Tải bản đầy đủ (.doc) (106 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐẢNG bộ HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ hà nội LÃNH đạo CÔNG tác xây DỰNG tổ CHỨC cơ sở ĐẢNG từ năm 2005 đến năm 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (581.66 KB, 106 trang )

“Đảng bộ huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác xây
dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 2005 đến năm 2015”
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống tổ chức của Đảng, TCCSĐ có vị trí, vai trò rất quan
trọng, là nền tảng của Đảng, là tổ chức lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, là hạt
nhân chính trị lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ và các hoạt động ở cơ sở, là
cầu nối giữa Đảng và nhân dân, nơi đưa đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tế, thành hành động cách
mạng của quần chúng. Đồng thời, TCCSĐ còn là nơi thường xuyên chăm lo
giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ đảng viên, nâng cao đạo đức cách mạng,
tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác và làm công tác phát
triển đảng viên. Do vậy, xây dựng các TCCSĐ TSVM đủ sức lãnh đạo hoàn
thành nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài vừa là
yêu cầu cấp bách trước mắt.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã có nhiều nghị quyết, chỉ
thị bàn về công tác xây dựng TCCSĐ. Đặc biệt, những năm gần đây, vấn đề củng
cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ là vấn đề mang tính
cấp bách trong cơng tác xây dựng Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính
trị trong từng giai đoạn, thời kỳ cách mạng. Các nghị quyết của Đảng đã tập trung
củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, tạo chuyển
biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình cơ sở đảng, bảo đảm sự lãnh
đạo tồn diện, có hiệu quả của Đảng ở cơ sở.
Là một tổ chức đảng trực thuộc Đảng bộ thành phố Hà Nội, Đảng bộ
huyện Thanh Trì đã quán triệt, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng và chủ
trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội, trong đó có các chủ trương, biện
pháp về cơng tác xây dựng TCCSĐ vào công tác xây dựng Đảng, nhất là
việc xây dựng các TCCSĐ trực thuộc Đảng bộ huyện đạt TSVM. Từ thực
tiễn, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên địa bàn huyện Thanh Trì,
nhất là trong 10 năm (2005 - 2015) cho thấy: Đời sống mọi mặt của nhân

3




dân có được nâng lên hay khơng, hệ thống chính trị cơ sở có thực sự vững
mạnh tồn diện hay không đều tùy thuộc vào việc xây dựng TCCSĐ.
TCCSĐ thuộc Đảng bộ huyện Thanh Trì TSVM giữ vai trị quyết định trong
quá trình lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, nhanh
chóng đưa huyện bắt nhịp với xu thế đổi mới của đất nước trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu
đã đạt được, công tác xây dựng TCCSĐ ở Đảng bộ huyện Thanh Trì vẫn cịn
bộc lộ những hạn chế, yếu kém. Khơng ít TCCSĐ trên địa bàn vẫn cịn thiếu
thống nhất, cơng tác lãnh đạo, chỉ đạo có việc, có nơi chưa triệt để; giáo dục,
rèn luyện đội ngũ cán bộ đảng viên; công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
Đảng vẫn cịn nhiều hạn chế.
Từ thực tiễn đó đặt ra phải có nghiên cứu mang tính hệ thống, chun sâu,
tồn diện công tác xây dựng TCCSĐ ở Đảng bộ huyện Thanh Trì nhằm góp
phần làm sáng rõ những chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực hiện của Đảng bộ
huyện, nêu lên những ưu điểm, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm trong quá trình
lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thanh Trì về cơng tác xây dựng TCCSĐ.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cơng tác xây dựng TCCSĐ là một vấn đề lớn, có ý nghĩa quyết định đến sự
tồn tại, phát triển của Đảng. Chính vì vậy đã có nhiều cá nhân và các cơ quan
khoa học chọn vấn đề xây dựng TCCSĐ để làm đề tài nghiên cứu, khai thác ở
nhiều góc độ khác nhau như:
* Nhóm cơng trình nghiên cứu chung về cơng tác xây
dựng Đảng và TCCSĐ.
Đỗ Mười (1994), Về xây dựng Đảng, Nxb CTQG, Hà Nội; Nhiệm Khắc
Lễ (1995), Công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay, Nxb CTQG,
Hà Nội; Lê Quang Thưởng (1997), “Về xây dựng các tổ chức cơ sở đảng
trong sạch vững mạnh”, Tạp chí Cộng sản (2); Lê Văn Giang (1999), “Một số
vấn đề về phẩm chất cán bộ, đảng viên nhìn từ góc độ cơng tác kiểm tra”, Tạp

chí Tư tưởng văn hóa (2); Nguyễn Hữu Mộc (2001), “Mấy giải pháp xây

4


dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh”, Tạp chí Xây dựng Đảng
(2); Ngơ Kim Ngân (2001), “Xây dựng tổ chức cơ sở đảng và phát triển
đảng viên trong khu vực kinh tế có vốn đấu tư nước ngồi hiện nay ”, Tạp
chí Lịch sử Đảng (4); nhóm tác giả Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Trần
Khắc Việt (Đồng Chủ biên) (2004), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, Nxb CTQG, Hà Nội; Nguyễn Phú
Trọng (2005), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
trong giai đoạn hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội; Dương Trung Ý (2006),
“Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên dưới ánh sáng
Nghị quyết Đại hội X”, Tạp chí Lịch sử Đảng (8); Cao Ngọc Hải (2007),
“Nâng cao tính chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng”, Tạp chí Xây dựng
Đảng (9); Xuân Sơn (2008), “Giải pháp phát triển đảng viên trẻ khu vực
nơng thơn”, Tạp chí Xây dựng Đảng (11); Bùi Đức Lại (2009), “Về chức
năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng”, Tạp chí Xây dựng Đảng (7);
Tường Thị Hồng Vân (2009), “Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng
xã, phường, thị trấn ở Đảng bộ Hà Nội”, Tạp chí Xây dựng Đảng (9);
Nguyễn Đức Hà (2010), Một số vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện
nay, Nxb CTQG, Hà Nội; Vũ Văn Phúc (2011), Báo cáo đề dẫn tọa đàm
khoa học: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng”, Tạp chí Cộng sản (5).
Nhóm cơng trình trên ®· đề cập một cách khái quát, có hệ thống
những vấn đề cơ bản về Đảng cầm quyền, công tác xây dựng và chỉnh đốn
Đảng trong thời kỳ đổi mới. Các tác giả đã dành một phần quan trọng luận
giải về chất lượng TCCSĐ. Từ sự phân tích khoa học về cơ sở lý luận và
những vấn đề thực tiễn của công tác xây dựng Đảng nói chung và xây dựng

TCCSĐ nói riêng, các tác giả đã đề xuất phương hướng và một số giải pháp
cấp bách để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong
thời kỳ mới.

