Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

Nghiên cứu, đề xuất nội dung cơ bản quy hoạch lâm nghiệp huyện yên lập tỉnh phú thọ, giai đoạn 2011 2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.17 MB, 115 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN VĂN BẢY

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT NỘI DUNG CƠ BẢN
QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP HUYỆN YÊN LẬP - TỈNH PHÚ THỌ,
GIAI ĐOẠN 2011-2020

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN VĂN BẢY

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT NỘI DUNG CƠ BẢN
QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP HUYỆN YÊN LẬP - TỈNH PHÚ THỌ,
GIAI ĐOẠN 2011 - 2020

Chuyên ngành lâm học
Mã số: 60.62.60



LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ BẢO LÂM

Hà Nội, 2010



1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, không những cung cấp gỗ và các
loại lâm sản khác, mà nó còn có giá trị bảo vệ và cải tạo môi trường sinh thái,
tạo cảnh quan du lịch, cung cấp oxy, và hấp thụ CO2, tham gia vào việc giữ
cán cân oxy làm giảm lượng CO2 trong thành phần của khí quyển, góp phần
làm giảm hiệu ứng nhà kính cho trái đất. Với những tác động tiêu cực, khó
lường của sự biến đổi khí hậu toàn cầu người ta càng thấy rõ hơn vai trò và ý
nghĩa to lớn của rừng. Hiện nay vai trò của rừng nói riêng hay ngành Lâm
nghiệp nói chung không những được đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua
những sản phẩm trước mắt thu được từ rừng mà còn tính đến những lợi ích to
lớn về xã hội, môi trường mà rừng và nghề rừng mang lại. Sự tác động đến
rừng và đất rừng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nghề rừng và sự phát
triển kinh tế - xã hội tại khu vực có rừng mà còn tác động nhiều mặt đến các
khu vực phụ cận cũng như nhiều ngành sản xuất khác. Do vậy, để sử dụng tài
nguyên rừng một cách bền vững và lâu dài, việc xây dựng phương án quy
hoạch hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý.
Từ trước đến nay, để xây dựng phương án quy hoạch đảm bảo là cẩm
nang trong quản lý rừng, người lập quy hoạch cần điều tra đầy đủ, chính xác

về: điều kiện tự nhiên; điều kiện kinh tế - xã hội, tình hình kinh doanh và các
quy luật cơ bản của tài nguyên rừng trong đối tượng quy hoạch. Tuy nhiên,
trong điều tra và nghiên cứu các điều kiện cơ bản (tự nhiên, dân sinh, kinh tế,
xã hội,...) để xây dựng phương án QHSDĐLN còn chưa chú ý tới cảnh quan
tức là chưa chú ý tới mối tương hỗ giữa các hệ sinh thái trong cảnh quan. Còn
xem xét, nghiên cứu các yếu tố cảnh quan (tự nhiên, nhân tạo) một cách riêng
rẽ, vì vậy tính khả thi của các phương án QHSDĐLN chưa cao, thường phải
điều chỉnh khi thực hiện hoặc nếu không điều chỉnh thì việc sử dụng rừng và
đất rừng chưa đúng với tiềm năng vốn có. Do đó, tính bền vững trong quản lý


2

rừng thấp, là một trong những nguyên nhân làm cho rừng suy giảm cả về diện
tích và chất lượng.
Yên Lập là huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, diện tích rừng và đất lâm
nghiệp chiếm hơn 70% so với tổng diện tích tự nhiên. Là huyện có diện tích
đất lâm nghiệp đứng thứ ba sau huyện Tân Sơn và Thanh Sơn của tỉnh Phú
Thọ, một phần diện tích rừng của huyện thuộc vùng đầu nguồn sông Ngòi
Giành. Rừng Yên Lập có chức năng cung cấp lâm sản, phòng hộ đầu nguồn,
phòng hộ môi trường sinh thái, góp phần hạn chế thiên tai, bảo vệ sản xuất và
đời sống của cộng đồng dân cư trong vùng.
Năm 2006, thực hiện việc rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị
38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính Phủ, nhằm cân đối lại cơ cấu 3 loại
rừng trong đất lâm nghiệp để phát huy tối đa về hiệu quả sử dụng tài nguyên
rừng và đất lâm nghiệp. Kết quả rà soát đã làm thay đổi quy mô, vị trí, diện tích
3 loại rừng, dẫn đến việc thay đổi kế hoạch hàng năm trong công tác quản lý
Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Những thay đổi trên đòi hỏi phải xây
dựng quy hoạch, lập kế hoạch và triển khai phương án quy hoạch lâm nghiệp
hợp lý, có cơ sở khoa học phù hợp với thực tế, góp phần tăng thu nhập, cải

