tụng nói
trên theo các trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.

13


Thứ ba, hậu quả của hình thức định tội danh chính thức đối với tội giết ngƣời
là việc xác định trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội này. Định tội danh
chính thức đối với tội giết ngƣời là sự đánh giá về mặt pháp lý chính thức của các
cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng nói trên đối với hành vi giết
ngƣời xảy ra trong thực tế thỏa mãn cấu thành tội phạm của tội giết ngƣời quy định
tại Điều 93 Bộ luật hình sự. Luật hình sự Việt Nam và luật hình sự các nƣớc trên

thể giới đều đƣa ra nguyên tắc: một ngƣời chỉ phải chị trách nhiệm hình sự khi hành
vi nguy hiểm cho xã hội của họ đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm
của một tội đƣợc quy định trong luật hình sự và ngƣợc lại khi hành vi nguy hiểm
cho xã hội thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm thì ngƣời thực
hiện hành vi đó không tránh khỏi việc phải gánh chịu trách nhiệm hình sự. Xuất
phát từ nguyên tắc nói trên, khi cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiền hành tố tụng
đã có đầy đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm giết ngƣời thì ngƣời thực hiện hành
vi đó tất yếu phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm hình sự nhƣ hình phạt, các
biện pháp tƣ pháp... Việc ngƣời phạm tội phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm
hình sự (và kể cả các biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc khác nhƣ bị bắt, tạm giữ, tạm
giam, cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bị kê biên tài sản...) đều có liên quan đến hoạt động
định tội danh chính thức đối với tội giết ngƣời đã nêu trên.
Cũng cần lƣu ý rằng: định tội danh chính thức đối với tội giết ngƣời không
đồng nghĩa với việc khẳng định đối tƣợng phải gánh chịu kết quả của hoạt động
định tội danh đó là ngƣời phạm tội giết ngƣời. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
quy định rõ: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án
kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [35, Điều 9]. Định tội danh chính thức
đối với tội giết ngƣời do nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau tiến hành song chỉ
duy nhất một chủ thể là Tòa án, bằng phiên tòa xét xử công khai, với đầy đủ chứng
cứ thu thập đƣợc mới có thẩm quyền đƣa ra kết luận cuối cùng về việc bị cáo là
ngƣời phạm tội giết ngƣời trong bản án có hiệu lực pháp luật. Nói một cách khác,
bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án (thực chất phải là bản án phúc thẩm của
Tòa án) là văn bản định tội danh cuối cùng, chính thức khẳng định về tội danh giết
ngƣời đối với hành vi giết ngƣời đã xảy ra.

14


* Hình thức định tội danh không chính thức đối với tội giết người
Theo quan điểm của GS. TS. Võ Khánh Vinh thì: “Định tội danh không chính