5


* Nhóm cơng trình nghiên cứu liên quan đến xây dựng TCCSĐ ở các
địa phương, ban, ngành:
Văn Thể (1993), Nâng cao chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng nông thôn ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xây
dựng Đảng; Viện Mác - Lênin (1995), Vấn đề xây dựng Đảng ở một số vùng có
đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở miền Bắc hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ;
Đỗ Ngọc Ninh (1995), Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn (cấp
xã) vùng đồng bằng sông Hồng, Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Xây
dựng Đảng; Phạm Văn Minh (1998), Chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn
tỉnh Sơn La hiện nay - thực trạng và giải pháp nâng cao, Luận văn thạc sĩ Xây
dựng Đảng; Cao Xuân Thưởng (2000), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở các trung đồn khơng qn chiến đấu hiện
nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị; Bùi Đức
Nhẫn (2001), Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng vùng có đồng bào theo
đạo Cơng giáo ở tỉnh Phú Thọ hiện nay, Luận văn thạc sĩ Tơn giáo học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Đức Ái (2001), Năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nơng thơn vùng cao phía Bắc
trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước, Luận án tiến sĩ
Lịch sử, chuyên ngành Xây dựng Đảng; Hoàng Mạnh Đồn (2002), Cơng tác
vận động giáo dân của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc Bộ nước
ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Xây dựng Đảng; Nguyễn Thị Nhung (2009), Quá
trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm 1997
đến năm 2005, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội;

Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I (2010), Nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu cho các loại hình tổ chức cơ sở đảng xã ở các tỉnh miền núi
Tây Bắc Việt Nam - thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ; Nguyễn
Văn Cường (2011), Quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh
Bắc Ninh từ năm 2000 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội; La Thị Sinh (2011), Đảng bộ tỉnh Thanh

6


Hoá lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở một số huyện vùng đồng bằng từ
năm 2000 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Trần Thị Hiệp
(2012), Đảng bộ huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh thực hiện nhiệm vụ xây dựng
tổ chức cơ sở đảng từ năm 1999 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Lịch sử Đảng, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội; Mai Bích Huệ
(2013), Đảng bộ Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ
năm 2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia
Hà Nội; Nguyễn Đức Hùng (2014), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng cấp
xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sĩ Lịch sử
Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội; Khuất Văn Hùng (2015), Công tác xây dựng
tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ thị xã Sơn Tây (tỉnh Hà Tây) từ năm 2001 đến
năm 2008, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội.
Các cơng trình này đã đi sâu nghiên cứu, làm rõ quá trình xây dựng
TCCSĐ ở các loại hình tổ chức đảng ở địa phương, ban, ngành. Đánh giá kết
quả hoạt động, chỉ rõ yêu cầu khách quan của công tác xây dựng Đảng vững
mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đặc biệt là công tác xây dựng tổ chức
đảng và xây dựng đội ngũ đảng viên đáp ứng u cầu sự nghiệp đổi mới,
thơng qua đó bước đầu đánh giá thực trạng TCCSĐ và đội ngũ đảng viên, đúc
kết một số kinh nghiệm, đề xuất giải pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng

TCCSĐ ở một số địa phương, ban, ngành hiện nay.
* Nhóm cơng trình nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ
thành phố Hà Nội nói chung và huyện Thanh Trì nói riêng
Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội (2004), biên soạn cuốn Lịch sử
Đảng bộ thành phố Hà Nội (1930 - 2000), Nxb Hà Nội; Đỗ Ngọc Ninh (2004),
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ phường ở Thủ
đô Hà Nội hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội; Ngơ Bích Ngọc (2004), Sự lãnh đạo
của tổ chức cơ sở đảng đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong
các trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội hiện nay, Luận án tiến sĩ chuyên

7


ngành Xây dựng Đảng, Hà Nội; Nguyễn Quang Huy (2006), Xây dựng đội ngũ
cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Quận ủy Tây Hồ, Thành phố Hà Nội quản lý
trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng,
Hà Nội; Nguyễn Ngọc Thuần (2009) Chất lượng cơng tác tư tưởng của
Đảng bộ quận Ba Đình, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, Luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng, Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ
huyện Thanh Trì (2011), Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Trì (1930 - 2010),
Nxb CTGQ, Hà Nội; Trần Thị Thu Hằng (2012),Công tác xây dựng tổ chức
cơ sở đảng của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 1996 đến năm 2005,
Luận án tiến sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội; Khương Thị Hương
(2014), Đảng bộ huyện Ba Vì (Hà Nội) thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng
từ năm 2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN THANH TRÌ VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG (2005 - 2010)


1.1. Những nhân tố tác động tới xây dựng tổ chức cơ sở đảng của
Đảng bộ huyện Thanh Trì (2005 - 2010)
1.1.1. Vai trị của tổ chức cơ sở đảng và công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng
Trong quá trình sáng lập ra hệ thống lý luận cách mạng, cũng như trong
hoạt động thực tiễn của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen ln quan tâm đến việc
thành lập Đảng Cộng sản và các chi bộ cơ sở của Đảng. Hai ông cho rằng cần
phải thành lập các chi bộ ở các địa phương, trong các hiệp hội công nhân, đồng
thời nhấn mạnh về tầm quan trọng đặc biệt của các chi bộ cơ sở - TCCSĐ.
Những quan điểm đó được thể hiện thơng qua tổ chức “Liên đồn những
người cộng sản” (1847). Lúc đó những chi bộ được thành lập dưới hình thức các
hội bí mật trong các hiệp hội công nhân và là nơi kết nạp, quản lý hội viên, nơi
tuyên truyền lý tưởng cộng sản và lãnh đạo công nhân đấu tranh chống giai cấp
tư sản. Điều lệ Liên đoàn của những người cộng sản xác định: “Về cơ cấu liên

8


đoàn gồm những chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban chấp hành Trung ương và Đại
hội” [78, tr.738]. C.Mác cho rằng: Đảng Cộng sản - đội tiên phong chính trị của
giai cấp cơng nhân là một chỉnh thể có kết cấu chặt chẽ trong một hệ thống tổ
chức mà nền tảng là các chi bộ cơ sở, nếu các chi bộ cơ sở buông lỏng và cắt đứt
liên lạc với BCH Trung ương sẽ làm cho Đảng mất chỗ dựa vững chắc và duy
nhất. Tuy chưa dùng khái niệm TCCSĐ nhưng quan điểm của C.Mác,
Ph.Ăngghen về tầm quan trọng của TCCSĐ được thể hiện rất rõ: TCCSĐ là chỗ
dựa, là nền tảng của Đảng, là nơi kết nạp, sàng lọc đảng viên, nơi giáo dục, rèn
luyện quần chúng, nơi Đảng gắn bó với quần chúng, thơng qua đó để tổ chức
phát động phong trào cách mạng nhằm cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới
theo mục tiêu lý tưởng của Đảng.
Kế thừa sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I. Lênin đã tiếp tục bổ
sung, phát triển lý luận về xây dựng Đảng kiểu mới và chăm lo xây dựng

TCCSĐ thực sự là nền tảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo phong trào cách
mạng. Một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách được V.I. Lênin đề
cập đó là cơng tác xây dựng TCCSĐ ln bảo đảm vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức. Lần đầu tiên trong bài viết “Về việc cải tổ Đảng” V.I. Lênin
đã chính thức sử dụng thuật ngữ “tổ chức cơ sở đảng”, chỉ rõ các chi bộ cơ sở
là các TCCSĐ. V.I. Lênin cho rằng “Hình thức tổ chức mới, hay nói đúng
hơn hình thức mới của tổ chức cơ sở của đảng công nhân phải giải quyết tuyệt
đối rộng rãi hơn so với những tiểu tổ cũ” [75, tr.107]. Trong nhiều tác phẩm
V.I. Lênin đã khẳng định TCCSĐ là “điểm tựa”, là hạt nhân, là nơi gần gũi
quần chúng nhất, nơi liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nơi tuyên truyền, giáo
dục, dẫn dắt quần chúng thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của
Đảng. Thơng qua TCCSĐ, thông qua đội ngũ đảng viên, Đảng mới thực hiện
sự lãnh đạo của mình một cách trực tiếp với phong trào cách mạng quần chúng.
Khơng chỉ nêu lên vị trí, vai trò quan trọng của TCCSĐ trong sự
nghiệp cách mạng nói chung, V.I. Lênin cịn chỉ rõ vai trị quan trọng đặc
biệt của TCCSĐ ở địa phương, nơi mà các TCCSĐ phải có trách nhiệm

