Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Đổi mới phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng bắc trung bộ đối với công tác thanh niên giai đoạn hiện nay (tt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (758.63 KB, 27 trang )

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

Lấ TH H

Đổi mới ph-ơng thức lãnh đạo
của các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ
đối với công tác thanh niên giai đoạn hiện nay

tóm tắt Luận án tiến sĩ KHOA HC CHNH TR

Hà Nội - 2017


Công trình đ-ợc hoàn thành tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: 1. PGS, TS Dng Trung í
2. PGS, TS Trng Th Thụng

Phản biện 1: ...................................................

Phản biện 2: .................................................

Phản biện 2: .................................................

Luận án sẽ đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng cấp Nhà n-ớc
Họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
vào hồi .....giờ ......, ngày ....... tháng ........ năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại
- Th- viện Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Th- viện Quốc Gia




1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phương thức lãnh đạo (PTLĐ) của Đảng có vai trò đặc biệt quan
trọng đối với chất lượng, hiệu quả lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ
trương, nghị quyết của Đảng và thắng lợi của cách mạng. Trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, nhất là ở những thời điểm có tính bước
ngoặt, khi chuyển giao giai đoạn cách mạng, hoặc khi lãnh đạo thực
hiện những nhiệm vụ mới, trong những điều kiện và hoàn cảnh mới,
Đảng không thể sử dụng rập khuôn, máy móc PTLĐ của “ngày hôm
qua”, mà phải đổi mới, cải tiến, hoàn thiện các phương pháp, cách thức
lãnh đạo của mình. Do đó, đổi mới PTLĐ của Đảng là một tất yếu
khách quan đối với mỗi nhiệm vụ, mỗi đối tượng lãnh đạo trong mỗi
thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau. Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả và tiếp
tục thực hiện đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
hệ thống chính trị” [29, tr. 214].
Trong công cuộc đổi mới đất nước, thanh niên chính là nguồn nhân
lực dồi dào, có mặt ở khắp các địa phương, các ngành, nghề trong cả nước.
Thanh niên có vai trò vô cùng to lớn đối với thắng lợi công cuộc đổi mới,
song họ cũng chịu tác động nhiều chiều từ những biến đổi của tình hình
trong nước và thế giới. Thực tế đó đặt công tác thanh niên (CTTN) của
Đảng trước yêu cầu, nhiệm vụ và những thách thức mới. Để thanh niên tiếp
tục xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và nhân dân, phát huy vai trò xung
kích của thanh niên, xây dựng thanh niên thành nguồn nhân lực chất lượng
cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội đòi hỏi Đảng phải đổi mới mạnh
mẽ sự lãnh đạo đối với thanh niên và CTTN mà nhất đổi mới PTLĐ của
Đảng đối với CTTN ở những vùng đất có nhiều tiềm năng, thế mạnh và

thanh niên chiếm phần đông dân số và lực lượng lao động như ở các tỉnh
vùng Bắc Trung Bộ (BTB).


2
BTB (Bắc Trung Bộ) gồm 6 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Đây là "vùng đất thép" của Tổ
quốc, là địa bàn có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự ổn định và phát triển
của cả nước. Để khai thác và phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh của vùng,
thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH phải phát huy mạnh mẽ nguồn
nhân lực, nhất là thanh niên - lực lượng chiếm hơn 30% dân số và 55% lực
lượng lao động. Trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là những năm gần đây,
các tỉnh ủy vùng BTB đã quan tâm đổi mới sự lãnh đạo của mình đối với
CTTN. Do đó tình hình thanh niên có những chuyển biến mạnh mẽ, tích
cực, CTTN đã góp phần xây dựng được thế hệ thanh niên thời kỳ mới có
đạo đức, nhân cách, tri thức, sức khỏe, tư duy năng động và hành động
sáng tạo, mong muốn được tin tưởng, được cống hiến cho đất nước. Các
tỉnh uỷ BTB đã lãnh đạo HTCT, toàn xã hội thực hiện tốt hơn CTTN và
chăm lo xây dựng Đoàn; xây dựng và ban hành Chiến lược phát triển
thanh niên và nhiều chính sách về CTTN, tạo điều kiện, cơ hội cho thanh
niên rèn luyện, cống hiến, trưởng thành. Tuy nhiên, tình hình thanh niên
cũng đang diễn biến hết sức phức tạp, tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội
trong thanh niên đang gia tăng.
Như vậy, những thành tựu to lớn đã đạt được trong thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng đang tạo ra môi trường mới để thanh niên
phát triển tài năng, cống hiến cho xã hội, từng bước cải thiện đời sống.
Bối cảnh trong nước và quốc tế cùng với những chuyển động không
ngừng của tình hình thanh niên và CTTN của các tỉnh BTB tất yếu đòi
hỏi sự đổi mới không ngừng cả về lý luận cũng như phương pháp tiếp
cận thực tiễn; đổi mới mạnh mẽ PTLĐ của các tỉnh ủy đối với CTTN

trong tình hình mới, góp phần quan trọng trong công tác vận động, tập
hợp và đoàn kết thanh niên thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ do Đảng,
Nhà nước và nhân dân giao phó.


