Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

Rèn luyện một số kĩ năng giao tiếp cho học sinh trong dạy học bài trình bày một vấn đề (ngữ văn 10)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (979.42 KB, 72 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************

NGUYỄN HUYỀN PHƯƠNG

RÈN LUYỆN MỘT SỐ
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC BÀI “ TRÌNH BÀY
MỘT VẤN ĐỀ” (NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, ThS.
Dương Thị Mỹ Hằng - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để
tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các thầy, cô giáo trong khoa
Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn sinh viên trong nhóm khóa luận đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Huyền Phương



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của cô Dương Thị Mỹ Hằng. Các nội dung nghiên cứu, kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá
được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu
tham khảo.
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số
liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn
gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
nội dung luận văn của mình. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 không liên quan
đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện
(nếu có).

Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Tác giả

Nguyễn Huyền Phương


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Học sinh

HS

Giáo viên

GV


Trung học phổ thông

THPT

Phương pháp

PP

Sách giáo khoa

SGK

Câu hỏi

CH


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................6
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..............................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................7
6. Đóng góp của khóa luận ..........................................................................................7
7. Bố cục của khóa luận ..............................................................................................8
NỘI DUNG .................................................................................................................9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ....................................................9
1.1. Những vấn đề chung của rèn luyện kỹ năng ........................................................9

1.1.1. Khái niệm kỹ năng ............................................................................................9
1.1.2. Quá trình rèn luyện kỹ năng ..............................................................................9
1.1.3. Cơ sở tâm lý học của việc rèn luyện kỹ năng .................................................12
1.2. Cơ sở giáo dục trong rèn luyện kỹ năng ............................................................13
1.3. Kỹ năng giao tiếp ...............................................................................................15
1.3.1. Khái niệm ........................................................................................................15
1.3.2. Các kỹ năng giao tiếp ......................................................................................15
1.4. Trình bày một vấn đề .........................................................................................17
1.4.1. Khái niệm ........................................................................................................17
1.4.2. Những yêu cầu cơ bản của trình bày một vấn đề ............................................18
1.4.3. Tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề ...............................................18
1.5. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................19
1.5.1. Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học kỹ năng trình bày một vấn đề cho học
sinh THPT .................................................................................................................19
1.5.2. Điều tra, khảo sát thực trạng kỹ năng trình bày một vấn đề của học sinh
THPT .........................................................................................................................22


1.5.3. Khảo sát hệ thống bài tập rèn luyện ở trong bài “Trình bày một vấn đề” ......23
1.5.4. Đánh giá chung ...............................................................................................24
CHƯƠNG 2: CÁCH THỨC RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO
HS TRONG DẠY HỌC BÀI “TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ”................................25
2.1. Nội dung dạy học kỹ năng trình bày một vấn đề trong SGK Ngữ Văn 10 ........25
2.1.1. Mục tiêu dạy học .............................................................................................25
2.1.2. Thời lượng dạy học .........................................................................................26
2.2. Các kỹ năng giao tiếp cần rèn luyện cho học sinh khi dạy học bài “Trình bày
một vấn đề” ...............................................................................................................26
2.2.1. Rèn kỹ năng định hướng giao tiếp ..................................................................26
2.2.2. Rèn kỹ năng lập dàn ý khi trình bày một vấn đề.............................................30
2.2.3. Rèn kỹ năng mở đầu khi trình bày một vấn đề ...............................................36

2.2.4. Rèn kỹ năng triển khai vấn đề .........................................................................40
2.2.5. Rèn kỹ năng kết thúc vấn đề ...........................................................................44
2.2.6. Rèn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong trình bày một vấn đề ................48
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .............................................................52
3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................................52
3.2. Đối tượng thực nghiệm ......................................................................................52
3.3. Ý nghĩa ...............................................................................................................53
3.4. Địa bàn thực nghiệm ..........................................................................................53
3.5. Thời gian thực nghiệm .......................................................................................53
3.6. Nội dung thực nghiệm ........................................................................................53
KẾT LUẬN ...............................................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng mềm cực kỳ quan trọng
trong thế kỷ 21. Đó là một tập hợp những quy tắc, nghệ thuật, cách ứng xử, đối đáp
được đúc rút qua kinh nghiệm thực tế hằng ngày giúp mọi người giao tiếp hiệu quả
thuyết phục. Có thể nói kỹ năng giao tiếp đã được nâng lên thành nghệ thuật giao
tiếp bởi nó chứa rất nhiều kỹ năng nhỏ khác như kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu, sử
dụng ngôn ngữ cơ thể, sử dụng ngôn từ, kỹ năng mở đầu, triển khai hay kết thúc…
Để có được kỹ năng giao tiếp tốt đòi hỏi người sử dụng phải thực hành thường
xuyên, áp dụng vào mọi hoàn cảnh để nâng cao và cải thiện trình độ.
1.2. Trình bày một vấn đề là một kỹ năng giao tiếp quan trọng trong nhà
trường và trong cuộc sống hàng ngày. Đây là hoạt động đặc thù của con người, giúp
con người sinh sống, hoạt động, thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình.
Thông qua trình bày vấn đề, con người lĩnh hội được các kinh nghiệm lịch sử - xã
hội biến chúng thành kinh nghiệm của bản thân.. Trình bày một vấn đề có vai trò

quan trọng đối với sự hình thành và phát triển tâm lý con người. Mặt khác trình bày
một vấn đề giúp cho học sinh tiếp thu nền văn hóa lịch sử và biến nó thành cái của
riêng mình, tạo ra sự phát triển tâm lý nhân cách. Còn đối với riêng nghề dạy học
thì nhờ kỹ năng trình bày một vấn đề mà giáo viên thực hiện được vai trò chủ đạo
của mình, đó là truyền thụ tri thức, đề ra nhiệm vụ và đánh giá kết quả học tập của
học sinh. Vì thế trình bày một vấn đề được thực hiện sẽ hướng hoạt động dạy của
giáo viên và hoạt động học của học sinh đạt được mục đích giáo dục.
1.3. Việc dạy học các môn học và triển khai hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp là những hình thức thích hợp cho việc tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng sống.
Trong việc học tập các môn học khác, HS cũng cần phải được rèn luyện kỹ năng
trình bày một vấn đề. Đây không phải chỉ là nhiệm vụ của riêng môn Ngữ Văn mà
nó là nhiệm vụ chung cho toàn bộ các phân môn trong trường phổ thông. HS cần
phải được trang bị kiến thức và kỹ năng khi trình bày nội dung các môn khoa học

