Header Page 1 of 161.
LUẬN VĂN:
Thực trạng kế toán kết quả kinh doanh và
phân phối kết quả kinh doanh trong các
doanh nghiệp thương mại
Footer Page 1 of 161.
Header Page 2 of 161.
Phần II: thực trạng kế toán kết quả kinh doanh và phân phối kết quả kinh doanh
trong các doanh nghiệp thương mại. Những ý kiến để xuất nhằm hoàn thiện kế
toán kết quả kinh doanh và phân phối kết quả kinh doanh
I. Đánh giá tình hình kế toán kết quả kinh doanh và phân phối kết quả kinh doanh
trong các doanh nghiệp
Kể từ khi chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường đã xuất hiện thêm rất nhiều
hình thức tổ chức kinh doanh mới: cá thể, tập thể, nhà nước. Càng nhiều thành phần
kinh tế công tác quản lý càng trở nên phức tạp, hoạt động sản xuất ngày càng diễn ra
gay gắt. Bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia vào hoạt động sản suất kinh doanh đều với
mục tiêu thu được lợi nhuận tối đa do đó không thể tránh khỏi những thiếu xót, sai lầm.
Mọi người cố tìm kiếm những khe hhở để tham ô, chiếm đoạt của công thành của tư.
Hàng nghìn công trình sản xuất lớn của nhà nước bị thất thoát hàng chục tỷ đồng. Vì
vậy để nắm được kết quả kinh doanh thực tế của từng doanh nghiệp nhà nước phải có
những chính sách quản lý. Một doanh nghiệp mà hệ thống kế toán làm việc với tinh
thần trách nhiệm cao, chuyên môn giỏi thì hoạt động sản xuất diễn ra trong nội bộ
doanh nghiệp sẽ bảm bảo được ghi chép kịp thời đầy đủ. Từ đó tạo cơ sở cho quá trình
tổng hợp doanh thu chi phí và xác định két quả kinh doanh phù hợp với tình hình của
doanh nghiệp
Hạch toán kế toán là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng hàng đầu trong
doanh nghiệp để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả đáp ứng nhu cầu
quản lý. Chính vì vậy mà bộ tài chính luôn có sự thay đổi về chứng từ sử dụng theo
đúng chứng từ quy định của nhà nước và các chứng từ ngày càng lạp nhanh chóng, kịp
thời hơn. Việc sở dụng các tài khoản để hạch toán chủ yếu là theo yêu cầu của nhà nước
cùng việc ban hành các sổ sách kế toán ghi chép trong nội bộ ngành chính xác, khoa
học.
Ngày nay khi mà công nghệ thông tin bùng nổ, với những phát minh sáng chế
mới, hiện đại các doanh nghiệp nước ta đang bước đầu thử nghiệm đưa máy vi tính
tham gia vào công tác kế toán. Máy tính có thể làm nhanh gấp hàng nghìn lần những
thao tác thủ công của con người. Nó có khả năng lưu trữ được rất nhiều thông tin mà
bbo0j nhớ của con người khong thể làm được. Và từ những thông tin đó nó có thể phân
Footer Page 2 of 161.
Header Page 3 of 161.
tích xử lý biến thông tin thành thông tin thành thông tin hữu ích và biến nhưng phép
tính kinh tế hóc búa, phức tạp trở nên đơn giản. Máy vi tính đang dần khẳng định sự
thuận lợi giúp ích cho công tác kế toán của con người đơn giản và nhẹ nhàng hơn, nó
giúp cho công tác hạch toán của các doanh nghiệp chính xác và khoa học.
Bên cạnh những ưu điểm đó công tác hạch toán kế toán hiện nay ở các doanh
nghiệp còn gặp không ít khó khăn, hạn chế do chủ quan và khách quan của doanh
nghiệp. Nhiều doanh nghiệp sử dụng số lượng nhân viên không phù hợp với quy mô
của doanh nghiệp, tổ chức cồng kềnh nên quá trình hạch toán còn nhiều hạn chế có sự
trồng chéo ghi chép. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tinh giảm dần và hợp lý hoá
bộ máy kế toán. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn rộng nhung lại áp dụng
hình thức kế toán tập trung trong chế độ bao cấp nên có rất nhiều hạn chế, làm giảm
tính năng động, kịp thời và chính xác trong hạch toán của doanh nghiệp.
Mặt khác, việc áp dụng hình thức sổ kế toán trong nhiều doanh nghiệp chưa phù
hợp nên ảnh hưởng tới lập báo cáo vào cuối tháng, cuối quí, cuối năm làm cho thông tin
kế toán đưa ra chậm. Trong rất nhiều doanh nghiệp hiện nay áp dụng cơ chế quản lý cũ
nên việc tuyển trọn nhân viên không phù hợp với công việc đem lại hiệu quả kinh tế
thấp.
Đối với công tác kế toán kết quả kinh hiện nay, có ưu đIểm:
Kế toán kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp được xác định là phù hợp với
chế độ kế toán hiện hành, quy trình tập hợp số liệu nhanh gọn, tiết kiệm chi phí.
Bên cạnh việc cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng như cơ quan thuế,
cơ quan thống kê ... Kế toán kết quả kinh doanh còn cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin
cho ban lãnh đạo, giúp giám đốc có kế hoạch xây dựng phương án sản xuất kinh doanh
có hiệu quả.