thiện đời sống của người dân trong vùng, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đưa
kinh tế xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông thôn là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên, để có những cơ sở khoa học góp phần
quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện theo hướng bền vững, trên cơ sở
tiềm năng đất đai, quy hoạch phát triển lâm nghiệp phải coi trọng cả 4 khâu:
trồng, bảo vệ, làm giàu rừng và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng. Quy
hoạch Phát triển lâm nghiệp phải đặt trong mối quan hệ tổng thể, hài hòa và
ăn khớp với quá trình chuyển đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; không gây
cản trở mà phải hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Đó là lý do tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất nội dung cơ bản quy hoạch lâm
nghiệp huyện Yên Lập - tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2011 - 2020”.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngày nay, tài nguyên rừng của thế giới cũng như ở Việt Nam đã và
đang bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng, môi trường bị suy thoái,
ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng dẫn đến thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh
xảy ra ngày càng tăng. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do áp lực về
dân số, kéo theo hoạt động kinh tế diễn ra mạnh mẽ, đồng thời phát triển các
ngành công nghiệp, sự đô thị hoá cũng diễn ra với tốc độ nhanh. Chính vì
vậy, việc quy hoạch sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên rừng cũng như
xây dựng nền lâm nghiệp bền vững không còn là trách nhiệm riêng của một
quốc gia nào mà là công việc chung của toàn nhân loại.
1.1. Trên thế giới
Việc quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững nói
chung và tài nguyên rừng nói riêng đã và đang được các nhà khoa học trong

nước và trên thế giới quan tâm.
Tuỳ theo cách nhìn nhận về quy hoạch lâm nghiệp sao cho hợp lý đã
được nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau. Việc đưa
ra một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua
các khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm
về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan đến tài nguyên rừng
phải được xem xét một cách toàn diện và đồng thời đảm bảo sử dụng nó theo
hướng lâu dài và bền vững.
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh
tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, các đặc điểm xã hội và
nhân văn. Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên
thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Quy hoạch


4

lâm nghiệp luôn phụ thuộc vào Quy hoạch vùng và Quy hoạch cảnh quan
trong quá trình xây dựng phương án quy hoạch
1.1.1. Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố và phát
triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
- Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản
xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân
tộc đó được phát triển đến mức độ nào”
- Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự
nhiên kinh tế xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản
xuất”. Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng
sản xuất cho một vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm
tàng và tương lai phát triển của vùng đó.

Dựa trên học thuyết của Mác và Ăng Ghen, V.I. Lê Nin đã nghiên
cứu các hướng cụ thể về kế hoạch hóa phát triển lực lượng sản xuất trong
xã hội chủ nghĩa. Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo các
nguyên tắc sau:
- Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn bộ lãnh thổ của đất
nước, tỉnh, huyện nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động
của tất cả các vùng và quá trình tái sản xuất mở rộng.
- Kết hợp tốt lợi ích của Nhà nước và nhu cầu phát triển kinh tế của
từng tỉnh và từng huyện.
- Đưa các xí nghiệp công nghiệp đến gần nguồn nguyên liệu để hạn chế
chi phí vận chuyển.
- Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế quốc dân ở từng vùng, từng huyện
nhằm nâng cao năng suất lao động và sử dụng hợp lý tiềm năng thiên nhiên.


5

- Tăng cường toàn diện tiềm lực kinh tế và quốc phòng bằng cách phân
bố hợp lý và phát triển đồng đều lực lượng sản xuất ở các vùng, huyện.
1.1.1.1. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari
a. Mục đích
- Sử dụng một cách hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước.
- Bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất
mở rộng.
- Xây dựng đồng bộ môi trường sống.
Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng:
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ.
+ Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động của con người
vào đây rất ít.
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự

can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát.
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn
nhưng có sự tác động của con người.
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và sự
can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
+ Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người.
b. Nội dung của quy hoạch
Quy hoạch lãnh thổ địa phương là thể thiện quy hoạch chi tiết các liên
hiệp nông - công nghiệp và giải quyết các vấn đề sau:
- Cụ thể hóa, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp.
- Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp theo
ngành dọc.
- Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ công cộng và sản xuất.
- Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên
hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn.


