Tải bản đầy đủ (.doc) (137 trang)

QUẢN lý GIÁO dục kỹ NĂNG SỐNG của HIỆU TRƯỞNG các TRƯỜNG TRUNG học cơ sở NGOẠI THÀNH THÀNH PHỐ hải DƯƠNG TỈNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (646.81 KB, 137 trang )

B GIO DC VA O TO
TRNG I HC S PHM H NI
-----&-----

NGUYN HU C

QUảN Lý GIáO DụC Kỹ NĂNG SốNG CủA HIệU TRƯởNG
CáC TRƯờNG TRUNG HọC CƠ Sở NGOạI THàNH
THàNH PHố HảI DƯƠNG - TỉNH HảI DƯƠNG
Chuyờn ngnh:Qun lý giỏo dc
Mó s: 60.14.01.14

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Nguyn Th Thanh Bỡnh


HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm
ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Quản lý Giáo dục trường
Đại học sư phạm Hà Nội và các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy khoá
K22, Cao học Quản lý giáo dục đã tận tình quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi được học tập và nghiên cứu tại trường. Đặc biệt, xin trân trọng
cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào
tạo tỉnh Hải Dương, Phòng GD&ĐT thành phố Hải Dương, Ban giám hiệu và
các thầy giáo, cô giáo, đại diện Hội phụ huynh và các em học sinh các trường


THCS trên địa bàn thành phố Hải Dương đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng do
điều kiện nghiên cứu và khả năng, kinh nghiệm quản lý của bản thân có hạn,
luận văn chắc khó tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được ý kiến chỉ
dẫn quý báu của thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn
thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà nội, tháng 9 năm 2014
Tác giả

Nguyễn Hữu Đức


MỤC LỤC
MỤC LỤC...............................................................................................2
PHỤ LỤC................................................................................................2
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ.............................................................3
Biểu đồ.....................................................................................................4
MỞ ĐẦU.................................................................................................4
Danh mục tài liệu tham khảo...................................................................7
Chương 2...............................................................................................44
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CỦA
HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THCS NGOẠI THÀNH, THÀNH
PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG............................................44
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT

1
2
3
4
5
6
7
8
9

Chữ viết tắt
CBQL
GD&ĐT
GDKNS
HS
KNS
QLKNS
THCS
THPT
UBND

10

UNESCO

11
12

UNICEP
WHO


Chữ viết đầy đủ
Cán bộ quản lý
Giáo dục và đào tạo
Giáo dục kỹ năng sống
Học sinh
Kỹ năng sống
Quản lý kỹ năng sống
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
Tổ chức Giáo dục, khoa học và Văn hóa của Liên
hợp quốc
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
Tổ chức Y tế Thế giới

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng
MỤC LỤC...............................................................................................2
PHỤ LỤC................................................................................................2
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ.............................................................3
Biểu đồ.....................................................................................................4


MỞ ĐẦU.................................................................................................4
Danh mục tài liệu tham khảo...................................................................7
Chương 2...............................................................................................44
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CỦA
HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THCS NGOẠI THÀNH, THÀNH
PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG............................................44

Biểu đồ
MỤC LỤC...............................................................................................2
PHỤ LỤC................................................................................................2
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ.............................................................3
Biểu đồ.....................................................................................................4
MỞ ĐẦU.................................................................................................4
Danh mục tài liệu tham khảo...................................................................7
Chương 2...............................................................................................44
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CỦA
HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THCS NGOẠI THÀNH, THÀNH
PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG............................................44
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đang là
một tất yếu của sự phát triển. Thực tiễn đã chỉ ra rằng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa có mối quan hệ chặt chẽ với sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Kinh nghiệm
một số nước đã cho thấy phát triển nguồn lực chính là chìa khóa cho sự phát
triển bền vững.
Lý luận và thực tiễn đều khẳng định giáo dục và đào tạo là “nhân tố cốt
lõi”, “cơ bản” tạo nên chất lượng nguồn nhân lực. Giáo dục, đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực có mối quan hệ gắn bó với nhau rất chặt chẽ. Giáo dục, đào
tạo là một trong các biện pháp cơ bản nhất để tạo chất lượng nguồn nhân lực,
đồng thời chất lượng nguồn nhân lực càng trở thành mục tiêu hàng đầu của phát
triển giáo dục, đào tạo.
Trong những năm gần đây, cuộc sống con người đã phải đối mặt với rất
nhiều nguy cơ như: Ô nhiễm môi trường, mất an toàn trong lao động, dịch bệnh, giá trị sống


bị xem nhẹ, sự thiếu cảm thông... chính vì thế đòi hỏi ở mỗi người rất nhiều kỹ năng trong đó có
KNS bởi vì KNS giữ một vai trò quan trọng trong nhận thức và hành động của mỗi người. Vì vậy,

nhiều nước trên thế giới như Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po... đã đưa chương trình GDKNS vào các
trường phổ thông để giảng dạy cho học sinh và đã mang lại hiệu quả tích cực. Ở Việt Nam vấn đề
GDKNS cho học sinh đã, đang được nghiên cứu và bước đầu cũng được đưa vào chương trình
dạy học dưới dạng tích hợp. Tuy nhiên, vấn đề GDKNS trong nhà trường còn rất nhiều bất cập từ
chương trình, nội dung thực hiện... đến đánh giá GDKNS còn chưa có sự thống nhất, mạnh trường
nào thì trường đó làm dẫn đến hiệu quả GDKNS chưa cao.