thức là sự đánh giá pháp lý về hành vi phạm tội do các nhà nghiên cứu khoa học pháp
lý, tác giả bài báo, tạp chí, công trình khoa học, sinh viên, học viên hoặc bất kỳ một
người nào đó quan tâm nghiên cứu cụ thể vụ án này hay vụ án khác đưa ra” [72, tr. 28].
Nhƣ vậy, khác với định tội danh chính thức, định tội danh không chính thức đối với
tội giết ngƣời không phải do những chủ thể có thẩm quyền thực hiện theo quy định
của pháp luật. Khái niệm “chính thức” ở đây phải đƣợc hiểu là chính thức về mặt Nhà
nƣớc. Định tội danh không chính thức đối với tội giết ngƣời không phải là sự đánh
giá chính thức về mặt nhà nƣớc, không đƣợc thể hiện trong các văn bản tố tụng và
không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của đối tƣợng bị định tội danh.
Nhƣ vậy, có thể tóm tắt sự khác biệt cơ bản giữa định tội danh chính thức và
định tội danh không chính thức đối với tội giết ngƣời qua một số điểm sau đây:
Một là, khác nhau về chủ thể tiến hành. Chủ thể tiến hành hoạt động định
tội danh không chính thức đối với tội giết ngƣời có thể là bất kỳ ai quan tâm đến
vụ án hình sự và nắm đƣợc các tình tiết của vụ án đó. Ngƣời định tội danh không
chính thức có thể liên quan đến hoạt động tố tụng hoặc không liên quan đến hoạt
động tố tụng. Cần thấy rằng ngay bản thân những ngƣời tiến hành tố tụng cũng có
hoạt động tƣ duy theo hƣớng định tội danh cho hành vi chiếm đoạt tài sản của bị
can, bị cáo. Trong thực thế, bị can, bị cáo cũng có thể định tội danh cho chính bản
thân mình. Đƣơng nhiên, họ có thể không thừa nhận hành vi phạm tội đã thực
hiện. Trong trƣờng hợp này, họ định tội danh theo hƣớng phủ định. Trƣờng hợp
khác, bị can, bị cáo thừa nhận đã phạm tội giết ngƣời nhƣng xin đƣợc hƣởng
lƣợng khoan hồng,giảm nhẹ hình phạt. Trƣờng hợp này, việc tự định tội danh của
bị can, bị cáo theo hƣớng khẳng định. Cũng có thể bị can, bị cáo tiếp nhận kết quả
định tội danh của các chủ thể khác, nhất là của các cơ quan tiến hành tố tụng,
ngƣời tiến hành tố tụng áp dụng cho họ. Ngƣời bị hại, ngƣời bào chữa, ngƣời bảo
vệ quyền lợi của đƣơng sự cũng có thể có hoạt động định tội danh không chính
thức theo các hƣớng nêu trên.

15



Tuy nhiên, phải thấy rằng: chủ thể phổ biến của hoạt động định tội danh không
chính thức đối với tội giết ngƣời là các nhà khoa học hoặc những ngƣời đang nghiên
cứu, tìm hiểu, học tập luật hình sự. Các chủ thể nói trên quan tâm đến việc định tội
danh vì việc đó là thuộc nội dung chuyên môn mà họ theo đuổi. Chính vì vậy, định
tội danh không chính thức có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong việc phát triển ngành
khoa học pháp lý hình sự và là một trong những kênh để đƣa lý luận khoa học tiếp
cận với thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự cũng nhƣ thực tiễn cuộc sống.
Hai là, khác nhau về hình thức thể hiện. Nhƣ đã trình bày ở trên, hình thức
thể hiện của định tội danh chính thức là các quyết định hoặc văn bản tố tụng đƣợc
ban hành bởi các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Trong khi đó, hình thức của
định tội danh không chính thức đối với tội giết ngƣời lại chủ yếu là các công trình
khoa học, các bài viết, bài báo đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật. Ngoài
ra, định tội danh không chính thức có thể đƣợc thể hiện trong một số văn bản khác
nhƣ đơn kháng án của bị cáo, ngƣời bị hại, bản luận cứ bào chữa của luật sƣ... Do
là không chính thức nên nói chung hình thức thể hiện của định tội danh không
chính thức đối với tội giết ngƣời không đƣợc pháp luật điều chỉnh mà đƣợc viết
theo ý chủ quan của chủ thể định tội danh không chính thức.
Ba là, khác nhau về hậu quả pháp lý. Kết quả của định tội danh không chính
thức đối với tội giết ngƣời không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của đối
tƣợng của hoạt động định tội danh. Do không xuất phát từ quyền lực nhà nƣớc và
không đại diện cho quyền lực nhà nƣớc nên chủ thể của hoạt động định tội danh
không chính thức không có quyền áp đặt các biện pháp cƣỡng chế bảo đảm cho kết
quả định tội danh của mình. Tuy nhiên, nếu hoạt động định tội danh không chính
thức đƣợc dƣ luận xã hội, báo chí quan tâm, nhất là trong trƣờng hợp nó đối lập với
kết quả hoạt động định tội danh chính thức và phản ánh đúng yêu cầu của pháp luật
hình sự thì có thể xuất hiện khả năng có sự chuyển hóa từ định tội danh không chính
thức thành định tội danh chính thức.
Nhƣ vậy, thực tế là không phải lúc nào việc định tội danh của các cơ quan
tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng cũng luôn đúng. Các vụ án oan, sai tuy


