Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Một số kinh nghiệm giúp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (133.98 KB, 25 trang )

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

Mục lục
1. Mở đầu

1

1.1. Lí do chọn đề tài.

1

1.2 Mục đích nghiên cứu.

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu.

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu.

2

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

3

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.



3-4

2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

4-5

2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm và các giải pháp đã sử dụng

5-18

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

18-19

3. Kết luận, kiến nghị

20

3.1. Kết luận.

20

3.2. Kiến nghị.

20

Tài liệu tham khảo
Phụ lục.


1


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Sinh thời Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến giáo dục toàn diện, với sự cân bằng cả
về giáo dục đức lẫn tài và mối quan hệ giữa hai mặt đó trong sự hoàn thiện nhân cách
của con người mới – con người xã hội chủ nghĩa. Người từng dạy: "Trong việc giáo
dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ
nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất". Đồng thời Người còn chỉ rõ: “Việc
giáo dục gồm có: đức, trí, thể, mỹ”. Nền giáo dục toàn diện ngày nay chúng ta hướng
tới không nằm ngoài lời dạy của Người, thể hiện qua sự vận dụng sáng tạo kết hợp với
chắt lọc sự tiên tiến của các nền giáo dục trong khu vực và trên thế giới.
Tư tưởng giáo dục toàn diện của Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho chúng ta thấy được mô
hình chung của con người phải đào tạo trên những định hướng chính về các mặt phẩm
chất và tài năng cùng mối liên hệ giữa các mặt đó với nhau để cùng hoàn thiện nhân
cách. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược con người cho thế
kỷ XXI, trước mắt là đến năm 2020, trong đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định nòng
cốt thực hiện là ngành Giáo dục và Đào tạo. Tư tưởng về giáo dục của Bác đã được
Đảng ta thể hiện và cụ thể hóa rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp làm công tác giáo dục đạo đức, hình thành và
hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Do đó để đạt được mục tiêu của giáo dục toàn diện
thì người GVCN đóng một vai trò rất quan trọng, không những cần một người GVCN
có những kinh nghiệm, phương pháp giáo dục tốt, có trình độ chuyên môn giỏi… mà
còn cần một người GVCN có nhân cách đạo đức tốt vì đây là yếu tố ảnh hưởng lớn
đến sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của các học sinh.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “ Một số kinh nghiệm giúp làm tốt công tác chủ nhiệm

lớp ở trường trung học phổ thông ” đẻ nghiên cứu và trao đổi với đồng nghiệp.

2


1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về vai trò của GVCN trong công tác giáo
dục học sinh nhằm để đưa ra được kế hoạch cụ thể với các giải pháp sát thực tế với
điều kiện hoàn cảnh của lớp,của trường làm cho chất lượng giáo dục toàn diện học
sinh ở trường phổ thông được năng lên.
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cưú về vai trò của GVCN ở trường phổ thông qua các văn bản luật, văn bản
giáo dục, các tư liệu và các sách vở...Học hỏi và tham khảo ý kiến của các đồng chí
GVCN có uy tín trong trường;
+ Trên cơ sở đó vạch ra được kế hoạch cụ thể, với các giải pháp và biệp pháp cụ thể
cho lớp mình phụ trách;
+ Thực hiện kế hoạch đã vạch ra đối với lớp mình đang phụ trách chủ nhiệm và từ đó
rút ra những việc đã đạt được, những việc còn tồn tại để điều chỉnh và bổ sung cho kế
hoach hoàn thiện dần.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác chủ nhiệm ở các khối lớp trong trường THPT, cụ
thể là trường THPT Đinh Chương Dương.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác chủ nhiệm trên các lớp: 12A 3 (2010
-2011) và 12C4 (2013-2014)
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Các tài liệu về đổi mới giáo dục
+ Giáo trình, sách của nhà lí luận viết về công tác chủ nhiệm;
+ Tài liệu, Tạp chí...

