Tải bản đầy đủ (.doc) (55 trang)

Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015 2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (217.88 KB, 55 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

NGUYỄN THỊ HIỀN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN,
XỬ LÝ ĐƠN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA
CÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC SƠN,
TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2015 - 2020

ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI, THÁNG 6 NĂM 2015


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

ĐỀ ÁN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN,
XỬ LÝ ĐƠN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
CỦA CÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC SƠN,
TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2015 - 2020

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hiền
Lớp: Lớp B3 - 14
Chức vụ: Chánh Thanh tra
Đơn vị công tác: Thanh tra huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Người hướng dẫn khoa học: Ths Nguyễn Thúy Hoa,
Khoa Nhà nước và pháp luật.


HÀ NỘI, THÁNG 6 NĂM 2015


MỤC LỤC


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện đề án này, tôi bày tỏ lời cảm ơn trân thành và sâu sắc
nhất tới cô giáo Ths Nguyễn Thúy Hoa, Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp
luật, Học viện Chính trị khu vực I đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu xây dựng và hoàn thành đề án. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn trân
thành đến các thầy, cô giáo Học viện Chính trị khu vực I đã truyền đạt những
kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
tại Học viện.
Xin trân thành cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn,
cùng các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều
kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện đề án.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, xong với kinh nghiệm còn hạn chế và thời
gian tìm hiểu, thu thập các tài liệu nghiên cứu không nhiều, đề án không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp trân
thành từ phía thầy cô, các bạn học viên và đồng nghiệp để đề án được hoàn
chỉnh hơn./.
Tôi xin trân thành cảm ơn!


1

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề án
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi

nhận. Quyền khiếu nại, tố cáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các
quyền công dân, quyền con người. Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là thực
hiện quyền dân chủ trực tiếp. Một mặt, quyền khiếu nại, tố cáo là quyền tự vệ,
phản kháng hợp pháp trước các hành vi vi phạm pháp luật; mặt khác, thông
qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo công dân tham gia vào quá trình
kiểm tra, giám sát xã hội; kiểm tra, giám sát nhà nước. Như vậy, bằng việc
phản hồi thông tin trực tiếp cho các chủ thể quản lý, thực hiện quyền khiếu
nại, tố cáo còn là sự tham gia của công dân vào quản lý nhà nước, quản lý xã
hội. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đóng góp vai trò to lớn
trong việc mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, góp phần tích cực vào việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và
kỷ luật nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân là một trong những biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của nhân dân, bảo vệ lợi ích Nhà nước, phát hiện và khắc phục những sai lầm
thiếu sót trong hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời củng cố mối quan hệ
và giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác tiếp dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo; trong những năm qua cấp ủy và chính quyền địa
phương huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tích cực triển khai quán triệt các
chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác giải
quyết khiếu nại tố cáo, tăng cường ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai,
thực hiện các nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền nhằm nâng cao
hơn nữa chất lượng công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo ở địa
phương, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp


2

chế xã hội chủ nghĩa, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội trên

địa bàn huyện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được công tác tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế bất cập, một số cấp uỷ chính
quyền địa phương chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo của đơn vị; chưa xây dựng được quy chế tiếp công dân, nội quy và
niêm yết lịch tiếp công dân tại nơi tiếp công dân; trách nhiệm xem xét, giải
quyết đơn thuộc thẩm quyền ở một số đơn vị còn chậm, nội dung xử lý chưa
đảm bảo thủ tục quy định, thiếu chặt chẽ dẫn đến một số vụ việc giải quyết
tồn đọng, kéo dài. Cá biệt có vụ việc giải quyết không đúng thẩm quyền,
nhiều vụ việc phát sinh kéo dài do lịch sử để lại chưa được giải quyết hoặc thi
hành dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân, dẫn đến tình trạng phát sinh đơn
thư gửi vượt cấp vẫn còn xảy ra. Mặt khác, song song với việc phát triển kinh
tế xã hội, trên địa bàn huyện trong thời gian tới sẽ có nhiều chương trình dự
án phát triển kinh tế xã hội như: Xây dựng nông thôn mới, chương trình 135
và các xã vùng An toàn khu của huyện sẽ dẫn đến tình hình khiếu nại, tố cáo
về đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường … dự báo có
chiều hướng gia tăng, phát sinh những vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, phức
tạp, đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp trong thời gian tới.
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư,
giải quyết khiếu nại tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, tôi xây
dựng Đề án: “Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải
quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn
2015 - 2020”, nhằm đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác
tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện
giai đoạn 2015 - 2020.


