Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

Đời thừa (Nam Cao)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (118.88 KB, 13 trang )

đời thừa của nam cao
I Một số khái niệm liên quan đến tác phẩm :
1. Khái niệm cái bi: Để hiểu đợc truyện ngắn Đời thừa chúng ta phải đi từ
khái niệm về cái bi trong văn học. ở ngoài đời cái bi bao giờ cũng gắn liền với cái
thảm. Nó là hiện tợng tan vỡ, chết chóc, bất hạnh chỉ gợi cho chúng ta những xúc
cảm đau thơng. Còn trong mỹ học, thì khi nào cái đáng có, cái lẽ ra phải có lại
không thể có đợc trong cuộc sống thì lúc ấy xuất hiện cái bi mỹ học.
2. Bi kịch tinh thần đợc hiểu là tình trạng của những con ngời có hoài
bão, có lý tởng chân chính nhng bị hoàn cảnh trói buộc không sao thực hiện đợc
điều đó. ở một tầng sâu hơn, Bi kịch tinh thần đợc hiểu là việc nhân vật tự ý
thức đợc tình trạng của mình, cố tìm lối thoát nhng không tìm đợc, sống triền miên
trong những dằn vặt, dày vò đau đớn về tinh thần.
II. Về tác phẩm
1. Đề tài chủ đề:
Trong VH 30 45 đề tài ngời trí thức TTS khá quen thuộc. Nhng chỉ đến
NC, với ngòi bút hiện thực tỉnh táo, nghiêm ngặt, sắc sảo hình ảnh nhân vật trí
thức TTS mới hiện lên thật cụ thể và sinh động qua những tấn bi kịch tinh thần,
cùng với những cuộc đấu tranh t tởng đầy căng thẳng nhng bế tắc.
Đời thừa là truyện về một nhà văn nghèo bất đắc chí. Đề tài nhà văn nghèo
bất đắc chí không thật mới: đơng thời, đã có mực mài nớc mắt (Lan Khai), Nợ văn
(Lãng Tử), nhiều trang tuỳ bút của Nguyễn Tuân, nhiều văn thơ của Tản Đà,
Nguyễn Vỹ, Trần Huyền Trân hai câu thơ quen thuộc của Xuân Diệu: Nỗi đời
căy đắng giơ nanh vuốt - Cơm áo không đùa với khách thơTất cả đều đã nói
thấm thía về cảnh nghèo túng đáng thơng của ngời cầm bút.
Đời thừa cũng nh một số sáng tác của Nam Cao gần gũi với nó về đề tài,
giọng điệu, t tởng: Trăng sáng, Nớc mắt, Sống mònđã ghi lại hình ảnh chân thực
hình ảnh buồn thảm của ngời tri thức tiểu t sản nghèo.Tuy không đến nỗi quá đen
1
tối, tối nh mực lắm khi đen quánh lại- chữ dùng của Nguyễn Tuân-nh cuộc
sống của quần chúng lao động thờng xuyên đói rét thê thảm, nhng cuộc sống của
những ngời lao đông áo trắng, những vô sản đeo cổ cồn đó cũng toàn một mầu