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Quan sát, đàm thoại, trao đổi, khảo sát...;
+ Điều tra từ thực tiễn và thu thập thông tin;

3


+ Tổng kết kinh nghiệm, đúc rút bài học giáo dục.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ như: Thống kê, tổng hợp, xử lý số liệu…
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện theo tinh thần của Nghị quyết số 29NQ/TW của Đảng ta, trong những năm gần đây cùng với vịêc đổi mới chương trình
giảng dạy các môn học, triển khai và vận dụng nhiều phương pháp mới vào giảng
dạy...thì việc giáo dục học sinh cũng đang được chú trọng và quan tâm nhiều hơn.
Vai trò của GVCN trong công tác giáo dục học sinh, đặc biệt là đối với học sinh lứa
tuổi THPT lại càng quan trong. Vì đây là lứa tuổi vủa phải thay đổi môi trường giáo
dục (từ THCS lên THPT), lứa tuổi mà ở đó đặc điểm sinh lí đang phát triển, trí tuệ
biến đổi cả về chất và lượng, nhân cách đạo đức đang tiếp tục phát triển và hoàn thiện.
Các phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của con người nói chung, học sinh nói
riêng được hình thành và phát triển trong các môi trường: gia đình, nhà trường và xã
hội. Trong đó thì nhà trường được xem là trọng tâm, chủ động, định hướng trong việc
giáo dục. Nhà trường chính là môi trường giáo dục toàn diện nhất là cơ quan nhà nước
thực hiện chức năng giáo dục một cách hệ thống nhất, là nơi hội tụ đủ những yếu tố về
giáo dục toàn diện, đặc biệt là nơi có những người Cha, người Mẹ thứ hai của các em
học sinh - đó là người Thầy người Cô làm công tác chủ nhiệm lớp.
Trước hết, chúng ta cần hiểu và nắm rõ vai trò và nhiệm vụ của người giáo viên chủ
nhiệm (GVCN) lớp: GVCN phải là giáo viên dạy bộ môn ở lớp; GVCN phải cùng với
giáo viên bộ môn và các lực lượng giáo dục khác chịu trách nhiệm chính trong việc
hình thành nhân cách cho học sinh; GVCN phải là người biết tổ chức, quản lý, điều
phối các hoạt động trong lớp; GVCN phải cố vấn cho tập thể học sinh và Ban chấp

hành Đoàn trong lớp; GVCN phải dạy và tổ chức các hoạt động trong học tập và ngoài
giờ của học sinh; Phải nắm vững kế hoạch giảng dạy, giáo dục lao động hướng nghiệp
của nhà trường và xã hội qua các giờ hoạt động ngoài giờ lên lớp; Làm trung tâm, hạt
nhân trong việc xây dựng quan hệ thầy trò; Cố vấn cho học sinh xây dựng lớp học

4


thành một đơn vị tập thể mang tính chất giáo dục toàn diện, phát huy khả năng tự giác
tự quản của học sinh; Hiểu rõ từng đối tượng học sinh trong lớp và có phương pháp
giáo dục thích hợp, nhất là với những em đặc biệt hoặc có hoàn cảnh đặc biệt; Chủ đạo
trong việc phối kết hợp các lực lượng giáo dục; Nhận định, đánh giá chính xác học
sinh; Chịu sự chỉ đạo thống nhất về công tác chủ nhiệm của nhà trường.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn ở một số trường TH nói chung và trường THPT nói
riêng thì vai trò của người GVCN chưa được nhà trường quan tâm, chăm lo một cách
tương xứng, chưa thật chú tâm nhiều đến việc lựa chọn, bồi dưỡng...chuyên môn
nghiệp vụ cho đội ngũ GVCN. Nhưng nguy hiểm hơn là vẫn còn có nhiều GVCN
chưa nắm rõ vai trò, chức năng, quyền hạn...của mình nên dẫn đến có nhiều quan niệm
sai lầm trong nhận thức về vai trò của GVCN chưa đúng với các văn bản luật cũng
như các văn bản quản lí giáo dục quy định và thậm chí có cả có những phương pháp
giáo dục lỗi thời chưa theo kịp với mục tiêu của giáo dục toàn diện hiện nay...Dẫn đến
vẫn còn tồn tại chuyện các giáo viên chủ nhiệm nóng nảy mất bình tĩnh, thậm chí có
những lời nói xúc phạm học sinh, những hành động sai lầm lớn như: chửi học sinh,
đánh học sinh, đuổi các em ra khỏi giờ học, vứt và xé sách vở của các em... Rồi vẫn
tồn tại những cách giáo dục quá sai lầm như: bắt học sinh viết nhiều lần một bản kiểm
điểm, bắt học sinh quỳ trước lớp, bắt học sinh hít đất nhiều lần ngoài sân thể dục... khi
học sinh vi phạm. Điều đó đã làm học sinh bị xúc phạm quá, làm xuất hiện tình trạng
học sinh chán học rồi bỏ học, có em bi quan dẫn đến làm những điều dại dột, tồi tệ
hơn là có những GVCN bị học sinh chặn đường đánh, bị gia đình học sinh đánh hoặc