6

- Bảo vệ môi trường thiên nhiên và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân
lao động ăn, ở, nghỉ ngơi.
1.1.1.2. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Pháp
Trong mô hình quy hoạch vùng ở Pháp, người ta đã nghiên cứu hàm
mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có
quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài. Thực chất mô hình là một bài
toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc như sau:
a) Các hoạt động sản xuất
- Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và
trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình
và cổ điển (truyền thống).

- Hoạt động khai thác rừng.
- Hoạt động đô thị: chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ
thương mại..
b) Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông nghiệp,
lâm nghiệp.
c) Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện
tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực ...
Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng
tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong
điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài.
1.1.1.3. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan
Công tác qui hoạch phát triển vùng được chú ý từ những năm 1970. Về
hệ thống phân vị, qui hoạch tiến hành theo ba cấp: Quốc gia, vùng, á vùng
hay địa phương.
- Vùng (Region) được coi như là một á miền (Subdivision) của đất
nước đó là điều cần thiết để phân chia Quốc gia thành á miền theo các phương
diện khác nhau như: phân bố dân cư, khí hậu, địa hình,... đồng thời vì lý do


7

quản lý hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như: đơn vị hành
chính hay đơn vị bầu cử.
- Qui mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước và diện tích
của đất nước. Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị hành
chính lớn nhất. Sự phân bố các vùng theo mục đích của qui hoạch, theo đặc
điểm của lãnh thổ.
- Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo
2 cách:
Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng,

những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch
vùng được giải quyết trong kế hoạch Quốc gia.
Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của
vùng, các kế hoạch đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia.
Qui hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước,
phải phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương.
Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông
nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và chính trị ở Thái Lan
và tập trung xây dựng ở 2 vùng: Trung tâm và Đông Bắc. Trong 30 năm
(1961 - 1988 và 1992 - 1996), tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông
nghiệp từ 80% giảm xuống 66,6 %, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan
trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư kỹ thuật, nông nghiệp, thị trường [24].
1.1.2. Quy hoạch cảnh quan
Thuật ngữ “cảnh quan - Landscape” là tổng thể lãnh thổ tự nhiên của
bất kỳ một quy mô nào, có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự
nhiên nào đó, chúng mang tính chất kiểu loại và được phân loại theo các chỉ
tiêu dấu hiệu của sự đồng nhất đó. Cảnh quan được các nhà cảnh quan học
Trung Quốc lý giải theo 3 cách:


8

- Theo phương diện mỹ học, thì cảnh quan đồng nghĩa với từ “phong
cảnh”. Cảnh quan là đối tượng thẩm mỹ, mà rừng được xem là phong cảnh
(rừng phong cảnh)
- Theo phương diện địa lý thì cảnh quan là tổng hợp các thành phần
sinh vật, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu. Khái niệm cảnh
quan này rất gần gũi với thuật ngữ hệ sinh thái hoặc quần lạc sinh địa.
- Cảnh quan sinh thái học. Cảnh quan là sự tổ hợp các hệ sinh thái khác
nhau trong một không gian. Một cảnh quan bao gồm sự tụ họp của một số hệ

sinh thái ở liền kề nhau có sự ảnh hưởng lẫn nhau, có chức năng liên quan hỗ
trợ và phát sinh đặc điểm nhất định trong một không gian.
Cảnh quan có thể thay đổi phụ thuộc vào hình dáng vật lý và vị trí như
đỉnh núi, hồ, biển hay đất liền. Cảnh quan cũng có thể chia thành cảnh quan
nông thôn hay thành thị tùy thuộc vào mức độ “nhân tạo” của cảnh quan đó.
Quy hoạch cảnh quan là một hướng nghiên cứu trong khoa học kiến
trúc cảnh quan, lý luận và thực tiễn đã có từ khá lâu, nhưng danh từ này thực
sự trở thành thuật ngữ khoa học và được nhiều người công nhận thì mới bắt
đầu những năm 70 của thế kỷ 20 (Sedon, 1986). Trong cuốn sách được công
bố “land use and landscape planning” (Dereh Loviejoy, 1973), quy hoạch
cảnh quan là sự sắp xếp mục đích sử dụng thích hợp nhất cho một nơi nào đó
có quy mô tương đối lớn.
Có nhiều cách hiểu về quy hoạch cảnh quan, nhưng có lẽ điều mà được
nhiều người thừa nhận, thì quy hoạch cảnh quan là quá trình điều tiết mối
quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên trên một phạm vi vĩ mô, dựa trên
cơ sở nhận thức về tự nhiên và quá trình nhân văn (Stiner and Osterman,
1988; Sedon, 1986; Langevelde, 1994).
Mục đích chung nhất của quy hoạch cảnh quan là thông qua quy hoạch
sử dụng đất, bảo tồn và lợi dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững.
Trên quan điểm này, thì cảnh quan chính là một hệ sinh thái, do đó cảnh quan


