Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

THAM LUẬN ĐÁNH GIÁ VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (131.19 KB, 9 trang )

ĐÁNH GIÁ VIỆC TỔ CHỨC, THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC

Tham luận của tổ Ngữ Văn, Trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai
------------Tổ ngữ văn chúng tôi xin được trình bày một số ý kiến về việc đổi mới
phương pháp dạy học và những kết quả đạt được trong thời gian qua. Theo
tôi, để hoạt động chuyên môn thực sự có hiệu quả người giáo viên cần xác
định nhiệm vụ cụ thể cho từng khâu trong quá trình dạy học.
Trước hết, là việc thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học theo quy định
của Bộ, ngành. Ở đây người giáo viên cần lưu ý đặc biệt đến việc dạy học
theo chuẩn kiến thức, kỹ năng bộ môn .
Thứ hai, người giáo viên cần quan tâm đặc biệt tới việc soạn bài theo hướng
đổi mới, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Làm sao để giáo viên
là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn cho học sinh chủ động chiếm lĩnh
tri thức. Muốn vậy theo tôi khâu quan trọng là định hướng soạn bài và hệ
thống câu hỏi tổ chức dạy học như thế nào?
Giáo viên cần thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lí hoạt động của thầy và trò,
hệ thống câu hỏi hợp lí, lô gích không làm phá vỡ tính chỉnh thể, thống nhất
của bài học; cần tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề, quá tải (nhất là với
bài dài, bài khó, bài nhiều đơn vị kiến thức mới); Chú trọng đến bồi dưỡng
năng lực suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi
nhớ máy móc. Câu hỏi cần rõ ràng, cụ thể, có sức khái quát cao và có sự
phân hóa cho từng đối tượng học sinh (tái hiện, nhận diện cho học sinh yếu
và trung bình, phát hiện, phân tích cho học sinh khá, và khái quát, đánh giá
cho học sinh giỏi) để giờ học thực sự hấp dẫn sinh động, cuốn hút.
Thứ ba là, việc thực hiện giờ dạy trên lớp. Cốt lõi của đổi mới dạy học là
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh mà đổi mới phương pháp dạy
học sẽ là khâu đột phá. Để thực hiện được điều đó giáo viện cần tổ chức hoạt
động học đa dạng cho học sinh, thực hiện linh hoạt các khâu lên lớp từ kiểm
tra bài cũ, dạy học kiến thức mới, ôn luyện, củng cố, nâng cao kiến thức đã
học, đến việc kiểm tra, đánh giá bước đầu việc nắm kiến thức của học sinh


ngay trên lớp. Giáo viên nên chú ý đến sự kết hợp các phương pháp dạy học
đa dạng như đàm thoại, gợi mở; dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, hoạt
động nhóm của học sinh có thể nhóm theo bàn, theo dãy bàn, theo tổ, …giờ
dạy sẽ sinh động, hấp dẫn, tránh nhàm chán. Chuẩn bị tốt các trang thiết bị
phục vụ cho việc dạy học như: Phiếu học tập, máy chiếu, bảng phụ, nam
châm, tư liệu, tranh ảnh…Giáo viên cũng cần tăng cường ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học coi đó là công cụ hỗ trợ tích cực cho hoạt động
dạy học có hiệu quả nhưng cũng không nên lạm dụng công nghệ thông tin
biến nó thành phương tiện dạy học chính yếu,... Ta cũng không nên tầm
thường hoá việc ứng dụng công nghệ thông tin, nhiều người quan niệm trang
trình chiếu chẳng qua là thay bảng đen, thậm chí không bằng bảng đen vì