3
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, việc lựa chọn và thực hiện đề tài
“Đổi mới phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ đối
với công tác thanh niên giai đoạn hiện nay” có tính cấp thiết cả về lý
luận và thực tiễn.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến đề tài; đánh giá đúng thực trạng, luận án đề xuất phương
hướng và các giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy
vùng BTB đối với CTTN thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận án; chỉ chỉ ra những kết quả, xác định những vấn đề luận án kế thừa
và tiếp tục nghiên cứu: làm rõ những vấn đề lý luận về đổi mới PTLĐ
của các tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN trong giai đoạn hiện nay; khảo
sát, đánh giá đúng thực trạng đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy vùng BTB
đối với CTTN từ năm 2008 đến nay chỉ ra ưu, khuyết điểm, kết quả,
nguyên nhân của thực trạng và rút ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn;
xác định những vấn đề có tính nguyên tắc trong đổi mới PTLĐ của các
tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN; đề xuất phương hướng và những giải
pháp chủ yếu, khả thi nhằm tiếp tục đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy vùng
BTB đối với CTTN đến năm 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án: Đổi mới PTLĐ của các tỉnh
ủy vùng BTB đối với CTTN trong giai đoạn hiện nay.



4
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Về thời gian khảo sát: Luận án tập trung
nghiên cứu thực trạng PTLĐ và quá trình đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy
vùng BTB đối với CTTN trong từ năm 2008 đến năm 2015, phương
hướng, giải pháp đề xuất có giá trị đến năm 2025. Về không gian: Vùng
BTB (gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị
và Thừa Thiên - Huế).
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm,
đường lối của Đảng về thanh niên, CTTN và PTLĐ của Đảng đối với các tổ
chức CT- XH; chính sách của Nhà nước về thanh niên và CTTN. Cơ sở thực
tiễn của luận án là tình hình thanh niên và CTTN, thực trạng đổi mới
PTLĐ của các tỉnh ủy các tỉnh BTB đối với CTTN giai đoạn hiện nay.
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận án được thực hiện trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời sử dụng các
phương pháp chuyên ngành: lịch sử - lôgic, phương pháp phân tích; phương
pháp chuyên gia, điều tra, khảo sát thực tế.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Đưa ra khái niệm đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN
và những yêu cầu đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN.
- Rút ra một số kinh nghiệm về đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy vùng
BTB đối với CTTN từ năm 2008 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp đặc biệt là hai nhóm giải pháp tiếp tục đổi
mới PTLĐ của các tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN đến năm 2025: Một
là, xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn thực sự là “thủ lĩnh” của thanh niên; hai
là, khắc phục tình trạng “hành chính hóa” trong tổ chức và hoạt động của
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.



5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án.
6.1. Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung và làm
sáng rõ thêm những vấn đề lý luận về PTLĐ và đổi mới PTLĐ của Đảng
đối với các lĩnh vực đời sống xã hội; luận án cung cấp thêm những luận cứ
khoa học cho các tỉnh ủy nghiên cứu, tham khảo phục vụ cho hoạt động
lãnh đạo của các tỉnh ủy nói chung và quá trình đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy
đối với CTTN nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án: Luận án có thể dùng làm tài liệu
tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập ở các
trường chính trị tỉnh, thành phố và ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận án: Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, 11 tiết,
kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến
đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong thời gian gần đây, vấn đề đảng cầm quyền, vai trò của lãnh đạo
của Đảng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng mà đặc biệt là đổi mới PTLĐ của
Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với thanh niên và CTTN giành
được sự quan tâm của giới nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước với
những phương diện, mức độ và mục tiêu khác nhau.
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước bao gồm
đề tài khoa học, các sách chuyên khảo và tham khảo, luận án, luận văn, các
tạp chí, bài báo khoa học về: PTLĐ và đổi mới PTLĐ của Đảng; thanh

niên, CTTN và Đảng lãnh đạo CTTN.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
Luận án đã tổng thuật nghiên cứu về sự lãnh đạo nói chung, PTLĐ,
đổi mới PTLĐ của Đảng; thanh niên, CTTN và Đảng lãnh đạo CTTN của
Liên Xô, Trung Quốc và Lào
1.3. KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH
KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TẬP
TRUNG GIẢI QUYẾT
1.3.1. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
có liên quan đến luận án
Qua kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên luận án
tiếp thu, kế thừa một số nội dung chính sau đây: Một là, vai trò lãnh đạo
của Đảng trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới; hai là, vai trò, nội dung,
PTLĐ của tỉnh ủy đối với một số tổ chức trong HTCT và trên một số lĩnh
vực đời sống xã hội; ba là, góp phần làm rõ một số khía cạnh liên quan
đến nội dung và PTLĐ của Đảng đối với thanh niên và CTTN. Đây là
những tư liệu quý mà nghiên cứu sinh trân trọng tiếp thu, vận dụng để làm
sáng tỏ vấn đề đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy đối với CTTN trong giai
đoạn hiện nay.
1.3.2. Những vấn đề luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu


7
Trên cơ sở khảo cứu các công trình khoa học liên quan đến đề tài
luận án, luận án sẽ tập trung nghiên cứu, làm rõ các vấn đề chủ yếu sau: Về
mặt lý luận, luận án sẽ tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi
mới PTLĐ các tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN giai đoạn hiện nay. Luận
án tập trung làm rõ một số vấn đề như: đặc điểm tự nhiên, KT- XH của các
tỉnh vùng BTB; chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của tỉnh ủy, của CTTN
vùng BTB hiện nay; khái niệm, nội dung, PTLĐ và đổi mới PTLĐ của các

tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN. Về mặt thực tiễn, khảo sát, phân tích
đánh giá đúng thực trạng đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy vùng BTB đối với
CTTN từ năm 2008 đến năm nay, chỉ ra ưu, khuyết điểm, xác định rõ
nguyên nhân của thực trạng và rút ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn;
đồng thời, xác định những vấn đề có tính nguyên tắc trong đổi mới sự lãnh
đạo của các tỉnh ủy đối với CTTN vùng BTB. Cuối cùng, dự báo những
thuận lợi, khó khăn tác động đến đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy vùng BTB
đối với CTTN và đề xuất những giải pháp chủ yếu, khả thi nhằm tiếp tục
đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN đến năm 2025.


