Tải bản đầy đủ (.docx) (98 trang)

MỘT số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG vận ĐỘNG NHỊP điệu CHO TRẺ mẫu GIÁO 5 6 TUỔI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.23 MB, 98 trang )

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG VẬN ĐỘNG NHỊP ĐIỆU CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lê Thu Trang
Sinh viên thực hiện

: Trần Thị Hằng

HÀ NỘI - 2016

MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU

Trang

1.Lý do chọn đề tài……………………………………………………………7
2.Mục đích nghiên cứu đề tài…........................................................................8
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu………………………………………....8
3.1.
3.2.

6.1.
6.2.



1.2.1.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.

1.6.

Khách thể nghiên cứu……………………………………………………8
Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………8
4.Giả thiết khoa học……………………………………………………………8
5.Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……………………………………………..8
6.Các phương pháp nghiên cứu đề tài…………………………………………8
Phương pháp nghiên cứu lí luận………………………………………….8
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn………………………………………..8
7.Giới hạn nghiên cứu đề tài…………………………………………………...9
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài………………………………………………10
1.1.Sơ lược vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………..10
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới…………………………………………..10
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam…………………………………………...11
1.2.Âm nhạc và vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển của trẻ mầm
non……………………………………………………………………………...11
Âm nhạc……………………………………………………………….....11
1.2.2. Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển của trẻ mầm non………………12
Một số những khái niệm cơ bản…………………………………………….18
Vận động………………………………………………………………..18
Vận động nhịp điệu...................................................................................18
1.3.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp
điệu………………………………………………………..…………….19

1.4.Mối quan hệ giữa âm nhạc và vận động……..................................................19
1.5.Các nhóm hoạt động VĐ nhịp điệu………………………………………….21
1.5.1.
Nhóm thứ nhất: Vận động nhịp điệu……………………………………19
1.5.2.
Nhóm thứ hai: Vận động minh họa…………………………………….20
Đặc điểm về khả năng VĐ nhịp điệu của trẻ MG 5-6 tuổi……….
……………………………………………………….22
1.6.1.
Đặc điểm về khả năng tiếp nhận âm nhạc của trẻ MG 5-6
tuổi……………………………………………………………………..23
1.6.2.
Đặc điểm phát triển kĩ năng VĐ nhịp điệu ở trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt
động GDAN ở trường MN……………………………………………...24
1.7. Các yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức của
hoạt động GDAN trên hoạt động học của trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN
………………………………………………………………………………….25
1.7.1. Mục tiêu…………………………………………………………..…..25
2

2


Nội dung……………………………………………………………....25
Phương pháp………………………………………………………….26
Hình thức tổ chức……………………………………………………..27
KẾT LUẬN CHƯƠNG I………………………………………………………………..29
Chương II: Thực trạng về việc nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ
nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi…………………………………………………………….30
2.1. Mục đích điều tra…………………………………………………………....30

2.2. Nội dung điều tra…………………………………………………………….30
2.3. Đối tượng điều tra……………………………………………………..……31
2.4. Thời gian điều tra……………………………………………………………31
2.5. Phương pháp điều tra……..............................................................................31
2.6. Thực trạng về chương trình GDAN ở trường MN…………………………..32
2.7. Tiêu chí đánh giá mức độ nhận thức về hoạt động VĐ nhịp điệu của
trẻ……………………………………………………………………………….33
2.8. Kết quả khảo sát……………………………………………………………..36
KẾT LUẬN CHƯƠNG II……………………………………………………………..…45
Chương III: Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động
VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học ở trường
MN……………………………………………………………………………...46
3.1. Một số yêu cầu khi xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong
hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi……………………….……………….46
3.2. Xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp
điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN……………………………..………………46
KẾT LUẬN CHƯƠNG III……………………………………….……………………...58
Chương IV: Thực nghiệm sư phạm và kết quả …………………………………59
4.1. Thực nghiệm một số bài tập nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp
điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN………..………………………………….....59
4.1.1. Vài nét về khách thể thực nghiệm…………………………………………59
4.1.2. Mục đích thực nghiệm…………………………………………………….59
4.1.3. Nội dung tổ chức thực nghiệm…………………………………………….59
4.1.4. Các tiêu chí và thang đánh giá (đã đề xuất ở mục 2.7)……………………59
4.1.5. Các điều kiện tiến hành thực nghiệm………………………………………59
4.1.6. Quy trình tổ chức thực nghiệm…………………………………………….59
4.1.7. Tổ chức thực nghiệm………………………………………………………60
4.1.8. Phân tích kết quả thực nghiệm…………………………………………….61
KẾT LUẬN CHƯƠNG IV…………………………………..…………………....67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM…………………………………….68

TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………….. 71
1.7.2.
1.7.3.
1.7.4.

3

3


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

4



: Vận động

GDMN

: Giáo dục mầm non

GVMN

: Giáo viên mầm non
4


GDAN


: Giáo dục âm nhạc

ĐC

: Đối chứng

TN

: Thực nghiệm

TC

: Tiêu chí

TC1

: Tiêu chí 1

TC2

: Tiêu chí 2

TC3

: Tiêu chí 3

TC4

: Tiêu chí 4


GV

: Giáo viên

MG

: Mẫu giáo

MN

: Mầm non

MGL

: Mẫu giáo lớn

ĐH

: Đại học



: Cao đẳng

TC

: Trung cấp

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang

Bảng 2.1………………………………………………………………………36
Bảng 2.2…………………………………………………………………...….36
Bảng 2.3. Nhận thức của GV về VĐ nhịp điệu cho trẻ MN………………….36
5

5


Bảng 2.4. Ý kiến của GV về việc sử dụng các tiết tấu gõ theo nhịp, phách và
các hình tiết tấu khi tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động
học…………………………………………………………………………….37
Bảng 2.5. Ý kiến của GV về việc sử dụng các hình thức tổ chức nhằm nâng
cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt
động học………………………………………………………………………….....38
Bảng 2.6. Ý kiến của GV về việc sử dụng các phương tiện để tổ chức nhằm
nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên
hoạt động học……………………………………………………………………………40
Bảng 2.7. Ý kiến của GV về những ảnh hưởng của việc tổ chức nhằm nâng
cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điêu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt
động học…………………………………………………………………………….41
Bảng 2.8. Ý kiến của GV về sự cần thiết của việc tổ chức nhằm nâng cao hiệu
quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động
học……………………………………………………………………..……..42
Bảng 2.9. Kết quả về mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của trẻ MG
5-6 tuổi ở trường MN Đống Đa………………………………………………42
Bảng 4.1. Mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của trẻ nhóm ĐC và
TN trước khi thực nghiệm………………………………………………………..61
Biểu đồ 4.1. So sánh mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của trẻ
nhóm ĐC và nhóm TN trước thực nghiệm……………………………………..…..62
Biểu đồ 4.2. Biểu đồ phân bố tần số mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp

điệu của trẻ trước TN…………………………………………………………63
Bảng 4.2. Mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của nhóm trẻ ĐC và
TN sau thực nghiệm……………………………………………………………….63
Biểu đồ 4.3. So sánh mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của trẻ
nhóm ĐC và TN sau thực nghiệm……………………………………………………64
Biểu đồ 4.4. Biểu đồ phân bố tần số mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp
điệu của trẻ sau thực nghiệm………………………………………………….65

6

6


PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài :
Ở trường Mầm non, đặc biệt là đối với lứa tuổi Mẫu giáo thì âm nhạc là
một trong những loại hình nghệ thuật phát triển năng lực, cảm xúc, tưởng
tượng, sáng tạo, sự tập trung chú ý và khả năng diễn đạt những hứng thú của
trẻ. Khác với các loại hình nghệ thuật khác như hội họa, văn học, điện ảnh…
âm nhạc không hoàn toàn xác định rõ những hình ảnh cụ thể. Âm nhạc được
thể hiện bằng ngôn ngữ riêng như giai điệu, âm sắc, trường đô, hòa âm, tiết
tấu… tất cả đã thu hút, hấp dẫn và làm thỏa mãn nhu cầu của trẻ.
Âm nhạc là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, phát
triển lời nói, quan hệ giao tiếp… Đối với trẻ, âm nhạc là một thế giới kì diệu
đầy cảm xúc. Trẻ có thể tiếp thu âm nhạc ngay từ khi trẻ còn nằm trong nôi và
7

7



ở lứa tuổi Mầm non (MN) trẻ rất dễ cảm xúc nên tiếp xúc với âm nhạc là một
điều không thể thiếu. Thế giới âm thanh muôn màu và không ngừng chuyển
động tạo điều kiện cho trẻ phát triển các chức năng tâm lý, năng lực hoạt
động và hiểu biết.
Trong chương trình GDMN, hoạt động âm nhạc là một hoạt động hết
sức gần gũi với trẻ, là hoạt động được trẻ yêu thích và là nguồn cảm hứng
mạnh mẽ để trẻ cảm thụ nghệ thuật. Nó là phương tiện hữu hiệu cho việc tổ
chức hoạt động giáo dục ở trường MN. Âm nhạc và vận động có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Trẻ lứa tuổi Mầm non do đặc điểm hồn nhiên, ham hoạt
động nên việc ca hát bao giờ cũng kèm theo nhảy múa hay vận động theo
nhạc. Chính điều này làm cho mối quan hệ giữa âm nhạc và vận động được
hình thành dẽ dàng hơn, nó có mối quan hệ tác động trực tiếp với nhau. Các
bài hát đem đến cho trẻ những cảm xúc mạnh mẽ và dưới những ảnh hưởng
của cảm xúc đó sẽ giúp trẻ vận động sao cho phù hợp với tính chất âm nhạc.
Trẻ lứa tuổi này đã có những vận động cơ bản hoàn thiện, khả năng vận
động của các cơ lớn đã phát triển, trẻ biết phối hợp chân, tay và đôi mắt để
thực hiện vận động. Và khi các hình thức vận động theo nhạc làm hấp dẫn trẻ
thì sẽ làm tăng khả năng cảm thụ theo nhạc cho trẻ. Vận động theo
nhạc(VĐTN) giúp trẻ phát triển cảm giác, nhịp điệu, sự khéo léo, khả năng
phản ứng nhanh , ngoài ra nó còn làm thỏa mãn nhu cầu tình cảm của trẻ
giúp trẻ tự bộc lộ cảm xúc và giao lưu với bạn bè. Trong VĐTN có hai dạng
vận động là VĐ nhịp điệu và VĐ minh họa, hai dạng vận động này có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau và đều rất cần thiết trong hoạt động GDAN trên hoạt
động học của trẻ.
Hiện nay, trong thực tế ở trường Mầm non, chương trình GDAN đang
được phổ biến rộng rãi và mục đích của nhà giáo dục khi tổ chức cho trẻ
VĐTN là nhằm hình thành tính tập thể, giúp nâng cao nhận thức, thỏa mãn
nhu cầu tình cảm, cảm xúc cho trẻ để giao tiếp với xung quanh và giải phóng

nhu cầu muốn vận động của cơ thể, đồng thời giúp giáo viên có được những
8

8


cơ hội và điều kiện thực hiện khả năng của mình. Tuy nhiên trong thực tế thì
người giáo viên tổ chức hoạt động VĐTN cho trẻ thường chỉ chú ý và sử dụng
nhiều nhóm VĐ minh họa, trong khi đó VĐ nhịp điệu thường được sử dụng rất
ít trong các giờ hoạt động GDAN vì thế mà chưa làm cho giờ hoạt động GDAN
phong phú, chưa tạo được hứng thú và chưa phát triển được tai nghe cho trẻ
mà chỉ đơn thuần là nhằm mục đích chú trọng đến VĐTN là VĐ minh họa và
đơn giản các động tác chỉ mang tính đơn điệu, qua loa mà chưa chú trọng đến
hiệu quả trong hoạt động VĐTN. Người giáo viên chưa chú trọng nhiều đến
VĐ nhịp điệu và đồng thời chưa có những biện pháp phù hợp và sáng tạo
trong quá trình tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ. Do vậy việc đưa ra một số các
biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu là rất cần thiết và
cần được chú trọng
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề trong hoạt động VĐ nhịp điệu và
mong muốn nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ, tôi đã
chọn đề tài:
“ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp
điệu cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”
2.

Mục đích nghiên cứu đề tài
Thông qua đề tài : “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt
động VĐ nhịp điệu cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” từ đó nhằm nâng cao hiệu quả
trong hoạt động VĐ nhịp điệu nói chung và nâng cao chất lượng GDAN nói


3.
3.1.
3.2.

4.

riêng cho trẻ MG 5-6 tuổi.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động VĐ nhịp điệu ở trẻ MG 5-6 tuổi.
Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG
5-6 tuổi.
Giả thiết khoa học

9

9


Nếu xây dựng được một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt
động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5- 6 tuổi thì sẽ nâng cao hiệu quả trong hoạt

5.1.

động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5- tuổi.
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu cơ sở lí luận của các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động

5.2.


VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
Nghiên cứu thực trạng sử dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt

5.3.

động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
Xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ nhịp điệu

5.

cho trẻ MG 5-6 tuổi và tiến hành các thực nghiệm nhằm kiểm chứng hiệu quả,
6.
6.1.

6.2.
-

tính khả thi của các biện pháp đã đề ra.
Các phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc sách, báo, tài liệu có liên quan đến đề tài, từ đó nghiên cứu, phân
tích, tông hợp, hệ thống hóa để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát : Dự các hoạt động GDAN để nắm được thực trạng,
nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp giúp giáo viên sử dụng nhằm nâng

-

cao hiệu quả của hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.