xám nhức nhối: Không tối đen mà xam xám nhờ nhờ (Xuân Diệu). Vì nghèo
túng triền miên, vì chết mòn về tinh thần.
Trong bức tranh chung về cuộc sống ngời tiểu t sản nghèo, Nam Cao đã góp
vào những nét bút rất mực chân thực và sắc sảo, làm cho hình ảnh vừa bi vừa hài
của lớp ngời này trở nên đầy ám ảnh.
Trong mảng sáng tác về đề tài tiểu tu sản của Nam cao, Đời thừa có một vị trí
đặc biệt. Cũng nh tiểu thuyết Sống mòn, Đời thừa là sự tổng hợp ngòi bút của Nam
Cao trong đề tài tiểu t sản, là tác phẩm đã thể hiện khá hoàn chỉnh t tởng nghệ
thuật cơ bản của nhà văn. Có điều, trong khuôn khổ truyện ngắn, sự tổng hợp ấy
không trải ra trên bề rộng mà chủ yéu tập trung đi vào bề sâu.
Giá trị của Đời thừa không phải chỉ ở chỗ đã miêu tả chân thực cuộc sống
nghèo khổ, bế tắc của ngời trí thức tiểu t sản nghèo. Khác với các tác phẩm của
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,Vũ Trọng Phụng, truyện của Nam Cao thuộc loại
có nhiều lớp nghiã, t tởng truyện không phải luôn trùng khít với nội dung cuộc
sống đợc phản ảnh trong truyện. Trong khi dựng lại chân thực tình cảnh nhếch
nhác của ngời trí thức nghèo, ngòi bút Nam Cao đã tập trung xoáy sâu vào tấn bi
kịch tinh thần của họ, qua đó, đặt ra một loạt vấn đề có ý nghĩa khái quát xã hội và
triết học sâu sắc.
2. ý nghĩa tiêu đề : Đời thừa theo nghĩa hẹp là bi kịch của một cuộc đời vô nghĩa
không ai cần đến. Nghĩa rộng: Đời thừa là bi kịch của ngời khao khát đợc sống 1
cách mê say, sống 1 cách cao đẹp, nhng do hoàn cảnh khách quan nào đấy họ lại phải
sống 1 cách hoàn toàn vô nghĩa, làm 1 công việc mà theo họ là hoàn toàn vô vị. Hay
nói nh chính cách nói của NC họ phải sống 1 cuộc Đời thừa.
2
Bên cạnh ý nghĩa chính nói trên, qua TP Đời thừa, NC còn muốn gửi gắm
những quan niệm của ông về nghề viết văn, về lao động của ngời sáng tác, lơng
tâm và trách nhiệm của họ đối với nghề nghiệp.
III Phân tích nhân vật Hộ
Về phơng pháp: Đọc truyện ta thấy tính cách của NV Hộ phát triển trên 2
phơng diện: tính cách của 1 nghệ sĩ và tính cách của 1 ngời chồng ngời cha.

Để làm rõ bi kịch tinh thần của NV Hộ, chúng ta phải làm 2 thao tác: Một là
phân tích tính cách của 1 nghệ sĩ để nhìn thấy ( cái đáng có, cái lẽ ra phải có ) sau
đó mới phân tính cách của 1 ngời chồng ngời cha để đánh giá cho hết ( cái không
thể có đợc trong cuộc sống). Độ chênh lệch càng lớn thì cái bi càng rõ.
1. Phân tích bi kịch của ng ời nghệ sĩ trong con ng ời Hộ .
a. Nâng lên:
Hộ là 1 ngời say mê nghệ thuật, rất mê văn. Đối với H thì NT là tất cả
ngoài ra không có gì đáng phải quan tâm nữa. H chấp nhận sông nghèo khổ miễn
là đợc phụng sự nghệ thuật. Anh bảo với vợ : Tôi mê văn quá nên mới khổ. ấy thế
mà tuy khổ thì khổ thật, nhng thử có ngời giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị
của tôi cha chắc tôi đã đổi.Tôi cho rằng mỗi khi đợc đọc một đoạn văn nh đoạn
này mà lại hiểu đợc tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng
không thích bằng. Sớng lắm. Nh vậy, ở Hộ, văn chơng là một niềm vui to lớn,
không có lạc thú nào sánh đợc.
Nhng Hộ không chỉ say mê thởng thức văn chơng, mà anh còn ôm ấp một
hoài bão lớn về nghề văn .Văn chơng không chỉ là sở thích, lạc thú trong đời
mà còn là sự nghiệp, là lý tởng sống của anh: đầu hắn mang một hoài bão lớn.
Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của
hắn ngày một thêm nảy nở, hắn đọc,ngẫm nghĩ,tìm tòi,nhận xét và suy tởng không
biét chánĐối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì
đáng quan tâm nữa. Cũng nh nhân vật Điền trong Trăng sáng sẵn lòng từ chối
3
một chỗ làm kiếm nổi mỗi tháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm đợc năm đồng
bạc về nghề văn. Đói rét không có nghiã lý gì đối với gã trẻ tuổi say mê lí tởng.
Lòng hắn đẹp. H say xa sáng tạo và khao khát đến 1 ngày nào đó sẽ viết đợc 1 TP
hay, TP ấy chứa đựng những lẽ sống lớn lao cao cả. Nó ca ngợi lòng bác ái, sự
công bình. H còn mơ tởng đến cái ngày TP của mình sẽ đoạt giải nobel. ở đây
chúng ta không nên hiểu H là ngời háo danh thích phô trơng. Điều đó chỉ cho thấy
H khao khát sống 1 cách ý nghĩa, muốn đem lại những điều tốt đẹp cho cuộc đời.
H không chịu sống tầm thờng tẻ nhạt.