Đối với doanh nghiệp quy mô lớn, khối lượng kinh doanh lớn, công việc bận bịu
vào thời kỳ quyết toán cuối năm nhưng kế toán kết quả kinh doanh vẫn chính xác, kịp
thời, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng được yêu cầu quản lý.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của công tác hạch toán kết quả kinh
doanh thì kế toán kết quả kinh doanh vẫn còn tồn tại :
Footer Page 3 of 161.
Header Page 4 of 161.
Nhiều doanh nghiệp kế toán không phân biệt được chi phí mua hàng và chi phí
bán hàng.
Việc phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho hàng còn
lại và hàng đã tiêu thụ không theo tiêu thức phân bổ mà tự doanh nghiệp điều
chỉnh nên vi phạm chế độ kế toán .
Nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu, khoản chi phí trả hộ cho đơn vị giao uỷ
thác phản ảnh một loạt hoạt động mang tính chất dịch vụ.
Đối với kế toán phân phối lợi nhuận hiện nay của các doanh nghiệp:
Nhìn chung việc phân phối lợi nhuận trong các doanh nghiệp được hực hiện theo
đúng chế độ kế toán quy định. Hàng năm vào cuối niên độ kế toán, kế toán trưởng cùng
với giám đôc nghiên cứu việc phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp mình sao cho phù
hợp và hiệu quả nhất. Tuy nhiên trên thực tế việc đIều tiết, phân phối kết quả kinh
doanh cũng không tránh khỏi những thiếu xót.
Nhiều doanh nghiệp chủ quan không lập các quỹ như: quỹ dự phòng tài chính và
quỹ trợ cấp mất việc làm...Chính vì vậy mà khi công ty gặp khó khăn, thua lỗ đã gây
nên sự lúng túng đối với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không kịp trả lương cho công
nhân, nhiều công nhân không có việc làm phải nghỉ không lương, doanh nghiệp mất
dần lòng tin của công nhân. Những công nhân giỏi đi khỏi công ty mong có được một
cơ hội làm việc với mức thu nhập cao hơn. Và xu thế tất yếu là đưa doanh nghiệp đến
thua lỗ và phá sản.
Ngoài ra, có những doanh nghiệp trong kế toán phân phối lợi nhuận một số
doanh nghiệp sử dụng chưa hợp lý tài khoản phân phối lợi nhuận (TK 4212_"lợi nhuận
năm nay").
II. Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán kết quả kinh doanh và
phân phối kết quả kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường, tiêu thức quan trọng để đánh giá doanh nghiệp là kết
quả kinh doanh , hay nói cách khác mục tiêu của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận.
Để có thể đạt được mục tiêu đó của các doanh nghiệp thì cơ chế, chính sách tài chính
đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình hoạt động của các doanh
Footer Page 4 of 161.
Header Page 5 of 161.
nghệp. Do đó, những tồn tại, thiếu xót trong cơ chế tài chính sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới
công tác kế toán cuả doanh nghiệp nói chung và kế toán xác định kết qủa kinh doanh và
phân phối kết quả kinh doanh nói riêng. Do đó cần hoàn thiện hơn nữa các văn bản
pháp qui trong công tác kế toán.
Bên cạnh đó vấn đề phân phối lợi nhuận cũng có một số vấn đề còn vướng mắc:
Trước hết là việc tính toán số lợi nhuận chịu thuế (sau này là số thu nhập của các doanh
nghiệp) nên xác định theo mức khoán. Có ý kiến cho rằng có thể căn cứ vào tình hình
lợi nhuận của 5 năm vừa qua để xây dựng mức khoán cho 5 năm tới và ổn định theo
mức đó. Các tài liệu về định mức kinh tế do cơ quan quản lý nhà nước tập hợp và công
bố chỉ là tài liệu tham khảo khi quyết định về mức lợi nhuận chịu thuế cho doanh
nghiệp. Cũng về thuế thu nhập doanh nghiệp,việc thu thuế doanh nghiệp bổ sung là
25% nếu lợi nhuận của doanh nghiệp còn lại sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp
phải nộp lớn hơn 12% vốn chủ sở hữu. Thực tế áp dụng cho thấy việc thu thuế này chỉ
tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước, chứ hầu như không thu được từ các doanh
nghiệp tư nhân và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Vẫn còn tình trạng như vậy là do
đối với các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp ngoài quốc doanh mức quy định nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung không phải là cao, song do việc chấp hành chế độ
kế toán không tốt, khâu kiểm tra, kiểm soát thuế còn thiếu chặt chẽ nên các đối tượng
này chỉ hạch toán sao cho có lãi ít, thậm chí lỗ để có thể trốn thuế thu nhập doanh
nghiệp và thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung. Còn các doanh nghiệp nhà nước do có
ràng buộc về mặt pháp lý nên khó có thể hạch toán sai lệch, vì vậy họ trở thành đối
tượng chính nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung
chứ thực chất không phải doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có hiệu quả hơn các
doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế còn vấn đề đang được bàn cãi là chế độ
thu về sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Chế độ thu này với mục đích thúc đẩy các
doanh nghiệp nhà nước sử dụng hiệu quả hơn vốn ngân sách nhà nước (vì hiện nay ở
nước ta vẫn còn tồn tại nhiều doanh nghiệp nhà nước). Khi thực hiện thì nó không phải
là không có hiệu quả nhưng cũng không tránh khỏi những bất cập. Có quan điểm cho
rằng vẫn nên duy trì chế độ thu này vì nó vừa thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước sử
Footer Page 5 of 161.
Header Page 6 of 161.
dụng vốn có hiệu quả chống lãng phí vốn, vừa đóng góp một phần nhất định cho thu
ngân sách nhà nước, đồng thời tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp có lượng vốn
ngân sách nhiều ít khác nhau.
Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nên xoá bỏ chế độ thu này vì:
_ Chế độ thu về sử dụng vốn ngân sách như hiện nay không đảm bảo sự công
bằng giữa các doanh nghiệp nhà nước. Giả sử doanh nghiệp bị lỗ không phải nộp khoản
thu này và nguồn trích quỹ cũng như bù đắp một số khoản chi phí không đưa vào giá
thành. Các doanh nghiệp có lãi ít, sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thì lợi nhuận
sau thuế nhỏ.
_Thực tế cho thấy tích luỹ của các doanh nghiệp nhà nước từ lợi nhuận sau thuế
hiện nay còn thấp, nếu nộp tiền sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì khả năng tích lũy
lại càng nhỏ.
_Nhà nước là chủ sở hữu các doanh nghiệp nhà nước mà phải nộp thuế về sử
dụng vốn ngân sách là không hợp lý.
Ngoài ra còn vấn đề trong việc sử dụng TK để hạch toán doanh thu. Có ý kiến
cho rằng nên bỏ TK 512"doanh thu bán hàng nội bộ " mà thay vào đó ta mử thêm chi
tiết cho TK 511 một TK cấp II, và với TK 532 "giảm giá hàng bán ", với doanh nghiệp
thương mại việc giảm giá hàng bán thường do 2 nguyên nhân là: do hàng kém phẩm
chất hoặc do khách hàng mua với khối lượng lớn. Nên chăng chúng ta đề xuất mở thêm
một tài khoản mới để hạch toán riêng cho từng trường hợp hoặc mở chi tiết tài khoản
cấp II cho TK 532.
Trên đây là một số tồn tại về cơ chế tài chính mà các doanh nghiệp đáng quan
tâm,một phần nguyên nhân là do sự thiếu tính đồng bộ, nhất quán giữa các văn bản của
nhà nước và tính thiêú chặt chẽ giữa các văn bản quy định về xác định kết quả hoạt
động kinh doanh cũng như phân phối kết quả kinh doanh. Những tồn tại đó có ảnh
hưởng rất lớn tới các doanh nghiệp. Do mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp là lợi
nhuận, nên việc hạch toán chính xác kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp có thể sẽ
tạo ra sự bất lợi đối với doanh nghiệp. Nên nhiều doanh nghiệp hạch toán kết quả kinh
doanh không đúng sự thật để tránh các khoản phải nộp cho ngân sách nhà nước. Đôi khi
Footer Page 6 of 161.
Header Page 7 of 161.
để tạo niềm tin từ khách hàng và cơ quan thuế, các tổ chức cho vay vốn, doanh nghiệp,
... cũng hạch toán sai lệch kết quả kinh doanh.
Qua việc phân tích và đánh giá tình hình kết quả kinh doanh của các doanh
nghiệp ta thấy cần thiết phải có các chính sách hoàn thiện công tác kế toán kết quả kinh
doanh và phân phối kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp nói chung và trong
doanh nghiệp thương mại nói riêng. Và việc hoàn thiện phải trên cơ sở phù hợp với đặc
điểm của từng doanh nghiệp, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, phải đáp ứng
kịp thời, chính xác, phù hợp với yêu cầu quản lý.Hoàn thiện phải dựa trên cơ sở tiết
kiệm chi phí, phải đảm bảo theo kịp với sự tiến bộ của xã hội, cán bộ lãnh đạo, quản lý
và các chuyên gia kế toán cùng đưa ra giải pháp, nghiên cứu và xử lý, cùng nhau bàn
bạc để đem lại kết quả tốt nhất đối với công tác kế toán.
Footer Page 7 of 161.
Header Page 8 of 161.
Kết luận
Bắt nhịp cùng với sự phát triển của xã hội các doanh nghiệp luôn luôn tự vận
động để tồn tại và phát triển, công tác kế toán kết quả kinh doanh và phân phối kết quả
kinh doanh ngày càng hoàn thiện hơn cả về mặt nội dung và hình thức. Hiện nay hầu
hết những doanh nghiệp hoạt động với quy mô lớn đều đã trang bị cho doanh nghiệp
mình những trang thiết bị tối tân và cử những nhân viên của mình đi đào tạo thêm về
công tác kế toán trên máy tính. Hoàn thiện không chỉ trong doanh nghiệp mà còn theo
kịp được với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin trên thế giới.
Mặc dù rất cố gắng tìm hiều và tham khảo song vì thời gian viết bài có hạn, khả
năng nắm bắt sâu về kế toán không có nhiều, chưa có kinh nghiệm thực tế về hạch toán
kế toán kết quả kinh doanh và phân phối kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp nên bài
viết còn rất sơ sài và thiếu xót. Em rất mong sự góp ý và thông cảm . Qua chuyên đề
này, sự hiểu biết về công tác kế toán trong doanh nghiệp nói chung , kế toán kết quả
kinh doanh và phân phối kết quả kinh doanh nói riêng càng được nâng cao.
Em xin chân thành cảm ơn.
Footer Page 8 of 161.
Header Page 9 of 161.
Lời nói đầu
Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, nó quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Với những điều kiện cụ thể khác nhau, cơ chế vận hành hoạt
động kinh doanh khác nhau thì kết quả lợi nhuận cũng khác nhau. Trong cơ chế kế
hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước cấp phát vốn, cung
ứng vật tư, nguyên vật liệu và bao tiêu sản phẩm, lãi nộp Nhà nước, lỗ Nhà nước chịu.