giáo viên không được viết, xoá thoải mái. Tránh dạy học ứng dụng công
nghệ thông tin nhưng cuối cùng học sinh chẳng ghi được gì, không thu nhận
được kiến thức gì quan trọng ngoài sự thú vị một cách chung chung.
Đối với phần củng cố kiến thức, GV tổ chức các hình thức game show như ô chữ,
đố vui, tìm từ khóa hoặc ứng dụng bài tập… để HS khắc sâu kiến thức đã
học với tinh thần “Vui để học”.
Riêng phần dặn dò, GV cho HS ghi hướng dẫn, phân công công việc, tìm tư liệu,
hình ảnh… cho tiết học sau của từng nhóm, từng cá nhân (nhớ kiểm tra lại
công việc đã giao ở tiết sau).
Để giờ dạy hấp dẫn giáo viên cần sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh
động, ngắn gọn, dễ hiểu, tác phong thân thiện, gần gũi, coi trọng việc
khuyến khích, động viên học sinh học tập, tạo hứng thú thực sự cho các em
bởi vì nhà giáo không đơn thuần là người nhồi nhét kiến thức cho học sinh
mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa trong tâm hồn các em.
Giáo viên cũng cần chú ý đến việc dạy học sát đối tượng trong đó coi trọng bồi
dưỡng học sinh khá giỏi và giúp đỡ học sinh yếu kém trong từng tiết dạy.
Thứ tư là, kiểm tra, đánh giá. Đây là khâu cuối cùng của quá trình dạy học

và có vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ phản ánh kết quả dạy học của
cả giáo viên và học sinh mà còn tác động mạnh tới các khâu khác của quá
trình dạy học. Nếu chỉ đổi mới chương trình, sách giáo khoa, đổi mới
phương pháp mà không đổi mới kiểm tra, đánh giá thì đổi mới sẽ không hiệu
quả.
Đề kiểm tra phải bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng. Phải thể hiện ba mức độ: nhận
biết, thông hiểu, vận dụng. Đề kiểm tra cần mang tính phân hoá học sinh,
phải vừa sức với học sinh, cần bám sát chương trình, nội dung học tập và
sách giáo khoa.
Nên chú trọng đến dạng câu hỏi mở để có thể phát huy tối đa khả năng tư duy, liên
tưởng, sáng tạo, chính kiến cá nhân của học sinh, nhất là đối với môn ngữ
văn…Giáo viên cũng nên đa dạng hình thức kiểm tra đánh giá không chỉ
thầy đánh giá trò mà còn là trò đánh giá trò, trò tự đánh giá mình, trò đánh
giá
thầy,…
Nói chung, để có một giờ dạy thực sự hiệu quả, hấp dẫn, sinh động
người giáo viên cần có nền tảng kiến thức vững vàng, kĩ năng ứng xử sư
phạm linh hoạt muốn vậy cần không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ qua hình thức tự học, tích cực dự giờ đồng nghiệp, tích cực tham
dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Nhưng hơn hết theo tôi để
việc dạy học của giáo viên thành công người thầy cần có cái “Tâm” với
nghề, bởi thầy giáo mà thiếu chữ “Tâm” thì không thể giáo dục người khác
được.
Về vai trò của người học
Trước đây HS học theo lối thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào GV. Vào lớp, HS chỉ
biết nghe GV giảng và chép theo những gì GV đọc. Thi thoảng các em cũng
tham gia xây dựng bài mới nhưng không có thói quen thảo luận, làm việc
nhóm. Với việc đổi mới hình thức dạy và học hiện nay các em không còn xa
lạ với việc sinh hoạt nhóm nữa, thậm chí các em còn rất thích.