nhờ người khác vào trường gây gỗ và đánh giáo viên... Ngược lại, có những Thầy Cô
giáo chủ nhiệm quá dễ dãi với học sinh, buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm với học
sinh, với tập thể lớp để cho một số học sinh hư hỏng và kéo theo nhiều học sinh khác
theo đà...Bên cạnh đó cũng còn có một số không nhỏ GVCN còn thiếu kinh nghiệm và
phương pháp chủ nhiệm, đặc biệt là phương pháp giáo dục học sinh dẫn đến việc vận
dụng thiếu linh hoạt, cứng nhắc hoặc không phù hợp cho từng đối tượng học sinh nên

5


cũng làm cho việc giáo dục không đem lại hiệu quả, thậm chí làm cho tình hình nền
nếp và đạo đực học sinh của lớp ngày càng xấu đi.
Bản thân tôi đang trực tiếp giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm nhiều năm tại một
trường đi lên từ truòng bán công với gần như số học sinh vào trường đều có kiến thức
về các môn học rất yếu, hoàn cảnh kinh tế gia đình đa số là nông nghiệp dẫn đến Bố
Mẹ phải lo kiếm tiền nuôi sống gia đình nên ít có thời gian quan tâm đến con cái, lại
có nhiều Bố Mẹ phải bỏ quê đi làm ăn xa để các em ở nhà một mình hoặc với ông bà,
cũng có nhiều gia đình khá giả nên Bố Mẹ quá chiều chuộng con ...dẫn đến đa số các
em vào trường có đạo đức lối sống, lời ăn tiếng nói, ý thức chấp hành kỷ luật chưa tốt,
có nhiều em có cuộc sống tự do, buông thả không coi ai ra gì...Hơn nưa mấy năm gần
đây, tôi được nhà trường giao nhiệm vụ chủ nhiệm lại các lớp có nhiều học sinh hư cá
biệt, nề nếp của lớp rất yếu.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm mục đích trao đổi với đồng
nghiệp một số kinh nghiệm giúp làm tốt công tác chủ nhiệm và học hỏi thêm một số
kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm với các đồng nghiệp, giúp bản thân mình được
hoàn thiện hơn trong công tác chủ nhiệm, đặc biệt là giáo dục học sinh.
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm và các giải pháp đã sử dụng:
2.3.1. Những yêu cầu sư phạm cần có ở người GVCN để thành công trong công
tác chủ nhiệm lớp: Theo tôi người GVCN cần có itsa nhất 4 yêu cầu sư phạm sau:
- Người GVCN lớp phải là người có lí tưởng nghề nghiệp đúng đắn.

Điều này, giúp người GVCN có niềm tin hơn vào nghề nghiệp và đó chính là động
lực giúp họ dám nghĩ, giám làm một cách chủ động sáng tạo trong quá trình tổ chức và
giáo dục học sinh.Đặc biệt là chúng ta cần có niềm tin nhất định vào học sinh của
mình, điều đó sẽ tạo cho chúng ta một sức mạnh cảm hoá học sinh, đặc biệt là đối với
những học sinh cá biệt.
- Người GVCN cần có chuyên môn vững vàng, có “ tay nghề “ cao.
Có thể nói đây là một những yếu tố quyết định cho sự thành công hay thất bại của
công tác chủ nhiệm. Vì có kiến thức chuyên môn vững vàng để giảng dạy tốt thì học