Lợi nhuận đó chưa phản ánh đầy đủ các chi phí sản xuất và yêu cầu thực tế nghiêm
khắc của thị trường, chưa kích thích được tính chủ động sáng tạo của người quản lý và
công nhân trực tiếp sản xuất. Do đó có tình trạng lãi giả, lỗ thật. Nhiều doanh nghiệp
Nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, gây lãng phí
nguồn lực.
Thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ban hành các chế
độ chính sách, sắp xếp lại các doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ
động sáng tạo, tự chịu trách nhiệm lãi lỗ về các hoạt động của mình. Từ khi có quyết
định 90/TTg và 91/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp
được sắp xếp lại theo mô hình Tổng công ty 90 và Tổng công ty 91, hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp được cải thiện. Nhiều doanh nghiệp bắt đầu làm ăn có lãi
tạo điều kiện mở rộng và phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động.
Tổng công ty Thép Việt Nam được thành lập theo mô hình Tổng công ty 91. Nhiệm
vụ chính yếu của Tổng công ty là sản xuất thép, lưu thông sản phẩm thép trên thị trường
trong cả nước, nhập khẩu một số sản phẩm thép trong nước chưa sản xuất được, cân đối
cung và cầu các mặt hàng sản phẩm thép cho nền kinh tế.
Từ khi được sắp xếp lại,
nhiệm vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tập trung vào một đầu mối quản lý, mở rộng
liên doanh liên kết với các đối tác nước ngoài và trong nước, Tổng công ty đã từng
Footer Page 9 of 161.
Header Page 10 of 161.
bước ổn định sản xuất, đảm bảo cung cấp ổn định các sản phẩm thép cho nền kinh tế,
làm ăn có lãi.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Tổng công ty Thép Việt Nam, vận dụng
những kiến thức đã học vào thực tế hoạt động kinh doanh của Tổng công ty, em nghiên
cứu vấn đề lợi nhuận của Tổng công ty và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp với đề tài
“Phân tích lợi nhuận và một số giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận trong sản xuất
kinh doanh tại Tổng công ty Thép Việt Nam”. Ngoài lời nói đầu và kết luận, Luận
văn tốt nghiệp gồm ba chương:
Chương I: Tổng quan về lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chương II: Thực trạng lợi nhuận của Tổng công ty Thép Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận của Tổng công ty Thép
Việt Nam.
Trên cơ sở thực trạng kinh doanh của Tổng công ty trong những năm qua, trên cơ sở định
hướng của Tổng công ty, Luận văn tốt nghiệp đã mạnh dạn đưa ra các giải pháp, kiến nghị với
Nhà nước và với Tổng công ty Thép Việt Nam nhằm nâng cao lợi nhuận của Tổng công ty trong
năm 2000 và những năm tiếp theo.
Để thực hiện Luận văn tốt nghiệp, em sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Phân tích, tổng hợp, so sánh, và diễn dịch để hệ thống lại số liệu, các chỉ tiêu đánh giá
của Tổng công ty nhằm làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu, đề cập trong Luận văn tốt
nghiệp.
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2001
Phạm Thị Hải
Footer Page 10 of 161.
Header Page 11 of 161.
Footer Page 11 of 161.
Header Page 12 of 161.
Chương I
Tổng quan về lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1 Lợi nhuận và ý nghĩa của lợi nhuận đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp
1.1.1 Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
a- Doanh nghiệp
Nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đang tiếp tục đổi mới cơ chế chính
sách để tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động mang lại hiệu quả
kinh doanh và lợi nhuận cao.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,
được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp, tối đa
hoá lợi nhuận và phát triển.
ở nước ta hiện nay có nhiều loại hình doanh nghiệp hoạt động. Có thể phân loại
doanh nghiệp căn cứ vào ngành nghề, hình thức sở hữu. Dựa vào hình thức sở hữu, các
doanh nghiệp được chia thành:
-
Doanh nghiệp Nhà nước
-
Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn
-
Doanh nghiệp tư nhân
-
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Footer Page 12 of 161.
Header Page 13 of 161.
Doanh nghiệp Nhà nước: Theo Điều 1 Luật Doanh nghiệp Nhà nước “Doanh nghiệp
Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt
động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
do Nhà nước giao cho. Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và
nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi
số vốn do doanh nghiệp quản lý”. Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh là
Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp
Nhà nước hoạt động công ích là Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất, cung ứng
dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ
quốc phòng, an ninh.
Công ty (Công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần): là doanh nghiệp trong đó
các thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn
góp của mình và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần góp
của mình.
Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: gồm doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100% vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên
hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc
hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp
do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do
doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên
doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
100% vốn tại Việt Nam.
b - Hoạt động của doanh nghiệp
Footer Page 13 of 161.
Header Page 14 of 161.
Hoạt động kinh doanh là một hoạt động đặc thù của doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh
doanh những hàng hoá, dịch vụ mà thị trường có nhu cầu, trong khả năng nguồn lực
hiện có của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận cao nhất, nâng cao thu nhập của người
lao động, tích luỹ để đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng, góp phần tăng thu nhập
quốc dân và thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển. Để sản xuất hàng hoá và cung cấp
dịch vụ, doanh nghiệp phải mua nguyên nhiên liệu, các bộ phận, linh kiện rời hay bán
thành phẩm của các doanh nghiệp khác ở trong và ngoài nước. Như vậy, các doanh
nghiệp muốn tồn tại phải có mối quan hệ tương hỗ với các thành viên khác trong nền
kinh tế.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Chủ yếu giải quyết các vấn đề ssau đây:
-
Chiến lược đầu tư:
-
Nguồn vốn đầu tư cho kinh doanh;
-
Sử dụng lợi nhuận của doanh nghiệp;
-
Phân tích, đánh giá, kiểm tra các hoạt động tài chính để đảm bảo trạng thái cân
bằng tài chính.