8
Chương 2
ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY
VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. CÁC TỈNH VÀ TỈNH ỦY VÙNG BẮC TRUNG BỘ HIỆN NAY

2.1.1. Khái quát về các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, dân cư, văn hóa - chính trị,
quốc phòng, an ninh của 6 tỉnh vùng BTB gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của các tỉnh ủy vùng
Bắc Trung Bộ
Tỉnh ủy là tên gọi tắt của BCH đảng bộ tỉnh, do đại hội đại biểu đảng
bộ tỉnh bầu ra, là cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội.
Chức năng các tỉnh ủy vùng BTB: Lãnh đạo các tổ chức trong
HTCT, các lĩnh vực của đời sống xã hội và nhân dân thực hiện đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo, chỉ
đạo công tác xây dựng Đảng; tổng kết thực tiễn, đề xuất với Trung ương

bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước.
Nhiệm vụ của các tỉnh ủy vùng BTB: Một là, chấp hành đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyết định chủ trương, giải
pháp nhằm cụ thể hóa và thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nghị
quyết của Trung ương Đảng, nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh; hai
là, quyết định chương trình làm việc toàn khóa của tỉnh ủy; ba là, quyết
định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu về phát triển KT- XH hằng năm;
bốn là, quyết định nhân sự giới thiệu ứng cử, đề cử hoặc rút khỏi các chức
danh: Bí thư, Phó Bí thư tỉnh ủy; Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND; năm
là, lãnh đạo chính quyền, MTTQ và các đoàn thể CT- XH của tỉnh; lãnh
đạo các cấp ủy và tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện thắng lợi chỉ thị, nghị
quyết, chủ trương, phương hướng công tác của tỉnh ủy; sáu là, kiểm tra,


9
giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên trong đảng bộ tỉnh;
bảy là, thực hiện việc sơ kết, tổng kết, báo cáo các hoạt động thuộc thẩm
quyền, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy; tám là, chuẩn bị và tổ
chức đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh; chín là, xem xét, chỉ đạo công tác tài
chính theo quy định.
Đặc điểm của các tỉnh ủy vùng BTB: Một là, các tỉnh ủy vùng BTB
được kế thừa truyền thống cách mạng của các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân
dân trong các thời kỳ cách mạng trước; hai là, các tỉnh ủy vùng BTB hoạt
động trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt, kinh tế còn nhiều khó khăn so
với nhiều vùng, miền khác ở nước ta; ba là, cơ cấu, trình độ mọi mặt và
năng lực công tác của đội ngũ tỉnh ủy viên đã có nhiều chuyển biến tiến
bộ; bốn là, các tỉnh ủy vùng BTB chưa có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo phát
triển đô thị, kinh tế nông nghiệp hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên

địa bàn tỉnh; năm là, đối tượng lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng BTB đa
dạng, có nhiều thế mạnh, song cũng còn một số hạn chế, yếu kém.
2.2. CÔNG TÁC THANH NIÊN, PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO
VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY
VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN
2.2.1. Thanh niên và công tác thanh niên các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
* Khái niệm thanh niên: Thanh niên Việt Nam nói chung, thanh niên
các tỉnh BTB là lớp người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi, là một tầng lớp xã
hội đặc thù, chiếm số đông trong dân số. Họ là một lực lượng quan trọng
của xã hội hiện tại cũng như trong tương lai, có mặt trong tất cả các tổ
chức đảng, chính quyền, tổ chức CT - XH, lực lượng vũ trang, đơn vị sự
nghiệp công, doanh nghiệp nhà nước và do nhiều cấp, nhiều tổ chức quản lý.
* Đặc điểm thanh niên các tỉnh vùng BTB: Một là, thanh niên BTB
trưởng thành trong vùng đất có nhiều truyền thống cách mạng; hai là,
thanh niên BTB có truyền thống hiếu học, có bản lĩnh, chí tiến thủ và nghị
lực vượt khó; ba là, thanh niên các tỉnh BTB có xu hướng muốn thoát ly
khỏi quê hương để lập nghiệp; bốn là, do ảnh hưởng văn hóa vùng miền
nên thanh niên BTB còn một số hạn chế nhất định.


10
2.2.1.2. Công tác thanh niên ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ - khái
niệm, vai trò
* Khái niệm công tác thanh niên ở các tỉnh vùng BTB: Là hệ thống
các hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
cùng các tổ chức trong HTCT và toàn xã hội tác động đến thanh niên nhằm
giáo dục, bồi dưỡng, tập hợp, đoàn kết, tổ chức, rèn luyện và phát huy vai
trò của thanh niên các tỉnh BTB trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát
triển quê hương, đất nước.
* Nội dung CTTN của các tỉnh ủy vùng BTB hiện nay gồm: Một là,