Thực tế trong những năm qua GD&ĐT của Việt Nam chỉ chú trọng nhiều dạy lý thuyết,
xem nhẹ thực hành vì thế chỉ quan tâm trang bị cho người học nhiều tri thức chuyên môn, tri thức
nghề nghiệp, xem nhẹ GDKNS trong đó có kỹ năng nghề và KNS.

Ở thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ngành GD&ĐT cũng bước đầu
quan tâm nhiều hơn đến GDKNS cho học sinh. Khu vực nội thành có điều kiện
cơ sở vật chất tốt, các ban ngành đoàn thể địa phương có điều kiện quan tâm hơn
đến phong trào giáo dục của các nhà trường, nhận thức của phụ huynh có nhiều tiến bộ,
chất lượng đội ngũ tốt và được tiếp cận nhiều hơn với yêu cầu cao của xã hội... thuận lợi cho công tác GDKNS cho học sinh. Khu vực ngoại thành điều kiện cơ sở vật chất
còn nhiều khó khăn, sự quan tâm của ban ngành đoàn thể địa phương và phụ huynh có rất nhiều hạn chế, nhận thức của bộ phận giáo viên về GDKNS còn chưa được tốt kể
cả trong công tác quản lý...

Xuất phát từ những lí do trên tôi lựa chọn đề tài:“Quản lý giáo dục kỹ năng sống
của Hiệu trưởng các trường THCS ngoại thành, thành phố Hải Dương, tỉnh
Hải Dương” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng quản lý GDKNS ở các trường
THCS ngoại thành, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương từ đó đề xuất một số
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý GDKNS ở các trường này, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý GDKNS cho học sinh của Hiệu trưởng các trường

THCS ngoại thành, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.


3.2. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý GDKNS cho học sinh ở các trường THCS ngoại thành,
thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Trong những năm gần đây, công tác GDKNS và quản lý GDKNS ở các
trường THCS ngoại thành, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã thu được
một số kết quả tuy nhiên còn nhiều hạn chế như: Nội dung còn nghèo nàn, hình
thức tổ chức còn đơn điệu... Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh
hưởng tới công tác quản lý GDKNS, trong đó công tác quản lý GDKNS cho học
sinh của Hiệu trưởng có ảnh hưởng nhiều hơn.
Nếu đề xuất được một số biện pháp quản lý đảm bảo tính khoa học, tính khả
thi, phù hợp thực tiễn thì có thể nâng cao chất lượng GDKNS ở các trường này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận cơ bản về KNS, quản lý
GDKNS.v.v. để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
5.2. Khảo sát thực trạng quản lí GDKNS ở một số trường THCS ngoại
thành thành phố Hải Dương và những nguyên nhân ảnh hưởng tới thực trạng đó.
5.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý
GDKNS cho học sinh ở các trường THCS ngoại thành, thành phố Hải Dương, tỉnh
Hải Dương.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu sáu trường THCS ở ngoại thành, thành phố Hải Dương,
tỉnh Hải Dương đó là trường THCS Tứ Minh, THCS Thạch Khôi, THCS Tân
Hưng, THCS An Châu, THCS Thượng Đạt, THCS Ái Quốc.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
7.2. Phương pháp quan sát



7.3. Phương pháp điều tra
7.4. Phương pháp phỏng vấn
7.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.6. Phương pháp chuyên gia
7.7. Phương pháp thống kê toán học.
8. DỰ kiến cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống ở trường
Trung học cơ sở.
- Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng
các trường Trung học cơ sở ngoại thành, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng các
trường Trung học cơ sở ngoại thành, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG Ở
TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài
Những nghiên cứu về KNS đang là vấn đề được quan tâm ở các nước
trong khu vực và trên thế giới. Mặc dù tiếp cận ở những khía cạnh khác nhau
song những nghiên cứu này đều có đặc điểm chung là trên cơ sở lí luận theo
hướng nghiên cứu của mình đã được đưa ra và xây dựng chương trình giáo dục,
đào tạo KNS cho lứa tuổi thanh thiếu niên, mặt khác cũng xây dựng được một
hệ thống các KNS cơ bản và cần thiết đối với sự phát triển của cá nhân ở từng

giai đoạn, từng môi trường sống khác nhau.
Trong diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp ở Senengan
(2000) Chương trình hành động Darkar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu
3 nói rằng: “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương
trình GDKNS phù hợp”, trong đó “người học” ở đây được hiểu từ trẻ em đến
người lớn tuổi, còn “phù hợp” được hiểu là với vùng, miền, địa phương và phù
hợp với lứa tuổi. Còn trong mục tiêu 6 yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo
dục cần phải đánh giá KNS của người học”. Như vậy có thể thấy vấn đề KNS
đang thu hút được sự quan tâm của nhiều người, nhiều quốc gia việc học KNS
trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện trong
KNS của người học.
Tại hội nghị thượng đỉnh về trẻ em do Liên Hiệp Quốc tổ chức ở
Newyork tháng 9-1990, cuốn sách “Để con em vững bước vào đời – Pour un
bon depart dans la vie” tác giả đã làm rõ nguyên tắc để cứu trẻ em sinh tồn,
phải đi đôi với cố gắng làm sao cho cuộc sống ý nghĩa. Những người đang cố
gắng bảo vệ, giáo dục và giúp trẻ em trưởng thành cần lấy định đề nói trên
làm kim chỉ nam.