Phương pháp điều tra : Sử dụng phiếu điều tra giáo viên nhằm tìm hiểu cách
tổ chức và mức độ nhận thức của giáo viên trong việc nâng cao hiệu quả của

-

hoạt động VĐ nhịp điệu và các phương pháp họ sử dụng.
Phương pháp đàm thoại : Trao đổi với giáo viên để thấy được các biện pháp
mà giáo viên thường sử dụng và tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của giáo viên
và trẻ để tìm ra các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ nhịp điệu

-

cách phù hợp.
Phương pháp thực nghiệm : Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng

-

tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp.
Phương pháp xử lý số liệu : Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm : Tổng kết lại kinh nghiệm của giáo viên

7.
7.1.

trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
Giới hạn nghiên cứu đề tài
Số lượng trẻ nghiên cứu : 25 trẻ nhóm thực nghiệm và 25 trẻ nhóm đối chứng.
10

10



7.2.

Địa điểm nghiên cứu : 3 trường MN (Trường Mầm non Đống Đa,

MN Hoa Hồng, MN Họa Mi)
7.3.

Vấn đề nghiên cứu : Một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ
nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
1.1.1.

Sơ lược vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những nghiên cứu trên thế giới
VĐTN rất gần gũi với con người đặc biệt là trẻ thơ. Việc đi sâu vào tìm
hiểu và nghiên cứu về VĐTN mà cụ thể là VĐ nhịp điệu và VĐ minh họa cho trẻ
là một việc rất cần thiết.
Trên thế giới đã có một số nước nhìn nhận đước tầm quan trọng của
âm nhạc đối với trẻ. Đại thi hào M. Gorki đã nhận xét : “ Âm nhạc có tác động
kì diệu đến tận đáy lòng, nó khám phá ra các phẩm chất cao quý của con
người. Chính vì vậy, người lớn cần đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục âm
nhạc cho trẻ càng sớm càng tốt”. Một số nước như Liên Xô (cũ), Hung- ga-ri,
Tiệp Khắc, Đức, Singapo… đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng vận
động cũng như tâm lí vận động theo giai điệu, tiết tấu của trẻ. “ Vận động theo

nhịp điệu ” được đưa đến với trẻ từ rất sớm và nó được coi như mầm mống
khởi đầu của việc hình thành thị hiếu nghệ thuật, như ngay từ khi trẻ được
sinh ra đã được nghe các bài hát do mẹ và những người xung quanh vừa hát
vừa kết hợp với vỗ tay theo giai điệu của bài. Như vậy VĐ nhịp điệu có ảnh
11

11


hưởng đến trẻ từ rất sớm. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học về con người
đã khẳng định rằng, thời kì từ lúc sơ sinh đến 10 tuổi là thời kì tốt nhất cho sự
phát triển năng khiếu nghệ thuật. Những ấn tượng để lại trong thời kì này sẽ
theo trẻ trong suốt cuộc đời mà âm nhạc là một nghệ thuật lôi cuốn mạnh mẽ
nhất. Trong cuốn “ Sáng tạo nghệ thuật ” của tác giả Ôtstraylia vấn đề VĐTN
của trẻ cũng được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh : trẻ thơ và việc nhảy múa
trong lớp học, tầm quan trọng của khiêu vũ với trẻ, phương pháp dạy trẻ vận
động…..
1.1.2.

Những nghiên cứu tại Việt Nam
Ở nước ta, vấn đề VĐTN nói chung cho trẻ mẫu giáo cũng được quan
tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau. Một số những nghiên cứu về GDAN cho trẻ



MN ở nước ta như :
Trong giáo trình “ Giáo dục âm nhạc - Tập 2 ” của tác giả Phạm Thị Hòa đã
giới thiệu và hướng dẫn cho giáo viên các phương pháp để giáo dục âm nhạc




ch trẻ ở trường Mầm non.
Luận văn tốt nghiệp đại học “ Một số biện pháp nâng cao tính tích cực của trẻ
5-6 tuổi trong hoạt động múa thông qua âm nhạc dân gian ” của tác giả
Nguyễn Thị Vân đã xây dựng một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn tích cực



thực hiện một số động tác múa với âm nhạc dân gian.
Luận văn tốt nghiệp đại học “ Một số biện pháp tăng cường khả năng thể hiện
các bài hát mang tính chất vui nhộn nhảy múa cho trẻ Mẫu giáo lớn 5-6 tuổi ”
của tác giả Bùi Thị Hằng cũng xây dựng một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi



tăng cường khả năng thể hiện các bài hát mang tính chất vui nhộn nhảy múa.
Luận văn tốt nghiệp đại học “ Bước đầu áp dụng hình thức vận động theo
nhạc mới cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ” của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích đã tìm



hiểu về các hình thức vận động theo nhạc cho trẻ 5-6 tuổi.
Luận văn tốt nghiệp đại học sư phạm “ Tìm hiểu những bài hát trong chương
trình dạy trẻ mẫu giáo lớn múa và vận động theo nhạc ở thị xã Hà Đông- Tỉnh
Hà Tây ” của tác giả Quan Thương Lý đã cho thấy được thực trạng dạy và học
múa , vận động theo nhạc của mẫu giáo lớn còn gặp nhiều khó khăn và hạn
12

12



chế. Từ đó đã phân tích , khai thác những kĩ năng múa, vận động theo nhạc
cho trẻ 5-6 tuổi từ chất liệu âm nhạc điển hình của một số bài hát vào dạy trẻ
và giúp giáo viên mầm non hiểu biết sâu sắc hơn bài hát sử dụng để dạy trẻ
mầm non vận động theo nhạc.
Mỗi đề tài nghiên cứu trên tập trung vào một khía cạnh của vấn đề
VĐTN cho trẻ MG 5-6 tuổi nhưng qua các đề tài trên tôi nhận thấy rằng các đề
tài còn tập trung nhiều đến khía cạnh VĐ minh họa, mà có rất ít đề tài quan
tâm đến VĐ nhịp điệu. Chọn cho nghiên cứu của mình là nhóm VĐ nhịp điệu
và đối tượng trẻ mẫu giáo lớn, tôi hy vọng công trình nghiên cứu về VĐ nhịp
điệu cho trẻ mẫu giáo lớn nói riêng và cho trẻ mẫu giáo nói chung sẽ góp
phần làm phong phú thêm một số phương pháp, hình thức vận động theo
nhạc cho trẻ mẫu giáo để GDAN thực trẻ hấp dẫn trẻ và đạt hiệu quả GD cao
trong công tác GDMN ngày càng phát triển.
1.2.
Âm nhạc và vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển của
1.2.1.