9

được quy hoạch muốn đạt được tính bền vững, phải dựa trên những nhận thức
và lý luận của sinh thái học (Sedon, 1986; Leita and Ahern, 2002).
- Các nghiên cứu làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan sinh thái
+ Nghiên cứu tính đa dạng sinh học. Tính đa dạng sinh học đối với môi
trường sống của con người có tầm quan trọng đặc biệt, sự đa dạng sinh học có
quan hệ chặt chẽ tới đa dạng cảnh quan, Vì vậy, các nhà sinh học ở Mỹ

(California), Nam phi, Chi lê, Australia (Mayer, Lugo, Wilson) đã tiến hành
nghiên cứu sự đa dạng sinh học để làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan các
khu vực rừng nguyên sinh. Duy trì tính đa dạng cảnh quan, đa dạng loài và
tính đa dạng di truyền là một trong những mục tiêu chủ yếu của quản lý tài
nguyên thiên nhiên núi chung, quản lý rừng nói riêng.
+ Để làm cơ sở quy hoạch cảnh quan sinh thái cho các khu bảo tồn, các
nhà khoa học gồm Simpson, Shannnon - Weiner, Richness đã tập trung
nghiên cứu về chỉ số đa dạng sinh học. Chỉ số đa dạng sinh học là cơ sở đánh
giá đa dạng cảnh quan sinh thái khi tiến hành quy hoạch cảnh quan.
1.1.3. Quy hoạch lâm nghiệp
Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế
Tư bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu
khối lượng gỗ ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương
của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa.
Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn
thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu
hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý
luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy.
Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc
“ Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa đem trữ lượng hoặc diện tích tài
nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh


10

khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích. Phương thức này phục vụ
cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn.
Sau Cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 Phương thức kinh doanh
rừng chồi được thay bằng Phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai
thác dài. Và phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho

phương thức “Chia đều” của Hartig. Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác
thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm.
Đến năm 1816, xuất hiện Phương thức luân kỳ lợi dụng của H. Cotta, Cotta
chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế
lượng chặt hàng năm.
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời, quan điểm phương
pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn
đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 19, xuất
hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich. Phương pháp này khác với
phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những lâm
phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai
thác. Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là
tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau.
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp
tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có
kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các
cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng
này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú. Còn
phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần”
không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần
tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh. Cũng từ
phương pháp này, còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và
“Phương pháp kiểm tra” [21].


11

Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai
trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm 1946,
Jack G.V. đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “phân

loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất”. Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến
đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất. Tại vùng Rhodesia trước
đây, nay là cộng hoà Zimbabwe, Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hướng
dẫn quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho trồng rừng.
Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Tạp chí “East African Journal for
Agriculture Forestry” đã xuất bản nhiều bài báo về quy hoạch cơ sở hạ tầng ở
Nam châu Phi. Năm1966, Hội Đất học của Mỹ và Hội Nông học Mỹ cho ra đời
chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng
trong qui hoạch sử dụng đất.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Quy hoạch cảnh quan sinh thái
Quy hoạch cảnh quan là một qúa trình xây dựng kế hoạch quản lý đất
đai cho một vùng đất trên cơ sở nghiên cứu sinh thái cảnh quan, nghiên cứu
đến thế giới sinh vật, vật chất và năng lượng có thể tồn tại và lưu thông ngay
trong Cảnh quan đó.
Con người là một thành phần của thiên nhiên, tác động của con người
tới thiên nhiên là một yếu tố then chốt ảnh hưởng tới các chức năng của Cảnh
quan. Sinh thái cảnh quan giúp xác định những khiếm khuyết của chúng ta
trong quá khứ, và cũng như vậy giúp ta xác định cách tiếp cận tốt hơn để có
thể đáp ứng nhu cầu của con người mà không gây ảnh hưởng không bền vững
tới các hệ sinh thái tự nhiên. Mục tiêu của quy hoạch cảnh quan là để bảo vệ
các thành phần chủ yếu của hệ sinh thái cảnh quan và giữ lại các dòng chuyển
động sống và … Một mục tiêu khác là hướng các hoạt động của con người
khỏi những nơi dễ bị tổn hại sinh thái.