Nhóm nghiên cứu của giáo sư trường đại học A&M của Mĩ trên nhóm 4H
(1/1991). Nhóm 4H (Heart - Head - Health - Hand) thuộc tổ chức 4H, chuyên
nghiên cứu và phát triển KNS trên các lứa tuổi. Trong đó, nghiên cứu này tập
trung vào sự phát triển KNS của thanh niên. Nghiên cứu này cho thấy sự tham
gia trong chương trình 4-H là khá tích cực liên quan đến phát triển kỹ năng lãnh
đạo và kỹ năng nhận thức cuộc sống. Đồng thời cũng chỉ ra mức độ phát triển kỹ
năng lãnh đạo cuộc sống tăng lên là cấp của nhóm 4-H tham gia cũng tăng lên.
Nghiên cứu tập trung vào kỹ năng lãnh đạo, tuy nhiên cũng đã tìm hiểu sự quan
trọng của kỹ năng này trong nhóm kỹ năng được đưa ra. Những kỹ năng đó là:
Kỹ năng giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng nhận
thức bản thân. Qua thu tập ý kiến, những người trong nhóm 4-H được nghiên

cứu đều cho rằng kỹ năng lãnh đạo là quan trọng nhất.
Trong một bài báo nghiên cứu (9/2002) tác giả là EllenJ. Hahn, Melody
Power Noland, Mary Kay Rayens, Dawn Myers Christie thuộc một số trường
đại học ở Mỹ đã chỉ ra hiệu quả của giáo dục và độ tin cậy của việc thực hiện
chương trình đào tạo KNS. Mặc dù vậy, nghiên cứu về KNS mới chỉ dừng lại ở
góc độ giáo dục và đánh giá chương trình GDKNS ở mức độ nào thôi. Do đó
chưa có đánh giá cụ thể về mức độ KNS trong nghiên cứu.
Tháng 5/ 2003, Elizabeth Dunn và J. Gordon Arbuckle Jr của đại học
Missouri Côlômbia đã hoàn thành kết quả nghiên cứu về KNS của trẻ em có cha
phạm tội. Nghiên cứu đã đề cập tới chương trình giáo dục về cuộc sống gia đình
có sự tương tác, đồng thời cũng chỉ ra những thiếu hụt về KNS của trẻ em có
hoàn cảnh như vậy. Nghiên cứu cũng đã có sự phân tích và đo lường mức độ
KNS mà các em có được khi tham gia chương trình giáo dục về KNS. Công cụ
đo mà hai tác giả sử dụng là hệ thống câu hỏi gồm 36 câu. Trong đó lại chia làm
hai phần cơ bản: Phần đầu có 6 câu hỏi liên quan đến thông tin cơ bản như:
Tuổi, giới tính, trình độ... và tần suất tham gia vào chương trình GDKNS của


các em. Phần thứ hai bao gồm 28 câu hỏi liên quan đến sự tham gia vào chương
trình giáo dục này, 2 câu hỏi khác là câu hỏi về tỉ lệ tham gia một cách trực tiếp
và tác động của chương trình tới người tham gia. Nội dung những câu hỏi này
đề cập chủ yếu tới 7 kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đặt vấn đề,
kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng ra quyết
định, kỹ năng xã hội.
Một nghiên cứu khác của hai tác giả Canada là T.Scott Murreay, Yvan
Clermont và tiến sĩ người Mỹ Manlyn Binkley (3/2005) có tên “ Measuring
Adult Literacy and life skills” đã nhấn mạnh tới việc đo lường và đánh giá về kỹ
năng đọc viết và KNS, sự phân biệt giữa KNS với kỹ năng cần thiết của con
người. Nghiên cứu này cũng đề xuất những hướng phát triển KNS và kỹ năng
thông thường trong cuộc sống trước những tác động xã hội, trong việc thiết lập

quan hệ, làm việc nhóm và tìm kiếm thông tin.
Trong cuốn sách “Giáo dục kỹ năng sống -Life Skill Education and
Curriculum” (2006) tác giả Gracious Thomas đã nhấn mạnh vai trò của giáo
viên nhằm giáo dục kỹ năng giữ an toàn cho trẻ dựa vào hệ thống giá trị cho
công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS. Ngoài việc phát triển một kế hoạch
khả thi của hành động, tác giả cũng đã phát triển một chương trình có thể được
điều chỉnh bởi hệ thống giáo dục trong nước.
Cuốn sách độc đáo “Cái gì an toàn - What is Safe” của tác giả David
R.Williams giải thích nguyên nhân các nguy cơ mà trẻ phải đối mặt trong cuộc
sống hiện đại ngày nay. Thuật ngữ như “nguy cơ” và “an toàn” được xác định rõ
ràng, và những rủi ro gặp phải trong khi tham gia giao thông, trong gia đình,
chăm sóc sức khỏe, chế độ ăn uống, và nơi làm việc.
Còn tác giả Carrie Lynn trong tác phẩm "Giúp trẻ hòa nhập với xã hộiHow parents can help theirs children from 4 to 6 years " (2008) đã giới thiệu
nhiều trò chơi vận động có tác dụng hỗ trợ phát triển một số KNS của trẻ như kỹ
năng giữ an toàn bản thân, kỹ năng giao tiếp ứng xử xã hội, kỹ năng tự lập…