-
Quản lý hoạt động tài chính ngắn hạn để đưa ra các quyết định thu chi cho phù
hợp.
Các hoạt động trên nhằm đạt tới mục tiêu lợi nhuận cao nhất, sản xuất kinh doanh
không ngừng tăng trưởng và phát triển.
c- Thực trạng doanh nghiệp Nhà nước hiện nay
Trong thời kỳ nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung,
các xí nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước chiếm địa vị thống trị trên hầu hết các lĩnh vực
kinh doanh và dịch vụ. Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong điều kiện được bao
cấp của Nhà nước như:
Footer Page 14 of 161.
Header Page 15 of 161.
-
Mua vật tư theo giá hạ;
-
Được cấp vốn, trang bị máy móc thiết bị và vay vốn theo lãi suất thấp;
-
Được trả lương không đầy đủ cho người lao động, phần còn lại được Nhà nước
bao cấp ngoài lương;
-
Được bao tiêu sản phẩm…
Do vậy, trên sổ sách lợi nhuận và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước có
thể có hoặc có thể rất lớn. Nhưng nếu tính đủ chi phí như tính đủ nguyên giá tài sản cố
định và khấu hao tài sản đủ tỷ lệ quy định; Tính đủ giá nguyên vật liệu, động lực, ngoại
tệ nhập khẩu; Tính đủ tiền lương không bao cấp bằng hiện vật bằng bù lỗ bên ngoài của
Ngân sách Nhà nước thì thực chất đó là lãi giả, lỗ thật. Ngược lại, cũng có trường hợp
đơn vị được Nhà nước bù lỗ, song trên thực tế thì có lãi vì việc bù lỗ không căn cứ vào
hoạt động xác thực của doanh nghiệp mà căn cứ vào định mức được duyệt.
Thực hiện đường lối cải cách kinh tế, Đảng và Nhà nước đổi mới cơ chế, chính sách,
tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước tạo điều kiện để các doanh nghiệp Nhà
nước hoạt động có hiệu qủa. Doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận quan trọng của
nền kinh tế Nhà nước, phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần. Đó
là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới kinh tế đất
nước theo quy định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ cuối năm 1994 Nhà nước tiếp tục đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước, các doanh
nghiệp Nhà nước đã tổ chức, sắp xếp lại theo quy mô lớn trên cơ sở tập trung để tạo
tiền đề tích tụ trong hoạt động kinh doanh. Thủ tướng Chính phủ đã thành lập 17 Tổng
công ty Nhà nước hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh doanh lớn theo Quyết định
91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Tổng công ty 91) và uỷ
quyền cho các Bộ, uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết
định thành lập 76 Tổng công ty Nhà nước hoạt động theo mô hình Quyết định 90/TTg
ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Tổng công ty 90).
Footer Page 15 of 161.
Header Page 16 of 161.
Các Tổng công ty 91 và Tổng công ty 90 được thành lập đã nắm trọn các ngành kinh
tế kỹ thuật trọng yếu của quốc gia như: hàng không, hàng hải, bưu chính viễn thông, xi
măng, sắt thép, xăng dầu, than, điện…Sau khi được sắp xếp lại, hiệu quả hoạt động của
Doanh nghiệp Nhà nước đã từng bước được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên đối với những
Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, Nhà nước xét thấy thực
sự không cần phải giữ lại thì thực hiện cổ phần hoá, bán đấu giá, khoán, cho thuê hoặc
giải thể.
1.1.21.1.2.1-
Lợi nhuận và nguồn hình thành lợi nhuận
Lợi nhuận
a. Các quan điểm về lợi nhuận :
Từ trước tới nay, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về lợi nhuận. Ta có thể thấy
được điều này qua các quan điểm về lợi nhuận sau :
+ Lợi nhuận của doanh nghiệp: là khoản chênh lệch giữa thu nhập về tiêu thụ hàng hoá
và dịch vụ với chi phí đã bỏ ra để đạt được thu nhập đó. Việc tính toán thu nhập hay chi
phí đã chi ra là theo giá cả của thị trường mà giá cả thị trường do quan hệ cung cầu
hàng hoá và dịch vụ quyết định.
+ Lợi nhuận: là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động SXKD, là chỉ tiêu chất
lượng tổng hợp đánh giá hiệu qủa kinh tế các hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
+ Thu nhập của doanh nghiệp hay chính là doanh thu bán hàng hoá và dịch vụ trừ đi
toàn bộ chi phí sản xuất (chi phí về tiền thuê lao động, tiền lương, tiền thuê nhà cửa,
tiền mua vật tư ... ) thuế hàng hoá và các thứ thuế khác hầu như còn lại được gọi là lợi
nhuận. Có thể biểu diễn qua biểu sau :
Biểu 1 : Mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí, thuế và lợi nhuận.
Doanh thu bán hàng và dịch vụ
Lãi gộp
Chi phí biến đổi
Footer Page 16 of 161.
Chi phí cố định
Lợi nhuận trước thuế
Header Page 17 of 161.
Tổng chi phí sản xuất
Thuế
Lợi nhuận
thuần túy
b- Các loại lợi nhuận của doanh nghiệp :
Trong doanh nghiệp, có nhiều loại hình lợi nhuận khác nhau, ta có thể khái quát
thành các loại lợi nhuận sau :
+ Lợi nhuận trước thuế.