16


không nhiều nhƣng cũng đã xảy ra và đƣợc dƣ luận chú ý. Trong trƣờng hợp này,
có thể sẽ xuất hiện hiện tƣợng song hành định tội danh: định tội danh không chính
thức ở bên ngoài xã hội và định tội danh lại từ trong nội bộ các cơ quan tiến hành tố
tụng. Các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng có thể tham khảo kết
quả định tội danh không chính thức của giới khoa học pháp lý. Sự chuyển hóa các
hình thức định tội danh nói ở trên có thể xảy ra đối với trƣờng hợp cụ thể này.
Ngoài ra, định tội danh chính thức và không chính thức đối với tội giết ngƣời
có ý nghĩa quan trọng nhƣ nhau và có vị trí, vai trò riêng trong việc bảo đảm tính
hiện thực hóa của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động áp dụng
pháp luật hình sự, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói chung, trong đó có tội
giết ngƣời quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự.
1.1.3. Ý nghĩa của việc định tội danh đối với tội giết người
Định tội danh đối với tội giết ngƣời có ý nghĩa rất quan trọng và trên nhiều
phƣơng diện khác nhau. Trong các công trình khoa học đã công bố hiện nay, có
nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này. Có tác giả tập trung
phân tích ý nghĩa của định tội danh về mặt pháp lý. Tác giả khác chỉ ra ý nghĩa của
định tội danh về mặt xã hội và pháp luật [72, tr. 28]. Do đó, kế thừa các quan điểm
nêu trên, có thể khẳng định định tội danh đối với tội giết ngƣời phản ánh những ý
nghĩa cụ thể dƣới đây.
* Ý nghĩa về phương diện chính trị - xã hội
Định tội danh đối với tội giết ngƣời, nếu đƣợc tiến hành bởi cơ quan nhà
nƣớc có thẩm quyền và ngƣời có thẩm quyền trong các cơ quan đó là hoạt động
thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Trong xã hội có giai cấp, Nhà nƣớc là tổ chức chính
trị đặc biệt, là công cụ của giai cấp thống trị có chức năng duy trì trật tự, ổn định xã
hội và quyền lợi của giai cấp thống trị. Do đó, có thể xem định tội danh đối với tội
giết ngƣời là một hoạt động mang tính chính trị sâu sắc. Tính chính trị của hoạt

động này thể hiện ở chỗ:
- Định tội danh đối với tội giết ngƣời có mục đích bảo vệ quyền lợi về mặt
kinh tế (quyền sở hữu tài sản) cho giai cấp thống trị xã hội. Trong xã hội xã hội chủ