6


sinh mới phục và nghe theo sự giáo dục của chúng ta. Đồng thời trình độ chuyên môn
càng vững vàng bao nhiêu thì càng làm cho chúng ta tự tin hơn để chủ động và sáng
suốt tìm tòi được các biện pháp giáo dục học sinh có hiệu quả nhất. Hơn nữa xã hội
ngày càng phát triển, học sinh ngày càng thông minh hơn nên đòi hỏi nhiều hơn ở
người Thầy, người Cô của mình.
Chính vì thế, người GVCN cần tự học tập, nghiên cứu để nắm vững hệ thống tri thức
khoa học liên quan đến môn học mình dạy, các tri thức về chính trị xã hội....Và đòi hỏi
ở người GVCN cần có được các kỹ năng nền tảng và chuyên biệt không, đó là: Kỹ
năng thiết kế, kỹ năng tổ chức, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng hoạt động xã
hội...Điều này đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm phải không ngừng trau dồi, kiểm
nghiệm chúng trong thực tiễn giáo dục để từ đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh cho phù
hợp với từng đối tượng, từng hoàn cảnh cụ thể.
- Người GVCN cần có sự khéo léo trong ứng xử sư phạm, phải có uy tín đối với học
sinh và với cha mẹ học sinh.
Sự khéo léo trong ứng xử sư phạm đòi hỏi người GVCN cần hiểu rõ tâm lý học lứa
tuổi học sinh, đặc biệt nắm chắc tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT hiện nay, hiểu
được những điều đang diễn ra trong tâm hồn các em lúc này, phải hiểu rằng học sinh ở
lứa tuổi này thích hoạt động. Điều này có được không chỉ nhờ việc học tập trên sách

vở mà cần xuất phát từ lòng yêu nghề mến trẻ, yêu thương và tôn trọng học sinh thực
sự, từ đó giáo viên mới gần gũi học sinh để tìm hiểu, để hoà đồng và chia sẻ với các
em nhiều hơn, tạo cho các em sự thân thiện, sự cởi mở trong giao tiếp. Song để thực
hiện tốt công việc này cần đòi hỏi ở người GVCN những đức tính quý báu như sự
kiềm chế, chur động và kiên nhẫn trong mọi tình huống. Giống như A.X Macarenco đã
nói “ uy tín của người giáo viên không phải nhờ các thủ thuật giả tạo nào đó, mà nó là
toàn bộ cuộc sống của người Thầy, là hành vi hàng ngày của họ ”
- Người GVCN nói riêng và mọi người giáo viên nói chung cần phải thực sự gương
mẫu, thực sự là tấm gương cho học sinh noi theo: Yêu cầu này thật sự phù hợp với
câu nói “ Nghề dạy học là nghề lấy nhân cách để giáo dục nhân cách ”. Do đó đòi hỏi

7


người GVCN phải thể hiện mình như một nhân cách toàn diện và thể hiện từ trong
nhận thức đến hành động thực tiễn, từ lời nói, cử chỉ, điệu bộ, trang phục đến thái độ
ứng xử hàng ngày.
Người GVCN thật sự gương mẫu, có uy tín và được học sinh kính trọng là một tấm
gương để các em học tập noi theo và đó là chỗ dựa vững chắc để các em có thể tâm sự,
trình bày ngyện vọng cũng như bày tỏ những điều riêng tư của bản thân.
Đối với một người GVCN trong một trường bán công như chúng tôi lài càng rất cần
thiết và đúng đắn. Bởi lẽ học sinh của chúng tôi là những đối tượng rất yếu về cả kiến
thức các môn học, cả về ý thức đạo đức, chỉ thích ăn chơi, đua đòi, có nhiều em học
sinh rất ngang bướng thậm chí rất láo và mất dạy. Dó đó khi vào công tác chủ nhiệm
với các đối tượng học sinh như thế này tôi thấy những yêu cầu sư phạm ở trên là rất
cần thiết với người GVCN và phải được GVCN vận dụng một cách mềm dẻo, linh
hoạt. Đặc biệt là những yêu cầu sư phạm: Người GVCN cần có những đức tính như
kiềm chế, nhẹ nhàng và sự kiên trì bền bỉ trong giáo dục, tránh sự nôn nóng trong giáo
dục và nóng tính mất bình tĩnh trong giao tiếp với học sinh; Người GVCN thật sự
gương mẫu trên tất cả mọi mặt để học sinh học tập noi theo, theo tôi chúng ta không