9


lãnh đạo đông đảo quần chúng lao động, lực lượng hùng hậu của cách
mạng, Người luôn cho rằng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vì
vậy các TCCSĐ “Phải đem hết sức lực, đem hết chú ý để tạo ra, phát huy
một tính chủ động lớn hơn cơ sở - trong các tỉnh; nhất là trong các huyện;
nhất là trong các tổng và các xã” [76, tr.279].
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, xây dựng và rèn luyện Đảng
Cộng sản Việt Nam thành một đảng cách mạng chân chính. Người đã tiếp thu
quan điểm của CNMLN về Đảng Cộng sản và tầm quan trọng của TCCSĐ, vận
dụng linh hoạt, sáng tạo những luận điểm xây dựng TCCSĐ vào hoàn cảnh cụ
thể của nước ta. Khẳng định vai trò, tầm quan trọng của Đảng với cách mạng,

Người cho rằng cách mạng: “Trước hết phải có đảng cách mệnh để trong thì vận
động và tổ chức dân chúng, ngồi thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vơ sản giai
cấp mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành cơng, cũng như người cầm lái
có vững thuyền mới chạy” [80, tr.267-268].
Đảng có vai trị to lớn đối với cách mạng, là người cầm lái, đưa đường, chỉ
lối, vận động quần chúng làm cách mạng, song Đảng chỉ thực hiện được sứ mệnh
thông qua các tổ chức của mình, đó là các TCCSĐ. Hồ Chí Minh rất coi trọng và
ln khẳng định vị trí, vai trị, tầm quan trọng đặc biệt của TCCSĐ, Người
chỉ rõ: TCCSĐ là nơi nắm vững và bảo đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở theo
đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Làm tốt công tác xây
dựng TCCSĐ là một yếu tố quan trọng để Đảng vững mạnh. Hạt nhân của
TCCSĐ là chi bộ, nơi quán triệt và bàn các biện pháp chấp hành triệt để các
nghị quyết của Đảng; nơi đấu tranh về quan điểm và rèn luyện đảng viên;
nơi vận động quần chúng thực hiện tốt chính sách của Đảng. Trong cơng
tác xây dựng TCCSĐ, Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đối với xây dựng
TCCSĐ ở địa phương. Khi nói đến vai trị của TCCSĐ ở địa phương, ở
nơng thơn, Hồ Chí Minh cho đó là gốc rễ của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo
quần chúng ở cơ sở địa phương; bảo đảm mọi chủ trương, chính sách của
Đảng và Chính phủ ln được thực hiện tốt. Hồ Chí Minh cho rằng: “ Chi

10


bộ là gốc rễ của Đảng ở nông thôn. Chi bộ vững mạnh thì mọi chính sách
của Đảng và Chính phủ nhất định thi hành được tốt” [82, tr.317]. Do
TCCSĐ ở địa phương có vị trí, vai trị quan trọng, cho nên muốn thực
hiện tốt kế hoạch của Đảng, thì phải chăm lo củng cố không ngừng. Phải
xây dựng các TCCSĐ ở địa phương ln đồn kết, thống nhất; xây dựng
địa phương đồn kết, nhất trí cao; đồng thời các TCCSĐ và địa phương
cũng phải ln đồn kết, nhất trí thì mọi cơng việc ở địa phương dù khó

khăn đến mấy cũng có thể làm được. Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Chi bộ thật thà đồn kết nhất trí thì lãnh đạo được nơng thơn đồn kết
nhất trí… và mọi cơng việc khác tuy nhiều khó khăn phức tạp, cũng nhất
định làm được tốt” [82, tr.319].
Thực tiễn lịch sử thế giới đã chứng minh vị trí, vai trị, tầm quan trọng của
Đảng Cộng sản với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân nhằm
xây dựng CNXH mà mở đầu là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga
(1917). Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga và nối tiếp là sự hình
thành hệ thống XHCN sau Chiến tranh thế giới lần thứ II chính là thành quả
quan trọng nhất, tiến bộ nhất mà nhân loại đã giành được trong quá trình đấu
tranh với các thế lực áp bức, bóc lột để tự giải phóng mình. Nó đã đem lại cho
con người giá trị, lý tưởng sống cao đẹp, thức tỉnh lương tri nhân loại bước vào
kỷ nguyên mới - kỷ nguyên từng bước, tiến tới xoá bỏ hồn tồn chế độ người
bóc lột người, xây dựng xã hội mới tiến bộ, công bằng, văn minh, con người có
điều kiện được phát triển tồn diện. Có được những thành quả vĩ đại trong
những năm nửa đầu thế kỷ XX là do công tác xây dựng Đảng vững mạnh cả về
chính trị, tư tưởng và tổ chức ln được các Đảng Cộng sản chú trọng.
Sự tan rã của Liên Xô và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu cuối thập
kỷ 80 (thế kỷ XX) là một tổn thất lớn cho các nước XHCN, làm cho cách mạng
XHCN tạm thời lâm vào thối trào; song nó cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm
quý giá cho các Đảng Cộng sản cầm quyền. Một trong những bài học kinh nghiệm

11


đó là phải đặc biệt coi trọng cơng tác xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ vững
mạnh, giữ vững nguyên tắc tập trung đi đôi với mở rộng dân chủ trong Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn nhận thức đúng tầm quan
trọng của TCCSĐ và thường xuyên quan tâm xây dựng các TCCSĐ. Từ bài học thành
công và chưa thành công trong thực tiễn xây dựng TCCSĐ những năm trước đổi mới,

tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng khẳng định:
Việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, phát huy quyền làm chủ tập
thể của quần chúng, nâng cao chất lượng đảng viên... đều tuỳ thuộc vào sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Những thành tựu đã đạt được, những tiềm
năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực
phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân lãnh đạo là tổ chức đảng. Nhưng
mặt khác, sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã làm hạn chế những
thành tựu của cách mạng [12, tr.141].
Chính vì thế, củng cố, nâng cao chất lượng TCCSĐ là nhiệm vụ thường
xun có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong cơng tác xây dựng Đảng thời kỳ đổi
mới. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng (Khoá VI) khẳng
định: “Trong điều kiện chuyển sang thực hiện cơ chế quản lý mới, các tổ chức
cơ sở đảng đóng vai trò hết sức quan trọng… Các tổ chức cơ sở đảng phải thật
sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị trong các tập thể lao động” [22, tr.282]. Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) của Đảng cũng chỉ rõ yêu cầu xây dựng,
củng cố TCCSĐ: “ Cấp uỷ cấp trên tập trung chỉ đạo củng cố các Đảng bộ, chi
bộ yếu kém, kịp thời kiện toàn cấp uỷ và tăng cường cán bộ ở những nơi có
nhiều khó khăn, nội bộ mất đồn kết. Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chi
bộ” [18, tr.142-143].
Kế thừa và phát triển quan điểm xây dựng TCCSĐ của Đại hội IX, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nhấn mạnh phải kiện toàn và đổi mới
hoạt động của TCCSĐ: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ đảng. Kiện toàn hệ
thống tổ chức cơ sở đảng...Tập trung củng cố các cơ sở yếu kém” [21, tr.132].