Tác giả Yoon Yeo Hong trong tác phẩm “45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình”
(2011) đã giúp phụ huynh, giáo viên và trẻ em nhận thấy rằng thế giới bên ngoài
luôn ẩn chứa những cạm bẫy. Vì vậy, trẻ em cần chuẩn bị những kỹ năng cần
thiết để ứng phó với những tình huống nguy hiểm. Tác giả đã hướng dẫn trẻ
cách nhận biết các mối nguy hiểm, nâng cao cảnh giác và bảo vệ an toàn cho
chính mình, cuốn sách còn hướng dẫn trẻ cách đối phó hoặc thoát khỏi nguy
hiểm trong các tình huống như: khi ở những nơi hoang vắng mà chỉ có một
mình, khi có người lạ dụ dỗ …
Trong cuốn sách “ Giữ trẻ con và thanh thiếu niên an toàn - Keeping
Children and Teenagers Safe” tác giả Gavin De Becker đã chia sẻ cái nhìn sâu
sắc, những giải pháp thiết thực giúp phụ huynh hướng dẫn con cái của mình biết
tự bảo vệ trước nguy cơ bạo lực ngày càng tăng như: Làm thế nào để nhận biết
những dấu hiệu nguy hiểm trong những hoạt động hàng ngày ; cha mẹ sẽ làm gì

nếu con mình bị lạc nơi công cộng; làm thế nào để nhận diện một kẻ lạm dụng
tình dục...
Năm 2006 trong nghiên cứu “ Tăng sự an toàn của trẻ em qua dạy kỹ
năng đơn
giản - Increasing Children’s Safe Pedestrian Behaviors through Simple
Skills Training” của nhóm tác giả Benjamin K.Barton, David C. Schwebel và
Barbara A.Morrongiello thuộc đại học Alabama và Guelph ở Birmingham cho
thấy trước thực trạng nguy cơ thiếu an toàn khi tham gia giao thông đường bộ đã
khiến hàng trăm trẻ em bị thiệt mạng mà nguyên nhân là do các em chưa có
những hành vi tham gia giao thông an toàn. Bằng những can thiệp đơn giản và
hiệu quả làm thay đổi hành vi tham gia giao thông thiếu an toàn ở trẻ em.
Nghiên cứu đã thử nghiệm một phương pháp đào tạo các kỹ năng đơn giản để
hình thành hành vi cho người đi bộ an toàn.


Năm 1994 nhóm tác giả Lizette Peterson, Krista K.Oliver… đại học
Missouri-Columbia đã nghiên cứu đề tài “ Phát triển niềm tin về phòng tránh tai
nạn xe đạp - A Developmental Exploration of Expectations for Belief About
Preventing Bicycle Collision Injuries” để tìm hiểu ảnh hưởng của giới tính và độ
tuổi với tai nạn thương tích ở trẻ. Kết quả cho thấy không có mối tương quan
giữa yếu tố giới tính hay tuổi tác với nguy cơ xảy ra tai nạn thương tích ở trẻ.
Trẻ em cho rằng chúng sẽ có được sự an toàn nếu có các thiết bị an toàn hỗ trợ
nhằm phòng tránh những tai nạn thương tích đó.
Cũng trong năm 2005, Barry L.Boyd trong đề tài “ Kỹ năng sống cho trẻ Developing life skills in yourth” Tác giả cho rằng thanh thiếu niên hiện nay cần
được hình thành và phát triển KNS và tác giả nhấn mạnh đến những kỹ năng cơ
bản như: kỹ năng tự ứng phó, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tìm kiếm giúp đỡ.
Trong đề tài “ Dạy kỹ năng an toàn cho trẻ - Teaching safety skills for
children” của nhóm tác giả Raymond g.Miltenberger, Brian J.Gatheridge,
Melisa Satterlund Kristin r.Egemo-Helm, Brigitte M.Johnson, Candice Jostad,
Pamela Kelso, Christopher A. Flessner năm 2013 đã cho thấy những hiệu quả từ

việc cho trẻ em trải nhiệm những tình huống giả định trong đời sống hàng ngày
và hướng dẫn các em cách ứng xử trước những tình huống này từ đó các em đã
nhận diện được những nguy cơ thiếu an toàn cũng như cách ứng phó với những
tình huống đó.
Giáo dục KNS cho học sinh trong các nhà trường phổ thông là xu thế
chung của nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới
quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào
chương trình chính khóa ở Tiểu học và Trung học. Việc giáo dục KNS cho học
sinh ở các nước được thực hiện theo ba hình thức:
+ KNS là một môn học riêng biệt.
+ KNS được tích hợp vào một vài môn học chính.


+ KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình.
Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa KNS thành một
môn học riêng biệt, ví dụ như: Ma- lai- xi- a, Căm-pu-chia,... còn đa số các nước
để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp KNS vào một phần nội
dung môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như: Giáo dục sức khỏe,
giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường... Một số nước đã sử
dụng tiếp cận toàn bộ trường học “Whole School Approach” trong đó có hình
thức xây dựng “ Trường học thân thiện” nhằm thúc đẩy việc GDKNS cho học
sinh trong nhà trường.
Như vậy có thể thấy, trên thế giới việc GDKNS cho người học đã được
nhiều nước, nhiều tổ chức coi trọng, nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dưới
nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Đánh giá chất lượng giáo dục được gắn với
hiệu quả, chất lượng GDKNS. Tuy nhiên nghiên cứu vấn đề quản lý GDKNS
còn rất ít được quan tâm.
1.1.2. Ở Việt Nam
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam việc giáo dục con người biết đối nhân
xử thế, có kinh nghiệm đối phó với thiên tai... ít nhiều cũng được phản ánh qua

ca dao, tục ngữ. Tuy nhiên, những nội dung đó chưa được gọi là KNS. Thuật
ngữ “kỹ năng sống” được người Việt Nam biết bắt đầu từ chương trình của
UNICEF (1996) mang tên “ GDKNS nhằm bảo vệ sức khỏe và phòng chống
HIV/ADIS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”, thuật ngữ “KNS”
xuất hiện tại Việt Nam từ đây. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong
chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận thức,
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác nhận giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng
kiên định, kỹ năng đặt mục tiêu... nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do
các chuyên gia Úc tấp huấn. Tham gia chương trình này đầu tiên gồm có ngành
giáo dục và Hội chữ thập đỏ.


Sang giai đoạn 2, chương trình này mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh
và KNS ”. Ngoài ngành giáo dục, đối tác tham gia còn có 2 tổ chức xã hội chính
trị là Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam. Trên cơ sở đó, quan niệm về KNS cơ bản đối với từng nhóm đối
tượng được vận dụng đa dạng hơn. Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
đưa ra quan niệm: “ KNS là các khái niệm thiết thực mà con người cần đến để
cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả”. Theo họ có những kỹ năng cơ bản
như: Kỹ năng ra quyết định; Kỹ năng từ chối; Kỹ năng thương thuyết, đàm
phán; Kỹ năng lắng nghe; Kỹ năng trình bày; Kỹ năng nhận biết...
Tháng 9 năm 2003, Bộ GD & ĐT phối hợp cùng UNICEF xây dựng và
thực hiện chương trình thực nghiệm mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh và
KNS cho học sinh THCS”.
Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” do UNESCO tài trợ
được tổ chức nhằm làm sáng tỏ hơn khái niệm KNS ở Việt Nam. Theo quan
điểm của UNESCO: KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức
năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Khái niệm KNS của tổ chức này
dựa trên 4 trụ cột giáo dục là: Học để biết, học để tồn tại, học để làm, học để
cùng chung sống.

Tại hội thảo: “Chất lượng giáo dục và KNS ” diễn ra tại Hà Nội từ ngày
23.10 - 25.10.2003, tác giả Nguyễn Minh Châu cũng đã có bài báo cáo về dự án
UNICEF Việt Nam và GDKNS cho thanh thiếu niên. Báo cáo đã đề cập tới mục
tiêu của chương trình thực nghiệm GDKNS do tổ chức UNICEF hỗ trợ đang
triển khai thí điểm ở 20 trường thuộc 5 quận huyện của các tỉnh: Lạng Sơn, Hà
Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang. Mục tiêu của chương
trình này nhằm:
- Tạo điều kiện cho học sinh THCS được tiếp cận với các thông tin liên quan
đến những vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống khỏe mạnh bao gồm cả HIV/ AIDS.


- Giúp học sinh rèn luyện các KNS thiết thực để ứng phó với các vấn đề
như HIV/ AIDS, lạm dụng ma túy và chất kích thích, tình trạng quan hệ tình dục
và mang thai ở tuổi chưa thành niên.
- Huy động sự tham gia của cha mẹ HS và cộng đồng trong việc GDKNS
cho trẻ em.
Cũng trong hội thảo, tác giả Lê Kim Dung cũng đã đề cập tới những nội
dung cụ thể trong chương trình thực nghiệm giáo dục sống khỏe mạnh và KNS của
UNICEP. Cụ thể nội dung bao gồm các chủ đề khác nhau như: Quyền trẻ em;
Phòng tránh thuốc lá, rượu, bia; Phòng tránh ma túy; Tuổi dậy thì; Giáo dục sức
khỏe sinh sản vị thành niên; Phòng tránh HIV/AIDS; Phòng tránh ứng phó với
căng thẳng... Kết quả của chương trình mang hiệu quả tích cực, học sinh có sự
tương tác và thể hiện bản thân mình, nâng cao nhận thức, mạnh dạn và tự tin hơn,
rèn luyện được khả năng sống tốt, sống có trách nhiệm với bản thân mình.
Năm 2005, dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ đã biên soạn tài liệu “
Giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại
khóa trong nhà trường”. Khi viết tài liệu này, các tác giả đã thể hiện phần nào
cách tiếp cận KNS đối với các vấn đề sức khỏe sinh sản. Tài liệu đã được thực
nghiệm đưa vào sử dụng chung trong các trường THCS và THPT.
Trong chu kì V hỗ trợ cho Việt Nam (1997 - 1999) Quỹ dân số Liên Hợp