trẻ Mầm non
Âm nhạc
Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật phản ánh hiện thực khách

quan bằng những hình tượng có sức biểu cảm của âm thanh. Cùng với các yếu
tố diễn tả âm nhạc như: giai điệu, âm sắc, cường độ,…. Bản chất thời gian
trong âm nhạc làm cho nó có thể truyền đạt sự vận động của tình cảm và ý
tưởng trong tất cả những sắc thái tinh tế nhất.
Âm nhạc nảy sinh từ quá trình lao động của con người và hỗ trợ trở
lại để con người sản xuất và sáng tạo. Âm nhạc gắn liền với con người từ lúc
chào đời, những khúc hát ru, những bài hát đồng dao, những điệu hò lao


-

động luôn là cội nguồn cho những sáng tác của các nhạc sĩ.
Âm nhạc được chia làm 2 loại hình cơ bản:
Âm nhạc có lời (âm nhạc cho hát tức thanh nhạc). Thanh nhạc viết cho giọng
hát (có đệm bằng nhạc cụ hoặc không có đệm). Thanh nhạc gắn liền với lời

-

ca, với ngôn ngữ - một yếu tố giúp cho người nghe dễ tiếp thu tác phẩm.
Âm nhạc không lời (âm nhạc cho nhạc cụ tức nhạc khí). Khí nhạc là âm nhạc
viết cho nhạc cụ diễn tấu. Trong khí nhạc, nội dung tư tưởng sâu sắc mà các
13

13


nhạc sĩ đưa vào đó lại được thể hiện hoàn toàn bằng các hình tượng âm
thanh, không có lời ca
1.2.2. Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển của trẻ MN
Âm nhạc tác động rất mạnh mẽ đến trẻ em nói chung và trẻ MN nói
riêng. Trẻ em rất yêu thích âm nhạc và ngược lại, âm nhạc giúp trẻ hoàn
thiện hơn, có một tâm hồn nhạy cảm và đẹp đẽ hơn.
Đặc điểm của lứa tuổi MN là thích vui chơi, hoạt động, ham tìm hiểu
để nhận thức cuộc sống thì âm nhạc lại càng gần gũi và gắn bó một cách hết
sức tự nhiên. Đây chính là phương tiện để giúp trẻ phát triển cảm xúc, phát
triển tình cảm, trí tuệ, mở rộng nhận thức, phát triển trí tưởng tượng, phát
triển ngôn ngữ….
Múa hát, vận động và trò chơi âm nhạc là những nội dung thúc đẩy quá
trình phát triển khả năng cảm thụ âm nhạc của trẻ. Âm nhạc còn có khả năng

tác động đến con người ngay từ thuở còn nằm trong nôi, qua tiếng hát ru
của mẹ. Những phản ứng xúc cảm từ rất sớm, những biểu hiện sinh động của
trẻ khi nghe thấy âm thanh (âm nhạc) như hướng về phái có âm thanh hay
âm nhạc phát ra, phản xạ định hướng phát triển đã khẳng định rằng: có thể
cho trẻ làm quen với âm nhạc ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc
đời. Những lời hát ru của bà, của mẹ, những câu hát mộc mạc, gần gũi đã
nuôi lớn những tâm hồn trẻ thơ. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, đứa trẻ
dược tiếp xúc nhiều với âm nhạc sẽ thông minh hơn, nhạy cảm hơn, âm nhạc
1.2.2.1.

chính là phương tiện tích cực giáo diện toàn diện cho trẻ.
Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển khả năng thẩm mĩ của trẻ MN
Giáo dục thẩm mĩ nhằm phát triển ở trẻ khả năng cảm thụ, lĩnh hội
và hiểu cái đẹp, trẻ phân biệt được cái đẹp, hoạt động độc lập vá sáng tạo
trong khi tiếp xúc với các dạng hoạt động khác nhau.
Âm nhạc được xem là phương tiện hữu hiệu để giáo dục thẩm mĩ. Trẻ
MN thích thú với những hoạt động mang tính nghệ thuật. Ca hát đi đôi với
nhảy múa là một nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ. ÂM nhạc góp phần tích
cực trong việc phát triển những cảm xúc thẩm mĩ, bồi dưỡng thị hiếu trong
sáng, khuyến khích trẻ cẩm nhận cái đẹp.
14

14


Được tiếp xúc với âm nhạc qua lời ca, giai điệu của bài hát, bản nhạc
giúp trẻ tưởng tượng, học nói lên cảm xúc của mình, trẻ thấy mình có thể
diễn tả những ý nghĩ, những ước mơ, những cảm xúc mạnh mẽ. Ở một chừng
mực nào đó trẻ sẽ biết nhận xét, trao đổi với nhau sự cảm nhận về ý nghĩa lời
ca, âm điệu, tiết tấu… của mình. Đó chính là ý nghĩa của giáo dục thẩm mĩ.

Những ca từ, những hình ảnh trong những bài hát rất giản dị có tính nghệ
thuật, phù hợp với lứa tuổi sẽ hình thành ở trẻ thị hiếu âm nhạc trong sáng,
lành mạnh, là cơ sở của tình cảm thẩm mĩ, đạo đức tốt đẹp. Ví dụ như bài hát
“Hoa trường em” của nhạc sĩ Dương Hưng Bang đã tạo dựng hình ảnh của
cháu bé 3-4 tuổi với Bác Hồ kính yêu. Lòi ca trên giai điệu bay bổng như nhắn
gửi, nhắc nhở các em biết vâng lời cô và chăm ngoan học giỏi. Âm nhạc giáo
dục tình cảm thẩm mĩ cho trẻ, trong đó có cái đẹp về ứng xử, giao tiếp với ông
bà, cha mẹ, cô giáo, bạn bè và người trong cộng đồng. Vận động theo nhịp
điệu cũng như các động tác múa giúp trẻ bộc lộ cảm xúc khi nghe hát nghe
nhạc.

Trong hoạt động GDAN, trẻ không chỉ cảm nhận, hưởng ứng với

trạng thái cảm xúc có trong tác phẩm mà đồng thời trẻ còn cảm thấy cái đẹp
trong các động tác, hình thể của mình, của các bạn. Điều này làm cho cảm
xúc của trẻ thêm phing phú. Trên cơ sở đó trẻ thêm hứng thú với âm nhạc,
thêm yêu thích và nảy sinh nhu cầu hoạt động âm nhạc cũng như hoạt động
nghệ thuật.
Trong quá trình VĐTN nói chung trẻ hình dung ra các hình tượng
khác nhau và tưởng tượng theo cách của mình, phối hợp với các động tác
biến đổi, sáng tạo để hình thành những động tác mới lạ. Đây là cơ sở ban đầu
của sự sáng tạo cái đẹp của trẻ. Được múa, vận động trong tập thể, trẻ dần
biết nhận xét, đánh giá chất lượng biểu diễn của bạn từ đó rút ra kinh
nghiệm cho chính mình. Vì vậy, giáo dục thị hiếu thẩm mĩ cho trẻ thông qua
hoạt động âm nhạc trong trường MN làm phong phú thêm đời sống tinh thần
của trẻ, giúp trẻ cảm thụ cái tốt cái đẹp hơn.
15