12

Một Cảnh quan không có một kích thước cố định, do vậy quy hoạch
cảnh quan có thể thực hiện ở những quy mô khác nhau

Thành phần chính của cảnh quan có thể chia thành 2 loại là tự
nhiên/sinh thái, như rừng, sông hồ và nhân tạo như đất canh tác, thôn bản vv...
Các yếu tố cảnh quan nhân tạo lại có thể chia thành các yếu tố sản xuất, văn
hóa, lịch sử vv...
Mối tương quan tỷ lệ về thành phần cùng quan hệ tương hỗ giữa hai
thành phần này luôn biến đổi theo thời gian, điều này làm cho cảnh quan kiến
trúc luôn vận động và phát triển.
Theo Nguyễn Thế Thôn “Cảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện
tại, có cấu trúc cảnh quan địa lý và có chức năng sinh thái của các hệ sinh thái
đang tồn tại và phát triển trên đó. Các cảnh quan sinh thái được phân biệt với
nhau theo cấu trúc cảnh quan và theo chức năng sinh thái khác nhau trên các
phần lãnh thổ khác nhau”.
- Việc nghiên cứu cảnh quan trong lâm nghiệp đã được Nguyễn Văn
Khánh vận dụng trong đề tài “Góp phần nghiên cứu phân vùng lập địa lâm
nghiệp Việt Nam”. Tác giả xác lập cho toàn quốc theo 6 cấp phân vị: Miền - á
miền - vùng - tiểu vùng - dạng đất đai - dạng lập địa. Trong đó 4 cấp phân vị đầu
áp dụng cho vùng lớn, 2 cấp sau là đơn vị phân loại cơ bản (vi mô) thường được
sử dụng trong điều tra đánh giá ở phạm vi hẹp (xã, lâm trường, tiểu khu, khoảnh).
Đề tài mới dừng lại nghiên cứu ở 4 cấp phân vị đầu, căn cứ vào các yếu tố: chế
độ nhiệt mùa đông, chế độ mưa, địa mạo, kiểu khí hậu, kiểu địa hình và nhóm
đất để chia toàn quốc thành: 2 miền, 4 á miền, 12 vùng lập địa, 407 tiểu vùng lập
địa. Dựa vào kết quả đạt được, tác giả đề xuất những định hướng lớn trong sản
xuất kinh doanh lâm nghiệp như về chọn loài cây trồng rừng, xác định các tiểu
vùng phòng hộ đầu nguồn, lập kế hoạch sản xuất lâm nghiệp trong năm theo á
miền, lập các trạm trại nghiên cứu lâm nghiệp .


13

- Các tác giả Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình chủ biên công

trình “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp Việt Nam” (2001)[11].
Trong công trình các tác giả đã tiến hành đánh giá đất lâm nghiệp trong
phạm vi toàn quốc trên 8 vùng kinh tế sinh thái lâm nghiệp, ở trên 4 đối
tượng chính: đất vùng đồi núi, đất cát biển, đất ngập mặn sú vẹt, đất chua
phèn. Qua nghiên cứu các tác giả đã đề xuất được các vùng thích hợp đối
với một số loài cây trồng.
- Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 19962020 đã căn cứ vào phân vùng kinh tế-sinh thái để xây dựng kế hoạch phát
triển lâm nghiệp cho từng vùng (9 vùng): Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc
bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ,
Đồng bằng sông Cửu Long)[10].
- Các mô hình quy hoạch cảnh quan trong lâm nghiệp có: Quy hoạch
không gian Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang - Hà Tĩnh. Quy hoạch không
gian Vườn quốc gia Bến En - Thanh Hóa....Trong các phương án quy hoạch cho
các khu rừng đặc dụng này đã đề xuất và chấp nhận sự tham gia của cộng đồng
vào hoạt động quản lý bảo vệ , vì vậy đã nâng cao được nhận thức, hạn chế xung
đột giữa hoạt động của con người với nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học.
- Gần đây (tháng 10/2009), với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB),
tại Thừa Thiên Huế đã tiến hành hội thảo quy hoạch cảnh quan cho 7 xã thuộc
3 huyện. Các vấn đề nêu ra tại hội thảo đang còn là bước đi đầu tiên trong
việc tiếp cận một cách nhìn mới trong quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
(QHSDĐLN), thậm chí mới dừng lại ở phương pháp QHSDĐLN có sự tham
gia của cộng đồng dân cư và cấp chính quyền sở tại....
Vì vậy, nghiên cứu và ứng dụng phương pháp quy hoạch cảnh quan
vào trong QHSDĐLN là vấn đề tương đối mới lạ, mặc dù công tác quy hoạch
SDĐLN đã và đang thực hiện đều trên cơ sở đề cập và phân tích đầy đủ các
yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội.