Quốc (UNFPA) đã hỗ trợ cho Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh dự án
“Hỗ trợ tăng cường sức khỏe sinh sản vị thành niên” mã số VIE/97/P12. Một
trong các hoạt động
khác của sự án là xây dựng 50 nhóm hỗ trợ sức khỏe thanh niên - KNS và
tuyên truyền viên cộng đồng ở 10 xã của tỉnh Quảng Nam.
Năm 2005- 2006, tác giả Bế Thị Hồng Hạnh chủ nhiệm đề tài mang
tên: “Giải pháp nâng cao GDKNS ở trung tâm giáo dục cộng đồng”. Trong
nghiên cứu này tác giả đã khái quát một số vấn đề lí luận về GDKNS ở trung


tâm học tập cộng đồng và tìm hiểu thực trạng GDKNS ở trung tâm học tập
cộng hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng
GDKNS ở trung tâm đó.
Năm 2006, tổ chức UNESCO đã hợp tác với Viện chiến lược giáo dục
thực hiện dự án xây dựng tài liệu GDKNS cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
Trên cơ sở những lí luận chung về KNS và GDKNS dự án này đã xác định
những KNS cần thiết với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và đưa ra những hướng
dẫn cụ thể cho việc giáo dục và những KNS đó cho các em.
Năm 2007- 2008, tác giả Nguyễn Thanh Bình cùng nhóm nghiên cứu đã
thực hiện đề tài: “Xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề GDKNS cơ bản cho
học sinh THPT”. Nghiên cứu cũng đã xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề
ứng với từng KNS cụ thể và có những tiêu chí đánh giá riêng.
Năm 2008, Tác giả Đỗ Thị Thu Hồng thực hiện nghiên cứu: “ Kỹ năng
ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống của học sinh THCS tại Hà Nội ”.
Đây là một trong những KNS cơ bản và cần thiết đối với mỗi cá nhân, nhất là
các em học sinh THCS. Nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tìm hiểu các yếu
tố tác động tới kỹ năng ứng phó với khó khăn trong mối quan hệ khác nhau (với
gia đình, bạn bè...) của các em. Dựa trên thang đo kỹ năng ứng phó ACS, tác giả
cũng đã chỉ ra rằng, có thể vận dụng thang đo đó để đo kỹ năng ứng phó cho học
sinh THCS ở Việt Nam.

Chương trình thực nghiệm giáo dục “Sống khỏe mạnh và KNS ” do
UNICEF hỗ trợ được triển khai tại 20 trường thuộc Lạng Sơn, Hà Nội, Hải
Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang. Nội dung cụ thể của
chương trình: phổ biến về quyền trẻ em; phòng tránh thuốc lá rượu bia; phòng
tránh xâm hại tình dục trẻ em; phòng tránh và ứng phó với tình huống căng
thẳng. Những chủ đề trên được tổ chức cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 định kỳ
mỗi tháng một buổi.


Hay cuốn “Hoạt động thực tiễn tìm hiểu KNS dành cho học sinh” do Trần
Thời Kiến (chủ biên) đã trình bày những cách xác lập chủ đề hoạt động, lập kế
hoạch hoạt động đến với những hoạt động cụ thể nhằm hình thành kỹ năng an
toàn, giúp trẻ học được cách tự bảo vệ và tự cứu lấy mình.
Ngoài ra còn phải kể đến bộ sách gồm 3 cuốn “ Giáo dục giá trị sống và
KNS ” cho các đối tượng là trẻ mẫu giáo, học sinh tiểu học và học sinh THPT do
Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên) đã trình bày những đặc điểm tâm sinh lý của
từng lứa tuổi ảnh hưởng đến việc hình thành KNS. Đồng thời với từng độ tuổi
khác nhau, nhóm tác giả đã thiết kế các nhóm chủ đề cùng với những hoạt động
phù hợp nhằm hình thành các KNS phù hợp.
Bên cạnh đó, tác giả Ngô Thị Hợp và Nguyễn Thị Bích Hạnh trong cuốn
sách “Những kiến thức ban đầu hình thành KNS cho trẻ mầm non” cũng đã cung
cấp những kiến thức nhằm giúp trẻ tìm hiểu về giới tính, cách giải quyết và ứng
phó với những vấn đề khó khăn giúp trẻ được an toàn và đặc biệt hướng đến
việc hình thành nhân cách sống cho trẻ mầm non.
Trong cuốn “Bài tập thực hành KNS” tác giả Lưu Thu Thủy, Trần Thị
Thái Hà, Đào Vân Vi đã thiết kế những hoạt động thích hợp nhằm hình thành kỹ
năng phòng chống tai nạn thương tích và một số KNS khác của trẻ.
Năm 2011, tác giả Lâm Trinh trong tác phẩm “ Cẩm nang tự vệ cho con
bạn” và “Cẩm nang an toàn cho con bạn” của nhà xuất bản Văn hóa thông tin
phát hành đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể nhằm giúp trẻ có được kỹ năng giữ

an toàn và kỹ năng tự vệ. Với những tình huống đa dạng và gần gũi với cuộc
sống của trẻ nhỏ, tài liệu đã giúp trẻ viết cách ứng phó trong những tình huống
nguy hiểm, những hoàn cảnh thiếu an toàn.
Cuốn “Sổ tay an toàn cho trẻ” của tác giả Trần Thái Hùng đã khẳng định
trẻ em là tương lai của tổ quốc, là báu vật của các bậc làm cha mẹ. Vì vậy cha
mẹ cần hướng dẫn và tìm cách giới hạn những tổn thương bất ngờ làm ảnh