HS còn phải tự học tự rèn ở nhà. Trước khi đến lớp, HS phải đọc bài mới trong
SGK, gạch dưới những ý chính, trả lời một số câu hỏi gợi ý của GV hoặc
câu hỏi trong SGK vào vở bài soạn. Nếu có thắc mắc thì ghi lại bảng câu hỏi
để vào lớp trao đổi nhóm hoặc hỏi thầy cô. Có như vậy HS mới chủ động
hơn trong việc xây dựng và tiếp thu bài mới. GV chốt lại và nhấn mạnh
trọng tâm nội dung bài học để học sinh tự ghi bài. Trên lớp các em phải thực
hiện phương châm: “Tai nghe, tay viết, mắt nhìn, óc suy nghĩ”.
Với tất cả nội dung trên, việc tổ chúng tôi đã làm được là:
Khi kiểm tra các nhóm đều thống nhất ra những câu hỏi có tính gợi mở để phát huy
trí lực HS, nhất là các em khá giỏi. Bên cạnh đó các em có học lực yếu,
trung bình sẽ có những câu hỏi dễ hơn để có thể làm bài được. Đề nào cũng
có một câu đánh giá, nhận diện HS giỏi bộ môn.
Các em rất thích sinh hoạt nhóm, mỗi khi nhóm nào được trình bày phần bài làm
của mình lên trước lớp là các em rất thỏa mãn, phấn khởi vì nếu đúng sẽ
được điểm tốt.
Để tránh lối dạy đọc chép, trong giờ văn học chúng tôi cho các em vừa nghe giảng
vừa gạch dưới những dẫn chứng từ SGK mà cô giáo hoặc các bạn phát hiện,
rồi dựa vào đó rút ra những nhận xét, đánh giá chung khi sinh hoạt nhóm,
GV chọn một ý trả lời hay, đúng nhất để các em ghi vào vở, chỉ cần đúng ý
không nhất nhất phải đúng lời.
HS vẽ bản đồ tư duy rất tốt và cũng thích vẽ. Có thể vẽ cá nhân hoặc nhóm, vẽ
nhóm thì có chất lượng hơn.
Bên cạnh những kết quả trên cũng còn có những điều chúng tôi chưa làm được:
Các GV trong tổ còn hạn chế về công nghệ thông tin nên việc xử lí bài giảng còn
chậm chạp. Chưa có phương tiện để vẽ bảng đồ tư duy trên bài giảng ppt.
HS chưa chịu khó đọc các văn bản trước ở nhà (nhất là các em yếu) nên ảnh
hưởng đến thời gian 45 phút dạy trên lớp.
Tổ tôi có những ý kiến đề xuất như sau:
Đề nghị thường xuyên mở các lớp tập huấn, tổ chức hội thảo, hội giảng về giáo án

điện tử có chất lượng cho giáo viên biết và chưa biết ứng dụng công nghệ
thông tin để mở rộng tầm nhìn.
Đặc biệt chú trọng đến phương pháp thiết kế bài giảng điện tử và phương pháp sư
phạm khi trình chiếu bài giảng.
Điều kiện cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu ĐMPPDH cũng chưa được đảm bảo
như phòng dạy ppt quá ít, đèn chiếu cũng ít lại hư hỏng nhiều. Các lớp học
đã có bảng sinh hoạt nhóm nhưng còn thiếu nam châm, thước kẻ.
Và cuối cùng, chúng tôi muốn kết thúc bài tham luận còn nhiều khiếm
khuyết của mình bằng một kì vọng cao hơn núi, sâu hơn biển, dành cho sự
nghiệp trồng người, cũng là để chúng ta thêm tự hào về sự nghiệp ta đang
gắn bó và con đường rất dài mà chúng ta đang phải đi để đến đỉnh vinh
quang, là nếu những người Thầy gieo vào nghề nghiệp mình những hạt
mầm điều hay lẽ phải, sẽ nuôi cho đời những cây trái xanh tươi./.
Bài: Hoàng Vân
Hội thảo toàn trường về "Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá"


Tin đăng ngày: 16/3/2015 - Xem: 6019
Sinh hoạt chuyên đề trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ vốn là họat động trọng tâm
trong mọi hoạt động của nhà trường. Xác định rõ điều đó, ngoài sinh hoạt tổ
chuyên môn hàng tuần, sinh hoạt chuyên đề ở trường THPT Lý Tự Trọng thường
được tổ chức định kì cấp tổ hàng tháng và cấp trường mỗi kì. Ở hoạt động cấp tổ,
có khi không tránh khỏi tình trạng sinh hoạt đối phó. Bên cạnh đó, các chuyên đề
cấp trường đã thực sự đem lại những hiệu quả thiết thực như: chuyên đề hội thảo
toàn trường về công tác chủ nhiệm, hội thảo về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi,
chuyên đề tập huấn về sử dụng công nghệ thông tin,... Chịu trách nhiệm chính
trong hoạt động này ở trường Lý Tự Trọng thường là chi đoàn giáo viên – chiếm
số đông với lực lượng tiên phong tràn đầy sức trẻ, nhiệt huyết – cùng trao đổi,
chia sẻ với lực lượng nòng cốt dày dạn kinh nghiệm trong nhà trường.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền giáo dục hiện nay, nhiều vấn đề đồng thời