3

2. Mục tiêu của đề án

2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo
trên địa bàn huyện Bắc Sơn nhằm đề xuất các giải pháp Nâng cao hiệu quả
công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn
huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015 - 2020.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Việc tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo các cơ quan,
đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân huyện được thực hiện đúng quy trình, thủ tục; các
quyết định, kết luận có tính khả thi, đảm bảo các quyết định, kết luận đem đến sự
hài lòng cho người dân.
- Nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong việc
tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền,
giảm tình trạng đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm dẫn đến đơn thư phát sinh
vượt cấp.
- Cán bộ công chức được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức tiếp công dân và giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo. Rút ngắn thời gian giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền
lợi chính đáng cho tổ chức và công dân, hạn chế việc khiếu nại, tố cáo đông
người, phức tạp, kéo dài.
- Vai trò, trách nhiệm của của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể
trong tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo trong được củng cố, tăng cường
Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân được nâng lên, vai trò
tráchn
- Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của công dân về pháp luật
tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo, giúp người dân nắm được quyền và nghĩa vụ
của mình khi thực hiện việc khiếu nại, tố cáo.


4


3. Giới hạn của đề án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề án nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về tiếp công
dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo và tình hình, kết quả hoạt
động Ủy ban nhân dân huyện trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân,
xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh
Lạng Sơn.
3.2. Không gian: Đề án được áp dụng thực hiện trong phạm vi huyện
Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
3.3. Thời gian: Áp dụng thực hiện trên địa bàn huyện Bắc Sơn trong
giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020.


5

B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Cơ sở xây dựng đề án
1.1. Cơ sở khoa học
Khiếu nại, tố cáo là sản phẩm cuộc đấu tranh của nhân loại được hình
thành và phát triển bởi nguồn gốc bất bình đẳng về quyền lợi kinh tế, chính
trị. Nó thể hiện bằng hình thức trong lịch sử, như đánh trống kêu oan, đến
công đường kêu kiện hoặc viết đơn gửi hệ thống chính quyền các cấp để giải
bày oan ức mong được giúp đỡ. Tuy chủ thể khiếu nại, tố cáo là cá nhân hay
tổ chức hoặc một bộ phận cộng đồng thì khiếu nại, tố cáo vẫn là sự đòi hỏi
quyền lợi thiết thực về sự công bằng của giai cấp bị trị đối với giai cấp thống
trị, do đó bản chất nó bao giờ cũng mang tính giai cấp và tồn tại khách quan
khi xã hội có phân chia giai cấp. Trong thế giới hiện đại quyền con người nói
chung và quyền khiếu nại nói riêng được công nhận, cam kết, bảo đảm và
được ghi trong các Công ước, Hiệp ước, Hiến chương quốc tế nó được chứng
minh rằng "Mọi người đều có quyền khiếu nại hữu hiệu đến cơ quan tư pháp

quốc gia; Có quyền chống những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của con
người đã được Hiến pháp và Pháp luật thừa nhận".
Điều 25 Công ước Châu Mỹ về quyền con người ghi nhận: "Mọi người
đều có quyền hưởng một thủ tục khiếu nại đơn giản và nhanh chóng hoặc mọi
khiếu nại hữu hiệu khác trước các thẩm phán hoặc các Tòa án có thẩm quyền
nhằm bảo vệ người đó chống lại tất cả các hành động vi phạm đến các quyền
cơ bản của họ đã được Hiến pháp, pháp luật hoặc Công ước này thừa nhận,
ngay cả khi vi phạm này do những người thi hành công vụ gây ra…". Ngay
trong những năm đầu của Chính quyền Xô viết, V.I.Lênin đã xác định: "Không
thể giành thắng lợi cho Chủ nghĩa Xã hội toàn thắng và đưa nhân loại tới sự
mất đi của Nhà nước nếu không thực hiện dân chủ một cách đầy đủ".