hưởng đến tương lai các cháu. Cuốn sách đã hướng dẫn cách trẻ em nhận biết và
ứng phó với những tình huống thiếu an toàn mà hàng ngày các em gặp phải từ
gia đình đến ngoài xã hội.
Năm 2011, với cách trình bày tương tự như hai tài liệu trên, tác giả Huyền
Linh trong cuốn: “Cẩm nang tự vệ an toàn trong nhà” và “Cẩm nang tự vệ an
toàn ra ngoài” của nhà xuất bản thanh niên, cũng hướng dẫn trẻ rất chi tiết cách
xử lý với những tình huống thiếu an toàn với bản thân.
Trong đề tài nghiên cứu về:“Giáo dục KNS ở Việt Nam” của nhóm tác giả
Nguyễn Thanh Bình, Lưu Thu Thủy, Nguyễn Kim Dung, Vũ Thị Sơn đã chỉ ra
kỹ năng giữ an toàn than thể thông qua những kỹ năng phòng tránh tai nạn
thương tích là một trong những kỹ năng quan trọng của trẻ mẫu giáo. Đề tài đã
khái quát được những nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương
tích cho trẻ em, các kỹ năng để thực hiện quyền trẻ em … Tuy nhiên, đề tài chưa
có những đánh giá cụ thể biểu hiện thực trạng kỹ năng này của trẻ mầm non.
Năm 2007 với đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ:“Giáo dục một
sốKNS cho học sinh trung học phổ thông” do tác giả Nguyễn Thanh Bình làm
chủ nhiệm, kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ của các
em còn hạn chế. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, xác định nhu cầu giáo dục KNS,
đề tài xây dựng chương trình GDKNS cho học sinh thông qua hoạt động ngoài
giờ lên lớp.
Năm 2010, Mai Hiền Lê trong đề tài “KNS của trẻ mẫu giáo lớn trường
mầm non thực hành thành phố Hồ Chí Minh” với mục đích nhằm tìm hiểu thực

trạng KNS hiện nay của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mẫu giáo thực hành
thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã sử dụng phương pháp chủ yếu là phỏng vấn
và quan sát thông qua các bài tập tình huống, các trò chơi … đề tài cho thấy, kỹ
năng giữ an toàn cá nhân hiện nay của trẻ 5-6 tuổi còn ở mức độ thấp.
Năm 2010, tác giả Lê Thị Thanh Thúy trong đề tài nghiên cứu “Biện
pháp GDKNS cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động vui chơi” được triển khai


nghiên cứu tại một số trường mầm non tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
những KNS cơ bản của trẻ 5-6 tuổi như kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng tự phục vụ và bảo vệ…đạt ở mực độ thành thục còn chiếm tỉ lệ thấp.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng các KNS của trẻ 5-6 tuổi, tác giả đã xây dựng
các biện pháp trong nhà trường và gia đình nhằm GDKNS cho trẻ thông qua
hoạt động vui chơi.
Kết quả trong các nghiên cứu “Điêu tra quốc gia về tai nạn thương tích
năm 2010” ; “Tổng quan tình hình đuối nước ở trẻ em Việt Nam giai đoạn
2005-2009” “Phòng chống tai nạn thương tích trong trường học” của Trần Thị
Ngọc Lan cùng cộng sự thuộc Cục Quản lý môi trường y tế; “Điều tra quốc gia
liên trường về tai nạn thương tích năm 2010” của trường Đại học y tế Công
cộng và mạng lưới nghiên cứu Y tế công cộng Việt Nam của tác giả Nguyễn
Huy Nga, Cục quản lý môi trường y tế; “Một số tai nạn thương tích thường gặp
ở trẻ em trong trường mầm non nguyên nhân và giải pháp” của tác giả Vũ Yến
Khanh cùng cộng sự năm 2009 cho thấy tai nạn thương tích là một vấn đề sức
khỏe cộng đồng tại Việt Nam và tai nạn thương tích được ghi nhận là nguyên
nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, do sự thiếu giám sát, chăm nom của cha
mẹ, cô giáo hoặc người trông trẻ nên trẻ có thể tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ ;
do người lớn chăm sóc không được hướng dẫn cách sơ cứu an toàn và không có
tủ thuốc cấp cứu...
Thực tế cho thấy những nghiên cứu KNS ở Việt Nam mới chỉ được
nghiên cứu, tìm hiểu trong thời gian gần đây với số lượng còn hạn chế. Những

nghiên cứu tập trung chủ yếu ở mặt GDKNS thông qua một số chương trình,
biện pháp thực nghiệm tác động còn công tác quản lý GDKNS ít được quan tâm
hơn. Do đó, KNS vẫn còn là một lĩnh vực đầy tiềm năng cần được khai phá và
cần sự quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa.