xây dựng, củng cố, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên thông
qua các tổ chức của thanh niên; hai là, tổ chức các hoạt động để thanh niên
được tham gia, phấn đấu và trưởng thàn; ba là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về thanh niên và CTTN; bốn là, phối hợp với MTTQ, các
đoàn thể CT-XH, tổ chức kinh tế - xã hội và gia đình cùng giáo dục, bồi
dưỡng, phát huy vai trò của thanh niên; năm là, xây dựng môi trường xã hội
lành mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên được học tập nâng cao trình độ và
phát triển toàn diện.
* Vai trò của công tác thanh niên các tỉnh vùng BTB: Một là, CTTN
góp phần vào việc tập hợp, tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện thanh niên;
hai là, CTTN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác của Đảng;
ba là, CTTN ở các tỉnh BTB là nhân tố quan trọng, góp phần vào việc thực
hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
quốc phòng - an ninh của địa phương.
2.2.2. Các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ lãnh đạo công tác thanh
niên – khái niệm, nội dung, phương thức
2.2.2.1. Khái niệm các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ lãnh đạo công
tác thanh niên: Là toàn bộ hoạt động của tỉnh ủy, từ việc đề ra các chủ
trương, nghị quyết về CTTN trên địa bàn tỉnh, cụ thể hóa và tổ chức thực
hiện các chủ trương, nghị quyết; tổ chức kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt


11
động đó, nhằm xây dựng và phát huy mạnh mẽ vai trò của thanh niên, thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ CTTN của tỉnh.
2.2.2.2. Nội dung lãnh đạo công tác thanh niên của các tỉnh ủy vùng
Bắc Trung Bộ
Một là, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước và xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ
CTTN của tỉnh; hai là, tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền cụ thể hoá, thể chế

hoá các chủ trương, nghị quyết của Đảng về thanh niên và CTTN; ba là,
tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập, quán triệt các quan điểm, chủ
trương, nghị quyết của Đảng về thanh niên, về Đảng lãnh đạo CTTN; bốn
là, tỉnh ủy lãnh đạo phát huy vai trò, trách nhiệm của MTTQ và các đoàn
thể CT- XH, các tổ chức khác trong xã hội và toàn dân trong CTTN; năm
là, tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng và củng cố Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; sáu
là, tỉnh ủy kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên về lãnh đạo, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ CTTN.
* Phương thức lãnh đạo của tỉnh ủy Bắc Trung Bộ đối với CTTN
- PTLĐ của Đảng đối với CTTN là hệ thống các cách thức, hình
thức, phương pháp, quy trình, quy chế, quy định, lề lối làm việc, tác phong
công tác… mà Đảng sử dụng để tác động vào các tổ chức đảng, đảng viên,
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các tổ chức trong HTCT, các tổ chức xã hội, xã
hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác, nhằm thực hiện thắng lợi nội dung
lãnh đạo CTTN của Đảng.
- PTLĐ của các tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN gồm các cách thức,
hình thức, phương pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tỉnh ủy lãnh đạo bằng các nghị quyết, chỉ thị, chủ trương,
chương trình công tác và các định hướng lớn của tỉnh ủy về CTTN; thứ
hai, bằng công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục tổ chức
đảng, đảng viên để thực hiện nghị quyết, chủ trương về CTTN; thứ ba,
bằng công tác tổ chức, cán bộ trong các tổ chức thanh niên; thứ tư, trực
tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; thứ năm, tỉnh ủy lãnh đạo phát


12
huy vai trò của chính quyền các cấp, MTTQ và các tổ chức CT – XH
tiến hành CTTN; thứ sáu, lãnh đạo thông qua việc phát huy vai trò của
các tổ chức đảng và tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ,
đảng viên; thứ bảy, xây dựng và thực hiện quy chế, phong cách, lề lối

làm việc; thứ tám, tỉnh ủy lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát;
tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo CTTN.
2.3. ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY
VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN – KHÁI
NIỆM, NỘI DUNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH NGUYÊN TẮC
2.3.1. Khái niệm đổi mới phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy
Bắc Trung Bộ đối với công tác thanh niên
Đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy đối với CTTN là những hoạt động của
tỉnh ủy mà trực tiếp là BTV tỉnh ủy để thay đổi, cải tiến, bổ sung, hoàn thiện
các cách thức, hình thức, phương pháp, quy trình, quy chế, quy định, lề lối
làm việc, tác phong công tác… tác động đến CTTN theo hướng tích cực, tiến
bộ, phù hợp với tình hình mới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo
của tỉnh ủy đối với CTTN góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước.
2.3.2. Nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy
vùng Bắc Trung Bộ đối với công tác thanh niên
Một là, đổi mới nội dung quy trình ban hành và tổ chức thực hiện các
quan điểm, chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, chương trình hành động của
tỉnh ủy về CTTN; hai là, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp
công tác tư tưởng của tỉnh ủy trong lãnh đạo CTTN; ba là, đổi mới
công tác tổ chức, cán bộ; bốn là, đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối
với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; năm là, đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo
của tỉnh ủy đối với chính quyền các cấp thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về thanh niên; phát huy vai trò của MTTQ, các tổ chức CT XH và nhân dân tham gia CTTN; sáu là, đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của các tổ chức đảng, phát huy vai trò tiền phong,
gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong CTTN; bảy là, đổi mới


13
việc xây dựng và thực hiện quy chế, phong cách, lề lối làm việc; tám

là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát; tổng kết
kinh nghiệm lãnh đạo của tỉnh ủy đối với CTTN.
2.3.3. Một số vấn đề có tính nguyên tắc trong đổi mới phương
thức lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ đối với công tác
thanh niên
Một là, đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN
phải góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; hai là, đổi mới PTLĐ của tỉnh
ủy phải nhằm giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của tỉnh ủy đối
với CTTN, phát huy vai trò của các tổ chức trong HTCT nhất là Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh; ba là, đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với CTTN trên
cơ sở kế thừa, phát huy những thành tựu, tính ưu việt, kinh nghiệm tốt về
PTLĐ của tỉnh ủy đối với CTTN giai đoạn trước; bốn là, đổi mới PTLĐ
của tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN phải thực hiện đúng nguyên tắc tập
trung dân chủ trong hoạt động của tỉnh ủy và thực hiện nghiêm chỉnh nguyên
tắc hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; năm là, đổi mới
PTLĐ của tỉnh ủy đối với CTTN phải bám sát chức năng, nhiệm vụ của
tỉnh ủy và các tổ chức của thanh niên.