6

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác- Lênin vào tiễn cánh mạng Việt Nam. Ngay sau khi giành chính quyền
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng, củng cố mối quan
hệ chặt chẽ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Người nói: “Giữ chặt mối
liên hệ với dân chúng và luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền
tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”. Người đã nhiều lần
chỉ ra ý nghĩa chính trị sâu sắc của công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố
cáo của nhân dân. Trong bài nói chuyện với cán bộ Thanh tra tại Hội nghị
Thanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:
“Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, tố cáo, hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách
của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại, tố cáo. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì
đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ,
do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố
tốt hơn”. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo của
dân chính là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố mối quan hệ

giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, củng cố lòng tin của nhân dân vào
Đảng và Nhà nước. Trong trường hợp các khiếu nại, tố cáo được các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời và thỏa đáng thì những
người dân đi khiếu nại, tố cáo và thậm chí cả những người sống xung quanh
họ sẽ cảm thấy Nhà nước đã tôn trọng, lắng nghe ý kiến của họ, quan tâm, lo
lắng đến quyền lợi của họ và cũng tự nhiên họ thấy Nhà nước gần gũi, gắn bó
với họ và đã thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhưng ngược lại
nếu các khiếu nại, tố cáo, các kiến nghị của dân được các cơ quan, cán bộ Nhà
nước đón nhận bằng một thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm thì cũng chính
những người dân đó sẽ hình thành tâm trạng thiếu tin tưởng và có xu hướng
xa lánh các cơ quan quản lý. Vì vậy, việc giải quyết nhanh chóng, đúng pháp
luật các khiếu nại, tố cáo của công dân, gắn liền với nó là việc khôi phục kịp


7

thời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm minh những người
sai phạm, tất yếu sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho mối quan
hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng gắn bó bền chặt hơn.
Theo quy định của pháp luật, khái niệm về tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo được hiểu như sau:
- Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đón tiếp để
lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải
thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh theo đúng quy định của pháp luật.
Tiếp công dân bao gồm tiếp công dân thường xuyên, tiếp công dân định
kỳ và tiếp công dân đột xuất (Điều 2 Luật Tiếp công dân).
- Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm

quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước, của ngýời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nýớc hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết
định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
mình.
- Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của
bất cứ cõ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi
ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,
công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.


8

- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh
vực là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với
việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
Để đánh giá việc tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố
cáo đạt hiệu quả, cần đạt được các tiêu chí cụ thể như sau:
- Cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân huyện giải quyết khiếu nại, tố
cáo và tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng quy trình, thủ tục, đúng
thời hạn và rút ngắn thời hạn giải quyết.
- Cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực
hiện nhiệm vụ công vụ đúng thẩm quyền quy định.
- Các quyết định, kết luận giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện
trên thực tế, đảm bảo sự hài lòng của người dân trong việc giải quyết các yều,

kiến nghị của cơ quan nhà nước.
- Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân được nâng
lên, nhân dân tích cực đóng góp xây dựng chính quyền cơ sở, chấp hành các
quyết định, kết luận giải quyết khiếu nại, tố cáo, thực hiện khiếu nại, tố cáo
đúng thẩm quyền, không phát sinh đơn nặc danh, hạn chế đơn thư phát sinh
vượt cấp, khiếu nại, tố cáo kéo dài.
1.2. Cở sở chính trị, pháp lý
1.2.1. Cơ sở chính trị
Công tác tiếp công dân và tiếp nhận xử lý giải quyết khiếu nại, tố cáo là
quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận, để việc thực
hiện khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đạt chất lượng, hiệu quả,
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao hiệu quả quản lý
của nhà nước. Do vậy, Bộ chính trị và các cấp ủy đảng địa phương đã quan tâm


9

ban hành văn bản chỉ đạo, lãnh đạo địa phương thực hiện công tác tiếp công
dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cụ thể đã ban hành các văn bản chỉ đạo sau:

- Chỉ thị 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của bộ chính trị về tăng cường sự
lãnh đạo của đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu
nại, tố cáo.
- Thông báo số 307-TB/TW ngày 10/02/2010 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về Đề án đổi mới tiếp công dân.
- Chỉ thị số 15 - CT/TU ngày 22 tháng 5 năm 2002 của Ban Thường vụ
Tỉnh uỷ Lạng Sơn về tăng cường lãnh đạo công tác tiếp dân và giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân.
1.2.2. Cơ sở pháp lý
Hiện nay công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo

được quy định ở nhóm văn bản sau:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
- Hệ thống văn bản luật, gồm: Luật khiếu nại năm 2011; Luật tố cáo
năm 2011; Luật Tiếp công dân năm 2013.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, gồm: Nghị định số 75/2012
ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật khiếu nại; Nghị định số 76/2012 ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo; Thông tư 06/2013/TTTTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định về quy trình giải
quyết tố cáo; Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra
Chính phủ quy định về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Nghị định
64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Tiếp công dân; Thông tư số 46/2012/TTLT-BTC-TTCP ngày
16/3/2012 của Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ quy định chế độ bồi dưỡng đối với


10

cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh.
Căn cứ các quy định của pháp luật, thẩm quyền của ủy ban nhân huyện,
các cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân huyện có nhiệm vụ tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo, cụ thể:
- Đối với cấp huyện, chủ thể có trách nhiệm tiếp công dân gồm Ủy ban
nhân dân các cấp; Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở
tiếp công dân cấp huyện ít nhất 02 ngày trong 01 tháng và thực hiện việc tiếp
công dân đột xuất trong các trường hợp quy định theo quy định của Luật Tiếp
công dân. Thủ trưởng các cơ quan đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân
thường xuyên theo quy định.

Trách nhiệm của người tiếp công dân (Điều 8, Luật Tiếp công dân)
1. Khi tiếp công dân, người tiếp công dân phải bảo đảm trang phục
chỉnh tề, có đeo thẻ công chức, viên chức hoặc phù hiệu theo quy định.
2. Yêu cầu người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nêu rõ họ
tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); có đơn
hoặc trình bày rõ ràng nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; cung
cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc tiếp nhận, thụ lý vụ việc.
3. Có thái độ đứng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc ghi chép đầy đủ, chính xác nội
dung mà người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày.
4. Giải thích, hướng dẫn cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, kết luận,
quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền;


11

hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến đúng cơ quan
hoặc người có thẩm quyền giải quyết.
5. Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có thẩm
quyền xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; thông báo kết quả xử lý
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công dân.
6. Yêu cầu người vi phạm nội quy nơi tiếp công dân chấm dứt hành vi
vi phạm; trong trường hợp cần thiết, lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu
cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.
- Giải quyết khiếu nại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
* Giải quyết khiếu nại:
Khi quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ công
chức bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà

nước và họ thực hiện quyền khiếu nại yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích đã bị xâm phạm đó, thì phát sinh nghĩa vụ
giải quyết khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Theo quy
định tại khoản 11, Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: “Giải quyết khiếu nại
là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại”. Ở
đây phải là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo
đúng quy định của pháp luật.
* Thẩm quyền giải quyết khiếu nại:
Theo quy định của Luật Khiếu nại thẩm quyền giải quyết khiếu nại
được xác định theo nguyên tắc sau: Khiếu nại đối với quyết định hành chính,
hành vi hành chính của nhân viên thuộc quyền quản lý của cơ quan nào, thủ
trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Khiếu nại đối với quyết định hành
chính hoặc hành vi hành chính của thủ trưởng cơ quan nào thì thủ trưởng cơ


12

quan đó có trách nhiệm giải quyết. Trên tinh thần đó, Luật khiếu nại quy định cụ
thể thẩm quyền giải quyết khiếu nại của thủ trưởng cùng cấp.
- Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung
là cấp huyện) có thẩm quyền:
+ Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi
hành chính của mình.
+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi
hành chính của Chủ tịch UBND cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cấp
huyện đã giải quyết lần một nhưng còn khiếu nại (Điều 18, Luật Khiếu nạ).
* Thẩm quyền trách nhiệm của các tổ chức Thanh tra trong việc giải
quyết Khiếu nại: Chánh Thanh tra các cấp có thẩm quyền giúp thủ trưởng cơ
quan nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc
giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cơ quan

quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao… (Điều 25, Luật Khiếu nại).
- Giải quyết tố cáo và thẩm quyền giải quyết tố cáo:
* Giải quyết tố cáo:
Điều 2, Luật tố cáo 2011 quy định “Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận,
xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý của người giải quyết tố
cáo”, “Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết tố cáo”.
* Thẩm quyền giải quyết tố cáo:
Theo quy định của Luật Tố cáo, thẩm quyền giải quyết tố cáo được
xác định theo nguyên tắc sau: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người
đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên
chức đó giải quyết. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện


13

nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ
chức đó giải quyết…(Điều 12, Luật Tố cáo)
Luật Tố cáo quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết tố cáo của thủ
trưởng các cơ quan hành chính nhà nước (quy định tại Điều 13 Luật tố cáo),
cụ thể: Thẩm quyền giải quyết tố cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm
quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng
đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
1.3. Cơ sở thực tiễn
Trong một thời gian dài, pháp luật khiếu nại, tố cáo đã được sửa đổi, bổ

sung hoàn thiện nhiều lần, nhưng thực tiễn cho thấy, công tác giải quyết đơn
khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước ngày càng bộc lộ nhiều
khó khăn, bất cập và ngày càng gia tăng số lượng các đơn thư khiếu nại, tố
cáo của người dân về các quyết định, hành vi hành chính của các cơ quan nhà
nước, ở tất cả các cấp chính quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ
quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và trên hầu
hết các lĩnh vực dân sinh: đất đai, môi trường, y tế, giao thông, xây dựng,
kinh doanh, chế độ chính sách ... Tính chất và nội dung khiếu kiện ngày càng
phức tạp, nó đặt ra một yêu cầu cấp bách là phải giải quyết hiệu quả, nhanh
chóng những đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
Từ những hạn chế bất cập về cơ chế, chính sách cũng như trình độ,
năng lực quản lý ở địa phương trước những yêu cầu khách quan trong quá
trình đổi mới và hội nhập, tình hình kinh tế xã hội của huyện Bắc Sơn có
những chuyển biến căn bản, việc mở rộng quy hoạch đất đai xây dựng các


14

công trình công cộng; triển khai các dự án xây dựng nông thôn mới, các
chương trình dự án khác đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số, việc triển
khai dự án ảnh hưởng và thiệt hại trực tiếp đến đất đai của nhân dân trong sản
xuất nông nghiệp mặt khác các quy định của pháp luật đất đai thiếu đồng bộ,
dẫn đến trên địa bàn huyện trong những năm vừa qua vẫn phát sinh nhiều đơn
thư liên quan đến thu hồi, giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai do lịch sử
để lại, tranh chấp ranh giới sử dụng đất, yêu cầu giải quyết các chế độ chính
sách, các tranh chấp bất đồng nhỏ tại khu dân cư chưa được xem xét hòa giải
kịp thời. Nhiều vụ việc giải quyết chậm thời hạn, tỷ lệ giải quyết đạt thấp, một
số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo, tổ chức
thực hiện công tác này. Cá biệt có vụ việc giải quyết chưa đúng quy trình gây
bức xúc trong nhân nhân.

Các quy định về nơi tiếp công dân, quy chế nội quy tiếp công dân, tổ
chức tiếp công dân chưa đúng quy trình, như chưa lập biên bản, kết luận tại
biên bản tiếp công dân chưa chỉ đạo, phân công công chức, bộ phận chuyên
môn tham mưu thực hiện. Cấp huyện hiện nay bố trí được phòng tiếp công
dân riêng nhưng còn chật hẹp, tài liệu, máy tính, ghi âm, camera, máy chiếu,
điều hòa chưa được trang bị đầy đủ, khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ
cũng như thực hiện công tác kiểm tra, quản lý của người đứng đầu.
Đối với các phòng, ban chuyên môn việc bố trí bàn làm việc và tổ chức
tiếp công dân còn khó khăn, nơi làm việc chật hẹp, cũng ảnh hướng đến việc
tiếp công dân theo quy định. Đối với cấp xã, chưa bố trí được phòng tiếp công
dân riêng, việc tiếp công dân được thực hiện chung với bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả, cán bộ, công chức kiêm nhiệm làm công tác này trình độ năng lực
còn chế, chế độ đãi ngộ đối với công chức chưa được thực hiện; Công tác
tuyên truyền gặp nhiều khó khăn, do trình độ dân trí trên địa bàn huyện không
đồng đều, nhiều đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa, khả năng tiếp