1


cũng như khi trình bày một vấn đề trong cuộc sống. Tuy nhiên, trong thực tế thì HS
chưa được rèn luyện nhiều về kỹ năng trình bày một vấn đề.
Khi xây dựng chương trình dạy học, nội dung dạy học trên lớp, giáo viên đều
đã phải xây dựng ba mục tiêu: cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành
thái độ. Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong dạy học và giáo viên đều nhận
thức sâu sắc yêu cầu này. Tuy nhiên, có thể nói rằng do phải chạy theo thời gian,
phải chuyển tải nhiều nội dung trong khi thời gian có hạn, giáo viên có khuynh
hướng tập trung cung cấp kiến thức mà ít quan tâm rèn luyện kỹ năng cho học sinh,
nhất là kỹ năng giao tiếp, ứng xử với xã hội, ứng phó và hòa nhập với cuộc sống.
Tổ chức hoạt động kỹ năng trình bày một vấn đề trong dạy học có tiềm năng
to lớn trong việc rèn luyện kỹ năng hợp tác cho người học. Song quá trình rèn luyện
kỹ năng trình bày một vấn đề cho học sinh trong hoạt động là một quá trình lâu dài,
đòi hỏi phải được thực hiện thường xuyên, theo đúng bản chất hợp tác của hoạt

động và vận dụng hợp lý quy trình rèn luyện kỹ năng.
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: Rèn luyện một số kỹ năng giao tiếp
cho học sinh trong dạy học bài “Trình bày một vấn đề” (Ngữ văn 10) với mong
muốn đóng góp vào công cuộc đổi mới PP dạy học , nâng cao chất lượng dạy học
Làm văn ở THPT.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Các tài liệu nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp
Bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống, của xã hội và quay trở lại phục vụ cuộc
sống xã hội, giao tiếp có vai trò to lớn đối với mỗi con người. Cũng bởi thế, các nhà
nghiên cứu đã dành nhiều sự quan tâm và nghiên cứu về kỹ năng này.
Các nhà khoa học khi nghiên cứu về giao tiếp đều khẳng định: Sự tồn
tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
những cộng đồng xã hội nhất định. Không ai có thể sống, hoạt động ngoài gia
đình, bạn bè, địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội. Trong quá trình
sống và hoạt động, giữa chúng ta và người khác luôn tồn tại nhiều mối quan hệ.
Đó có thể là quan hệ dòng họ, huyết thống như cha mẹ - con cái, ông bà – cháu

2


chắt; quan hệ hành chính – công việc như thủ trưởng – nhân viên, nhân viên –
nhân viên; quan hệ tâm lí như bạn bè, thiện cảm, ác cảm… Trong các mối quan
hệ đó thì chỉ có một số ít là có sẵn ngay từ khi chúng ta cất tiếng khóc chào đời
(chẳng hạn quan hệ huyết thống, họ hàng), còn đa số các mối quan hệ còn lại là
được hình thành và phát triển trong quá trình chúng ta sống và hoạt động trong
cộng đồng xã hội, thông qua các hình thức tiếp xúc, gặp gỡ, liên lạc đa dạng với
người khác mà chúng ta gọi là giao tiếp.
Vậy giao tiếp là gì? Trong cuốn Kỹ năng giao tiếp của nhóm tác giả Chu
Văn Đức đã đưa ra khái niệm về giao tiếp, đó là: Giao tiếp là hoạt động xác lập,
vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thỏa mãn những

nhu cầu nhất định. Nhóm tác giả này cũng chỉ ra vai trò của giao tiếp đối với xã
hội và cá nhân; chức năng của giao tiếp (chức năng xã hội và chức năng tâm lí)
và phân loại giao tiếp. Các tác giả cho rằng, kỹ năng giao tiếp vừa là môn học lí
thuyết, vừa là môn học thực hành. Trong quá trình học, học sinh được trang bị
các kiến thức cơ bản về giao tiếp, ứng xử đồng thời thực hành để rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thực môn học vào các tình huống giao tiếp cụ thể trong
cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động nghề nghiệp của các em sau
này.
Cũng bàn về kỹ năng giao tiếp, PGS.TS Đặng Đình Bôi chỉ ra rằng:
“Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, vì vậy kỹ năng này là một trong
những “kỹ năng mềm” vô cùng quan trọng với con người trong đời sống hàng
ngày cũng như trong công việc. Muốn có kỹ năng giao tiếp tốt, ngoài việc hiểu
rõ các lý thuyết cơ bản và bản chất quá trình giao tiếp, người học còn phải vận
dụng trải nghiệm thực tế, quan sát, tự rút ra bài học cho chính mình… Dù bạn
làm việc gì bạn cũng phải có kỹ năng giao tiếp để quản lí và trao đổi với mọi
người về công việc của bạn, nghe mọi người phản hồi về bạn. Xã hội càng phát
triển, văn minh thì nhu cầu về hình thức giao tiếp ngày càng cao và đa dạng.
Giao tiếp càng trở nên là một kỹ năng không thể thiếu và cần phải được rèn
luyện”. PGS.TS Đặng Đình Bôi cũng chỉ ra các dạng quy mô của giao tiếp, gồm