được bung ra để phân tích, mổ xẻ và ráo riết thử nghiệm, nhằm tập dượt và điều
chỉnh lựa chọn. Trong đó, trọng điểm là công tác đổi mới về phương pháp dạy
học (PPDH) và cách thức kiểm tra, đánh giá (KTĐG). Nhiệm vụ đó, trước hết
thuộc về giáo viên. Có thể nói, hiện nay, mọi khó khăn dường như đang dổ dồn
về những người trực tiếp đứng lớp – họ phải đổi mới PPDH và cách thức KTĐG
ngay khi nhiều vấn đề khác chưa được đổi mới. Hành trình còn dài mà quang
gánh trên vai thì quá nhiều, quá nặng. Trước thực trạng ấy, không ít người đã nản
chí, mềm lòng.
Trên tinh thần ý thức về trọng trách của nghề giáo, về vai trò của người giáo viên
trong công cuộc đổi mới, tập thể sư phạm trường THPT Lý Tự Trọng, đa số vẫn
nêu cao tinh thần vượt khó, quyết cùng nhau lần lượt tháo gỡ từng vướng mắc để
tìm hướng đi. Nhằm hướng tới nhiệm vụ trọng tâm của năm học và với nhận thức
rằng “nếu không có phương pháp thì người tài cũng lỗi”, chuyên đề năm nay của
trường Lý Tự Trọng tập trung vào chủ đề “Đổi mới phương pháp dạy học và cách
thức kiểm tra – đánh giá” với 7 vấn đề lớn:
Nâng cao chất lượng giờ dạy theo hướng tích hợp - liên môn
Đổi mới phương pháp kiểm tra - đánh giá
Nâng cao chất lượng giờ thực hành ứng dụng vào cuộc sống
Phát triển khả năng tự học và cách thức quản lí thời gian cho học sinh
Nâng cao nhận thức, đạo đức và giáo dục truyền thống, lí tưởng cho học
sinh
Phát triển kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học và quản lí
Phát triển kĩ năng mềm và nâng cao thể lực cho học sinh thông qua hoạt
động ngoại khóa.
Vấn đề nào ở trên cũng có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn giáo dục hiện nay.
Tuy nhiên, với 12 tham luận được chuẩn bị công phu cùng sự tham vấn, chia sẻ của
nhiều đồng chí khác, ban tổ chức nhà trường đã xác định: hội thảo nhằm khơi mở


cho mọi hoạt động trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ hiểu biết trên những vấn đề lớn,