nên nói nhiều, không nên giải thích giảng giải cho học sinh nhiều mà chúng ta nên thể
hiện trước học sinh bằng hành động cụ thể.
2.3.2. Những nội dung và phương pháp công tác chủ nhiệm
a. Phải biết tìm hiểu, phân loại và vạch kế hoạch giáo dục với từng loại đối tượng
học sinh
- Trước hết: Người GVCN cần xác định được nội dung cần tìm hiểu
+ Hoàn cảnh sống của học sinh: lý lịch học sinh, điều kiện kinh tế gia đình, đặc điểm
và quan niệm giáo dục của gia đình, tình hình trật tự trị an ở địa phương...
+ Đặc điểm phát triển về thể chất và sinh lý lứa tuổi như: Sức khoẻ (Chiều cao, cân
nặng, có bệnh gì không...); đặc điểm giới tính (những biểu hiện bên ngoài, thái độ, cử
chỉ, những sở thích...).

8


+ Đặc điểm tâm lý, khí chất: khả năng tư duy, nhận thức, trí thông minh, sự nhạy bén
trong công việc, ngôn ngữ, tình cảm...thuộc đối tượng nhanh nhẹn hoạt bát hay trầm
tĩnh...
+ Những phẩm chất đạo đức chủ yếu: trung thực hay gian dối, cần cù chăm chỉ hay
lười biếng...
+ Những phẩm chất khác như: Tinh thần trách nhiệm, ý thức xây dựng tập thể, ý
thức tổ chức kỷ luật, ý thức và thái độ lao động...
+ Thiên hướng hoặc năng khiếu: thể thao, múa hát, văn thơ, ngoại ngữ...
- Phải dùng tốt các phương tiện giúp ta tìm hiểu.
+ Các loại sổ sách, hồ sơ liên quan đến học sinh như: hồ sơ lý lịch, học bạ, sổ liên
lạc, sổ điểm, sổ đầu bài, sổ công tác chủ nhiệm...
+ Các sản phẩm do các em tự làm như: các bài làm, các bài sáng tác của các em trên
báo tường, tập san lớp...
+ Kết quả của các bài tìm hiểu thăm dò do giáo viên đưa ra bằng hệ thống câu hỏi.
- Phải có và sử dụng tốt các phương pháp tiến hành

+ Phương pháp nghiên cứu hồ sơ học sinh: Cần phân loại hồ sơ và xác định được
mục đích cần tìm hiểu.
+ Phương pháp đàm thoại: Sử dụng cách trò chuyện trực tiếp với học sinh, có thể
thông qua GVCN cũ, với cha mẹ học sinh, với bạn bè, với ban cán sự lớp...
+ Phương pháp quan sát: Phải sử dụng thường xuyên đối với những học sinh cần tìm
hiểu. Quan sát các em thông qua việc học tập, lao động, các hành vi thể hiện ra ngoài
như hành động, lời nói, cử chỉ và các hoạt động vui chơi...
b. Phải biết tổ chức, xây dựng tập thể
- Nội dung và phương tiện:
+ Phải xây dựng được sơ đồ tập thể lớp
+ Phải xây dựng được sơ đồ chỗ ngồi của tập thể lớp (cho từng học sinh cụ thể)
+ Phải xây dựng được quy định về chức năng, nhiệm vụ cho từng cán bộ lớp.
+ Các loại sổ sách ghi chép của cán bộ lớp, cán bộ tổ.

9


+ Phải xây dựng đuợc kế hoạch năm học của lớp.
+ Những số liệu cần thiết qua kết quả tìm hiểu học sinh.
- Các phương pháp tiến hành: Để xây dựng và phát triển được một tập thể lớp tự
quản, có chất lượng về mọi mặt thì người GVCN có thể sử dụng một số phương pháp
sau đây: Phương pháp thuyết phục, giảng giải; Phương pháp giao nhiệm vụ cụ thể.
Phương pháp thuyết phục, giảng giải. Phương pháp bồi dưỡng huấn luyện.
Phương pháp tạo tình huống giáo dục.
Ngoài ra, Chúng ta còn có thể vận dụng thêm: phương pháp đàm thoại, tranh luận,
phương pháp nêu gương, phương pháp thi đua khen thưởng
Tuy nhiên người GVCN cần phải biết vận dụng các phương pháp một cách đơn lẻ
hoặc phối hợp nhiều phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh của tập thể lớp
mình phụ trách sau khi đã tìm hiểu được.
c. Tổ chức hoạt động giáo dục: Các hoạt động giáo dục thường có nhiều nội dung