14


1.2.2. Quy hoạch vùng chuyên canh
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên
canh lúa nước ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long; các
vùng cây công nghiệp ngắn ngày: Vùng Mía đường (Thanh Hoá, Quảng Ngãi,
Nghệ An); Vùng cây công nghiệp dài ngày: Vùng Cao su - Cà phê (Tây
Nguyên ), Vùng Chè công nghiệp (Thái Nguyên ) vv...
a) Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh:
- Xác định phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá
và những vùng có khả năng hợp tác kinh tế.
- Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp Nhà nước tập trung
đầu tư vốn đúng đắn.
- Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản
phẩm hàng hoá của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ
sản xuất, nhu cầu lao động.
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý
kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ.
Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ
cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập
trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng xuất, sản lượng và chất
lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho
từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở
sản xuất.
b) Nội dung chủ yếu của quy hoạch vùng chuyên canh:
- Xác định quy mô, ranh giới vùng.
- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất.
- Bố trí sử dụng đất đai.
- Xác định quy mô, ranh giới, nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp
trong vùng và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp.



15

- Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống.
- Tổ chức và sử dụng lao động.
- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế.
- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch.
1.2.3. Quy hoạch lâm nghiệp
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta từ thời kỳ Pháp thuộc. Như
việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi. Điều chế rừng
Thông theo phương pháp hạt đều ...
Đến năm 1955 - 1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài
nguyên rừng. Năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc.
Mãi đến năm 1960 - 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng miền
Bắc. Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được
tăng cường và mở rộng. Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với
lực lượng điều tra quy hoạch của các Sở Lâm nghiệp (nay Sở Nông nghiệp &
PTNT) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của
các nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước
ta. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm
nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều. Vì vậy, những
nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở
cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu
áp dụng [21].
Theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020
một trong những tồn tại mà Bộ Nông nghiệp & PTNT đánh giá là: “Công tác
quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp
chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và
thiếu tính khả thi. Chưa quy hoạch 3 loạ irừng hợp lý và chưa thiết lập được
lâm phần ổn định trên thực địa.. ”[10]. Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra ngày
càng phải được hoàn thiện đối với ngành lâm nghiệp.



16

1.2.3.1. Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp
- Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả
vùng ven biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao,
dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh tế
hoạt động.
- Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí
thấp, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp
nhiều khó khăn.
- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8-10 năm, dài 40100 năm).
- Mục tiêu của quy hoạch lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng
phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường);
Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các
khu di tích văn hoá - lịch sử - danh thắng) và quy hoạch phát triển các loại rừng
sản xuất.
- Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và
vi mô: Từ quy hoạch toàn quốc cho đến quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã
và làng lâm nghiệp.
* Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ chuyển
đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn.
Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ
trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và
chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể. Với mỗi phương án quy hoạch
lâm nghiệp phải đạt được:
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp - đất lâm nghiệp và đất do
các ngành khác sử dụng; Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được
quan tâm hàng đầu vì là hai ngành chính sử dụng đất đai.