tạo tiền đề cho những chuyên đề chuyên sâu về sau, tập trung vào những vấn đề
trọng yếu.
Hội thảo đã diễn ra sôi nổi trước vấn đề dạy học theo hướng tích hợp - liên môn.
Đầu tư bài bản, công phu, tham luận của thầy Lê Viết Lượng (tổ Hóa học) đã nêu
bật được bản chất, ưu thế, những khó khăn, thuận lợi và điều kiện, giải pháp cụ thể
- từ cách thiết kế giáo án, tổ chức giờ dạy học và cách vận dụng phương pháp trong
quá trình dạy học theo hướng tích hợp – liên môn. Những đồng chí tiên phong ở
lĩnh vực này đã góp thêm ý kiến, sẻ chia kinh nghiệm được đúc rút từ những cuộc
thi vừa qua, giúp mọi người hiểu rõ hơn: thế nào là tích hợp ngang, tích hợp dọc
(tích hợp trong môn, tích hợp liên môn),... Xoay quanh vấn đề này, hội thảo cho
thấy vẫn còn nhiều những băn khoăn, trăn trở mong muốn được giải đáp, chia sẻ
nhiều hơn trong đội ngũ giáo viên trực tiếp đứng lớp và cán bộ quản lí.
Tham luận của cô giáo Đặng Kim Oanh (tổ Sinh vật) không chỉ bày tỏ kinh
nghiệm trong phương pháp dạy học bộ môn sinh học mà còn chia sẻ những dẫn
chứng cụ thể và đầy lí thú để nâng cao chất lượng giờ thực hành theo hướng ứng
dụng vào cuộc sống – một trong những cách tổ chức dạy học nhằm đưa lí thuyết
trong trường học gắn liền với thực tiễn đời sống, tăng sức hấp dẫn cho những bộ
môn khoa học trong nhà trường, phát huy tính sáng tạo và động lực nghiên cứu
khoa học cho học sinh. Tham luận còn đưa ra những đề xuất thiết thực như: tổ
chức câu lạc bộ khoa học, cải tiến vườn sinh học,...; đồng thời, bày tỏ trăn trở về
vấn đề: tổ chức học sinh tham quan, thực nghiệm tại các trung tâm nuôi trồng, sản
xuất, các cơ sở thực hành.
Hướng tới phát triển toàn diện năng lực cho học sinh, trong hoạt động dạy học,
người giáo viên nắm vai trò tổ chức, định hướng, kiểm tra, đánh giá hoạt động học
tập, nghiên cứu của trò; học sinh nắm vai trò trung tâm, tích cực, chủ động trong
mọi hoạt động. Vì vậy, năng lực tự học và cách thức quản lí thời gian là một yêu
cầu, đòi hỏi tất yếu cần lưu tâm và phát triển ở người học. Tuy nhiên, ngoài sự định
hướng và quản thúc của phụ huynh, những kĩ năng này rất cần có sự trang bị, định
hướng công phu và miệt mài, kiên nhẫn của giáo viên qua từng bài học, từng tiết
dạy. Tham luận của cô Nguyễn Thị Vỵ (tổ Sử - Địa) đã có những phân tích thấu

đáo và đề xuất được những giải pháp hữu ích với đồng nghiệp trong vấn đề này
qua thực tế khảo sát (60% học sinh rất lúng túng khi sử dụng kỹ năng tự học; phần
lớn học sinh chỉ tự học mỗi ngày khoảng 1- 2 tiếng, chỉ có khoảng 15 - 20 % học
sinh học 3- 4 tiếng mỗi ngày). Tham luận khắc sâu nhận thức: Tự học là một xu thế
tất yếu, một kĩ năng cần lưu tâm rèn luyện cho học sinh bởi quá trình giáo dục thực
chất là quá trình biến người học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục (tự
giáo dục).
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc từ các nguồn thông tin và đối chiếu với trải nghiệm
trong thực tiễn, tham luận của cô Bùi Thu Hương và Nguyễn Thị Thủy (tổ Toán)
đã đem đến những tri thức khách quan và phong phú về công tác kiểm tra, đánh giá
– từ lí luận đến thực tiễn – trên thế giới cũng như ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất


được những giải pháp, kiến nghị cụ thể đáng suy ngẫm đối với một vấn đề có ý
nghĩa “then chốt”, “đột phá” trong công cuộc đổi mới hiện nay. Đặc biệt, tham luận
đề cập đến ba vấn đề quan trọng cần chuyển biến trong nhận thức, hành động của
đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí hiện nay:
1. Cần kiểm tra - đánh giá học sinh với nhiều hình thức khác nhau: thi viết, trắc
nghiệm, vấn đáp, quan sát, làm thí nghiệm, trình bày dự án, chấm hồ sơ,…
2. Đánh giá cần chú trọng quá trình, cách thức nắm bắt kiến thức của HS, chú
trọng kỹ năng cơ bản, năng lực cá nhân,…; hướng đến 4 yếu tố cơ bản: toàn
diện, cá biệt, dân chủ và thực dụng (hướng đến kiến thức hữu ích trong đời
sống và năng lực thực tiễn của người học).
3. Khi đánh giá, xếp loại đạo đức học sinh, cần xây dựng tiêu chí và phương
pháp đánh giá cụ thể, phù hợp từng cấp học; chú trọng năng lực cá nhân, tôn
trọng nhân cách học sinh và có lời nhận xét cụ thể, toàn diện, linh hoạt hơn.
Trong thực tiễn giáo dục hiện nay, vai trò “then chốt”, “đột phá” của việc đổi mới
cách thức kiểm tra, đánh giá – yếu tố quyết định, thôi thúc sự đổi mới phương pháp
dạy học và các lĩnh vực khác – đâu đó vẫn chưa thực sự được lưu tâm đúng tầm (cả
trong nhận thức cũng như thực tiễn hoạt động dạy học và quản lí). Vẫn còn phổ