12


Đại hội XI tiếp tục khẳng định phải củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo
sức chiến đấu của TCCSĐ: “Tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động

của các loại hình cơ sở đảng… Kiện tồn tổ chức của hệ thống chính trị, bảo
đảm sự lãnh đạo tồn diện của Đảng ở cơ sở” [28, tr.259-260].
Điều 21, điểm 1, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX, khóa X,
khóa XI ghi rõ: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng
của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”.
Từ những quan điểm nêu trên, có thể khái qt vị trí, tầm quan trọng của
TCCSĐ trên 3 điểm sau:
Thứ nhất, TCCSĐ là cấp tổ chức trực tiếp đưa đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng vào quần chúng và tổ chức cho quần chúng thực hiện thắng lợi đường
lối, chủ trương, chính sách ấy. Vì suy cho cùng thì việc tổ chức, thực hiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng thành hành động cách mạng của quần chúng là
công việc trước hết của chi bộ, đảng bộ cơ sở. TCCSĐ phải chịu trách nhiệm trước
Đảng về đời sống vật chất và tinh thần của quần chúng nhân dân ở cơ sở.
Thứ hai, TCCSĐ là tổ chức nối liền các cơ quan lãnh đạo cấp trên của
Đảng với quần chúng, vì TCCSĐ khơng những lãnh đạo quần chúng phấn đấu
thực hiện có kết quả đường lối, chính sách của Đảng, mà cịn làm nhiệm vụ nắm
bắt tâm tư nguyện vọng, phản ánh đúng và đầy đủ tâm tư nguyện vọng ấy của
quần chúng lên Đảng cấp trên.
Thứ ba, TCCSĐ là nơi giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng lọc đảng viên,
nơi đào tạo cán bộ cho Đảng; nơi xuất phát để cử ra các cơ quan lãnh đạo cấp trên
của Đảng, là mơi trường quan trọng đảm bảo tính tiên phong và tính trong sạch
của Đảng. Vì TCCSĐ là nơi trực tiếp quản lý đảng viên và theo dõi quần chúng.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, các TCCSĐ ln có vị trí, vai
trị quan trọng là gốc rễ, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ
sở, đảm bảo cho đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, đồng thời là cấp tổ chức
trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng. Vì vậy, củng cố, nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ, bảo đảm cho các

13



TCCSĐ TSVM là yêu cầu thường xuyên không chỉ đối với toàn Đảng mà đối
với các tổ chức đảng ở các địa phương trong đó có Đảng bộ huyện Thanh Trì.
1.1.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Thanh trì và thực
trạng cơng tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trước năm 2005
* Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh Trì tác động đến
công tác xây dựng TCCSĐ.
Điều kiện tự nhiên:
Thanh Trì là huyện ngoại thành, nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, phía
Bắc và Tây Bắc giáp quận Hồng Mai và quận Thanh Xn, phía Đơng là sơng
Hồng, giáp với huyện Gia Lâm và tỉnh Hưng Yên, phía Nam giáp huyện
Thường Tín, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Thanh Oai và quận Hà Đông.
Sau hai lần điều chỉnh địa giới hành chính, đặc biệt là cuối năm 2003, thực hiện
Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 6/11/2003 của Chính phủ về thành lập quận
Hoàng Mai. Theo sự chỉ đạo của Thành phố, huyện Thanh Trì đã chuyển giao 9
xã ven đơ về quận Hồng Mai. Địa giới hành chính bị thu hẹp, Thanh Trì cịn lại
15 xã, 01 thị trấn (bao gồm: Tân Triều, Thanh Liệt, Tam Hiệp, Tứ Hiệp, Tả
Thanh Oai, Hữu Hòa, Vĩnh Quỳnh, Đại Áng, Liên Ninh, Đông Mỹ, Ngọc Hồi,
Ngũ Hiệp, Vạn Phúc, Yên Mỹ, Duyên Hà và thị trấn Văn Điển), 300 cơ quan,
doanh nghiệp và trụ sở của lực lượng vũ trang, với diện tích tự nhiên 6.292,7 ha,
dân số 159.664 người. 15 xã và 1 thị trấn chủ yếu thuần nông, kinh tế gặp nhiều
khó khăn, nhưng vẫn đang trong q trình đơ thị hoá nhanh.
Đặc điểm kinh tế - xã hội:
Nằm ở đầu những tuyến giao thơng huyết mạch, đường thủy có sơng
Hồng, đường bộ có Quốc lộ 1A, 1B và đường sắt Bắc - Nam chạy qua, do đó
huyện Thanh Trì có vị trí quan trọng về qn sự và kinh tế đối với Thủ đô Hà
Nội, trở thành đầu mối giao thông quan trọng của Thủ đô, thuận lợi cho việc
giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh phía Nam.
Huyện Thanh Trì từ xa xưa đã phát triển nghề nông nghiệp kết hợp với chăn
nuôi gia súc là chủ yếu. Nhân dân Thanh Trì có tinh thần cần cù, yêu lao động,


14


gắn bó với ruộng đồng, ra sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.
Ngoài những ngành nghề được du nhập từ bên ngoài vào, nhân dân Thanh Trì cịn
bảo lưu, truyền nối, kế tục và phát triển được nhiều nghề truyền thống tạo thành
cơ cấu ngành nghề phong phú, đa dạng. Đây là thế mạnh, tiềm năng đáng quý,
góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đi lên của Huyện.
Dưới ánh sáng của công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo,
với tinh thần chủ động, nỗ lực khắc phục khó khăn, cùng với sự quan tâm chỉ
đạo sát sao của Thành ủy Hà Nội, Ban Thường vụ Huyện ủy đã tập trung chỉ đạo
điều chỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp,
tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các chương trình phát triển kinh
tế phù hợp nhằm phát huy mọi tiềm năng, lợi thế của địa phương. Hiện nay kinh
tế Thanh Trì được hình thành theo bốn vùng kinh tế trọng điểm:
Vùng 1 là các xã, thị trấn ven đô, gồm xã Tân Triều, Tam Hiệp, Thanh
Liệt, Tứ Hiệp và thị trấn Văn Điển, phát triển kinh tế theo cơ cấu dịch vụ thương mại - tiểu thủ công nghiệp - nông nghiệp.
Vùng 2 là các xã ngoài bãi, gồm Yên Mỹ, Duyên Hà, Vạn Phúc, là vùng
sản xuất rau và chăn nuôi, phát triển kinh tế theo cơ cấu nông nghiệp - dịch vụ.
Vùng 3 gồm các xã Đại Áng, Tả Thanh Oai, Hữu Hịa, Vĩnh Quỳnh, Đơng
Mỹ, là các vùng nuôi trồng thủy sản và trồng lúa, phát triển kinh tế theo cơ cấu
nông nghiệp - dịch vụ - thương mại - công nghiệp.
Vùng 4 gồm các xã Ngọc Hồi, Liên Ninh, Ngũ Hiệp, là vùng sản xuất cơng
nghiệp hóa và đơ thị hóa, phát triển kinh tế theo cơ cấu công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp - dịch vụ - thương mại - nơng nghiệp.
Thanh Trì là vùng đất địa linh nhân kiệt. Hiện nay trên địa bàn toàn huyện
cịn lưu giữ được 57 di tích, cụm di tích lịch sử - văn hóa được Nhà nước, Thành
phố Hà Nội xếp hạng, trong đó có nhiều di tích nổi tiếng như: đình Vĩnh Ninh
thờ Trương Tử Nương (tức nàng Tía), nữ tướng của Hai Bà Trưng; ở xã Thanh