3


4 dạng: Thứ nhất là giao tiếp với chính bản thân: tự đưa ra thông tin, tự nhận
thông tin (suy ngẫm) và cải thiện bản thân. Thứ hai: giao tiếp nhân cách giữa
hai cá nhân với nhau trong công việc cũng như trong tình cảm, đời sống. Thứ
ba: giao tiếp nhóm giữa các cá nhân trong một nhóm nào đó. Và thứ tư là giao
tiếp trong tổ chức, giữa các nhóm với nhau để hoàn thành công việc chung của
tổ chức.
Ngoài việc chỉ ra và làm rõ những chức năng cũng như vai trò quan trọng

của việc giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, thì bài viết còn đề cập đến một khía
cạnh quan trọng của giao tiếp đó là: các phương tiện cơ bản khi giao tiếp (phương
tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) và đặc biệt đó là việc đưa ra những
kỹ năng cơ bản và cần thiết khi giao tiếp, cụ thể như: Kỹ năng nói, kỹ năng viết, kỹ
năng lắng nghe, kỹ năng thuyết phục…
Như vậy, cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn về kỹ năng
giao tiếp. Đa phần các công trình nghiên cứu đó mới chỉ đề cập đến vai trò, vị trí,
chức năng và cách thức giao tiếp một cách chung chung mà chưa có sự vận dụng cụ
thể. Trong khi đó, trình bày một vấn đề lại không được tách ra thành một kỹ năng
cơ bản và riêng biệt mà nhiều lúc nó được đưa ra dưới dạng thức là những yêu cầu
gắn với thuyết trình, hùng biện.
2.2. Các tài liệu nghiên cứu về dạy học bài “Trình bày một vấn đề”
Với đề tài này, có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã bàn về chuyên đề
Rèn luyện một số kỹ năng trong dạy học bài “Trình bày một vấn đề”. Đa số các
nhà nghiên cứu đều đã chỉ ra thực trạng mà phần lớn học sinh đang gặp phải
trong việc trình bày một vấn đề, nhưng ít có nhà nghiên cứu nào đi vào sâu để
chỉ ra những hạn chế và đưa ra các giải pháp phù hợp. Vì vậy, vẫn còn một số
tồn tại, khó khăn mà các em học sinh vẫn còn mắc phải trong quá trình giao tiếp
cũng như trong việc hình thành cho bản thân kỹ năng khi trình bày một vấn đề.
Tác giả Trương Thúy Hà trong Tạp chí Giáo dục & thời đại đăng
ngày 9/9/2014 khi bàn về việc rèn kỹ năng nói trong dạy học Ngữ văn đã nêu ra
một thực trạng đó là: Năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh với tư cách là một

4


công cụ để tư duy, giao tiếp, công cụ để học tập vẫn còn nhiều bất cập. Trong phần
mở đầu, tác giả Trương Thúy Hà viết: “Hiện nay một bộ phận HS còn yếu cả kỹ
năng nghe, nói, đọc, viết. Các em rất ngại nói trong giờ học, có tâm lý ngượng
ngùng, dè dặt, sợ mình nói sai. Sự hạn chế về vốn sống, vốn hiểu biết và kinh

nghiệm giao tiếp dẫn đến học sinh thiếu sự đa dạng, linh hoạt trong việc thực hiện
các chủ đề, hình thức nói năng. Các hoạt động tập thể, trao đổi, thảo luận, tập diễn
thuyết, hùng biện... khó được tổ chức nên HS ít có điều kiện để rèn luyện kỹ năng
nói.
Nhiều HS bị cuốn hút vào các trò chơi hiện đại như game, chat... khiến vốn
từ vựng không được bổ sung. Lối sống hiện đại, công việc tất bật khiến nhiều phụ
huynh không có thời gian giao tiếp, chuyện trò với con em mình nên tạo điều kiện
cho các em dần dần khép kín, ngại nói năng, giao tiếp, có thái độ tự kỷ. Hơn nữa,
quy mô mỗi lớp học đông nên giáo viên ít có thời gian rèn luyện kỹ năng nói cho
từng HS. Một bộ phận giáo viên chú trọng rèn luyện kỹ năng viết, chưa có phương
pháp linh hoạt, sáng tạo để động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho HS luyện nói
hiệu quả”.
Những biểu hiện trên cho thấy chúng ta cần phải chú trọng, quan tâm tới việc
hình thành và tạo dựng cho HS những kỹ năng cần thiết khi giao tiếp cũng như khi
trình bày một vấn đề. Hiện nay, cùng với nhiệm vụ đổi mới toàn diện giáo dục, Bộ
GD & ĐT đã xác định dạy học các tri thức khoa học phải hướng tới nhiệm vụ hình
thành năng lực, các kỹ năng trong cuộc sống gắn liền với thực tế để các em có thể
có những trải nghiệm sáng tạo; hình thành con người HS toàn diện ở các phương
diện trí, thể, mĩ để các em trở thành những công dân có ích cho xã hội. Với tinh
thần trên, có thể thấy việc dạy và học các phân môn, trong đó có cả dạy học những
tri thức Làm văn đều có thể gắn với mục đích rèn luyện các kỹ năng cho HS trong
việc trình bày một vấn đề. Tuy nhiên, trên thực tế, khi khảo sát và tìm hiểu các công
trình nghiên cứu việc dạy học Làm văn nói chung, trong đó có dạy học bài “Trình
bày một vấn đề”, chúng tôi nhận thấy các công trình đó chưa chú trọng tới xây dựng
và hình thành kỹ năng giao tiếp cho HS mà mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn HS