+ Lợi nhuận sau thuế.
1.1.2.2- Các nguồn hình thành lợi nhuận của doanh nghiệp :
Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp rất phong phú và
đa dạng, do đó lợi nhuận đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cũng hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.
Thứ nhất: Lợi nhuận của các hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ là khoản
chênh lệch giữa doanh thu về tiêu thụ và chi phí của khối lượng sản phẩm hàng hoá lao
vụ thuộc các hoạt động sản xuất kinh doanh chính phụ của doanh nghiệp.
Thứ hai: Lợi nhuận của các hoạt động liên doanh liên kết là số chênh lệch giữa thu
nhập phân chia từ kết qủa hoạt động liên doanh liên kết với chi phí của doanh nghiệp đã
chi ra để tham gia liên doanh.
Thứ ba: Lợi nhuận thu được từ các nghiệp vụ tài chính là chênh lệch giữa các khoản
thu chi thuộc các nghiệp vụ tài chính trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Thứ tư: Lợi nhuận do các hoạt động sản xuất kinh doanh khác mang lại là lợi nhuận thu
được do kết quả của hoạt động kinh tế khác ngoài các hoạt động kinh tế trên.
Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ một
doanh nghiệp nào. Vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường
doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không thì điều quyết định là doanh nghiệp đó
phải tạo ra lợi nhuận. Vì thế lợi nhuận được coi là một trong những đòn bẩy kinh tế
quan trọng, đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Footer Page 17 of 161.
Header Page 18 of 161.
Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Việc thực hiện các
chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh
nghiệp được vững chắc.
Lợi nhuận của quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp là chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu qủa của qúa trình kinh doanh, của tất
cả các mặt hoạt động trong quá trình kinh doanh ấy, nó phản ánh cả về mặt lượng và
mặt chất của quá trình kinh doanh, của hoạt động kinh doanh. Công việc kinh doanh tốt
sẽ đem lại lợi nhuận nhiều từ đó lợi nhuận có khả năng tiếp tục quá trình kinh doanh có
chất lượng và hiệu quả hơn. Trong trường hợp ngược lại doanh nghiệp làm ăn kém hiệu
quả dẫn đến thua lỗ nếu kéo dài có thể dẫn đến phá sản.
1.2- Phương pháp xác định lợi nhuận và phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
1.2.1- Các phương pháp xác định lợi nhuận của Doanh nghiệp
Như ta đã biết lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh số lượng và chất lượng của các mặt hoạt
động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tổng mức tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá và chi phí đã chi ra để đạt được kết quả đó.
Ta có thể xác định được lợi nhuận theo công thức sau:
Tổng lợi
nhuận trước
=
thuế
Tổng doanh
thu
-
Tổng chi phí sản xuất
kinh doanh
Hay :
Tổng lợi
nhuận trước
thuế
=
Tổng doanh
thu
-
Chi phí cố
định
Chi phí
+
biến đổi
- Tổng doanh thu: là tổng số tiền thu được về bán hàng hoá và dịch vụ.
- Chi phí cố định: là những khoản chi phí không thay đổi theo khối lượng công việc
hoàn thành, không thay đổi khi sản lượng thay đổi như khấu hao tài sản cố định, tiền
thuê đất, máy móc thiết bị, phương tiện kinh doanh, tiền lương, bảo hiểm xã hội của cán
bộ công nhân viên (lao động gián tiếp trong doanh nghiệp ).
Footer Page 18 of 161.
Header Page 19 of 161.
- Chi phí biến đổi: là những chi phí tăng hoặc giảm cùng với sự tăng hoặc giảm của sản
lượng như tiền mua nguyên vật liệu, tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất. Chi phí
biến đổi nói chung tỷ lệ với khối lượng hàng hoá sản xuất hay mua vào để bán.
Tổng lợi
nhuận sau
Tổng
=
-
doanh thu
thuế
Tổng chi phí sản
xuất kinh doanh
+
Chi phí
biến đổi
Các khoản thuế phải nộp bao gồm :
- Thuế doanh thu = Tổng doanh thu x tỷ lệ thuế doanh thu phải nộp
- Thuế tài nguyên
(nếu có)
=
Giá thành khối lượng
sản phẩm
- Thuế xuất nhập
khẩu
Doanh thu xuất nhập
=
khẩu
(nếu có)
- Thuế vốn
Vốn sản xuất do ngân
=
sách nhà nước cấp
x
x
x
Tỷ lệ thuế tài nguyên
phải nộp
Tỷ lệ thuế
xuất nhập khẩu
Tỷ lệ thuế
vốn phải nộp
Ngoài ra doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh khác
không mang tính chất tiêu thụ hàng hoá.
Lợi nhuận từ các hoạt
=
động kinh doanh khác
Tổng thu nhập
-
Tổng chi phí bỏ ra
Như vậy ta có thể xác định tổng lợi nhuận của doanh nghiệp như sau :
Tổng lợi nhuận của
doanh nghiệp
Footer Page 19 of 161.
=
Tổng lợi nhuận từ
sản xuất kinh
+
Lợi nhuận từ hoạt
động kinh doanh
Header Page 20 of 161.
doanh
khác
Khi đã tính toán được tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp ta còn phải xác định số
thuế lợi tức doanh nghiệp phải nộp.
Thuế lợi tức phải
Tổng số lợi
=
nộp
Tỷ lệ thuế lợi tức phải
x
nhuận
nộp
Số lợi nhuận còn lại sau khi đã trừ đi thuế lợi tức được gọi là lợi nhuận thuần túy của
doanh nghiệp.