14
Chương 3
ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY
VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM
3.1. THỰC TRẠNG THANH NIÊN VÀ CÔNG TÁC THANH
NIÊN Ở CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ
3.1.1. Thực trạng thanh niên ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
3.1.1.1. Những ưu điểm
Theo kết quả thống kê, tính đến tháng 6/2016 vùng BTB có 3.223.690
người trong độ tuổi thanh niên, chiếm hơn 30% dân số cả vùng [Phụ lục 12].

Điểm nổi bật trong đa số thanh niên của các tỉnh BTB là năng động, sáng
tạo, tiếp nối truyền thống yêu nước của các thế hệ cha anh; thanh niên BTB
ngày nay có trình độ học vấn cao hơn trước; tính tích cực xã hội, tinh thần
xung phong tình nguyện, ý thức chia sẻ cộng đồng đã được khơi dậy trong
thanh niên; ý thức tiết kiệm, cần cù, vượt khó vươn lên được thể hiện rõ
trong không ít bạn trẻ; quan niệm của thanh niên về đạo đức, lối sống có sự
biến đổi rõ rệt.
3.1.1.2. Hạn chế:
Vẫn còn một bộ phận thanh niên có biểu hiện mờ nhạt về lý tưởng, dễ
dao động về lập trường chính trị; trình độ văn hóa của một bộ phận thanh
niên còn thấp, đa số thanh niên còn thiếu kiến thức, kỹ năng cần thiết cho
yêu cầu phát triển, hội nhập; thanh niên lao động di cư từ nông thôn ra các
thành phố lớn, các khu công nghiệp tăng nhanh đang tạo nên áp lực đối với
công tác quản lý nhà nước và việc đảm bảo các điều kiện để cải thiện đời
sống cho người lao động mà nhất là lao động trẻ; Sự gia tăng của các tệ
nạn xã hội như ma túy, mại dâm, tội phạm chưa được ngăn chặn, trong đó
đối tượng là thanh niên chiếm tỷ lệ cao…


15
3.1.2. Thực trạng công tác thanh niên các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
Một là, xây dựng, củng cố, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh
niên thông qua các tổ chức của thanh niên ngày càng được chú trọng. Tổ
chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hội LHTN, hội Sinh viên và các tổ chức
thành viên của thanh niên ở BTB đã có nhiều chuyển biến tích cực trong
đổi mới nội dung, phương thức hoạt động. Tuy nhiên, tác động, ảnh hưởng
của tổ chức Đoàn, Hội tại cơ sở đối với thanh niên nhiều nơi chưa rõ nét
do đó tỷ lệ thu hút, tập hợp thanh niên ở một số nơi còn thấp.
Hai là, công tác giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, lối sống văn
hóa, cho thanh niên được triển khai với nhiều sự đổi mới về hình thức;

bước đầu giải quyết nhu cầu việc làm cho thanh niên, nâng cao chất lượng
lao động trẻ; thực hiện chính sách đối với tài năng trẻ; phát huy sự nỗ lực
phấn đấu của thanh niên trong học tập, lao động. Tuy nhiên, vẫn còn một
số cấp uỷ nhận thức về công tác giáo dục thế hệ trẻ còn đơn giản, thiếu sự
quan tâm chỉ đạo thường xuyên, kịp thời; đào tạo nghề, giới thiệu việc
làm, vốn vay cho thanh niên chưa đáp ứng yêu cầu.
Ba là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên và
CTTN thông qua thực hiện chương trình phát triển thanh niên. Tuy nhiên, một
số khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách liên quan đến CTTN chậm
được tháo gỡ, chưa thành lập được Hội đồng CTTN.
Bốn là, tăng cường vai trò của Mặt trận, các đoàn thể, tổ chức KTXH và gia đình cùng phối hợp giáo dục, bồi dưỡng, phát huy thanh niên.
Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện các nội dung, chương trình ký kết liên
quan đến thanh niên còn chung chung; sự phối hợp giữa gia đình, nhà
trường và xã hội trong giáo dục thế hệ trẻ chưa chặt chẽ.
Năm là, các tỉnh ủy BTB đã có nhiều cố gắng xây dựng môi trường
xã hội lành mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên được học tập nâng cao trình
độ và phát triển toàn diện. Tuy nhiên, việc xây dựng và triển khai chính
sách để xây dựng các thiết chế văn hóa, vui chơi, giải trí cho thanh thiếu
nhi ở các tỉnh BTB còn chưa đáp ứng nhu cầu.