17

- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3
loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất). Từ đó xác định các giải pháp lâm
sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu rừng, khoanh
nuôi phục hồi rừng, trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng, nông lâm kết
hợp....khai thác lợi dụng rừng).
- Tính toán nhu cầu đầu tư: Vì là phương án quy hoạch nên việc tính
toán nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch
sản xuất ở những bước tiếp theo.
- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy
hoạch (giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp
về vốn, lao động ...)
- Đổi mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc,
vùng, tỉnh) còn đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước
tiếp theo là lập Dự án đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi[21].
1.2.3.2. Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
1) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy hoạch
tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm trường; Quy
hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các khu rừng phòng
hộ; quy hoạch các khu rừng đặc dụng và quy hoạch phát triển sản xuất lâm
nông nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ gia đình).
Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh
là khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế
tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà lựa chọn các nội dung quy hoạch cho
phù hợp [21].
2) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ

Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành
chính: Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thành
phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường). Để phát triển, mỗi đơn vị đều


18

phải xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy
hoạch phát triển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển xã hội…
Ở những đối tượng có tiềm năng phát triển lâm nghiệp thì quy hoạch lâm
nghiệp là một vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho việc phát triển sản xuất nghề
rừng nói riêng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung trên địa bàn.
a. Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm
nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản,
bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp
toàn quốc. Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất,
phòng hộ và đặc dụng). Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài
nguyên rừng hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và
trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp. Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến
lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ. Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển
nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng,
giao thông vận tải. Xác định tiến độ thực hiện.
Do đặc thù khác với những ngành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy
hoạch lâm nghiệp thường được thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội
dung quy hoạch được thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế lâm nghiệp[21].
b. Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh về cơ bản giống như nội dung quy hoạch
lâm nghiệp toàn quốc nhưng trong phạm vi của tỉnh, đồng thời phải căn cứ quy
hoạch lâm nghiệp toàn quốc và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh.

c. Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện
Quy hoạch lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:
- Xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện.
- Quy hoạch đất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: sản xuất,
phòng hộ và đặc dụng.
- Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng tài nguyên rừng hiện có.
- Quy hoạch các biện pháp tái sinh rừng.


19

- Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền
với thị trường tiêu thụ.
- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp
cho các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội.
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải.
- Xác định tiến độ thực hiện.
Thời gian quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện thường là 10 năm [21]..
d. Quy hoạch lâm nghiệp cấp xã
Quy hoạch lâm nghiệp trên địa bàn xã cần chi tiết cụ thể hơn và được
tiến hành trong thời gian10 năm. Quy hoạch lâm nghiệp xã thường tiến hành
các nội dung sau:
- Điều tra các điều kiện cơ bản có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp.
- Xác định phương hướng nhiệm vụ phát riển lâm nghiệp trên địa bàn xã.
- Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng.
- Quy hoạch đất lâm nghiệp theo ba chức năng sử dụng: Sản xuất,
phòng hộ, đặc dụng.
- Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố trí
không gian, tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng.
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các công trình

phục vụ sản xuất và đời sống.
- Ước tính đầu tư và hiệu quả: Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ
trên các mặt kinh tế - xã hội, môi trường. Xác định tiến độ thực hiện [21]..
Về cơ bản nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ
từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự như nhau. Tuy nhiên mức độ giải
quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tuỳ theo các cấp.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải đồng bộ
với việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phải căn cứ vào quy hoạch sử
dụng đất của địa phương.
Huyện Yên Lập đã xây dựng được quy hoạch sử dụng đất đai giai đoạn
2001 - 2010, hàng năm đều tiến hành thống kê, theo dõi biến động các loại đất


20

[29]. Năm 1997 huyện cũng đã xây dựng quy hoạch phát triển lâm nghiệp,
tiến hành rà soát, sắp xếp lại tổ chức và các hoạt động sản xuất kinh doanh
lâm nghiệp [30, 7]. Đã có một số dự án lâm nghiệp triển khai thực hiện trên
địa bàn huyện: Dự án SIDA; Lâm nghiệp xã hội; Dự án phát triển nông thôn
miền núi; Dự án Pam; Dự án trang trại; Dự án 327, chương trình trồng mới 5
triệu ha rừng; Chương trình trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh...
Năm 2006, thực hiện Chỉ thị 38/2005/CT-TTg, của Thủ tướng Chính
phủ, tỉnh Phú Thọ đã tiến hành rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng
hộ, đặc dụng và sản xuất). Kết quả rà soát đã làm thay đổi quy mô diện tích
03 loại rừng trên toàn tỉnh cũng như diện tích rừng phòng hộ tại các huyện.
Việc thay đổi quy mô diện tích đã làm thay đổi kế hoạch sản xuất của các chủ
rừng và định hướng phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện. Sau đó năm
2008 huyện Yên Lập thực hiện việc điều chỉnh, bổ sung dự án 661 giai đoạn
2008-2013 cho phù hợp với tình hình thực tế quy hoạch 3 loại rừng. Tuy
nhiên nhiều tài liệu về quy hoạch, dự án … qua quá trình sử dụng đã không