5


biết cách tích hợp kiến thức mà chưa có sự vận dụng cụ thể và hiệu quả. Đây chính

là những gợi dẫn để chúng tôi triển khai đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng đến các mục đích sau:
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích: đưa ra công cụ rèn luyện một số kỹ năng giao
tiếp trong dạy học bài: “Trình bày một vấn đề”(SGK Ngữ văn 10) để nâng cao chất
lượng dạy và học làm văn nói chung và dạy học kiểu bài rèn luyện kỹ năng nói cho
học sinh nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp những tri thức cơ bản về kỹ năng giao tiếp và cách thức rèn luyện
kỹ năng trình bày một vấn đề.
- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Nêu ra cách vận dụng những kiến thức để thực hành kỹ năng trình bày
trong giờ Trình bày một vấn đề.
- Bước đầu kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất được nêu ra.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung vào việc đưa ra một số giải pháp và phương án phù
hợp, tích cực trong việc Rèn luyện một số kỹ năng giao tiếp cho HS trong dạy học
bài “Trình bày một vấn đề” (Ngữ Văn 10) tại trường THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Gắn với nội dung đề tài, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu là bài “Trình
bày một vấn đề”, được dạy cho HS lớp 10 - THPT. Hạn định đưa ra một số kỹ năng
và hệ thống các bài tập để rèn luyện các kỹ năng như: Kỹ năng định hướng giao
tiếp; kỹ năng lập dàn ý; kỹ năng mở đầu; triển khai; kết thúc vấn đề và sử dụng
ngôn ngữ cơ thể.

6



5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản
sau đây:
5.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phân tích - tổng hợp lý thuyết
- Hệ thống hóa các lý thuyết
- Cụ thể hóa lý thuyết
5.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phương pháp điều tra
Đây là phương pháp cơ bản nhằm khảo sát thực trạng rèn luyện kỹ năng trình
bày một vấn đề của HS THPT.
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn với các HS và GV giảng dạy các môn ở trường THPT và giáo
viên chủ nhiệm lớp nhằm tìm hiểu về cách nhìn nhận một vấn đề và trình bày vấn
đề của HS.
5.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức thống kê toán học để phân tích số liệu thu được.
6. Đóng góp của khóa luận
6.1. Về lí luận
- Phát triển các khái niệm kỹ năng, trình bày một vấn đề trong dạy học và
tiếp cận kỹ năng trình bày một vấn đề của học sinh qua các phương pháp nghiên
cứu.
- Xây dựng hệ thống lí luận về rèn luyện kỹ năng dạy học bài “Trình bày một
vấn đề”. Đề xuất được hệ thống các biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học trong
trường THPT cho học sinh với đa dạng các phương án theo những biến đổi của các
yếu tố trong quá trình dạy học, tạo nên nhiều cơ hội học tập và nâng cao thành tích
học tập cho học sinh.

7



6.2. Về thực tiễn
- Phát hiện được thực trạng nhận thức của học sinh về kỹ năng trình bày một
vấn đề.
- Phát hiện thực trạng vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức rèn
luyện kỹ năng trong bài “Trình bày một vấn đề”
- Thực nghiệm sư phạm chứng minh các biện pháp mà khoa luận đề xuất là
khả thi và áp dụng hiệu quả, có góp phần nâng cao chất lượng rèn luyện cho học
sinh.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung
của khóa luận được triển khai cụ thể thành 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
- Chương 2. Cách thức rèn luyện một số kỹ năng giao tiếp cho HS trong dạy
học bài “Trình bày một vấn đề”.
- Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

8


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Những vấn đề chung của rèn luyện kỹ năng
1.1.1. Khái niệm kỹ năng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Những định nghĩa này
thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người
viết. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành
khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kỹ năng học được do quá trình
lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có
chủ đích và định hướng rõ ràng.

Vậy kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một
hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm
tạo ra kết quả mong đợi.
* Phân loại kỹ năng
Nếu xét theo tổng quan thì kỹ năng phân ra làm 3 loại: Kỹ năng chuyên môn,
kỹ năng sống và kỹ năng làm việc. Nếu xét theo liên đới chuyên môn thì gồm: kỹ
năng cứng, kỹ năng mềm và kỹ năng hỗn hợp. Theo tính hữu ích cộng đồng bao
gồm: hữu ích và phản lợi ích xã hội. Có thể hiểu rằng kỹ năng mềm hay kỹ năng
sống cũng chỉ là một nhóm kỹ năng với tên gọi khác nhau. Chúng ta cũng nhận thấy
rằng kỹ năng mềm hay kỹ năng sống là những nhóm kỹ năng thiết yếu giúp cho chủ
thể tồn tại và thăng hoa trong cuộc sống.
1.1.2. Quá trình rèn luyện kỹ năng
Không giống với kiến thức, chúng ta không thể có được kỹ năng thông qua
việc đọc đơn thuần. Khi tập đi xe đạp, nếu chỉ đọc tài liệu, đọc những hướng dẫn về
thao tác thì mãi vẫn không thể đi được xe. Muốn tăng kiến thức, chúng ta cần đọc.
Muốn tăng kỹ năng, chúng ta cần rèn luyện. Kỹ năng là khả năng thực hiện một tập
hợp các động tác chuẩn, thao tác chuẩn và cấu trúc chuẩn tạo kết quả xuất sắc vượt
trội gấp nhiều lần người không có kỹ năng.