Như chúng ta đã biết: Toàn bộ doanh thu, giá thành toàn bộ và thuế đều được xác định
dựa trên cơ sở khối lượng sản phẩm tiêu thụ, giá bán đơn vị, giá thành đơn vị và mức
thuế đơn vị sản phẩm tiêu thụ. Do đó tổng lợi nhuận tiêu thụ còn có thể được tính theo
công thức sau :
m
ln = [n (Qi x Gi ) - ( m Zi + Ti
)]
i=l
i=l
i=l
ln : Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
Qi : Sản lượng hàng hoá tiêu thụ
Gi : Giá bán hàng hoá loại i
Zi : Giá thành hàng hoá loại i
Ti : Thuế hàng hoá loại i tiêu thụ
n : Số loại hàng hoá
m : Số loại thuế
Qua công thức xác định lợi nhuận trên ta có thể thấy rõ được sự ảnh hưởng của
từng nhân tố sản lượng tiêu thụ, cơ cấu mặt hàng, giá thành sản phẩm và các loại thuế
Footer Page 20 of 161.
Header Page 21 of 161.
đến tổng số lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp. Ta có thể xét sự ảnh hưởng của các
nhân tố trên qua việc phân tích dưới đây:
a- Nhân tố sản lượng sản phẩm tiêu thụ:
Trong trường hợp các nhân tố khác không biến động (nhân tố về giá cả, giá thành
toàn bộ sản phẩm hàng hoá dịch vụ tiêu thụ, thuế ...) thì sản lượng tiêu thụ tăng giảm
bao nhiêu lần tổng số lợi nhuận tiêu thụ cũng tăng giảm bấy nhiêu. Nhân tố này được
coi là nhân tố chủ quan của doanh nghiệp trong công tác quản lý kinh doan nói chung
và quản lý tiêu thụ nói riêng. Việc tăng sản lượng tiêu thụ phản ánh kết quả tích cực của
doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến khâu chuẩn bị tiêu thụ và tiêu thụ sản phẩm.
b- Nhân tố kết cấu mặt hàng tiêu thụ:
Việc thay đổi tỷ trọng mặt hàng tiêu thụ có liên quan đến việc xác định chính sách
sản phẩm, cơ cấu mặt hàng của doanh nghiệp. Mỗi loại mặt hàng có tỷ trọng mức lãi lỗ
khác nhau do đó nếu tăng tỷ trọng những mặt hàng có mức lãi cao, giảm tỷ trọng tiêu
thụ những mặt hàng có mức lãi thấp thì mặc dù tổng sản lượng tiêu thụ có thể không
đổi nhưng tổng số lợi nhuận có thể vẫn tăng.
Việc thay đổi tỷ trọng mặt hàng tiêu thụ lại chịu ảnh hưởng của nhu cầu thị trường. Về
ý muốn chủ quan thì doanh nghiệp nào cũng muốn tiêu thụ nhiều những mặt hàng mang
lại lợi nhuạan cao song ý muốn đó phải đặt trong mối quan hệ cung cầu trên thị trường
và những nhân tố khách quan tác động.
c- Nhân tố giá bán sản phẩm:
Trong điều kiện bình thường đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bình
thường, giá bán sản phẩm do doanh nghiệp xác định. Trong trường hợp này giá bán sản
phẩm thay đổi thường do chất lượng sản phẩm thay đổi. Do việc thay đổi này mang tính
chất chủ quan, tức là phản ánh kết quả chủ quan của doanh nghiệp trong quản lý sản
xuất kinh doanh nói chung và quản lý chất lượng nói riêng. Khi giá bán sản phẩm tăng
sẽ làm tổng số lợi nhuận tiêu thụ. Từ phân tích trên có thể suy ra rằng việc cải tiến nâng
cao chất lượng sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Mặt
khác việc thay đổi giá bán cũng do tác động của quan hệ cung cầu, của cạnh tranh ...
đây là tác động của yếu tố khách quan.
Footer Page 21 of 161.
Header Page 22 of 161.
d- Nhân tố giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ:
Giá thành toàn bộ sản phẩm là tập hợp toàn bộ các khoản mục chi phí mà doanh
nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá thành sản phẩm cao hay thấp
phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng lao động, vật tư kỹ thuật, tiền vốn trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu như sản lượng sản xuất, giá cả, mức
thuế không thay đổi thì việc giảm giá thành sẽ là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến việc
tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
e- Nhân tố thuế nộp ngân sách:
ảnh hưởng của thuế đối với lợi nhuận là không theo cùng một tỷ lệ. Việc tăng giảm
thuế là do yếu tố khách quan quyết định (chính sách, luật định của nhà nước). Với mức
thuế càng cao thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng giảm nhưng doanh nghiệp vẫn phải
có nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ cho nhà nước.
1.2.2- Chế độ phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp :
Lợi nhuận tạo ra sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh một phần được trích nộp vào
ngân sách nhà nước, một phần để lại doanh nghiệp.
Phần trích nộp vào ngân sách nhà nước biểu hiện ở hình thức nộp thuế lợi tức đối với
bất kỳ một doanh nghiệp nào (tỷ lệ nộp thuế lợi tức đối với các doanh nghiệp sản xuất
thường là 25% và 45% đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ).
Phần để lại doanh nghiệp được trích vào 3 qũy đó là qũy khuyến khích phát triển sản
xuất, qũy phúc lợi và qũy khen thưởng theo các tỷ lệ sau:
- Qũy khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh > 35%.