Liệt, Đình ngồi cánh đồng thờ Đơ hồ Đại vương Phạm Tu, Đình trong làng thờ
Danh nhân Tiên Triết Chu Văn An, Đình Đơng Phù và Việt n thờ Nguyễn

15


Siêu; đình Tả Thanh Oai thờ Lê Đại Hành và bà Chúa Hến… Làm rạng rỡ cho
lịch sử Thanh Trì là những danh nhân văn hóa đời nào cũng có. Tiêu biểu là
những nhà khoa học như: Thái y Trịnh Đình Ngoạn, nhà quân sự Lê Bá Ly, nhà
Nho tiết tháo Chu Văn An, Thượng thư Nguyễn Như Đổ, Bùi Xương Trạch làm
đến Thượng thư Bộ binh kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, Đặng Trần Côn, Nguyễn
Công Thể, Nguyễn Văn Siêu, Ngơ Thì Sĩ, Ngơ Thì Nhậm…
Thanh Trì cịn là mảnh đất có truyền thống hiếu học, nổi tiếng là hai làng
khoa bảng Nguyệt Áng (xã Đại Áng) và Tả Thanh Oai (xã Tả Thanh Oai). Nơi
đây là cái nôi sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước, có nhiều người đỗ đạt,
thành danh qua các kỳ thi của các triều đại. Trong lịch sử khoa cử phong kiến, q
hương Thanh Trì đã đóng góp 4 trạng ngun, 3 bảng nhãn, 01 thám hoa, 17
hoàng giáp, 58 tiễn sĩ, 3 phó bảng.
Nhân dân Thanh Trì có truyền thống u nước chống giặc ngoại xâm.
Trong cuộc khởi nghĩa chống quân Đơng Hán năm 40, có Triệu Tam Trinh ở
Mai Động và Trương Tử Nương (nàng Tía) ở Vĩnh Ninh (Vĩnh Quỳnh) được
Hai Bà Trưng phong làm tướng cầm quân chống Mã Viện ở cửa bể Thần Phù
và đã hy sinh oanh liệt. Trên địa bàn huyện hiện nay còn lưu giữ nhiều dấu tích
lịch sử gắn với tên tuổi vị tướng tài đứng đầu ban võ triều Tiền Lý là Phạm Tu,
người có cơng lớn trong việc giúp Lý Bí khởi nghĩa chống ngoại xâm. Vào
cuối thế kỷ thứ VII, Triều Khúc là nơi đóng quân của Phùng Hưng để chống
ách đô hộ của nhà Đường. Dưới thời Tây Sơn, huyện Thanh Trì gắn với chiến
thắng Ngọc Hồi - Đầm Mực trong chiến dịch vua Quang Trung - Nguyễn Huệ
hành quân ra Bắc đánh đuổi quân xâm lược Mãn Thanh, giải phóng kinh thành
Thăng Long, xuân Kỷ Dậu (1789). Trong đợt tiến qn đó, chính Ngơ Thì

Nhậm (người Tả Thanh Oai) là người đã hiến kế lập phòng tuyến Tam Điệp
làm bàn đạp tấn công vào Thăng Long.
Ngay từ thời kỳ mới thành lập Đảng, huyện Thanh Trì đã là nơi ra đời chi
bộ cộng sản mang tên Chi bộ Đông Phù (5 - 1930). Đây là chi bộ cộng sản đầu
tiên ở huyện Thanh Trì và của khu vực ngoại thành Hà Nội. Chi bộ Đông Phù ra

16


đời trở thành hạt nhân chính trị lãnh đạo, vận động và tổ chức các phong trào
đấu tranh của quần chúng nhân dân địa phương.
Cùng với sự phát triển của Thăng Long - Hà Nội, truyền thống đoàn kết,
lao động cần cù, sáng tạo, hiếu học, văn hóa và cách mạng của nhân dân Thanh
Trì ln được giữ gìn, bồi đắp và phát huy liên tục qua nhiều thế hệ. Từ khi có
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng, những truyền thống quý báu đó
được nối tiếp và phát huy mạnh mẽ, trở thành động lực tinh thần to lớn để mọi
cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Thanh Trì vượt qua mọi khó khăn, thử
thách lập lên những chiến công to lớn trong sự nghiệp kháng chiến, cứu nước,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, CNH, HĐH
đất nước, góp phần xây dựng Thủ đơ ngày càng hiện đại, văn minh, giàu đẹp.
Như vậy, những điều kiện về vị trí địa lý, về truyền thống văn hiến, tinh
thần yêu nước, lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân, là cơ sở để phát triển
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Những điều kiện này vừa tạo thuận lợi đồng
thời cũng đặt ra những khó khăn, thách thức tác động mạnh mẽ đến cơng tác xây
dựng Đảng nói chung và công tác xây dựng TCCSĐ trên địa bàn huyện nói
riêng, nhất là cơng tác xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của các loại hình TCCSĐ nhằm lãnh đạo thắng lợi cơng cuộc phát triển kinh tế xã hội ở một huyện ngoại thành, kinh tế thuần nơng cịn nhiều khó khăn và đang
q trình đơ thị hố nhanh chóng.
* Thực trạng cơng tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ huyện Thanh Trì
trước năm 2005

Thực hiện Nghị định 132-NĐ/CP của Chính phủ, cuối năm 2003 Đảng
bộ huyện Thanh Trì đã bàn giao 38 cơ sở đảng về quận Hồng Mai; trong đó có
9 đảng bộ xã. Tính đến đầu nhiệm kỳ 2005 - 2010, Đảng bộ huyện Thanh Trì
cịn 54 TCCSĐ, trong đó có 15 đảng bộ xã và 01 thị trấn; 20 chi, đảng bộ khối
hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và 18 chi, đảng bộ khối doanh nghiệp,
gồm 5.970 đảng viên, sinh hoạt tại 174 chi bộ.

17


Từ đặc điểm đa dạng của các loại hình TCCSĐ với số lượng đảng viên
đông, phần lớn là đảng viên đã nghỉ hưu, đảng viên là nơng dân. Trình độ đảng
viên không đồng đều về nhận thức, năng lực lãnh đạo. Một số đảng viên là nơng
dân cịn chịu ảnh hưởng tác phong manh mún, mang nặng tư tưởng cá nhân cục
bộ địa phương, tác động đến quá trình lãnh đạo của TCCSĐ. Số đảng viên nghỉ
hưu phần lớn có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, tiếp tục có nhiều cống hiến,
tham mưu cho cơng tác lãnh đạo ở địa phương. Tuy nhiên, một số ít chưa gương
mẫu trong sinh hoạt, chưa thực sự là tấm gương trong thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những quy định của địa
phương. Đội ngũ cán bộ ở xã, phường, thơn xóm, khu phố, cụm dân cư chủ yếu
là do nhân dân bầu nên trình độ, năng lực lãnh đạo cịn hạn chế cũng tác động
không nhỏ tới công tác xây dựng TCCSĐ.
Ưu điểm:
Về cơng tác chính trị, tư tưởng: Huyện uỷ và cơ sở đảng thực sự coi trọng
công tác xây dựng Đảng trên cả ba mặt: chính trị - tư tưởng - tổ chức, coi đây là
nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định và phát triển của
huyện. Huyện ủy đã đổi mới nâng cao chất lượng việc triển khai học tập quán
triệt nghị quyết, xây dựng chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết của
Trung ương, của Thành phố, của huyện và cơ sở. Tỷ lệ đảng viên tham gia các
đợt học tập nghị quyết bình quân đạt 96%, nhiều chi, đảng bộ đạt 100% [3, tr.8].