16
3.2. THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO
CỦA CÁC TỈNH ỦY VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
THANH NIÊN
3.2.1.Ưu điểm
Một là, về đổi mới quy trình ban hành và tổ chức thực hiện các chỉ
thị, nghị quyết về CTTN: các tỉnh ủy đã ban hành các chủ trương, nghị
quyết về CTTN và sử dụng đó làm công cụ để lãnh đạo cụ thể đối với
CTTN; quá trình xây dựng nghị quyết của các tỉnh ủy BTB có sự thảo luận

cả về lý luận và tổng kết thực tiễn, phát huy trí tuệ trong Đảng, vai trò
giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và các tổ chức CT- XH; có nhiều
cải tiến trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết về CTTN.
Hai là, về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của tỉnh
ủy trong lãnh đạo CTTN: Các tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo việc đổi mới việc
tổ chức học tập, quán triệt quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, các
chỉ thị, nghị quyết, đề án, chương trình của tỉnh ủy về CTTN; tích cực chỉ
đạo các cơ quan thông tin đại chúng kịp thời tuyên truyền thực hiện các
nghị quyết, chỉ thị của tỉnh ủy về CTTN; tiến hành sơ kết, tổng kết.
Ba là, về đổi mới công tác tổ chức, cán bộ: Rà soát, hoàn thiện chức
năng, nhiệm vụ; kiện toàn tổ chức bộ máy; lựa chọn, bố trí những cán bộ,
đảng viên, cấp ủy viên có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực và nhiệt tình
phụ trách CTTN; tạo nguồn và đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ phụ trách
CTTN; thực hiện tốt việc chuẩn bị nhiều phương án nhân sự để lựa chọn
bổ nhiệm, điều động, giới thiệu cán bộ ứng cử.
Bốn là, về đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh: Xây dựng quy chế làm việc với BCH tỉnh đoàn; duy trì chế độ
làm việc định kỳ hàng tháng, hàng quý giữa cấp ủy đảng và BCH tỉnh
đoàn; lãnh đạo phát huy vai trò nòng cốt của tổ chức Đoàn trong xây dựng
Hội LHTN, Hội Sinh viên Việt Nam, Đội TNTP Hồ Chí Minh; đổi mới
công tác cán bộ đoàn.
Bốn là, về đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy đối với chính
quyền các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thanh niên; phát
huy vai trò của MTTQ, các tổ chức CT-XH và nhân dân trong việc thực


17
hiện CTTN: Phát huy sức mạnh tổng hợp của mối quan hệ giữa tỉnh ủy
với UBND, thành lập phòng CTTN thuộc Sở Nội vụ, thực hiện nhiệm vụ
tham mưu, quản lý nhà nước về thanh niên và CTTN; phát huy vai trò

giám sát của HĐND tỉnh trong quá trình UBND tỉnh tổ chức thực hiện
nghị quyết của tỉnh ủy; thực hiện lồng ghép các chính sách liên quan đến
CTTN với quy hoạch, xây dựng các chương trình phát triển KT- XH; phát
huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể CT-XH về
việc đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với CTTN.
Năm là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các tổ chức
đảng, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong CTTN: nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu các tổ
chức đảng; các cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở đều đưa chỉ tiêu đánh giá, xếp
loại tổ chức cơ sở đảng gắn với chất lượng tổ chức cơ sở đoàn; tập trung
lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện học tập và làm theo tấm tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh; phát huy vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của
người đứng đầu.
Sáu là, đổi mới việc xây dựng và thực hiện quy chế, phong cách, lề
lối làm việc: Đã đổi mới phong cách, lề lối làm việc theo hướng mở rộng
dân chủ, giữ vững kỷ cương; xây dựng và thực hiện tốt chương trình làm
việc toàn khóa, hàng tháng, hàng quý, hàng năm; tiến hành kiểm tra việc
thực hiện quy chế và xử lý nghiêm những cấp ủy viên vi phạm quy chế
quy định đã ban hành; BTV tỉnh ủy vùng BTB đã thành lập tổ giúp việc
gồm các đồng chí Ủy viên BTV tỉnh, lãnh đạo tỉnh Đoàn, các ban chuyên
môn làm thành viên; đồng thời, giao cho ban Tuyên giáo, ban Dân vận tỉnh
ủy là bộ phận thường trực.
Bảy là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát;
tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo của tỉnh ủy đối với CTTN: Xây dựng
chương trình, kế hoạch, kiểm tra, giám sát từ đầu nhiệm kỳ; nội dung kiểm
tra hướng vào việc quán triệt, cụ thể hóa và lãnh đạo thực hiện các chủ
trương, đường lối, nghị quyết của Trung ương, các nghị quyết, quyết định
của tỉnh ủy, BTV tỉnh ủy và của cấp ủy về CTTN.



18
3.2.2. Hạn chế, khuyết điểm
Một là, chưa xây dựng được nhiều nghị quyết chuyên đề riêng của
tỉnh ủy về CTTN; việc thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin phục vụ cho
xây dựng dự thảo nghị quyết vẫn còn nhiều bất cập; tuyên truyền, phổ biến,
quán triệt tổ chức đảng, đảng viên trong HTCT để thực hiện các nghị quyết,
chủ trương về CTTN còn chậm; có biểu hiện “khoán trắng” CTTN cho
Đoàn thanh niên.
Hai là, việc nắm bắt dư luận xã hội, dư luận trong cơ quan, tổ
chức, dự báo định hướng tư tưởng chưa kịp thời; học tập, quán triệt nghị
quyết của tỉnh ủy về CTTN của nhiều chi bộ, đảng bộ cơ sở còn qua
loa; Việc chỉ đạo của các ban tuyên giáo, ban dân vận tỉnh ủy đối với
phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh trong tuyên truyền, phổ biến
nghị quyết của tỉnh ủy về CTTN còn chưa phong phú về nội dung, đơn
điệu về hình thức.
Ba là, công tác quy hoạch tạo nguồn cán bộ đoàn còn nhiều bất cập; vai
trò tham mưu cho cấp ủy về công tác tổ chức cán bộ Đoàn của một số cơ sở
Đoàn chưa thật tốt, chưa phát huy hiệu quả tham mưu; việc đánh giá, bố trí,
sử dụng cán bộ nhiều khi còn chủ quan, chưa thật công tâm, thiếu dân chủ
hoặc dân chủ hình thức; còn nhiều bất hợp lý trong thực hiện chính sách
đối với cán bộ.
Bốn là, PTLĐ của tỉnh ủy đối với tổ chức Đoàn còn chậm đổi mới;
việc phối hợp thực hiện giữa các cấp, các ngành, đoàn thể để giải quyết
những vấn đề bức xúc của thanh niên và CTTN chưa đồng bộ; các chủ
trương về tổ chức bộ máy, kinh phí hoạt động của các đơn vị sự nghiệp do
Đoàn thanh niên quản lý còn chậm được điều chỉnh; chủ trương đẩy mạnh
việc quản lý của Nhà nước đối với thanh niên còn nhiều bất cập; MTTQ và
các đoàn thể nhiều địa phương chưa phối hợp chặt chẽ; sự kết hợp giữa gia
đình - nhà trường - xã hội trong giáo dục thanh niên còn hạn chế.
Năm là, vẫn còn tổ chức đảng chưa nhận thức sâu sắc vai trò của