biến hiện tượng chạy đua theo thành tích ảo ở các trường; hình thức kiểm tra, đánh
giá còn đơn điệu, chậm cải tiến, chủ yếu đánh giá qua bài kiểm tra tự luận hoặc
trắc nghiệm; kĩ năng ra đề kiểm tra và kĩ năng đánh giá hướng tới sự phát triển
năng lực thực tiễn người học còn hạn chế, nhiều giáo viên vẫn duy trì hình thức ra
đề truyền thống trong các bài kiểm tra thường kì; v..v.. Vì vậy, ý kiến trao đổi của
các cô giáo trường Lý Tự Trọng không chỉ có ý nghĩa đối với các nhà giáo trong
nội bộ trường mà cần đưa ra để suy ngẫm, bàn bạc ở phạm vi rộng hơn.
Hội thảo còn khơi mở những suy ngẫm sâu xa hơn về một số vấn đề khác. Ví dụ
như vấn đề “nâng cao nhận thức đạo đức và giáo dục truyền thống, lí tưởng cho
học sinh” qua các hoạt động của nhà trường. Xác định rõ: đây không phải là vai trò
chuyên biệt của bộ môn Giáo dục công dân và công tác chủ nhiệm; nhiệm vụ này
cần chú ý tích hợp trong các bộ môn khác, đặc biệt là các bộ môn xã hội, cần chú
trọng trong các hoạt động ngoại khóa của các tổ chuyên môn và Đoàn thanh niên
(điều này được thực hiện hiệu quả ở trường THPT Lý Tự Trọng qua các diễn đàn
như: “Sống mãi tuổi 17” – kỉ niệm ngày sinh anh hùng trẻ tuổi Lí Tự Trọng, “Khi
tôi 18”, “Thanh niên với an toàn giao thông”, “Thanh niên với pháp luật”, “Tiếp
bước anh bộ đội cụ Hồ”, chuyên đề tuyên truyền, giáo dục sức khỏe sinh sản vị
thành niên,...).
Điều ý nghĩa nhất của hội thảo toàn trường tại THPT Lý Tự Trọng chính là: hội
thảo đã khơi dậy được khát vọng tìm hiểu và chia sẻ những băn khoăn, trăn trở,
những kinh nghiệm, hiểu biết giữa những người đồng nghiệp với nhau. Có tham
luận còn kiến nghị: cần tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên được giao lưu nhiều
hơn với các đơn vị trên địa bàn và ngoài địa bàn qua các cuộc hội thảo chuyên đề.


BÀI THAM LUẬN VỀ “ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ KIỂM
TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
NGƯỜI HỌC” CỦA TỔ VĂN
Thứ ba - 30/09/2014 23:49





Kính

thưa
các
đồng
chí
trong
hội
đồng
nhà
trường
Đến với buổi Hội thảo hôm nay, tôi xin thay mặt cho tổ Văn trình bày một số
vấn đề về việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực HS hiện nay ở các môn Xã hội, cụ thể là môn
Ngữ
Văn
trong
chương
trình
THPT.
Chúng ta đã biết, Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của đổi
mới giáo dục trung học hiện nay. Luật giáo dục (Điều 28) đã nêu: “Phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS,
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm
vui