còn phù hợp với thực tiễn khách quan và quy luật phát triển kinh tế xã hội
của huyện. Trước tình hình đó, tỉnh uỷ và UBND tỉnh đã có nhiều văn bản
chỉ đạo các ngành chức năng và huyện Yên Lập nghiên cứu, quy hoạch lại
các diện tích rừng cho phù hợp, làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, nhằm quản lý bảo vệ
chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý báu của huyện.
Phú Thọ là tỉnh nằm trong vùng quy hoạch nguyên liệu giấy, căn cứ
quyết định số 727/QĐ-UBND ngày 04/4/2007 của UBND tỉnh Phú Thọ về
việc Duyệt báo cáo kết quả rà soát, quy hoạch và định hướng phát triển 3 loại
rừng tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2015. Một trong
các dự án ưu tiên của tỉnh là: “Quy hoạch và xây dựng dự án trồng rừng
nguyên liệu giấy tập trung theo hướng thâm canh cao với quy mô là 60.000
ha” [28]. Trong đó huyện Yên Lập được quy hoạch trồng rừng nguyên liệu
giấy tập trung là 12.380 ha.


21

Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Quy hoạch lâm nghiệp cho huyện Yên Lập - tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2011 - 2020 phát triển ổn định, bền vững và phù hợp với quy hoạch 3 loại
rừng, quy hoạch vùng NLG và định hướng phát triển chung của tỉnh, huyện.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến phát triển lâm nghiệp huyện.
- Đánh giá tình hình sản xuất lâm nghiệp và dự báo nhu cầu lâm sản.
- Xác định được định hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp.

- Đề xuất các nội dung cơ bản cho quy hoạch lâm nghiệp.
- Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của phương án quy hoạch.
- Đề xuất giải pháp thực hiện.
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
+ Rừng và đất lâm nghiệp của huyện Yên Lập - tỉnh Phú Thọ.
+ Các tài liệu, văn bản pháp có liên quan làm cơ sở cho quy hoạch
lâm nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên
địa bàn 16 xã và 01 thị trấn huyện Yên Lập - tỉnh Phú Thọ.

2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Cơ sở quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Yên Lập
(1) Cơ sở pháp lý: Tìm hiểu các luật, văn bản dưới luật và các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến quy hoạch lâm nghiệp (Luật,
Quy định, tiêu chuẩn, vv…)


22

(2) Điều kiện cơ bản: Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, thực trạng
phát triển kinh tế xã hội của huyện Yên Lập, vấn đề phát triển kinh tế xã hội
và áp lực đối với sử dụng đất đai và những dự báo cơ bản.
(3) Đánh giá chung về hiện trạng sử dụng đất đai của huyện, đánh giá
hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo đơn vị chủ quản.
(4) Đánh giá hiệu quả và tác động của sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
- Kinh tế (năng suất rừng).
- Xã hội.
- Môi trường.
(5) Một số dự báo cơ bản đến năm 2020:

- Dân số và lao động.
- Nhu cầu gỗ, củi, lâm sản và thị trường tiêu thụ.
- Về môi trường.
- Nhu cầu sử dụng đất.
- Về phát triển khoa học công nghệ trong lâm nghiệp.
2.3.2. Đề xuất các nội dung cơ bản QHLN huyện Yên Lập
(1) Định hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện Yên Lập, Quy hoạch
sử dụng đất huyện Yên Lập.
(2) Định hướng và nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp huyện Yên Lập đến
năm 2020.
(3) Quy hoạch 3 loại rừng huyện Yên Lập.
(4) Quy hoạch định hướng các biện pháp kinh doanh - lợi dụng rừng,
phát triển sản xuất lâm nghiệp (theo 3 loại rừng PH, ĐD, SX; chế biến lâm
sản, kinh doanh lợi dụng tổng hợp tài nguyên rừng, …)
(5) Quy hoạch 3 loại rừng theo chủ sở hữu.
(6) Đề xuất một số giải pháp thực hiện quy hoạch.
(7) Tiến độ thực hiện quy hoạch giai đoạn 2011 - 2020.
(8) Khái toán vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư.


×