17


nghĩa, hoạt động này bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp tài sản cho các chủ thể trong xã
hội, mà chủ yếu là tài sản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chống lại
mọi hành vi xâm hại của đối tƣợng phạm tội.
- Định tội danh đối với tội giết ngƣời góp phần đƣa các quy định của pháp
luật, nhất là quy định của Bộ luật hình sự vào thực tiễn cuộc sống. Điều này đúng
nhƣ GS. TS Võ Khánh Vinh đã viết:
Đạo luật hình sự thể hiện ý chí về mặt Nhà nƣớc của nhân dân ta đối
với vấn đề đấu tranh với tình hình tội phạm... Việc tuân thủ nghiêm chỉnh
đạo luật hình sự trong khi định tội danh là điều kiện cần thiết và quan trọng
của việc thực hiện chính sách của Nhà nƣớc nhằm khắc phục tình trạng tội
phạm ở nƣớc ta. Và theo Lê-nin: Một đạo luật là một biện pháp chính trị, là
chính trị”. Do vậy, định tội danh đúng là một biểu hiện của việc thực hiện
đúng biện pháp chính trị, thực thi đúng chính trị, thực thi đúng ý chí của
nhân dân đã đƣợc thể hiện trong luật, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của xã
hội, của Nhà nƣớc và của con ngƣời, của công dân [72, tr. 29].
- Định tội danh đối với tội giết ngƣời là hoạt động của các cơ quan Nhà nƣớc
có tính áp đặt một chiều đối với đối tƣợng bị áp dụng. Nói một cách khác, đó là hoạt
động thể hiện quyền lực chính trị trong thực tiễn đời sống xã hội.
Không chỉ có tính chất chính trị, định tội danh đối với tội giết ngƣời còn là
hoạt động mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Ý nghĩa chính trị - xã hội của
hoạt động này thể hiện qua một số khía cạnh cụ thể sau đây:
- Thông qua định tội danh đối với tội giết ngƣời, Nhà nƣớc ta thực hiện
nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con ngƣời. Nhƣ đã khẳng định ở trên,

quyền đƣợc bảo hộ về tính mạng là một trong những quyền cơ bản của con ngƣời
mà pháp luật quốc gia và quốc tế đều quan tâm bảo vệ. “Mọi người đều có quyền
sống, tự do và an toàn cá nhân” (Điều 3 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
ngƣời năm 1948) [28, tr. 51]. Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam cũng quy định:
“Mọi người đều có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ.
Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật” (Điều 19). Do quyền đƣợc bảo hộ

18


về tính mạng nói trên bị hành vi giết ngƣời xâm phạm nên định tội danh có chức
năng góp phần xác định trách nhiệm hình sự, đấu tranh phòng chống lại hành vi
phạm tội này.
- Thông qua định tội danh, các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thực hiện
việc bảo vệ sinh mạng chính trị cho ngƣời dân. Phải nhận thức rằng: định tội danh
đối với tội giết ngƣời là một hoạt động và kết quả của hoạt động đó có thể phát triển
theo hai hƣớng: khẳng định là có tội và hai là khẳng định không có tội. Do đó, định
tội danh đối với tội giết ngƣời đúng, chính xác góp phần quan trọng trong phòng
chống oan sai, phòng, chống việc lạm dụng quyền lực của một số ngƣời có chức, có
quyền tha hóa biến chất xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời dân.
- Định tội danh đúng đối với tội giết ngƣời còn góp phần vào việc cụ thể hóa
các cam kết quốc tế của nhà nƣớc Việt Nam, nhất là các cam kết liên quan đến
quyền con ngƣời nêu trên.
- Ngoài ra, định tội danh đúng còn góp phần củng cố lòng tin của ngƣời dân
vào công lý và sự chí công, vô tƣ của các cơ quan bảo vệ pháp luật; củng cố lòng
tin của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài về tính minh bạch và đúng đắn của pháp luật
Việt Nam.
* Ý nghĩa về phương diện pháp lý
Về mặt pháp lý, có thể khẳng định rằng định tội danh đúng là tiền đề và cơ sở
để áp dụng một loạt các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự.

Trƣớc hết, định tội danh đúng là tiền đề cho việc quyết định hình phạt đúng.
Định tội danh đối với tội giết ngƣời là cơ sở để áp dụng các chế tài hình sự đƣợc quy
định tại Điều 93 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đây cũng là tiền đề để áp dụng các quy
định khác nhƣ quy định về nguyên tắc xử lý, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình
phạt, án treo, miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; v.v...
Đối với pháp luật hình sự, định tội danh đúng là cơ sở để ra các quyết định tố
tụng đúng, không bắt oan, bắt sai ngƣời vô tội, không bỏ lọt tội phạm và ngƣời
phạm tội. Định tội danh đúng còn là cơ sở để xác định thẩm quyền điều tra, truy tố,

19


×