9


Với từng người làm việc ở từng ngành nghề khác nhau ở nhiều vị trí khác
nhau sẽ có những nhu cầu rèn luyện từng kỹ năng khác nhau.
Trên thế giới có rất nhiều phương pháp giúp ta học tập và phát triển. Tuy
nhiên kỹ năng cơ bản nhất là “kỹ năng rèn kỹ năng” thì lại chưa có một quy trình
chuẩn, cơ bản nào để áp dụng rộng rãi. Mới đây, Tâm Việt đã nghiên cứu mô hình
rèn luyện kỹ năng dựa trên nền tảng năng lực bộ nhớ con người và thuyết âm dương
ngũ hành. Với 5 thành tố ứng với Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy tương ứng với Tăng
cấp, Tập luyện, Thông tuệ, Thói quen, Thưởng - phạt. Mô hình được thể hiện như

sau:
* Tăng cấp
Trong giai đoạn này ta phải tưởng tượng và thiết kế những động tác, thao tác,
cấu trúc chuẩn. Ngoài ra chúng ta cũng cần phải thiết kế các động tác, hoạt động hỗ
trợ để giúp cho việc tập luyện kỹ năng được hiệu quả. Nhờ có quá trình tổng hợp,
thiết kế nên một cấu trúc cơ bản, khi thực hiện bạn dễ dàng thực hiện nó tập trung
vào những hành động hiệu quả có ích cho việc hình thành kỹ năng cho công việc
đó, hạn chế thời gian hao phí bởi những hành động thừa mà không hiệu quả.
* Tập luyện
Sau khi chúng ta đã có một tập hợp các động tác, thao tác, cấu trúc chuẩn
được thiết kế vượt trội, việc tiếp theo đó là tập luyện. Tập luyện là đầu tư thời gian,
công sức cho công việc mới, cấp độ vừa được tăng lên. Tập luyện thì phải đảm bảo
độ chính xác các động tác, thao tác và cấu trúc cơ bản. Ngoài ra chúng ta cần phải
đảm bảo một điều nữa là tập luyện liên tục và đúng giờ.
* Tinh thông
Khi quá trình tập luyện đúng chuẩn và đủ về thời gian, tần suất thì các động
tác, thao tác, cấu trúc cơ bản trở thành các phản xạ cận bản năng. Nghĩa là các động
tác đó được thực hiện một cách tự nhiên mà không cần đến sự điều khiển của lý trí.
Mỗi khi gặp những tình huống cụ thể hoặc não bộ tiếp nhận những thông tin cụ thể
phù hợp thì các động tác, thao tác, cấu trúc cơ bản đó sẽ được tự động kích hoạt

10


phối hợp với nhau tạo thành kỹ năng thực hiện một tác vụ cụ thể. Điều đó gọi là
tinh thông.
Tinh thông nghĩa là làm không cần nghĩ, thành phản xạ tự nhiên. Hiểu bản
chất, phân tích và tập kỹ để nâng tầm lên một mức cao hơn hẳn người bình thường.
Để có được thông tuệ thì phải tập luyện một cách quyết liệt, nhuần nhuyễn. Tinh
thông là có thể làm việc một cách máy móc, tự động, không tư duy, không tính toán

và có thể làm việc khác được. Tinh thông chính là việc lưu giữ các tiến trình thực
hiện kỹ năng vào bộ nhớ tiến trình trong bộ nhớ dại hạn của con người. Mỗi khi
thực hiện thì chỉ cần lấy và và thực hiện một cách chuẩn xác không cần sự can thiệp
của tư duy.
* Tính cách
Việc rèn luyện để biến các kỹ năng đã tinh thông thành thói quen hàng ngày
sẽ giúp chúng ta có được kết quả xuất sắc vượt trội. Thói quen là khi ta làm một
việc gì đó đến độ không phải nghĩ làm nó như thế nào nữa mà cứ bắt tay vào là làm
được trôi chảy dễ dàng. Việc biến một công việc rèn luyện thành thói quen như nhu
cầu thiết yếu của mỗi người, khi ta không làm thì bản thân mình không chịu nổi.
Việc rèn luyện sẽ biến thói quen thành nhu cầu thiết yếu và gần như bản năng. Ta
tạo ra thói quen và rồi thói quen tạo ra ta.
Như vậy việc biến các kỹ năng đã tinh thông thành thói quen để trở thành
một phần của tính cách là một việc làm cực kỳ quan trọng để nâng cao năng suất
làm việc và chất lượng cuộc sống.
* Thúc đẩy
Con người có các bậc nhu cầu khác nhau. Chúng ta có thể rèn luyện các kỹ
năng để sinh tồn và chúng ta cũng có thể rèn các kỹ năng để được người khác công
nhận, được người khác tôn trọng hoặc cao hơn nữa là để thể hiện chính mình. Khi ta
thực hiện một việc gì đó đạt kết quả thì chúng ta luôn có nhu cầu được công nhận.
Chính vì vậy trong quá trình học tập và rèn luyện kỹ năng thì quá trình công nhận
và thưởng cho các thành tích, thành công trong từng giai đoạn hoặc cả quá trình là
không thể thiểu. Tuy nhiên trong công việc cũng như trong cuộc sống, có thưởng thì

11


cũng cần có phạt. Thưởng giúp con người ta vươn lên, phạt giúp con người ta đứng
vững. Trong quá trình này chúng ta lại tiếp tục đánh giá tưởng tượng và thiết kế
“tăng cấp” rồi “tập luyện” để “tinh thông” rồi tạo thành “tính cách” và liên tục “thúc