15



Thông qua hoạt động âm nhạc nói chung và hoạt động VĐ nhịp điệu
nói riêng tai nghe cũng như khả năng cảm nhận tiếp tấu, giai điệu của trẻ
ngày càng phát triển. Trẻ biết thể hiện một cách diễn cảm những hoạt động
mang tính nhịp điệu, cũng như có yếu tố sáng tạo trong hoạt động biểu diễn,
biết đánh giá chất lượng vận động. Từ đó trẻ có thêm hứng thú, say mê với
1.2.2.2.

các hoạt động nghệ thuật.
Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển nhận thức và phát triển ngôn ngữ
của trẻ MN
Âm nhạc là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, phát
triển lời nói, trao đổi tình cảm….. Trẻ MN dễ cảm xúc, vốn ngây thơ, trong
sáng, nên tiếp xúc với âm nhạc là nhu cầu không thể thiếu. GDAN là một loại
hình nghệ thuật giúp trẻ phát triển trí tuệ, có khả năng trải nghiệm những
cảm xúc trong quá trình cảm thụ và thể hiện âm nhạc. Khi nghe nhạc, trẻ
cảm nhận được tính chất, tình cảm của âm nhạc, ảnh hưởng đên những
trạng thái cảm xúc có trong tác phẩm. Đồng thời âm nhạc dẫn dắt trẻ đến
những hiện tượng sống động của đời sống, giúp trẻ hình thánh sự liên
tưởng. Ví dụ : Nghe bản nhạc vui vẻ trẻ lắc lư, đập tay vào đùi, vỗ tay, nhảy ;
nhạc buồn trẻ ngồi đong đưa nhẹ nhàng….
VĐ nhịp điêu cũng là phương tiện thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của
trẻ. Trong quá trình VĐ nhịp điệu thì trước hết trẻ phải chú ý lắng nghe, ghi
nhớ những đặc điểm, tính chất của các hình tượng âm nhạc từ đó có những
động tác phù hợp. Tác phẩm âm nhạc càng phức tạp, các động tác được sử
dụng nhiều hơn thì sự chú ý nghe của trẻ càng tích cực hơn. Điều đó giúp trẻ
phát triển trí nhớ âm nhạc trên cơ sở thống nhất của thính giác và các cơ
quan vận động. Nhiều hiện tượng của đời sống được phản ánh trong tác
phẩm âm nhạc làm phong phú thêm vốn hiểu biết của trẻ bằng những khái
niệm về xã hội, về thiên nhiên.

Đồng thời trong khi VĐ nhịp điệu giúp trẻ phát triển khả năng ngôn
ngữ: Trong khi tập trung nghe nhạc trẻ không chỉ tiếp thu giai điệu, tiết tấu
âm nhạc, lời ca giản dị, dễ hiểu, gần gũi còn giúp trẻ phát âm chính xác, biểu
16

16


cảm, mở rộng vốn từ. Ở trẻ MG các tư duy trực quan hành động, trực quan
hình tượng và tư duy trìu tượng được biểu hiện trong bất kì hoạt động nào,
trong đó có âm nhạc. Tiếp xúc với âm nhạc, đứa trẻ dần dần có khả năng
tổng hợp và tư duy logic. Ví dụ, khi được nghe các thể loại âm nhạc khác
nhau như hát ru có tính em dịu tình cảm, còn hành khúc có tính mạnh mẽ,
hung tráng; trẻ không những chỉ nêu dấu hiệu, đặc điểm mà còn giải thích
tại sao tác phẩm đó lại là hành khúc, là hát ru.
Tính tích cực và sự tập trung chú ý trong khi hát, VĐ nhịp điệu giữ
vai trò quan trọng trong việc củng cố và phát triển trí nhớ. Trẻ hát và VĐ
nhịp điệu cùng lúc giúp ghi nhớ lời ca, giai điệu, tiết tấu kết hợp với thực
hiện động tác phối hợp các cơ quan trong cơ thể. Trẻ yêu thích ca hát bao
nhiêu thì càng thuộc nhanh và nhớ lâu, nhớ chính xác bài hát đó bấy nhiêu.
Điều này có tác dụng rèn luyện đôi tai nhạy bén cho trẻ, đồng thời tăng
cường sự nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh.
1.2.2.3. Vai trò của âm nhạc đối với việc hình thành tình cảm, kĩ năng xã hội và các
phẩm chất đạo đức của trẻ MN
Âm nhạc có tác động mạnh mẽ đên tâm hồn trẻ thơ. Ca hát, VĐTN là
những hình thức hoạt động âm nhạc được trẻ yêu thích nhất. Nội dung
phong phú của các ca khúc MN có chức năng quan trọng trong việc giáo dục
tình cảm đạo đức cho trẻ. Ví dụ như trong bài hát “ Cháu vẽ ông mặt trời”
của nhạc sĩ Tân Huyền đã cho thấy hoạt động học tập của trẻ giờ vẽ, cháu
cầm bút vễ cảnh vật thiên nhiên là ông mặt trời. Nhưng trong tưởng tượng

của trẻ thì lại liên hệ đến hình ảnh cô giáo yêu thương.
Các hoạt động âm nhạc ở trường MN thường mang tính tập thể, từng
nhóm trẻ theo độ tuổi. Trẻ cùng nhau múa hát, cùng nhau chia sẻ niềm vui về
một hình ảnh âm nhạc; qua đó giữa trẻ xuất hiện sự cảm thông, sự quan tâm
đến nhau, phát triển tinh thần tập thể, tính tổ chức, tinh thần kỉ luật; nhưng
trẻ vẫn luôn vui tươi, hồn nhiên, ngay cả những trẻ nhút nhát cúng cảm thấy
thoải mái, tự tin hơn. Hơn nữa, âm nhạc còn ảnh hưởng đến văn hóa chung
trong hành vi của trẻ. Lời ca của âm nhạc giàu tính biểu hiện và chất trữ
17

17


tình. Nội dung lời ca trong sự thống nhất với nhạc điệu tác động rất sâu vào
tâm hồn trẻ. Trẻ không chỉ được nghe hát mà còn tự mình ca hát, từ đó phát
hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên, tình cảm gia đình, bạn bè…. Từ đó gợi mở cho
trẻ cách ứng xử hay nói cách khác là dạy trẻ đạo đức làm người.
Niềm vui, sự phấn khích trong khi thực hiện các hoạt động âm nhạc
là yếu tố động viên những trẻ nhút nhát, thiếu tự tin, giúp các em mạnh dạn
hơn trong mọi hoạt động, hòa nhập với tập thể và cộng đồng. Như vậy, hoạt
động GDAN tạo những điều kiện cần thiết để hình thành những tình cảm, kĩ
năng xã hội, phẩm chất nhân cách cho trẻ.
1.2.2.4. Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển thể chất của trẻ MN