15

cận và hiểu pháp luật hạn chế; từ việc chưa hiểu chính sách pháp luật cũng
dẫn đến việc công dân thờ ơ, thiếu trách nhiệm, một số quyết định ban hành
có hiệu lực pháp luật chưa được công dân chấp hành, có thái độ chống đối cơ
quan nhà nước; một số đồng bào dân tộc H.Mông di cư tự do từ nơi khác đến
sống tại những nơi vùng sâu, vùng xa của huyện cũng có những tiềm ẩn gây
bất đồng, mất ổn định, khó khăn cho việc triển khai các quy định của pháp
luật ... Những hạn chế bất cập trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa
phương trong những năm qua, cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động
tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới.
2. Nội dung thực hiện đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện

Bắc Sơn, là huyện nằm ở phía Tây của tỉnh Lạng Sơn, cách trung tâm
thành phố Lạng Sơn 86 km. Huyện Bắc Sơn có 19 xã và 01 thị trấn, với 119
thôn và khối phố, trong đó: khu vực I gồm 08 xã: (thị trấn Bắc Sơn, xã Hữu
Vĩnh, Quỳnh Sơn, Bắc Sơn, Chiến Thắng, Vũ Sơn, Tân Hương và Hưng Vũ);
khu vực II gồm 09 xã: (Long Đống, Tân Lập, Vũ Lăng, Nhất Hoà, Đồng Ý,
Vũ Lễ, Tân Thành, Chiêu Vũ và Tân Tri); khu vực III gồm 03 xã: (Trấn Yên,
Nhất Tiến, Vạn Thuỷ). Tổng số thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện là
49 thôn, trong đó 22 thôn thuộc xã khu vực II, 27 thôn thuộc xã khu vực III;
huyện có 08 xã được công nhận là xã An toàn khu trong thời kỳ kháng chiến
chống thực dân Pháp, bao gồm các xã (Vũ Lễ, Tân Hương, Tân Lập, Vũ Lăng,
Bắc Sơn, Quỳnh Sơn, Hữu Vĩnh và Hưng Vũ).
Về đất đai: Tổng diện tích tự nhiên 69.942,56 ha; trong đó đất sản xuất
nông nghiệp là 14.260,6 ha, đất lâm nghiệp là 41.210,25 ha. Về dân số 67.307
người (năm 2013), trong đó người dân tộc thiểu số chiếm 88,80%, (gồm 12
dân tộc cùng sinh sống: Tày, chiếm 67,66%; Dao 11,75%; Nùng 8,59%;
H.Mông 0,67%; Mường 0,03%; Sán Chay 0,02%; Sán Dìu 0,008%; Thái


16

0,01%; Ê Đê 0,001%; Cờ Ho 0,001%; Mơ Nông 0,001%; Cao Lan 0,004%).
Dân tộc Kinh chiếm 11,19% sống tập trung ở thị trấn Bắc Sơn và các thị tứ
Ngả Hai (xã Vũ Lễ), Mỏ Nhài (xã Hưng Vũ). Có 94% người dân tộc thiểu số
sống ở nông thôn và 6% sống ở thị tứ, thị trấn.
Về kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, đời sống của một bộ
phận nhân dân còn nhiều khó khăn; trình độ dân trí không đồng đều, có nhiều
đồng bào dân tộc theo đạo tin lành sống ở vùng sâu, vùng xa dễ bị kích động,
lối kéo, mặt khác kinh tế xã hội của huyện từng bước được đầu tư, các
chương trình dự án sẽ có những tác động ảnh hưởng đến việc khiếu nại, tố cáo
của công dân.