đẩy” hợp lý để có được các kỹ năng xuất sắc vượt trội.
1.1.3. Cơ sở tâm lý học của việc rèn luyện kỹ năng
Xuất phát từ cấu trúc chung của mọi hoạt động trong triết học Mác - Lênin
với vai trò nổi bật của công cụ và tính chất gián tiếp của hoạt động đến đối tượng
thông qua công cụ, các nhà tâm lý học đã xây dựng nên nguyên tắc gián tiếp của
hoạt động tâm lý thông qua công cụ với nhận định : “Trong các quá trình tâm lý
con người, có thể tìm ra phần gián tiếp đóng vai trò công cụ tâm lý đặc thù”.
Từ đó phạm trù tâm lý chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống tâm lý học của
LX.Vuwgosky.
Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xác định cấu trúc của rèn luyện
kỹ năng, theo đó cấu trúc rèn luyện kỹ năng có thể được xem là mối quan hệ tác
động qua lại giữa ba thành tố “Cán bộ hướng dẫn - Rèn luyện kỹ năng - Học sinh”
diễn ra trong không gian trường THPT, với vai trò chủ thể của cán bộ hướng dẫn và
tính chất biến đổi của kỹ năng, môi trường học tập và học sinh thể hiện qua trình độ
và cách tiếp thu kiến thức.
Trong tâm lý học, kỹ năng được coi như một loại hoạt động. Hoạt động này
diễn ra trong mối quan hệ người - người nhằm mục đích thiết lập sự hiểu biết lẫn
nhau và làm thay đổi mối quan hệ lẫn nhau, nhằm tác động đến tri thức, tình cảm và
nhân cách, đó là sự tác động trực tiếp người - người diễn ra trong mối quan hệ đó.
Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Petrovxki: “Kỹ năng là giai đoạn nắm
vững cách hành động dựa trên quy tắc nào đó và hành động phù hợp với quy tắc ấy
trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đã xác định”.
Tác giả A.V. Petrovxki cho rằng: “Kỹ năng là cách thức hành động dựa trên
cơ sở tổ hợp những tri thức và kỹ xảo. Kỹ năng được hình thành bằng con đường
luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều
kiện quen thuộc mà ngay cả trong điều kiện thay đổi”.

12



Giảng viên Nguyễn Quốc Vỹ: “Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện
có hiệu quả một công việc để đạt được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và
áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương
tiện nhất định”.
A.Leonchiev coi: “Rèn luyện kỹ năng là một hệ thống những quá trình có
mục đích, có động cơ bảo đảm cho sự tương tác giữa người này với người khác
trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm
lý và sử dụng phương tiện đặc thù”.
Panighin - nhà tâm lý học người Nga định nghĩa: “Kỹ năng là một quá trình
quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa con người với
con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi kinh
nghiệm cho nhau”.
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về kỹ năng nhưng nhìn chung có thể thống
nhất kỹ năng là sự tiếp xúc tâm lý giữa người - người với các đặc trưng sau:
- Kỹ năng là một quá trình trao đổi thông tin, bất cứ kỹ năng nào cũng có sự
trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, kinh nghiệm giữa người này với người kia.
- Kỹ năng là một quá trình tương tác tâm lý hiểu biết lẫn nhau.
1.2. Cơ sở giáo dục trong rèn luyện kỹ năng
Các nhà Giáo dục học phân tích kỹ năng thành hai loại: Kỹ năng bậc một và
kỹ năng bậc hai.
Kỹ năng bậc một là kỹ năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp
với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù là hành
động cụ thể hay hành động trí tuệ. Loại kỹ năng này thông qua luyện tập đến mức
hoàn hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hoá không cần có sự hiện
diện của ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít thì biến thành kỹ xảo.
Kỹ năng bậc hai là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành
thạo, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với những mục tiêu trong những điều kiện khác
nhau. Trong kỹ năng bậc hai yếu tố linh hoạt sáng tạo là yếu tố cơ bản, đó là cơ sở
cho mọi hoạt động đạt hiệu quả cao.


13


Để hiểu rõ về khái niệm kỹ năng chúng ta cần phân biệt nó với khái niệm kỹ
xảo. Kỹ năng và kỹ xảo đều là cách thức của hành động, là thành phần không thể
thiếu của hành động, song giữa chúng có những khác biệt cơ bản như sau:
Bảng : So sánh giữa kỹ năng và kỹ xảo
Một số tiêu chí

Kỹ năng

Kỹ xảo

Độ linh hoạt, sáng tạo

Thấp, máy móc, khuôn mẫu

Cao

Sự tham gia của ý thức

Ý thức được giải phóng

Có sự tham gia của ý thức

Thời gian xuất hiện

Có trước

Có sau


Các tri thức và kỹ năng

Các tri thức và kỹ xảo, rèn

Cơ sở hình thành

nguyên sinh, luyện tập có ý luyện trong hoạt động có ý
thức dẫn đến tự động hoá
Từng bước phức tạp dần

Điều kiện hình thành

trong những điều kiện khác
nhau

thức
Trong điều kiện, yêu cầu
nhất định không thay đổi

Qua so sánh ở bảng này chúng ta phân biệt rõ sự khác nhau giữa kỹ năng và
kỹ xảo. Kỹ năng được hình thành và phát triển là dựa trên cơ sở của tri thức và kỹ
xảo. Qua nghiên cứu, tôi đưa ra định nghĩa sau: “Kỹ năng là hệ thống các thao tác,
những cách thức hành động phù hợp để thực hiện có kết quả một hoạt động dựa trên
những tri thức nhất định”.
Rèn luyện kỹ năng là một trong những hình thức giáo dục thích hợp và đạt
hiệu quả cao. Việc rèn luyện kỹ năng được sử dụng ngày càng phổ biến trong các
lĩnh vực: giáo dục, kinh tế, bồi dưỡng tinh thần.
Rèn luyện kỹ năng là một hình thức tự giáo dục có hiệu quả. Khi có kỹ năng
người nói (người viết) phải suy nghĩ thể hiện quan điểm và bảo vệ cho quan điểm

của mình. Trước, trong và sau khi trình bày trong ý thức của người viết luôn diễn ra
quá trình suy nghĩ, đặt vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề. Đây chính là điều kiện
để họ tự hoàn thiện cả về nhận thức và hành động. Mặc khác đối tượng để người nói