Hoạt động âm nhạc gắn liền với sự phát triển sinh lí của trẻ, đẩy

mạnh chắc năng hoạt động của các cơ quan phát thanh, hô hấp, làm giọng
trẻ tốt hơn, tạo điều kiện rèn luyện sự phối hợp giữa nghe và hát. Trong kết
hợp với các bài hát vận động theo nhịp điệu, theo lời ca sẽ làm cho trẻ hứng
thú vận động hơn, cảm nhận và ghi nhớ kĩ thuật vận động nhanh hơn. Vì thế

các bài tập vận động sẽ được thực hiện hiệu quả hơn, nhờ đó quá trình hình
thành kĩ năng, kĩ xảo vận động được rút ngắn lại. Hát cũng liên quan trực
tiếp đến sự phát triển thể chất của trẻ, giúp trẻ củng cố cơ quan phát âm, thở
sâu, tránh nói lắp… tạo sự liên hệ nhạy bén giữa các cơ quan. Hát còn ảnh
hưởng đến tư thế của trẻ: khi học hát trẻ luôn được nhắc nhở phải ngồi
thẳng, không gù lưng, đó là điều quan trọng để tạo tư thế đúng. Âm nhạc
được sử dụng cho trẻ MN thường có tính chất sôi nổi, linh hoạt, vui tươi nên
các động tác phụ họa của trẻ cúng khỏe khoắn, sôi nổi. trẻ luôn luôn hướng
về cái đẹp nên chúng muốn thực hiện động tác đúng, đẹp như mẫu của cô
giáo, muốn phối hợp đều và nhịp nhàng với các bạn, nhờ đó việc thực hiện
các bài tập vận động cũng chính xác hơn và đẹp hơn.
Như vậy khi thực hiện các hoạt động GDAN cũng như các VĐ nhịp
điệu không những giúp trẻ phát triển tai nghe, tăng cường hoạt động của các
cơ quan trong cơ thể mà quan trọng hơn là giúp trẻ ghi nhớ các bài tập vận
18

18


động chính xác và lâu bền hơn, thực hiện đúng, đẹp và nhịp nhàng hơn. Nhờ
đó, cơ thể của trẻ phát triển một cách hài hòa cân đối. Trong khi VĐTN trẻ
tập phối hợp các động tác linh hoạt,phát triển tai nghe âm nhạc cho trẻ. Vận
động toàn thân khi có nhạc kèm theo tạo cho trẻ sự mềm dẻo nhịp nhàng, có
ảnh hưởng tốt đến tim mạch và sự phát triển cơ.
Tất cả các vận động của tay, chân, đầu, vai….. nhờ có sự phụ họa của
âm nhạc sẽ trở lên chính xác, nhịp nhàng hơn, cường độ, nhịp độ của accs tác
phẩm âm nhạc đòi hỏi trẻ phải thay đổi tốc độ của vận động. Sự thay đổi tính
chất âm nhạc của các câu, các đoạn dẫn đến sự thay đổi hướng và đội hình
của vận động. Từ đó, qua hoạt động âm nhạc tạo cho trẻ sự hoạt bát, nhanh
nhẹn, có phong thái đẹp, uyển chuyển, duyên dáng.


1.3.
1.3.1.

Một số khái niệm cơ bản
Vận động
Tham khảo tài liệu về tâm vận động của Viện nghiên cứu trẻ em thuộc
viện Khoa học giáo dục , tôi thấy rằng:
Về sinh lí : Vận động là sự chuyển động của cơ thể con người trong đó có
sự tham gia của hệ cơ, hệ xương và sự điều khiển của hệ thần kinh.
Trong cuốn “ Từ điển tâm lý học ” , Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện có đưa ra
khái niệm về “ Tâm vận động ” như sau: “ Thần kinh phát triển đến đâu thì vận
động phát triển theo và kết hợp với sự luyện tập, với kinh nghiệm, chịu sự chi
phối của tình cảm, vận động dần dần phù hợp với ý đồ, mục tiêu. Trong thời

-

thơ ấu, phát triển vận động và trí khôn gắn liền với nhau”.
1.3.2. Vận động nhịp điệu
Là những động tác đơn giản biểu hiện cảm xúc theo tính chất, nhịp điệu âm

-

nhạc như vỗ tay, nhún nhảy…
Trẻ nghe và phân biệt được cao độ, sắc thái, tốc độ, trọng âm và các âm hình
tiết tấu.

1.3.3.
-


Biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu
Theo từ điển Tiếng Việt: “ Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề
cụ thể ”
19

19


-

Theo từ điển Tâm lí học: “ Biện pháp là cách thức tiến hành, giải quyết một

-

vấn đề cụ thể ”.
Các nhà giáo dục học khẳng định : Biện pháp giáo dục là các tác động riêng
biệt của GV trong mỗi phương pháp giáo dục cụ thể.
Biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu là cách làm,
cách giải quyết vấn đề về VĐ nhịp điệu cho trẻ. Từ đó đưa ra một số biện pháp
phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
1.4.
Mối quan hệ giữa âm nhạc và vận động
Âm nhạc và vận động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trẻ lứa tuổi MG
rất hồn nhiên, ham hoạt động nên ca hát bao giờ cũng kèm theo VĐTN. Chính
điều này làm cho mối quan hệ giữa âm nhạc và vận động được hình thành dễ
dàng và nhạy bén. Các bài hát mang đến cho trẻ những cảm xúc mạnh mẽ và
dưới ảnh hưởng của những cảm xúc đó, trẻ vận động phù hợp với đặc tính
của âm nhạc.
Giữa âm nhạc và vận động có mối quan hệ trực tiếp xuất phát từ cơ sở
sinh lí, đó là cơ quan thính giác và cơ quan cảm giác về chuyển động và thăng

bằng. Nhà tâm lí học B.N Chep-lo-va cho rằng: “Việc tri giác âm nhạc xảy ra
cùng lúc hoàn toàn trực tiếp với những phản ứng vận động âm nhạc theo diễn
biến thời gian”
Âm nhạc với hình tượng âm nhạc, sự tương phản hay đồng nhất trong
cấu trúc, những đặc thù của âm hình tiết tấu, trọng âm, nhịp độ, tính chất âm
nhạc… đều có thể được phản ánh trong vận động.
Hình tượng âm nhạc được phát triển, biến đổi trong thời gian, được
trình bày trong sự tương hỗ của các phương tiện diễn tả âm nhạc như giai
điệu, tiết tấu, âm sắc, hòa âm, nhịp độ… thì vận động cũng diễn ra trong thời
gian bởi tính chất, hướng chuyển động thay đổi hay sự phát triển của các
động tác (cá nhân hay tập thể) nối tiếp liên tục hoặc luân phiên.
Sự tương phản đồng nhất và nhắc lại trong cấu trúc âm nhạc gợi ra
những động tác có tính chất đối xứng hoặc lặp lại trong vận động.
20