2.2. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở huyện Bắc Sơn
2.2.1. Những kết quả đạt được
* Kết quả công tác tiếp công dân
Tiếp
công
dân

2010

Biểu số 01
5 tháng
2015

(lượt/
công dân)

2011

2012

2013

2014

(lượt/
công dân)

(lượt/
công dân)


(lượt/
công dân)

(lượt/công
dân)

Cấp


209/209

155/155

190/190

25/25

55/55

02/02

Cấp
huyện

12/12

08/10

45/48


43/50

29/34

08/10

Tổng

221/221

163/165

235/238

68/75

84/89

10/12

(lượt/
công dân)

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)

Qua theo dõi thống kê nắm tình hình thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân
trên địa bàn huyện, thì công dân đến kiến nghị, phản ánh trực tiếp với cơ
quan, người có thẩm quyền qua các năm như sau: năm 2010: 221 lượt/221
công dân chủ yếu phát sinh tiếp công dân tại Uỷ ban nhân dân cấp xã (209



17

lượt/2019 công dân); năm 2011: tiếp 163 lượt/165 công dân (cấp xã 155
lượt/155 công dân); năm 2012: tiếp 235 lượt/238 công dân; năm 2013: tiếp
68/75 công dân (cấp huyện 43 lượt/45 công dân); năm 2014: tiếp 84 lượt/89
công dân; 05 tháng đầu năm 2015: tiếp 10/12 công dân (cấp huyện 08 lượt/10
công dân).
* Kết quả tiếp nhận và xử lý đơn
Biểu số 02

Cấp


Cấp
huyện

Tiếp nhận
và xử lý đơn

2010

2011

2012

2013

2014


5 tháng
2015

Tổng số đơn
tiếp nhận

183

177

202

153

159

112

Số đơn thuộc
thẩm quyền

157

138

165

135

115


98

Tổng số đơn
tiếp nhận

33

25

33

44

54

48

Số đơn thuộc
thẩm quyền

19

25

13

6

25


22

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)

- Cấp xã: năm 2010 số đơn thuộc thẩm quyền: 157/183 đơn; năm 2011:
138/177 đơn; năm 2012: 165/202 đơn; năm 2013: 135/153 đơn; năm 2014:
115/159 đơn; 5 tháng đầu năm 2015: 98/112 đơn.
- Cấp huyện: năm 2010 số đơn thuộc thẩm quyền: 19/33 đơn; năm 211:
25/25 đơn; năm 2012: 13/33 đơn; năm 2013: 6/44 đơn; năm 2014: 25/54 đơn;
05 tháng đầu năm 2015: 22/48 đơn.
* Kết quả giải quyết đơn thuộc thẩm quyền (Biểu 03, 04, 05)


18

Kết quả giải quyết đơn kiến nghị, đề nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã
thuộc huyện Bắc Sơn theo lĩnh vực từ năm 2010 đến tháng 5 năm 2015
Biểu số: 03
Phân
theo
lĩnh vực

2010

2011

2012

2013


2014

5 tháng đầu năm 2015

Tổng
số

Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ
(%)

Tổng
số

Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ
(%)

Tổng
số

Số đã
giải

quyết

Tỷ lệ
(%)

Tổng
số

Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ
(%)

Tổng
số

Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ
(%)

Tổng
số

Số đã
giải

quyết

Tỷ lệ
(%)

Đất đai,
chế độ
chính
sách

54

50

93

78

55

71

71

48

68

65


25

38

53

24

45

37

09

24

Dân sự

21

20

95

17

07

41


0

0

0

14

05

36

23

21

91

06

03

50

Hôn
nhân và
gia đình

26


23

88

08

08

100

26

25

96

36

08

22

29

14

48

43


04

9.3

Lĩnh
vực
khác

56

53

95

35

26

74

68

55

81

20

09


45

10

05

50

12

03

25

Tổng

157

146

93

138

96

70

165


128

78

135

47

35

115

64

56

98

19

19

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)


19

Kết quả giải quyết đơn kiến nghị, đề nghị thuộc thẩm quyền theo lĩnh vực
của UBND huyện Bắc Sơn từ năm 2010 đến tháng 5 năm 2015
Biểu số: 04

2010
Năm

2011

2012

2013

5 tháng đầu năm
2015

2014

Số
vụ
việc

Số
vụ
đã
giải
quyế
t

Tỷ lệ
(%)

Số vụ
việc


Số vụ
đã
giải
quyết

Tỷ lệ
(%)

Số
vụ
việc

Số vụ
đã giải
quyết

Tỷ
lệ
(%)