hứng
thú
học
tập
cho
HS”.
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là một quá trình phức hợp vì
nó đòi hỏi phải tác động đến nhiều yếu tố khác nhau. Để đổi mới thành công
phương pháp dạy học, cần thiết phải đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ các
thành tố, các bộ phận cấu thành của quá trình dạy học. Sự đổi mới cần bắt đầu ở
việc lập kế hoạch bài học, lựa chọn các phương pháp dạy học và cuối cùng là
kiểm tra đánh giá kết học tập theo định hướng phát triển năng lực người học.
Có thể thấy rằng chủ trươmg chuyển đổi cách tiếp cận chương trình giáo dục
từ hướng cung cấp nội dung kiến thức sang cách tiếp cận hình thành và phát triển
năng lực là một trong những đổi mới căn bản. Sự đổi mới căn bản này cần phải
tiến hành một cách toàn diện ở tất cả các yếu tố của quá trình giáo dục: từ mục
tiêu,
nội
dung,
phương
pháp
kiểm
tra,
đánh
giá…
Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo định
hướng phát triển năng lực người học như hiện nay, chúng ta, những GV dạy Văn
cần xác định được một số nội dung quan trọng đó là năng lực, năng lực Ngữ văn và
đánh

giá
năng
lực
Ngữ
văn.
Có thể hiểu năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kĩ
năng, thái độ, tình cảm, ý chí, kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác để
giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Còn năng lực Ngữ văn gồm có năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo
lập văn bản. Năng lực tiếp nhận văn bản là khả năng lĩnh hội, nắm bắt được thông
tin chủ yếu, từ đó hiểu đúng, hiểu thấu đáo để thấy cái hay, cái đẹp của văn bản,
nhất là văn bản văn học. Muốn có năng lực tiếp nhận phải biết cách tiếp nhận. Tức
là cần phải dựa vào những yếu tố như từ, ngữ, câu, đoạn, hình ảnh, tiêu đề, dấu
câu…
để
hiểu
đúng
văn
bản.
Văn bản ở đây cần hiểu theo nghĩa rộng. Đó không chỉ là các tác phẩm thơ
văn nghệ thuật mà còn là các loại văn bản không phải là văn chương, như văn bản
viết về lịch sử, địa lý, toán học, sinh học… Vì vậy, bên cạnh việc yêu cầu học sinh


đọc hiểu một đoạn văn, bài thơ; chúng ta cần dạy và yêu cầu các em biết đọc hiểu
các
loại
văn
bản
thông

tin.
Năng lực tạo lập văn bản là khả năng biết viết, biết tổ chức, xây dựng một
văn bản hoàn chỉnh đúng quy cách và có ý nghĩa. Muốn có khả năng tạo lập phải
biết cách tạo lập. Tức là nắm được cách viết một đoạn văn bản nào đó. Một hiện
tượng đáng buồn là bấy lâu nay, chúng ta chỉ chú trọng đến việc rèn kĩ năng tạo lập
văn bản nghệ thuật. Trong đó một số văn bản thông thường, gần gũi và thường
xuyên phải sử dụng trong cuộc sống thì lại bị coi nhẹ. Hàng loạt học sinh ra đời
vẫn không biết viết một bản tường trình, một đơn xin việc, một biên bản cuộc họp
cho
đúng
nội
dung

quy
cách.
Để đánh giá năng lực Ngữ văn ( cả tiếp nhận và tạo lập ) cần phải cụ thể hóa
các kĩ năng như nghe, nói, đọc, viết thành nhiều mức độ khác nhau. Theo từng cấp
học, tâm lí lứa tuổi mà yêu cầu từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp… Cũng từ đó mà lựa chọn một phương thức đánh giá cho phù hợp.
Chẳng hạn với kĩ năng: nghe, nói, đọc giáo viên chủ yếu thực hiện đánh giá hàng
ngày thông qua các buổi học trên lớp, các hoạt động tập thể,…Còn kĩ năng Viết thì
ngoài việc kiểm tra hàng ngày còn được chú trọng ở các kỳ kiểm tra định kì, cuối
kì,
cuối
năm,
cuối
cấp…
Mục tiêu của đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực cần xác định khả
năng vận dụng tổng hợp những gì đã học của học sinh vào giải quyết những vấn đề
đặt