20


Những tiết tấu đơn giản, trọng âm trong nhịp nhạc được nhấn mạnh
bởi các động tác vỗ tay, dậm chân, gõ nhịp… trong vận động.
Cường độ, nhịp điệu âm nhạc cũng được diễn tả bằng sự thay đổi mức
độ khống chế, tốc độ, biên độ hướng chuyển động trong vận động.
Các yếu tố diễn tả ngôn ngữ âm nhạc đóng vai trò chủ đạo, làm cho các
động tác vận động có những thay đổi tương ứng.
Việc vận động trên nền âm nhạc sẽ là một hoạt động thú vị và hấp dẫn
đối với trẻ thơ nếu được tổ chức một cách phù hợp nó sẽ góp phần thúc đẩy
hứng thú vận động cũng như khả năng cảm thụ âm nhạc. Từ đó, phát triển
thẩm mĩ âm nhạc, thẩm mĩ nghệ thuật và đặt cơ sở hình thành nhân cách
toàn diện cho trẻ.
Vận động âm nhạc giúp cho sự cảm thụ tác phẩm âm nhạc được đầy đủ

hơn.
Quả đúng như vậy, âm nhạc luôn chiếm vị trí hàng đầu, đóng vai trò
quyết định còn vận động trở thành phương tiện đặc biệt diễn tả hình tượng
âm nhạc. Đặc biệt đối với múa, âm nhạc là yếu tố không thể thiếu được. Ngay
trong bản thân động tác múa đã chứa đựng tiết tấu âm nhạc, âm nhạc được
coi như là linh hồn của múa. Múa chịu sự quy định của nội dung và tính chất
âm nhạc, thể hiện những hình tượng, những tư tưởng tình cảm có trong âm
nhạc. Chính vì thế, người ta gọi “ Múa là âm nhạc qua những hình tượng thấy
bằng mắt ”.
Âm nhạc dùng cho múa có thể hoàng tráng, có thể đơn giản là âm hình
tiết tấu để vỗ tay, gõ nhịp… nhưng trong quá trình cảm thụ nghệ thuật âm
nhạc, múa lại góp phần quan trọng cụ thể hóa, hình ảnh hóa những đường
nét giai điệu, tiết tấu, màu sắc âm thanh…. Trìu tượng bằng những bước
nhảy, bước chuyển động nhẹ nhàng, bay bổng, nét đưa tay uyển chuyển, sự
dồn nén xúc động, mãnh liệt trong những vòng quay.

21

21


1.5.

Các nhóm hoạt động VĐTN
Hoạt động VĐTN ở trẻ MN được chia làm hai nhóm là những VĐ nhịp
điệu và VĐ minh họa (Múa). Mỗi dạng đều có những đặc trưng riêng nhưng
tất cả đều thể hiện nội dung âm nhạc và lời ca. Âm nhạc và lời ca quy điịnh

1.5.1.


đặc tính và sự thay đổi của vận động.
Nhóm thư nhất : VĐ nhịp điệu
Vận động nhịp điệu thường là một động tác đơn lẻ như vỗ tay, dậm
chân…. Biểu hiện tính chất nhịp điệu theo một nét nhạc, một tiết tấu nhất định
của bài hát. Vận động đơn giản của trẻ MGL trong chương trình vận động
theo nhạc gồm những hình thức sau:
+ Hình tiết tấu
+ Hình tiết tấu
+ Hình tiết tấu
Hình thức vận

1
2
3
động theo nhạc đơn giản dễ thực

hiện. ít mang tính nghệ thuật và thường không hấp dẫn trẻ. Khi nghe các thể
loại âm nhạc khác nhau, trẻ có thể bộc lộ cảm xúc bằng các hoạt động hình
thể một cách ngẫu hứng nhưng mọi trẻ không nhất thiết phải vận động giống
nhau. Đây là những xúc cảm tự nhiên thể hiện bằng hành động theo tính chất
giai điệu, nhịp điệu âm nhạc. Ở đây giáo viên (GV) là người gợi ý giúp trẻ cảm
1.5.2.

thụ các tính chất âm nhạc khác nhau, vận động theo và không cần hát.
Nhóm thứ hai : Múa
Múa giúp trẻ hướng vào kĩ năng chuyển động trong quá trình tổ chức
âm nhạc: đi vòng tròn trong bài tập thể lực, dựng thành các hình tượng trò
chơi và múa các động tác dễ trong chất liệu dân gian các dân tộc Việt Nam
hoặc minh họa lời bài hát.
Múa là dạng vận động có tác dụng phát triển thẩm mĩ cho trẻ, hình

thành những tư thế, dáng điệu, động tác đẹp. Các bài múa được xây dựng trên
cơ sở nội dung, tính chất, nhịp điệu âm nhạc, lời ca. Tuy nhiên không phải bài
hát nào cũng xây dựng thành điệu múa. Do đặc điểm tư duy trực qua hình
tượng của trẻ mà múa có thể là những động tác minh họa lời ca, miêu tả sinh
hoạt, mô phỏng thiên nhiên…. Các chất liệu cơ bản của múa dân gian các dân
tộc Việt Nam, múa hiện đại cũng được khai thác. Tuy vậy múa được sử dụng
22

22


chủ yếu với trẻ ở độ tuổi mẫu giáo, cùng với sự phát triển của trẻ và đặc biệt

1.5.2.1.

thể hiện rõ ràng, đa dạng các kĩ năng nhảy múa ở trẻ 5-6 tuổi.
Múa dành cho trẻ mẫu giáo Lớn có thể chia làm 3 loại chính:
Múa minh họa
Là loại múa đơn giản, các động tác phù hợp với nội dung lời ca và tiết
tấu của bài hát nhằm minh họa cho bài hát đó. Tuy nhiên những động tác
minh họa phải tự nhiên, hợp lý, có dáng dấp và đường nét.
Thông thường các bài hát được múa minh họa thường ca ngợi thiên
nhiên, phản ánh cuộc sống xã hội hoặc miêu tả hình tượng của sự vật. Trong

1.5.2.2.

múa minh họa, tất cả trẻ trong lớp đều có thể tham gia.
Múa sinh hoạt
Múa sinh hoạt cũng gồm các động tác đơn giản, thể hiện tính cộng
đồng, tinh thần đoàn kết. Những bài múa sinh hoạt thường mang tính chất

dân gian, mô phỏng cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Múa sinh hoạt của các
dân tộc mang những đặc trưng riêng do khác nhau về địa hình, phong tục, tập
quán…vv.. ví dụ : Dân tộc Thái có điệu múa nón, dân tộc Tây Nguyên lại có

1.5.2.3.