Qua đó tạo được sự thống nhất về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên
và sự đồng thuận của nhân dân trong lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính
trị. Thơng qua cơng tác chính trị, tư tưởng giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên tu
dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống, đấu tranh có hiệu quả với các biểu
hiện sai trái, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi, đảng
bộ, xây dựng chi, đảng bộ TSVM.
Về xây dựng tổ chức đảng: Xây dựng hệ thống TCCSĐ được coi trọng.
Thực hiện có hiệu quả chương trình “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, vai trò lãnh đạo,

18


sức chiến đấu của TCCSĐ được nâng cao, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
thêm gắn bó. Số chi, đảng bộ TSVM tăng dần, số TCCSĐ yếu kém đến năm 2004
khơng cịn. Năm 2001 có 58,43% chi, đảng bộ đạt TSVM, có 1 TCCSĐ yếu kém
(1,12%). Năm 2003 có 60,2% TCCSĐ đạt TSVM, khơng có TCCSĐ yếu kém. Năm
2004 có 69,64% chi, đảng bộ đạt TSVM, khơng có TCCSĐ yếu kém [3, tr.9].
Về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên: Thực hiện tốt công tác quy
hoạch, đánh giá cán bộ; công tác bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật
cán bộ được thực hiện đúng nguyên tắc, quy trình, đảm bảo cơng khai dân chủ.
Đã quan tâm lãnh đạo thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng
viên nâng cao một bước nhận thức về tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, lối
sống; nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, chun mơn nghiệp vụ, năng lực
hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cấp uỷ viên.
Đã mở 306 lớp bồi dưỡng với 39.323 lượt cán bộ (đạt 150% kế hoạch).
Điều động, bổ nhiệm, luân chuyển 263 cán bộ thuộc diện Thường vụ Huyện
ủy quản lý, bổ sung một số lớn cán bộ chủ chốt để thành lập quận Hoàng Mai,
kiện toàn đủ số cán bộ lãnh đạo của Huyện, phục vụ tốt công tác nhân sự
HĐND - UBND huyện, xã, thị trấn nhiệm kỳ 2004 - 2009 và nhân sự cấp ủy

nhiệm kỳ 2005 - 2010.
Công tác xây dựng đội ngũ đảng viên được quan tâm thường xuyên cả về
giáo dục, rèn luyện và quản lý đảng viên. Ý thức chấp hành nguyên tắc tổ chức
của đảng viên dần đi vào nền nếp, đa số đảng viên được phân công công tác,
chất lượng đảng viên được nâng lên. Từ năm 2002 đến năm 2004 số đảng viên
đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ đều đạt trên 80%. Công tác quản lý đảng
viên được chú trọng, mối quan hệ của đảng viên nơi công tác - nơi cư trú được
thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ. Công tác phát triển đảng viên mới có nhiều tiến
bộ, trong nhiệm kỳ 2001 - 2005 đã kết nạp được 1.264 đảng viên mới, đạt
123,25% kế hoạch [3, tr.10]. Số đảng viên mới là cán bộ làm công tác quản lý,
cán bộ khoa học kỹ thuật, đoàn viên thanh niên, phụ nữ, giáo viên, trí thức...

19


ngày một tăng. Đảng viên mới đã phát huy tốt, nhiều đồng chí được tín nhiệm cử
giữ các cương vị lãnh đạo, chủ chốt ở cơ sở.
Về công tác kiểm tra và kỷ luật Đảng: Huyện uỷ và cơ sở đã xây dựng
chương trình, kế hoạch cơng tác kiểm tra. Đã chú trọng kiểm tra tổ chức đảng và
đảng viên có dấu hiệu vi phạm; xử lý kịp thời những cán bộ, đảng viên có vi
phạm Điều lệ Đảng, khơng chấp hành chủ trương chính sách pháp luật của Nhà
nước, thực sự có tác dụng ngăn ngừa cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng vi phạm
kỷ luật Đảng, giúp đảng viên nhận thức, tự giác rèn luyện tu dưỡng, gương mẫu
hoàn thành nhiệm vụ người đảng viên. Trong những năm 2001 - 2005, Huyện uỷ
và cơ sở đã xử lý thi hành kỷ luật 123 đảng viên, trong đó vi phạm về quản lý, sử
dụng đất đai, tài chính là 42,3%, vi phạm về phẩm chất lối sống 23,6%, thiếu
tinh thần trách nhiệm 27,6%, sinh con thứ ba 6,5% (giảm 35 đồng chí so với
những năm 1996 - 2000) [3, tr.10-11].
Về đổi mới phương thức lãnh đạo của các TCCSĐ: Hầu hết các cấp ủy
Đảng đều xây dựng được quy chế hoạt động, định rõ trách nhiệm và nội dung

lãnh đạo; phân định được chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý điều
hành của chính quyền và vai trị của các đồn thể CT - XH. Quan hệ giữa Huyện ủy,
HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể nhân dân ngày càng chặt chẽ hơn. Định kỳ
hằng năm sau mỗi lần đại hội, quy chế hoạt động của các cấp ủy lại được bổ sung,
điều chỉnh và hoàn thiện. Lề lối, phương thức lãnh đạo của các cấp ủy có sự đổi mới.
Tiếp tục thực hiện gắn kết với cơ sở, giữa các tổ chức đảng với nhân dân.
Khuyết điểm, ngun nhân:
Cơng tác chính trị, tư tưởng: Tiến hành chưa đồng bộ ở các TCCSĐ. Việc
tổ chức quán triệt học tập chỉ thị, nghị quyết, chính sách pháp luật của một số cơ
sở còn chưa kịp thời, chậm xây dựng chương trình hành động; cịn kết hợp lồng
ghép nhiều nội dung, chưa phổ biến sâu rộng. Việc xây dựng chương trình thực
hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp của một số TCCSĐ cịn mang tính hình
thức, tính khả thi chưa cao. Cịn một bộ phận cán bộ, đảng viên ngại học tập, hạn
chế về nhận thức (cả lý luận và thực tiễn). Một số đảng viên thiếu rèn luyện tu