- Qũy phúc lợi và khen thưởng < 65%.
Việc trích lợi nhuận vào qũy khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh giúp cho
doanh nghiệp có tích lũy tạo khả năng tái sản xuất mở rộng nhằm phát triển quy mô sản
xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ có khả năng đầu tư đổi mới máy
móc thiết bị, cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh ... từ đó có
điều kiện tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn, đạt lợi nhuận cao hơn.
Footer Page 22 of 161.
Header Page 23 of 161.
Còn phần trích vào qũy phúc lợi và qũy khen thưởng nhằm mục tiêu tạo ra công cụ
khuyến khích người lao động không ngừng nâng cao tay nghề và trình độ, tăng năng
suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao đời sống của người lao động, là
động lực giúp cho người lao động gắn bó với doanh nghiệp hơn.
1.3- Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận và các biện pháp tăng lợi nhuận
1.3.1- Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
a- ý nghĩa của các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận:
Khi tính toán hiệu qủa của hoạt động sản xuất kinh doanh chúng ta không thể coi lợi
nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh và
cũng không chỉ dùng chỉ tiêu này để so sánh chất lượng hoạt động của các doanh
nghiệp khác nhau. Trước hết lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng nó chịu ảnh hưởng
bởi nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, đồng thời các nhân tố này lại tác động lẫn
nhau. Như do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển hàng hoá, điều kiện
thị trường tiêu thụ, thời điểm tiêu thụ có khác nhau cũng làm cho lợi nhuận của các
doanh nghiệp khác nhau.
Hơn nữa quy mô của các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm hàng hoá và dịch
vụ khác nhau thì lợi nhuận thu được cũng sẽ khác nhau. ở những doanh nghiệp lớn có
thể công tác quản lý kém nhưng số lợi nhuận thu được vẫn lớn hơn những doanh nghiệp
có quy mô nhỏ nhưng công tác quản lý lại rất tốt.
Do vậy để đánh giá một cách đầy đủ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp thì phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận. Các chỉ tiêu tỷ suất lợi
nhuận chính là các chỉ tiêu sinh lời kinh doanh biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và
chi phí sản xuất thực tế hoặc với nguồn lực tài chính để tạo ra lợi nhuận. Đồng thời
cũng thể hiện trình độ năng lực kinh doanh của nhà kinh doanh trong việc sử dụng các
yếu tố đó. Như vậy ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn phải dùng các chỉ tiêu tương
đối là tỷ suất lợi nhuận.
b- Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận:
* Tỷ suất lợi nhuận của vốn:
Footer Page 23 of 161.
Header Page 24 of 161.
Đây là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được với số vốn đã chi ra bao gồm các vốn
cố định và vốn lưu động.
Công thức:
Tỷ suất lợi nhuận
của vốn
Tổng số lợi nhuận
=
Tổng vốn sản xuất kinh doanh
Tổng số vốn sản xuất kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động đã chi ra
(trong đó vốn cố định là nguyên giá tài sản cố định trừ đi số đã khấu hao và vốn lưu
động là vốn dự trữ sản xuất, vốn thành phẩm dở dang, vốn thành phẩm).
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của vốn cho thấy hiệu quả sử dụng một đồng vốn sản xuất
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Để nâng cao chỉ tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải
quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm vốn trong các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh.
* Tỷ suất lợi nhuận của giá thành :
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ tiêu thụ.
Công thức:
Tỷ suất lợi nhuận
của giá thành
Tổng số lợi nhuận
=
Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá
& dịch vụ tiêu thụ
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả của một đồng chi phí sử dụng trong việc tạo ra lợi
nhuận. Điều này cho phép doanh nghiệp tìm biện pháp hạ giá thành để nâng cao hiệu
quả kinh doanh.
* Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu bán hàng:
Là một chỉ số phản ánh kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, biểu
hiện quan hệ giữa tỷ lệ lợi nhuận tiêu thụ và doanh thu bán hàng.
Công thức:
Footer Page 24 of 161.
Header Page 25 of 161.
Tổng số lợi nhuận
Tỷ suất doanh lợi
=
Tổng doanh thu tiêu thụ
hàng hoá & dịch vụ
Qua công thức cho thấy hiệu quả của một đồng doanh thu thì tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
* Tỷ suất lợi nhuận theo lao động :
Là so sánh giữa tổng lợi nhuận với số lượng lao động tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh hoặc với tổng chi phí về tiền lương (tiền công) sử dụng trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Điều này có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp quản lý và sử
dụng tốt lao động trong doanh nghiệp theo các hợp đồng lao động.
Công thức :
Tỷ suất lợi nhuận
theo lao động
Tổng số lợi nhuận
=
Tổng lao động sử dụng trong kỳ
1.3.2- Các biện pháp nhằm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp
Qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận ở phần trên ta có
thể đưa ra một số biện pháp chính nhằm tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp như sau:
a- Tăng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo nhu cầu trong nước và quốc tế trên cơ
sở phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ:
Nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng hay của thị trường rất đa dạng và phong phú,
dễ biến động. Trong điều kiện các nhân tố khác ổn định thì việc tăng lượng sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ theo nhu cầu thị trường sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Muốn tăng được khối lượng sản phẩm tiêu thụ cần chuẩn bị tốt các yếu tố và điều kiện
cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi, tổ chức tốt quá
trình sản xuất kinh doanh một cách cân đối nhịp nhàng và liên tục, khuyến khích người
lao động tăng nhanh năng suất lao động.
Footer Page 25 of 161.