Số
vụ
việc

Số
vụ
đã
giải
quyế

t

Tỷ lệ
(%)

Số
vụ
việ
c

Số
vụ
đã
giải
quyế
t

Tỷ lệ
(%)

Số
vụ
việ
c

Số vụ
đã
giải
quyết


Tỷ lệ
(%)

Đất đai,
chế độ
chính sách

11

10

91

10

05

50

10

09

90

06

05

83


19

11

58

21

13

62

Dân sự

0

0

0

0

0

0

0

0


0

0

0

0

02

0

0

03

03

01

01

100

0

0

0


0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

07

06

86

15


09

60

03

03

100

0

0

0

04

04

100

0

0

19

17


89%

25

14

56%

13

12

92%

06

05

83%

25

15

60%

24

16


Lĩnh vực

Hôn nhân
và gia đình
Lình vực
khác
Tổng

100
0
0
67%

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)


20

Kết quả giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND
huyện Bắc Sơn từ năm 2010 đến tháng 5 năm 2015
Biểu số: 05
Năm
Tổng
Phân loại
Khiếu nại
Tố cáo
Tổng

số


2010
Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ

Tổng

(%)

số

2011
Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ

Tổng

(%)

số

2012
Số đã
giải

quyết

Tỷ lệ

Tổng

(%)

số

2013
Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ

Tổng

(%)

số

2014
Số đã
giải
quyết

5 tháng đầu năm 2015
Tỷ lệ


Tổng

(%)

số

Số đã
giải

Tỷ lệ

quyết

(%)

01

0

0

13

0

0

13


12

92

02

01

50

02

01

50

01

0

0

0

0

0

0


0

0

0

0

0

0

0

0

01

01

100

0

0

0

01


0

0

13

0

0

13

12

92

02

01

50

03

02

67

01


0

0

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)


21

- Cấp xã: qua thu thập số liệu không phát sinh đơn khiếu nại, tố cáo, chỉ
phát sinh đơn đề nghị, kiến nghị về các lĩnh vực đất đai, chế độ chính sách,
các tranh chấp dân sự khác, kết quả giải quyết qua các năm đạt tỷ lệ như sau:
năm 2010: 93%; năm 2011: 70%; năm 2012: 78%; năm 2013: 35%; năm
2014:57%; 05 tháng đầu năm: 19% (Biểu 03).
- Cấp huyện:
+ Kết quả giải quyết đơn đề nghị: năm 2010: 89%; năm 2011: 56%;
năm 2012: 92%; năm 2013: 83%; năm 2014: 60%; 05 tháng đầu năm: 67%.
(Biểu 04).
+ Kết quả giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo: năm 2010: đạt 0%; năm
2011: 0%; năm 2012: 92%; năm 2013: 50%; năm 2014: 67%. (số liệu năm
2010, 2011 có 01 vụ việc thụ lý giải quyết không đúng thẩm quyền được thực
hiện thu lý từ năm 2006, nhưng chưa ban hành quyết định đình chỉ vụ việc để
kết thúc hồ sơ).
Qua thu thập các báo cáo đánh giá kết quả tiếp nhận và xử lý, giải
quyết đơn thư trong giai đoạn 2010 - 2015, huyện Bắc Sơn ít phát sinh đơn
khiếu nại, tố cáo nhưng tình hình đơn thư đề xuất, kiến nghị đề nghị giải
quyết tranh chấp về đất đai, chế độ chính sách, … gia tăng.
Trong thời gian qua cấp ủy chính quyền địa phương đã quan tâm xem
xét, giải quyết đơn thư theo thẩm quyền quy định, chỉ đạo rà soát, nắm chắc
các vụ việc tồn đọng theo Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 6/3/2002 của Ban Bí thư

Trung ương; Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 27/10/2004 của Thủ tướng Chính
phủ về tình hình khiếu nại, tố cáo và tăng cường trách nhiệm của thủ trưởng
cơ quan Nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; Kế hoạch số
345/KH-TTCP ngày 6/3/2008 của Thanh tra Chính phủ về thực hiện Thông
báo Kết luận số 130-TB/TW của Bộ chính trị; Kế hoạch số 319/KH-TTCP
ngày 20/02/2009 về việc kiểm tra rà soát các vụ việc bức xúc kéo dài; Kế


×