20


dưỡng, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật, suy thoái về đạo đức, lối sống,
làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng.
Cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có mặt cịn thiếu sót, có lúc,
có nơi chưa đáp ứng được yêu cầu về công tác cán bộ của đơn vị và cơ sở. Xây
dựng quy hoạch chậm, cơ cấu cán bộ chưa hợp lý, thiếu đồng bộ, một số tiêu
chuẩn chức danh cán bộ chậm được cụ thể hóa, chưa đảm bảo được tính liên tục
kế thừa và phát triển của đội ngũ cán bộ. Một số cán bộ, đảng viên còn hạn chế về
năng lực quản lý và chuyên môn, chưa năng động sáng tạo, chưa đáp ứng được
yêu cầu nhiệm vụ. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu tham nhũng lãng
phí của số ít cán bộ, đảng viên trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa được
ngăn chặn có hiệu quả. Tình trạng cán bộ, đảng viên thiếu trách nhiệm trước công
việc, không sâu sát cơ sở, đùn đẩy né tránh trách nhiệm vẫn tiếp tục xảy ra ở một

số TCCSĐ, nhưng chưa có biện pháp khắc phục kịp thời.
Công tác củng cố, xây dựng TCCSĐ ở loại hình doanh nghiệp gặp nhiều
khó khăn. Trên địa bàn huyện tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần; do
cổ phần hoá, bộ máy quản lý tinh giản, lực lượng lao động giảm và không ổn định
nên nguồn để kết nạp đảng viên hạn chế. Mặt khác, một số cán bộ, công nhân chỉ
tập trung vào sản xuất, không quan tâm tới tổ chức đảng nên công tác kết nạp
đảng viên mới trong các doanh nghiệp đạt kết quả thấp. Cấp uỷ các đơn vị khối
doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, một số hoạt
động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp cịn mang tính hình thức. Nhiều doanh
nghiệp có đảng viên phân tán ở các địa bàn khác nhau nên việc duy trì sinh hoạt
chi bộ hàng tháng gặp khó khăn, tỷ lệ đảng viên tham gia sinh hoạt đảng thấp.
Chất lượng sinh hoạt chi bộ ở một số nơi chưa cao, còn biểu hiện né tránh
hữu khuynh, chưa mạnh dạn đấu tranh tự phê bình và phê bình. Vai trị hạt nhân
chính trị của chi bộ chưa được phát huy đầy đủ. Việc xây dựng và thực hiện quy
chế dân chủ - quy chế hoạt động ở một số nơi hiệu quả còn thấp. Nguyên tắc tập
trung dân chủ trong Đảng có lúc, có nơi chưa được thực hiện nghiêm.

21


Công tác kiểm tra của Đảng, kỷ luật Đảng chưa được thực hiện triệt để
thường xuyên, chưa thật sự chủ động phịng ngừa sai phạm; cịn có cấp uỷ và
lãnh đạo chưa nhận thức đúng về công tác kiểm tra, chưa đi sâu kiểm tra tổ chức
đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng và thực hiện Nghị quyết của Đảng,
thực hiện quyền và nghĩa vụ đảng viên.
Những yếu kém, khuyết điểm trên có nguyên nhân cả khách quan và chủ
quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Đó là vai trị, năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của một số TCCSĐ còn hạn chế, chưa xác định rõ chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị. Một số
cấp ủy, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ cơng tác xây dựng TCCSĐ về chính trị, tư

tưởng, tổ chức là nhiệm vụ của cấp ủy, của tổ chức đảng và đảng viên. Không thực
hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Phương thức lãnh
đạo chậm đổi mới, trình độ năng lực của một số cấp ủy chưa đáp ứng được yêu cầu
nhiệm vụ mới. Một số đảng viên, kể cả cấp ủy viên đã vi phạm về phẩm chất đạo
đức, lối sống, thiếu tu dưỡng, rèn luyện. Cơng tác nắm tình hình, kiểm tra đôn đốc
hiệu quả chưa cao, chưa kịp thời giúp cơ sở tháo gỡ những khó khăn tồn tại, có nơi
cịn để vụ việc kéo dài chậm được giải quyết dứt điểm. Công tác xây dựng Đảng
trong khối doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức.
Thực tiễn công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ huyện Thanh Trì trước
năm 2005 đều gắn với trách nhiệm của các cấp ủy Đảng. Những thành công, hạn
chế và nguyên nhân trong quá trình xây dựng TCCSĐ trước năm 2005 chính là
cơ sở, cứ liệu thực tế để Đảng bộ huyện Thanh Trì đúc rút kinh nghiệm, đề ra
chủ trương, chương trình hành động sát thực hơn nhằm thực hiện có hiệu quả
cơng tác xây dựng TCCSĐ trong những năm 2005 - 2010.
1.1.3. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ thành phố Hà Nội về xây dựng
tổ chức cơ sở đảng
* Chủ trương của Đảng về xây dựng TCCSĐ
Trong những năm 2005 - 2010, bên cạnh những cơ hội lớn, đất nước ta và
Đảng ta cũng đối mặt với những thách thức rất gay gắt. Trước tình hình đó, cơng

22


tác xây dựng Đảng với vai trò là nhiệm vụ then chốt càng có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, là vấn đề sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Trước yêu cầu mới, Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ phương hướng,
mục tiêu xây dựng Đảng: “Tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường
bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch vững mạnh về chính trị,
tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong

sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, ln gắn bó với
nhân dân” [21, tr.279].
Tiếp đó, nhằm cụ thể hóa về cơng tác phát triển đảng viên và xây dựng
TCCSĐ, Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương Đảng khóa X ngày 02/02/2008
đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mục
tiêu mà Nghị quyết đề ra cho các cấp ủy, tổ chức đảng trong 5 năm tới cần phấn
đấu đạt được là:
Thứ nhất, tập trung sức để xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của TCCSĐ, tạo được sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt
động của các loại hình tổ TCCSĐ, làm cho TCCSĐ vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức, thực sự là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, lãnh đạo thực hiện
tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở.
Thứ hai, kiện tồn, sắp xếp tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ, thống
nhất, bảo đảm sự lãnh đạo của Ðảng ở cơ sở. Tập trung củng cố, xây dựng tổ
chức đảng và kết nạp đảng viên ở những nơi chưa có tổ chức đảng, có ít hoặc
chưa có đảng viên. Bảo đảm các loại hình TCCSĐ đều có quy định về chức
năng, nhiệm vụ và quy chế làm việc phù hợp.
Thứ ba, chăm lo xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, trước hết là bí thư cấp ủy và
cán bộ, đảng viên thật sự tiền phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng,
có ý thức tổ chức kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiên quyết thay thế

23


những cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, khơng hồn thành nhiệm vụ, đồng
thời đưa ra khỏi Ðảng những người không đủ tư cách đảng viên [24, tr.95-96].
Những chủ trương của Đảng về xây dựng TCCSĐ vững mạnh về chính trị,
tư tưởng và tổ chức trong những năm 2005 - 2010 chính là cơ sở để Đảng bộ
huyện Thanh Trì qn triệt, cụ thể hóa, đề ra các chủ trương, biện pháp đúng đắn,

sát hợp về xây dựng Đảng bộ nói chung và xây dựng TCCSĐ TSVM nói riêng.
* Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội về xây dựng TCCSĐ
Tại Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng bộ thành phố Hà Nội nhiệm kỳ
2006 - 2010, trên cơ sở đánh giá những ưu điểm, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân
trong công tác xây dựng Đảng bộ nói chung và xây dựng TCCSĐ nói riêng, Đại
hội đã thảo luận và đưa ra phương hướng: “Tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng,
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ”. Cụ thể như sau: Đổi
mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tiếp tục thực hiện
cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường công tác kiểm tra, công
tác dân vận của Đảng; chăm lo xây dựng đội ngũ, tiếp tục đổi mới công tác cán
bộ; xây dựng, củng cố tổ chức đảng các cấp; nâng cao chất lượng đảng viên; đổi
mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng. Đại hội đưa ra chỉ tiêu phấn
đấu: “hàng năm có trên 75% số tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch,
vững mạnh; trên 70% đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ” [7, tr.24].
Để Nghị quyết Đại hội được triển khai một cách thiết thực và có hiệu quả,
Thành uỷ khóa XIV đã xây dựng các chương trình, đề án, kế hoạch, hướng dẫn
tập trung vào một số vấn đề có tính đột phá trong công tác xây dựng Đảng. Cụ
thể như: Chương trình 02-CTr/TU (27/4/2006) Tạo bước chuyển mạnh về xây
dựng, chỉnh đốn Đảng giai đoạn 2006 - 2010; Hướng dẫn số 17,18-HD/TU ngày
31/5/2004 của Thành uỷ Hà Nội Về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của chi bộ
thơn xóm, tổ dân phố trực thuộc đảng bộ xã, phường, thị trấn. Đề án số 14ĐA/TU ngày 02/06/2009 Về đẩy mạnh kiểm tra cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi
phạm phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và Đề án số 15-ĐA/TU Về tăng
cường đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Kế hoạch số 13-KH/TU