14


trình bày thể hiện kỹ năng của mình khá là rộng rãi vì vậy muốn trình bày vấn đế
phải có sự chuẩn bị chu đáo từ cách suy nghĩ, sắp xếp từ ngữ, logic đến cách trình
bày ý tưởng, lập luận, dẫn chứng. Quá trình này giúp người nghe người nói nhận
thức và có những điều chỉnh hợp lý. Đây là con đường giáo dục hiệu quả nhất mà
ngành giáo dục đang tiến đến.
1.3. Kỹ năng giao tiếp
1.3.1. Khái niệm
- Kỹ năng giao tiếp: Là khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu hiện bên
ngoài và diễn biến tâm lí bên trong, đồng thời biết sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn
ngữ, biết cách định hướng và điều khiển quá trình giao tiếp đạt được mục đích nhất
định.
1.3.2. Các kỹ năng giao tiếp
- Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng chủ đạo của
chiến lược dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông. Hiện nay các nước trên thế
giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một căn cứ để hình
thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực giao tiếp gồm bốn
kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết.
1.3.2.1. Kỹ năng nghe.
- Nghe là hoạt động tiếp nhận thông tin bằng thính giác. Nghe một cách có ý
nghĩa là nghe và hiểu được nó, phản hồi được một cách sáng tạo cái điều chúng ta
nghe thấy. Như vậy nghe không phải là hoạt động thụ động mà là một kỹ năng cần
sử dụng để nhận biết nội dung, mục đích, ý đồ của người nói. Có ba cách nghe khác
nhau: nghe chủ động, nghe thụ động, nghe với định kiến.

- Những kỹ năng cần rèn luyện khi nghe:
+ Biết phát hiện những vấn đề chính.
+ Biết ghi nhanh, ghi đúng, ghi đầy đủ.
+ Duy trì sự chú ý liên tục trong suốt quá trình nghe.
1.3.2.2. Kỹ năng nói.

15


- Nói là hoạt động tạo lập ngôn bản bằng lời. Nói một cách có ý nghĩa là nói
với sự hiểu biết của mình về một kinh nghiệm hay sự việc nào đó mà người nghe
hiểu được điều mình muốn nói. Hoạt động nói chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
Nhân vật giao tiếp, đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp...
- Những điều kiện để nói hiệu quả:
+ Nội dung bài nói tốt.
+ Hiểu biết sâu rộng, kĩ càng về nội dung cần trình bày.
+ Xác định đúng đối tượng nói và mục đích nói.
+ Người nói phải có uy tín.
+ Giọng nói tốt.
- Những kỹ năng cần rèn luyện khi nói:
+ Xác định đúng nội dung cần trình bày.
+ Biết giao tiếp với người nghe, biết tuân thủ những nguyên tắc giao tiếp
bằng ngôn ngữ.
+ Biết làm chủ lời nói của mình, cần khiêm tốn, thẩn trọng, trách nhiệm,…
+ Biết sử dụng ngôn ngữ nói một cách tinh tế (nói uyển chuyển, khi dí dỏm,
khi vui tươi,…).
1.3.2.3. Kỹ năng đọc.
- Đọc là hoạt động tiếp nhận thông tin bằng mắt và có hoặc không sử dụng bộ
máy phát âm. Trong nhà trường, HS đọc các tài liệu học tập, qua việc tiếp xúc với
các loại văn bản trong chương trình học, vốn kiến thức ngôn ngữ, văn học, khoa

học, nghệ thuật,... của HS cũng sẽ tăng dần lên. Vốn từ vựng và ngữ pháp của các
em ngày một phong phú, vững vàng, có tác dụng tích cực cho việc rèn luyện tư duy,
rèn kỹ năng diễn đạt gọn gàng, trong sáng.
- Các dạng đọc: Đọc thầm, đọc thành tiếng, đọc đồng thanh và đọc diễn cảm…
- Các kỹ năng đọc cần rèn luyện:
+ Biết nắm bắt nhanh chóng tư tưởng cơ bản của một tác phẩm văn học nghệ
thuật.
+ Biết vận dụng các loại ngữ điệu vào việc đọc.

16


+ Biết sử dụng cường độ của giọng đọc một cách hợp lí.
+ Biết sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (tư thế, nét mặt, cử chỉ,…).
1.3.2.4. Kỹ năng viết.
- Viết là hoạt động tạo lập ngôn bản bằng chữ viết. Viết một cách có ý nghĩa là
viết để trao đổi những ý kiến, suy nghĩ, những nội dung thông tin nào đó.
Trước khi viết cần chú ý: Viết về chủ đề gì? Viết nhằm mục đích gì? Viết như
thế nào? Nên cho học sinh tập nói trước khi viết thành bài. Cần xây dựng dàn ý: Đặt
vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề. Cần giúp học sinh sử dụng được các
kiểu câu, các loại văn bản .
Như vậy, những kỹ năng này luôn đi cùng nhau và hỗ trợ cho nhau. Trong đó kỹ
năng nói liên quan chặt chẽ với kỹ năng nghe, đọc, viết. Muốn nói và viết tốt người
nói cần có kỹ năng tiếp nhận thông tin (nghe, đọc). Kỹ năng nói hiệu quả là khả
năng biểu đạt bằng lời nói, là một loại năng lực được thể hiện qua khẩu ngữ để
truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình cảm một cách chính xác, sinh động, có
sức thuyết phục. Kỹ năng nói được quyết định bởi 3 yếu tố: sự phát âm, khả năng
diễn đạt và sự phát âm chính xác. Sự phát âm có các đặc trưng về: cao độ, trường
độ, cường độ. Khả năng diễn đạt liên quan đến cách phát âm và sự cố bất cẩn trong
khi nói cũng như điểm mạnh và yếu của tiếng địa phương. Phát âm chính xác liên

quan đến từ khó phát âm, phát âm lẫn lộn một số chữ ở các vùng lấy tiếng phổ
thông của một quốc gia làm chuẩn. Sử dụng ngôn từ tốt sẽ giúp truyền đạt thông tin
và giải quyết công việc nhanh chóng, hiệu quả. Nó tạo mối quan hệ tốt đẹp trong
giao tiếp, giúp con người nâng cao uy tín bản thân, tự khẳng định và là công cụ ảnh
hưởng đối với người khác.
1.4. Trình bày một vấn đề
1.4.1. Khái niệm
- Có nhiều tình huống trong đời sống đòi hỏi chúng ta phải tham gia phát
biểu hoặc trình bày một vấn đề. Trình bày một vấn đề là dùng ngôn ngữ nói nhằm
truyền đạt thông tin, nêu lên suy nghĩ và bày tỏ thái độ, tình cảm của mình trước
mọi người về một vấn đề nào đó đang đặt ra trong cuộc sống.