Tóm lại, các công trình, bài viết nghiên cứu về KNS và GDKNS đã đề
cập những nội dung cơ bản về KNS, cách thức GDKNS cho học sinh, sinh viên
nói chung, song ít có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về
quản lý GDKNS. Đặc biệt việc nghiên cứu "Quản lý giáo dục kỹ năng sống
của Hiệu trưởng các trường THCS ngoại thành, thành phố Hải Dương” hiện
nay chưa có tác giả nào nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
Trước hết nói về thuật ngữ “Quản lý” là tiếng Việt gốc Hán. “Quản”: gồm
sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp,
đổi mới đưa vào thế phát triển. Như vậy “Quản lý” gồm hai quá trình tích hợp
vào nhau: trong “Quản” có “Lý” trong “Lý” có “Quản”. Nếu người đứng đầu tổ
chức lo việc “Quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn tổ chức, duy trì ở trạng
thái ổn định thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến “Lý” tức là chỉ
lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì
phát triển của tổ chức không bền vững [2].
Lịch sử phát triển xã hội loài người từ thời kỳ mông muội đến nền văn
minh hiện đại ngày nay có 3 yếu tố cơ bản là tri thức, sức lao động và quản
lý. Trong đó quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với sức lao động. Khái niệm
quản lý đã xuất hiện từ lâu và ngày càng hoàn thiện cùng với lịch sử hình
thành và phát triển của xã hội loài người.
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Dưới đây là một số quan
niệm chủ yếu:
Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô: "Quản lý là chức năng của

những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ
thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động,
thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” [15,5].


Theo nhà giáo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là những tác động có
định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong
tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định".
Còn theo tác giả Trần Kiểm thì:
"Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của
từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội ”.
“Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động,
phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực,
vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu
nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [19,15].
Xét với tư cách là một hành động, theo tác giả Vũ Ngọc Hải: "Quản lý
là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng
quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra" [16,1].
Xét theo chức năng quản lý, hoạt động quản lý thường được định
nghĩa: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận
dụng các hoạtđộng (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và
kiểm tra" [6,1].
Tiếp cận trên phương diện hoạt động của một tổ chức, theo tác giả
Mạc Văn Trang:"Quản lý là một quá trình chủ thể (quản lý) tác động đến
đối tượng (quản lý) một cách có chủ đích, có tổ chức dựa trên các nguồn
lực và những điều kiện có thể có, nhằm đạt được mục đích đã xác định ”
[23,9].
Tóm lại, có thể hiểu "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển,
hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, phát
triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người

quản lý" [24,22].


Như vậy, cần phải hiểu khái niệm quản lý bao hàm những khía cạnh sau:
- Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh. Nó được
cấu tạo liên kết hữu cơ từ nhiều yếu tố, theo một quy luật nhất định; phù hợp
với điều kiện khách quan.
- Đối tượng (khách thể quản lý) trả lời câu hỏi: "quản lý ai? ", "quản lý cái
gì? ",... Do đó, khách thể vừa có thể là người, là tổ chức; vừa có thể là vật thể;
vừa có thể là sự việc... một cá nhân, một sự việc, một nhà trường, một doanh
nghiệp... cho đến một Quốc gia, một khối liên minh hay cả hành tinh cũng đều là
những đối tượng của quản lý.
- Hệ thống quản lý gồm có 2 phân hệ. Đó là sự liên kết giữa chủ thể quản
lý và khách thể quản lý. Câu hỏi "Ai quản lý " xác định chủ thể quản lý. Chủ thể
quản lý có thể là người hoặc tổ chức do con người lập nên.
- Tác động của quản lý thường mang tính chất tổng hợp, hệ thống tác
động quản lý gồm nhiều giải pháp khác nhau nhằm đưa hệ thống tiếp cận
mục tiêu.
- Cơ sở của quản lý là các quy luật khách quan và điều kiện thực tiễn
của môi trường.
- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là " tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi
ích của con người". Thực chất của quản lý là quản lý con người, vì con
người, do con người và nhờ con người.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự vận dụng một cách cụ thể các nguyên lý của quản
lý nói chung vào lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên, cần làm rõ nội hàm khái niệm, để
từ cơ sở lí thuyết đó giúp xác định nội dung và các biện pháp quản lý giáo dục
KNS trong công tác quản lý nhà trường.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát, là hệ
thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản



lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, điều
hành các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công tác giáo dục
theo yêu cầu phát triển của xã hội (nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài).
Theo tác giả Trần Kiểm quản lý giáo dục có hai cấp độ: Cấp vĩ mô (quản
lý hệ thống giáo dục) và cấp vi mô (quản lý nhà trường).
“Cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội
(tính trội của hệ thống) sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm
bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động” [19,10].
“Ở cấp vi mô: Quản lý giáo dục đồng nghĩa với khái niệm quản lý nhà
trường: quản lý giáo dục (ở cấp vi mô) được hiểu là hệ thống những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, có quy luật) của chủ thể
quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh
và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thức hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [19,12].
Qua các định nghĩa trên chúng tôi thấy, quản lý giáo dục dù ở cấp vi mô
hay cấp vĩ mô cũng đều có những nét bản chất tương đồng với nhau. Chúng chỉ
khác nhau về phạm vi đối tượng quản lý. Trong luận văn chúng tôi sử dụng định
nghĩa quản lý giáo dục của tác giả Trần Kiểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu.
Khái niệm quản lý giáo dục ở đây được hiểu là quản lý giáo dục ở cấp vi mô quản lý nhà trường.
Có thể khẳng định, giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành. Nếu
nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì
cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục. Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện
cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước



×