mình đối với CTTN; chất lượng hoạt động, nội dung sinh hoạt chi bộ đơn
điệu; việc đề cao trách nhiệm cá nhân và sự gương mẫu của một số cấp ủy
viên chưa đồng đều, trực tiếp đến cơ sở để chỉ đạo, lãnh đạo phong trào.


19
Sáu là, vẫn còn phong cách, lề lối làm việc hình thức; một số tỉnh uỷ
còn chưa thực hiện nghiêm chương trình, kế hoạch đã đề ra; phương pháp
công tác, thực hiện quy chế làm việc, chương trình công tác của BCH,
BTV tỉnh ủy các tỉnh BTB vẫn chưa thật sự đổi mới; việc chỉ đạo cải cách
hành chính trong Đảng chưa thực sự có hiệu quả.
Bảy là, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với CTTN thông qua công tác
kiểm tra, giám sát ở một số tổ chức đảng đôi khi còn buông lỏng, mang
tính hình thức; công tác kiểm tra, giám sát chưa được tiến hành thường
xuyên; việc tham mưu cho tỉnh ủy của một số ủy ban kiểm tra ở BTB còn
thiếu chủ động; chất lượng và hiệu quả một số cuộc kiểm tra, giám sát
chưa cao.
3.3. NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI
PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY VÙNG BẮC
TRUNG BỘ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN
3.3.1. Nguyên nhân
3.3.1.1. Nguyên nhân của ưu điểm
Thứ nhất, các tỉnh uỷ ở BTB đã có nhận thức đúng về tính cấp thiết của
đổi mới sự lãnh đạo nói chung, trong đó có đổi mới PTLĐ đối với CTTN nói
riêng; thứ hai, sự phát triển về số lượng và chất lượng của thanh niên là cơ
sở chính trị, xã hội thuận lợi cho các tỉnh ủy đổi mới PTLĐ đối với
CTTN; thứ ba, thành tựu của công cuộc đổi mới, nhất là sự phát triển kinh
tế xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy
đối với CTTN; thứ tư, các tỉnh uỷ ở BTB đã có nhiều chủ động, nỗ lực
trong đổi mới PTLĐ đối với các lĩnh vực KT- XH trong đó có CTTN; thứ

năm, trình độ, năng lực của đội ngũ cấp ủy viên, nhất là các tỉnh ủy viên,
cán bộ tham mưu về CTTN đã có nhiều chuyển biến tiến bộ; thứ sáu, sự
phối hợp chặt chẽ và ngày càng hiệu quả của các tổ chức trong HTCT tham
gia đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với CTTN
3.3.1.2. Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm
Một là, PTLĐ của thời kỳ tập trung, bao cấp, sản xuất nhỏ vẫn còn
ảnh hưởng đến PTLĐ của Đảng trong điều kiện hiện nay; hai là, nhận thức


20
của cán bộ, đảng viên trong các đảng bộ tỉnh ở BTB về sự lãnh đạo của
Đảng đối với CTTN còn giản đơn và chưa thật đầy đủ; ba là, một số tỉnh
ủy chưa lãnh đạo khơi dậy và phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của MTTQ
và các đoàn thể nhân dân trong CTTN; bốn là, những hạn chế về chất
lượng đội ngũ đoàn viên, thanh niên và những tác động tiêu cực của kinh
tế thị trường.
3.2. Những kinh nghiệm đổi mới phương thức lãnh đạo của các
tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ đối với công tác thanh niên
Một là, nhận thức đúng PTLĐ và đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với
CTTN; hai là, xác định rõ những phương pháp, cách thức trọng tâm, đột
phá cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo CTTN; ba là, lãnh đạo, chỉ đạo xây
dựng và hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các tổ chức trong HTCT đối với
CTTN, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu
mỗi tổ chức trong CTTN; bốn là, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên có chất lượng, nhất là cán bộ, đảng viên chuyên trách CTTN ở các cấp;
năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát việc đổi mới PTLĐ của các cấp ủy, tổ
chức đảng trực thuộc đối với CTTN.