17


1.4.2. Những yêu cầu cơ bản của trình bày một vấn đề
- Muốn trình bày một vấn đề tốt trước hết chúng ta cần làm dàn ý, đề ra mục
đích, đối tượng và trình bày như thế nào. Bên cạnh nội dung trình bày, người trình
bày phải vượt qua nỗi sợ hãi, tự tin trước đám đông và biết cách thu hút người đối
diện.
- Các bước chuẩn bị để trình bày một vấn đề.
+ Xác định đề tài và đối tượng
+ Xác định nội dung cơ bản và phạm vi tư liệu
+ Lập đề cương cho bài phát biểu, trình bày theo bố cục ba phần:
\ Mở đầu: Nêu vấn đề
\ Nội dung cơ bản: Lần lượt trình bày những nội dung chính của vấn đề
\ Kết thúc: Tóm tắt, khẳng định và mở rộng vấn đề đã trình bày.
- Khi trình bày cần lần lượt tiến hành các công việc: Bắt đầu (tâm thế, tư thế, lời
chào); lần lượt trình bày các nội dung chính một cách lôgic và lôi cuốn; cuối cùng là
phần kết thúc và lời cảm ơn người nghe.

- Để bài nói đạt được hiệu quả như ý muốn, người trình bày nhất thiết phải chú ý
đến các yếu tố như: khẩu ngữ giao tiếp, âm thanh lời nói, cử chỉ, điệu bộ.
1.4.3. Tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề
Kỹ năng trình bày một vấn đề là một tập hợp những quy tắc, nghệ thuật, cách
bày tỏ quan điểm chứng kiến của mình về một vấn đề, đối đáp được đúc rút qua
kinh nghiệm thực tế hằng ngày. Có thể nói kỹ năng trình bày một vấn đề đã được
nâng lên thành nghệ thuật bởi trong bộ kỹ năng này có rất nhiều kỹ năng nhỏ khác
như kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể, kỹ năng sử
dụng ngôn từ, âm điệu… Để có được kỹ năng trình bày một vấn đề tốt đòi hỏi
người sử dụng phải thực hành thường xuyên, áp dụng vào mọi hoàn cảnh mới có thể
cải thiện tốt kỹ năng của mình.
Kỹ năng trình bày một vấn đề là một kỹ năng sống quan trọng nhất trong cuộc
đời mỗi người từ học sinh – sinh viên, người đi làm, chủ doanh nghiệp, bà nội trợ,
đến ông bà, cha mẹ, mọi đối tượng cần có kỹ năng khéo léo, ứng xử hiệu quả trong

18


các tình huống của cuộc sống, và xã hội. Khi trình bày một vấn đề với người nghe
cần ăn nói trung thực, thẳng thắn, thuyết phục, lịch sự và suy nghĩ trước khi
nói…Vì vậy tầm quan trọng của kỹ năng trình bày một vấn đề chính là chìa khóa
thành công và hạnh phúc. Chúng ta cần phải rèn luyện kỹ năng này nếu muốn đạt
được những kỹ năng cao hơn như: nói trước công chúng, dẫn chương trình hay diễn
thuyết.
Trình bày còn là yếu tố quan trọng trong giao tiếp ứng xử thuyết phục, hiệu
quả. Vì vậy, kỹ năng trình bày rất cần thiết cho mỗi cá nhân.
Kỹ năng trình bày một vấn đề được rèn luyện ở những cấp bậc cao hơn thì kỹ
năng hoàn toàn có thể nâng cao khả năng thuyết phục và tạo ra một sức hút mãnh
liệt với người nghe từ đó mang lại những kết quả tốt nhất cho công việc sự nghiệp
của mình.

1.5. Cơ sở thực tiễn
1.5.1. Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học kỹ năng trình bày một vấn đề cho
học sinh THPT
Để đánh giá đúng thực tế thực trạng dạy học bài “Trình bày một vấn đề”,
chúng tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò điều tra (nội dung câu hỏi thể hiện ở phụ
lục 1), phỏng vấn, dự giờ GV qua hoạt động giảng dạy Ngữ văn. Thông qua việc
điều tra chúng tôi thu được một số kết quả sơ bộ, cụ thể như sau:
 Phát phiếu thăm dò ý kiến GV
Trước hết, chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của GV thông qua các phiếu
thăm dò. Phiếu điều tra gồm 10 phiếu, được phát cho GV tổ Văn, trường THPT
Nguyễn Huệ. Sau khi tiếp nhận ý kiến của đội ngũ GV, chúng tôi tổng hợp được kết
quả như sau:
* Đánh giá kết quả sơ bộ:
Câu 1: Chúng tôi nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau về tầm quan trọng
của bài rèn luyện kỹ năng trình bày một vấn đề, song đa số các ý kiến đó vẫn có
những quan điểm chung cho rằng: Bài học rèn luyện kỹ năng trình bày một vấn đề
ngoài việc truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng còn có tầm quan trọng đặc

19


×