ra
trong
cuộc
sống.
Nội dung đánh giá không phải chỉ là những gì đã học; không chỉ giữa các
phân môn trong môn học mà còn cả những hiểu biết ở các môn học khác. HS cần
phải tìm mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng của bài học với các hiện tượng, sự
vật, sự việc, con người… thường xuất hiện trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.
Phương pháp đánh giá không chú trọng yêu cầu học thuộc, nhớ máy móc,
nói đúng và viết đầy đủ những điều thầy, cô đã dạy… mà coi trọng ý kiến và cách
giải quyết vấn đề của mỗi cá nhân người học; động viên những suy nghĩ sáng tạo,
mới mẻ, giàu ý nghĩa; tôn trọng sự phản biện trái chiều, khuyến khích những lập
luận
giàu
sức
thuyết
phục.
Như vậy, để đánh giá đúng năng lực Ngữ văn người học thì đề thi và đáp án
cần theo hướng mở và tích hợp với những yêu cầu và mức độ phù hợp, tránh cả hai
khuynh hướng cực đoan: “ đóng” một cách cứng nhắc, máy móc, sẽ làm thui chột
sự sáng tạo và “mở” một cách tùy tiện, thiếu thẩm mỹ, phản giáo dục…
Là người trực tiếp giảng dạy, chúng tôi nhận thấy sự đổi mới kiểm tra đánh
giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực người học là sự đổi mới
tích cực. Song, thiết nghĩ để làm được chúng tôi sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Khó khăn thứ nhất là HS chúng ta vốn quen với phương pháp giảng dạy
những năm trước đây, tức là GV thường chỉ chú ý đến việc cung cấp kiến thức còn
HS thường nghe và ghi chép lại những bài giảng của GV hơn là tự mình cảm thụ,
tìm
hiểu,
khám

phá
VB.
Thứ hai, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị trong lớp học của các nhà trường
nói chung còn thiếu thốn, kém xa với nhiều nước phát triển trong khu vực và trên
thế giới. Hơn nữa lớp học lại đông (hơn 40 HS ), GV không thể kiểm soát hoạt
động học tập cúa tất cả HS trong một giờ hoc. Vì thế nhiều HS ỷ lại, dựa dẫm,


không tích cực, chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá văn bản.
Thứ ba, do xu thế phát triển của xã hội và thực tế việc lựa chọn nghề nghiệp mà
nhiều năm nay HS đa phần không thích học môn Văn và không có hứng thú với
môn Văn. Các em cho rằng học Văn không thiết thực cho nên các em phó mặc cho
thầy cô, khôngchịu đọc, không chịu suy nghĩ, tìm tòi, khám phá văn bản.
Và điều khó khăn nữa rất quan trọng là môn Văn không giống với tất cả các môn
học khác ở chỗ: Môn Văn thiên về cảm xúc, thẩm mĩ. Vì thế, để học tốt môn Văn
cần phải có đời sống tinh thần phong phú, một trái tim giàu cảm xúc... Nhưng
những HS như thế không nhiều, ngay cả ở những lớp chọn khối D, cho nên việc
đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá chất lượng học tập theo định
hướng phát triển năng lực của người học là một thử thách không nhỏ với những
người
trực
tiếp
giảng
dạy.
Nói như vậy không phải là chúng tôi muốn phủ nhận hạn chế của một số GV dạy
Văn hiện nay. Bởi trên thực tế, bên cạnh nhiều GV có tâm huyết, luôn tìm tòi, học
hỏi để có những giờ dạy hay, đem lại niềm vui và hứng thú cho HS thì vẫn còn đâu
đó những giáo viên thiếu tâm huyết, chưa có phương pháp dạy học tích cực, còn
tham kiến thức khiến cho nên giờ học khô cứng, nặng nề, buồn tẻ. Và đó cũng là
một lí do khiến cho HS không yêu thích giờ Văn, môn Văn.

Khó khăn thì nhiều, song dù khó khăn đến đâu chúng tôi cũng sẽ cố gắng
khắc phục, tích cực tìm tòi, sáng tạo để có phương pháp giảng dạy phù hợp, đáp
ứng
được
yêu
cầu
đổi
mới
môn
Ngữ
Văn
hiện
nay.
Vì thời gian có hạn, bài viết này chắc hẳn chưa đầy đủ, rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo dạy Văn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả bài viết: Dương Thị Tuyết



×