21

Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
TIẾP TỤC ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO
CỦA CÁC TỈNH ỦY VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐỐI VỚI
CÔNG TÁC THANH NIÊN ĐẾN NĂM 2025
4.1. DỰ BÁO NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ PHƯƠNG
HƯỚNG TIẾP TỤC ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA
CÁC TỈNH ỦY VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
THANH NIÊN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
4.1.1. Dự báo những nhân tố tác động đến việc đổi mới phương
thức lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ đối với công tác thanh
niên giai đoạn hiện nay
4.1.1.1.Thuận lợi
Một là, xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và cách mạng
khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã
hội thông tin và kinh tế tri thức; hai là, những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử của 30 năm đổi mới, tạo cho đất nước ta thế và lực mới; ba
là, các đảng bộ và nhân dân các tỉnh BTB đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng trên tất cả các lĩnh vực; bốn là, đòi hỏi của tình hình thanh niên
đối với việc đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy BTB đối với CTTN.
4.1.1.2. Khó khăn
Một là, các tỉnh vùng BTB phải đối mặt với vấn đề phức tạp nảy
sinh trong quá trình thực hiện CNH, HĐH và đô thị hóa; hai là, tình
hình thanh niên tiếp tục có những chuyển biến sâu sắc, đa chiều do chịu
sự tác động trực tiếp cũng như gián tiếp của tình hình an ninh, chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội trong và ngoài nước; ba là, tình hình thế giới,
khu vực đang thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp có nhiều tiềm
ẩn, bất trắc khó lường



22
4.1.2. Phương hướng tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của
các tỉnh ủy vùng Bắc Trung Bộ đối với công tác thanh niên
Một là, tạo chuyển biến căn bản nhận thức, trách nhiệm của tỉnh uỷ,
chính quyền, MTTQ, các đoàn thể và cán bộ, đảng viên về những vấn đề
chủ yếu của đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với CTTN; hai là, tập trung
củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy của tỉnh uỷ, chính quyền tỉnh; ba là, tạo
chuyển biến trong các khâu của công tác cán bộ; bốn là, tiếp tục củng cố
cơ sở pháp lý cho việc đổi mới PTLĐ của các tỉnh ủy đối với CTTN; năm
là, huy động mọi lực lượng trên địa bàn tỉnh tham gia vào quá trình đổi
mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với CTTN.
4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI
PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY VÙNG BẮC TRUNG
BỘ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THANH NIÊN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Thực hiện đồng bộ 6 nhóm giải pháp: Một là, nâng cao nhận thức,
trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trước hết là các tỉnh ủy viên về
vai trò lãnh đạo của tỉnh ủy đối với thanh niên và đổi mới PTLĐ của tỉnh
ủy đối với CTTN; hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn thực sự là “thủ
lĩnh” của thanh niên; ba là, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng các cơ
quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy; xây dựng ban dân vận tỉnh ủy thực sự
vững mạnh, tham mưu, tổ chức thực hiện có hiệu quả việc đổi mới PTLĐ của
tỉnh ủy đối với CTTN; bốn là, khắc phục tình trạng “hành chính hóa” trong
tổ chức và hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; năm là, phát huy tính
cộng đồng trách nhiệm của Nhà nước, MTTQ và các tổ chức CT-XH thực
hiện nhiệm vụ CTTN; sáu là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn
của Trung ương, phối kết hợp công tác của Ban Dân vận Trung ương,
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.



23
KẾT LUẬN
1. Trong mọi thời kỳ cách mạng, PTLĐ của Đảng nói chung và của
các tỉnh ủy vùng BTB nói riêng đối với CTTN có vai trò quan trọng, bảo
đảm cho đường lối, nghị quyết của Đảng, của các tỉnh ủy về CTTN được
thực hiện thắng lợi, tạo nên thế hệ thanh niên hùng mạnh cả về tinh thần và
thể chất, nguồn nhân lực chất lượng cao - nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm
vụ cách mạng.
2. PTLĐ của tỉnh ủy đối với CTTN là hệ thống các hình thức,
phương pháp, quy chế, quy trình, phong cách, lề lối làm việc... mà tỉnh ủy sử
dụng để thực hiện sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với CTTN của đảng bộ. Tỉnh
ủy lãnh đạo CTTN bằng chủ trương, nghị quyết, chiến lược, chương trình,
quy chế, quy định về CTTN; bằng công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục,
thuyết phục tổ chức đảng, đảng viên để thực hiện nghị quyết, chủ trương về
CTTN; thông việc phát huy vai trò quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh,
vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, người đứng đầu các tổ chức trong HTCT
của tỉnh; bằng công tác tổ chức, xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ làm
CTTN; thông qua vai trò của tổ chức đảng, vai trò tiền phong gương mẫu của
đội ngũ đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám sát.
3. Trong những năm qua, các tỉnh ủy vùng BTB đã coi trọng việc
hoàn thiện và đổi mới PTLĐ đối với CTTN và đã đạt kết quả quan trọng,
góp phần to lớn vào sự tiến bộ của CTTN và tạo nên thế hệ thanh niên đáp
ứng yêu cầu công cuộc đổi mới ở địa phương. Tuy nhiên, việc đổi mới
PTLĐ của các tỉnh ủy vùng BTB đối với CTTN vẫn còn nhiều hạn chế, yếu
kém. Việc xây dựng các quy chế, chương trình, đề án về CTTN có tỉnh vẫn
ở tình trạng “bình mới, rượu cũ”, chưa thực sự có sự đổi mới; công tác
tuyên truyền, vận động, thuyết phục tổ chức đảng, đảng viên trong HTCT
để thực hiện các nghị quyết, chủ trương về CTTN vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu đề ra; PTLĐ của tỉnh ủy đối với tổ chức Đoàn còn chậm đổi mới;



×