Chuyện Hộ mê văn, có hoài bão lớn về văn chơng và khao khát tên tuổi
chói sáng, là một hiện tợng phổ biến, có ý nghĩa điển hình.
- Ngoài lòng say mê NT, có hoài bão, có lý tởng, Hộ còn là 1 nhà văn có 1
quan niệm hết sức đúng đắn về nghề viết văn của mình. Theo H văn chơng
không cần đến những ngời thợ khéo tay chỉ làm theo những khuôn mẫu có sãn.
Văn chơng chỉ dung nạp những ngời biết cảm hứng, biết khơi những nguồn cha 1
ai khơi .
(Quan niệm này của NV Hộ còn đợc NC nhắc đi nhắc lại nhiều lần ở
Những chuyện không muốn viết)
- NC cũng tuyên bố nghề văn kỵ nhất cái thói thấy ngời ta ăn khoai cũng
vác mai đi đào. H coi nghề văn là 1 thứ lao động rất nghiêm túc, rất khó nhọc, ng-
ời viết không thể nào cẩu thả đợc. Theo H sự cẩu thả trong bất kỳ 1 nghề nào cũng
là đáng trách, nhng sự cẩu thả trong văn chơng thì thật là đê tiện.
b. Hạ xuống
Nếu nh ở đời này ngời ta muốn gì cũng làm đợc thì có lẽ cuộc sống sẽ tốt
đẹp biết bao nhiêu. H khao khát đợc là 1 nhà văn chân chính, đợc viết nh quan
niệm của mình, đợc chăm chút cho NT, cho câu chữ. Lúc chỉ có 1 mình thì H sống
thế nào cũng xong, dồn hết tâm lực vào việc viết sách, nhng éo le thay H lại không
thể làm đợc nh thế.
4
Hoài bão lớn mà Hộ quyết đạt tới bằng một ý chí phi thờng đã không thể
thực hiện đợc .Hộ gặp Từ giữa lúc ngời con gái bất hạnh đó đangđau đớn không
bờ bến : bị một gã sở Khanh bỏ rơi với đứa bé mới đẻHộ đã cúi xuống nỗi đau
khổ của Từ () mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ.
Trớc số phận đau khổ của con ngời, anh không còn có thể coi nghệ thuật là
tất cảmà đã hành động nh một con ngời chân chính. Nhng điều đó đã gây nên
nguy cơ phá hỏng sự nghiệp của anh. Từ khighép cuộc đời của Từ vào cuộc đời
của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo. Hộ không thể khinh những lo lắng
tủn mủn về vật chất nh trớc đây, mà trái lại, phải ra sức kiếm tiền. Và những bận
rộn tẹp nhẹp ,vô nghĩa lý nhng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì

giờ của hắn. Nhng không phải chỉ thì giờ.
Vì phải kiếm tiền trong điều kiện, khả năng của Hộ, cách kiếm tiền duy
nhất là sáng tác Hộ không thể viết thận trọng, nghiêm túc theo yêu cầu của
nghệ thuật chân chính. Anh phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng () phải viết
những bài báo để ngời ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc. Đây là điều vô cùng đau
đớn đối với một ngời nh Hộ. Không phải anh không đợc viết, mà là cứ phải viết thứ
văn chơng mà một ngời có lí tởng nghệ thuật cao đẹp, có lơng tâm nghề nghiệp, có
khát vọng vơn tới đỉng cao nghệ thuật nh anh, không thể nào chấp nhận đợc. Thế
là, Hộ đã phản bội lại chính mình. Nhà văn chân chính nơi anh cảm thấy hết sức
đau đớn, nhục nhã chứng kiến gã bất lơng, đê tiệncũng chính là anh đang làm
thứ hàng giả: Chao ôi! Hắn đã viết những gì ? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo,
gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thờng quấy loãng
trong một thứ văn bằng phẳng và quá dễ dãi.Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì
đến cho văn chơng.
Là ngời hiểu rất rõ viết văn là một hoạt động sáng tạo không ngừng, phải khơi
những nguồn cha ai khơi và sáng tạo những cái gì cha có, Hộ cay đắng nhận ra
rằng mình là một kẻ vô ích ,một ngời thừa. Bởi vì hắn chẳng đem một chút mới
lạ gì đến cho văn chơng. Ngời nghệ sỹ sáng tạo trớc đây trong Hộ đã chết . Hộ
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×