24


ngày 16/10/2009 Về tiếp tục thực hiện nghị quyết TW 6 lần 2 (khóa VIII), đẩy
mạnh cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ngăn chặn, đây lùi tệ tham nhũng, lãng phí
nhằm tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế

- xã hội; củng cố niềm tin của nhân dân; xây dựng Đảng bộ TSVM.
Những chủ trương đúng đắn của Thành uỷ Hà Nội chính là định hướng
quan trọng chỉ đạo Đảng bộ huyện Thanh Trì ban hành những chủ trương phù
hợp với thực tiễn của cơ sở, từ đó thực hiện tốt công tác xây dựng TCCSĐ ở địa
phương trong những năm 2005 - 2010.
1.2. Chủ trương xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ huyện
Thanh Trì (2005 - 2010)
1.2.1. Phương hướng, mục tiêu
Quán triệt quan điểm của Trung ương, sự chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội về
đẩy mạnh xây dựng TCCSĐ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi mới toàn diện, Đại hội
đại biểu Đảng bộ huyện Thanh Trì lần thứ XXI nhiệm kỳ 2005 - 2010 đề ra phương
hướng, mục tiêu xây dựng TCCSĐ: “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng,
chỉnh đốn Đảng theo tinh thần nghị quyết TW6 (lần 2) khoá VIII. Xây dựng Đảng
bộ huyện và các chi, đảng bộ cơ sở trong sạch, vững mạnh, làm tốt các mặt công tác
xây dựng Đảng; giáo dục, rèn luyện đảng viên, phát huy vai trị lãnh đạo, trí tuệ, sự
năng động sáng tạo của cán bộ, đảng viên trên từng lĩnh vực công tác” [3, tr.20].
Đại hội đưa ra chỉ tiêu công tác xây dựng TCCSĐ:
Đảng bộ huyện phấn đấu đạt Đảng bộ TSVM. Có từ 70 - 80% chi, đảng bộ
trực thuộc đạt TSVM, khơng có cơ sở đảng yếu kém. Kết nạp 200 đảng viên mới
hàng năm, 100% chi, đảng bộ trực thuộc (có nguồn) phát triển được đảng viên mới.
1.2.2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
Về cơng tác chính trị, tư tưởng:
Khơng ngừng nâng cao chất lượng cơng tác chính trị, tư tưởng. Trọng tâm
là làm cho cán bộ, đảng viên kiên định CNMLN và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Đoàn kết, thống nhất ý chí và hành
động xây dựng quê hương và đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã

25



hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái,
các biểu hiện mơ hồ, phai nhạt lý tưởng. Xây dựng quyết tâm trong cán bộ, đảng
viên và nhân dân toàn huyện thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH.
Tiếp tục đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, lối sống, tác
phong Hồ Chí Minh vào nền nếp trong sinh hoạt Đảng và trong việc tu dưỡng
của mỗi cán bộ, đảng viên. Đổi mới phương pháp cơng tác chính trị, tư tưởng.
Phát hiện xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng mới nảy sinh. Chăm lo xây dựng
đội ngũ cán bộ, điều kiện phương tiện hoạt động, coi trọng chất lượng bồi dưỡng
đào tạo lý luận, nghiệp vụ.
Đổi mới nâng cao chất lượng cuộc vận động triển khai quán triệt học tập,
xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và
chỉ thị, nghị quyết, chính sách mới của Đảng và Nhà nước (2005 - 2010), quyết
tâm sớm đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống [3, tr.26].
Tăng cường xây dựng TCCSĐ TSVM
Trọng tâm của công tác tổ chức xây dựng Đảng là tiếp tục thực hiện có hiệu
quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương 6 (lần 2) khóa VIII, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn
Đảng bộ huyện và các chi, đảng bộ trực thuộc. Phấn đấu xây dựng Đảng bộ
Huyện và 70 - 80% chi, đảng bộ đạt TSVM, khơng có TCCSĐ yếu kém.
Đề cao vai trò của cấp ủy, người đứng đầu trong đấu tranh tự phê bình và
phê bình, không bao che, né tránh, đủn đẩy trách nhiệm. Phê phán, xử lý nghiêm
cán bộ, đảng viên che giấu khuyết điểm, cấp ủy bao che, hữu khuynh với các
khuyết điểm của đảng viên và cấp dưới.
Kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy Đảng, chính quyền cơ sở gọn nhẹ, hiệu
quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị có bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức tốt, ý thức kỷ luật cao, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng TCCSĐ
TSVM, xóa cơ sở đảng yếu kém, giảm số lượng đảng viên không đủ tư cách,
không hoàn thành nhiệm vụ.


26


Về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên
Khâu đột phá là xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực hiện quy hoạch lực lượng
cán bộ, bố trí sắp xếp hợp lý từng cơ quan, đơn vị. Thực hiện quy hoạch, luân
chuyển, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đảm bảo dân chủ, cơng khai, đúng quy trình.
Thường xun rà sốt, đánh giá, tạo nguồn bổ sung cán bộ để nâng cao chất
lượng cán bộ, không hẫng hụt trong công tác bố trí cán bộ, từng bước chuẩn hóa
đội ngũ cán bộ huyện và cơ sở.
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên theo hướng nâng
cao chất lượng; đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng
bảo đảm thiết thực hiệu quả; đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng, đáp ứng đòi
hỏi thực tiễn. Thực hiện mỗi năm mở 50 lớp đào tạo, bồi dưỡng với 6000 lượt
học viên. Tạo nguồn bổ sung đáp ứng yêu cầu về công tác cán bộ. Chú trọng
công tác phát triển đảng viên mới, nhất là ở các tổ chức đảng ở nông thôn, ở khối
giáo dục và khối doanh nghiệp.
Về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng
Trọng tâm là kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Đảng; các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng, pháp luật của Nhà nước; các chương trình cơng tác trọng tâm, các
chuyên đề lãnh đạo phát triển kinh tế, cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm,
chống tham nhũng lãng phí và việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao của
cán bộ, đảng viên.
Cấp ủy Đảng, Ủy ban kiểm tra Huyện ủy và các chi, đảng bộ trực thuộc
phải chủ động xây dựng và thường xuyên bổ sung quy chế, kế hoạch kiểm tra và
tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế, kế hoạch đã đề ra theo cả nhiệm kỳ, từng
năm, từng quý, từng tháng.
Tăng cường các cuộc kiểm tra chuyên đề phục vụ nhiệm vụ chính trị và công
tác xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện và các chi, đảng bộ trực thuộc như kiểm

tra các cơ sở có vấn đề bức xúc; các chuyên đề lãnh đạo phát triển kinh tế; cơng
tác cải cách hành chính, thực hiện văn hóa Đảng; các dấu hiệu vi phạm, các biểu
hiện thiếu trách nhiệm, tham ô, tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên.

27


×