điệu múa cồng chiêng, lắc hông…
Múa biểu diễn
So với hai hình thức múa minh họa và múa sinh hoạt thì múa biểu diễn
nâng cao hơn: các động tác phức tạp, đội hình của múa biểu diễn cũng đa
dạng và thay đổi linh hoạt. Múa biểu diễn yêu cầu phải biên động tác, dàn
dựng đội hình công phù hơn. Đối với múa biểu diễn số lượng trẻ tham gia
không nhiều, chỉ một nhóm trẻ hoặc một trẻ thể hiện. Múa biểu diễn của trẻ
mẫu giáo thường được sử dụng trong ngày lễ hội, trong các cuộc thi, hội diễn

1.6.

văn nghệ….
Đặc điểm về khả năng VĐTN nói chung và VĐ theo nhịp điệu nói riêng

1.6.1.
-

ở trẻ MG 5-6 tuổi
Đặc điểm khả năng tiếp nhận AN ở trẻ 5-6 tuổi
Đặc điểm tâm lí của trẻ liên quan đến VĐTN nói chung và VĐ nhịp điệu nói
riêng.

Trẻ em có một tâm hồn rất nhạy cảm. Trẻ thường tỏ ra rất dễ xúc cảm


đối với cảnh vật và con người xung quanh để từ đó cảm thụ vẻ đẹp, muốn
23

23


mình cũng trở lên đẹp hơn. Chính vì vậy, lứa tuổi MG đến với cái đẹp, đến với
nghệ thuật, VĐTN một cách hồn nhiên, dễ dàng và sâu sắc.
Ngoài ra so với các lứa tuổi trước, trẻ từ 5-6 tuổi có khả năng tập trung
chú ý lâu hơn, trẻ có khả năng tri giác toàn vẹn hình tượng âm nhạc cùng với
những kinh nghiệm được tích lũy từ khi nghe hát cùng đàn đệm, xem động
tác, điệu bộ và cảm nhận được trạng thái chung của tác phẩm.
Lứa tuổi MGL là giai đoạn hoàn thiện cấu trúc tâm lí người về nhận
thức, tình cảm, ý chí…. Chính vì vậy, khả năng tiếp nhận các lĩnh vực khó của
VĐTN nói chung và VĐ nhịp điệu nói riêng đã dễ dàng hơn. Khả năng cảm
-

nhận về nhịp điệu, tiết tấu trong âm nhạc đã thành thục hơn.
Đặc điểm sinh lí của trẻ liên quan đến VĐTN nói chung và VĐ nhịp điệu nói
riêng.

VĐTN là một hoạt động âm nhạc hấp dẫn trẻ. Tuy nhiên, tùy vào sự

phát triển của mỗi lứa tuổi mà có những vận động phù hợp. Theo tài liệu về “
Tâm vận động” của Viện nghiên cứu trẻ em thuộc Viện khoa học GD thì trẻ 3
tuổi đã có thể làm một số động tác toàn thân, các động tác mang tính đối
xứng. Trẻ từ 4-5 tuổi biết giữ thăng bằng và biết phối hợp động tác với bạn.
Còn trẻ 5-6 tuổi làm được nhiều động tác chi tiết, các vận động cơ bản đã
hoàn thiện hơn, khả năng vân động của các cơ bắp đã phát triển. Trẻ biết phối
hợp động tác tốt, đặc biệt giữa bàn tay và đôi mắt để thể hiện vận động tối

ưu. Hơn nữa trẻ 5-6 tuổi đã biết khống chế vận động khi nghe nhạc.
Trẻ lứa tuổi MG tiếp nhận thế giới xung quanh bằng trực quan cảm
tính, do đó hoạt động ca hát, vui chơi, đặc biệt là vận động có âm nhạc tạo
điều kiện cho trẻ tự bộc lộ cảm xúc, nhu cầu giáo tiếp với xung quanh và để
giải tỏa năng lượng cơ thể. Vận động có tiết tấu nhịp nhàng tạo sự phát triển
cân bằng các giác quan làm cho trẻ vui tươi, hồn nhiên, hoạt bát, nhanh nhạy
hơn, đặc biệt giúp trẻ có năng lực cảm thụ âm nhạc.
1.6.2.

Đặc điểm phát triển kĩ năng VĐTN nói chung và VĐ nhịp điệu nói riêng ở
trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động giáo dục Âm nhạc ở trường Mầm non.
24

24


Trẻ 5-6 tuổi đã làm được các động tác chi tiết, khả năng vận động của
các cơ lớn đã phát triển, trẻ vận động theo bài hát đúng, nhịp nhàng, biểu
cảm, hơn nữa trẻ cũng đã có khả năng tự sáng tạo động tác. Vận động với
cường độ âm nhạc phù hợp với ba mức độ : Trung bình, to hơn, nhỏ hơn. Trẻ
đã biết vận động phù hợp về nhịp độ vừa phải, nhanh hơn, chậm hơn. Nhịp
điệu âm nhạc đã thành thạo hơn so với hai lứa tuổi trước.
Trẻ đã có thẻ chuyển đổi điệu bộ theo âm điệu, biết kết hợp khăng khít
giữa thời gian với âm nhạc, vận động phối hợp toàn thân với một trình tự
tương đối phức tập trong các điệu múa hay tái hiện một số tiết tấu khó. Có
nhu cầu hoạt động âm nhạc, biết thể hiện biểu cảm khi hát múa.
Tuy nhiên, ở độ tuổi này, sự nhảy cảm về âm nhạc bắt đầu giảm dần.
Trẻ có ấn tượng sâu sắc khi nghe nhạc qua đâì, xem bang đĩa… biết so sánh
một vài thể loại âm nhạc về âm thanh, tính chất, lời ca.
Trẻ biết chuyển động nhịp nhàng theo tính chất của âm nhạc, thay đổi

bước chuyển động theo điệu nhạc, từ tốc độ nhịp nhàng có thể chuyển sang
tốc độ nhanh hoặc chậm, thực hiện được các động tác nhảy múa chuyển động
từng đôi : thứ tự từng bước chân nhảy lên phía trước, nhảy gập đầu gối, đi
nhịp nhàng, chạy nhẹ nhàng, nhún mềm tại chỗ, tham gia các trò chơi âm
nhạc, thể hiện các bài hát và các trò chơi dân gian mà không phải bắt chước
nhau. Trẻ vận động hàng ngang, thực hiện đúng đẹp, biểu cảm các động tác
quy định, bước đầu tự sáng tạo được các động tác riêng, phối hợp nhịp nhàng
toàn thân với động tác tay và chân.
Có thể nói trẻ 5-6 tuổi đã có khả năng thực hiện và thực hiện hiệu quả
1.7.

1.7.1.

các bài tập VĐTN trong chương trình GDAN mầm non.
Các yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
của hoạt động GDAN trên hoạt động học của trẻ 5-6 tuổi ở trường MN
Mục tiêu
Thông qua hoạt động GDAN trên hoạt động học ở trường MN nhằm
giáo dục tình cảm đạo đức, thẩm mĩ, đồng thời tạo điều kiện cho trẻ phát huy

1.7.2.

năng khiếu, góp phần phát triển trí tuệ và thể chất.
Nội dung
25

25



×