phong phú, hình thức đa dạng nhưng chúng ta thường tổ chức dưới hai hình thức sau
đây:
- Hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục thông qua tiết sinh hoạt tập thể hàng tuần
Tiết sinh hoạt tập thể hàng tuần: Là tiết sinh hoạt mồi tuần một lần do học sinh tự tổ
chức dưới sự giúp đỡ và cố vấn của GVCN, với các hoạt động giáo dục như:
+ Hoạt động sơ kết, tổng kết và đánh giá thi đua hàng tuần, hàng tháng. Trên cơ sở
đó để bình xét những cá nhân và tập thể (tổ) có thành tích xuất sắc trong tuần, trong
tháng; đồng thời cũng tổng hợp được danh sách những học sinh vi phạm.
+ Tổ chức sinh hoạt theo chủ đề nhằm hưởng ứng các hoạt động theo chủ điểm tuần,
tháng của trường hoặc theo nhu cầu của lớp. Sinh hoạt theo chủ đề do chi đoàn, Đoàn
trường, ban nữ sinh tổ chức...
+ Tổ chức các loại hình sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, giao lưu, vui chơi giải trí...
- Các hoạt động giáo dục ngoài lớp ở trường, ở ngoài trường
+ Có thể là các loại hình giáo dục do nhà trường tổ chức toàn trường như: Lễ khai
giảng, bế giảng, mít tinh kỷ niệm các ngày lễ lớn...

10


+ Có thể là các hoạt động do GVCN chủ động tổ chức hoặc giúp học sinh tổ chức
như: thăm quan các di tích lịch sử, các khu công nghiệp, làng nghề; đi du lịch; đi xem
phim; tổ chức hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao...
d. Đánh giá, xếp loại học sinh của GVCN
- Trước hết, người GVCN cần nắm được mục đích và tầm quan trọng của việc đánh
giá, xếp loại học sinh: Là nhằm thúc đẩy sự cố gắng vươn lên của học sinh, kích thích
ở các em động cơ phấn đấu đúng đắn, hình thành ở các em niềm tin vào bản thân, có
niềm tin vào tập thể lớp và vào Thầy Cô giáo chủ nhiệm của mình
- Yêu cầu của việc đánh giá xếp loại: Trên cơ sở mục đích và tầm quan trọng như trên
thì việc đánh giá, xếp loại cần đảm bảo một số yêu cầu sau đây:
+ Phải đảm bảo tính khách quan, công bằng và trung thực.

+ Phải có tính hệ thống và toàn diện, tức là phải xem xét hiện tượng, sự việc trong
tính tổng thể, không thiên lệch vì một lí do nào cả.
+ Phải căn cứ vào năng lực, sự phấn đấu và hoàn cảnh cự thể của từng em học sinh
không có bất kỳ định kiến hay mâu thuẫn cá nhân nào xen vào.
- Nội dung đánh giá: GVCN cần nhìn nhận học sinh trên các mặt: các em biết tự
trọng chưa (biểu hiện ở ăn mặc, nói năng, tác phong cư xử...); biết tôn trọng người
khác chưa; có chấp hành tốt các nội quy của nhà trường, của lớp và của đoàn trường;
có chuyên cần
trong học tập không; có tích cực hoà mình vào các hoạt động, các công việc chung của
tập thể lớp không ?
Cụ thể: Đánh giá học sinh đối với công việc; Đánh giá học sinh đối với mọi người;
Đánh giá học sinh đối với gia đình; Đánh giá học sinh đối với tập thể, với nhà trường,
với cộng đồng và xã hội.
- GVCN cần thực hiện tốt quy trình đánh giá
+ Học sinh tự đánh giá theo các tiêu chuẩn và thang đánh giá mà nhà trường và lớp
đã quy dịnh trong năm học.
+ Tập thể lớp đánh giá

11


Đầu tiên là tập thể tổ xem xét tự đánh giá của từng thành viên trong tổ, thảo luận
góp ý và đi đến kết luận, phân loại kết quả của tổ mình.
Sau đó, hội nghị lớp sẽ tiến hành xem xét kết quả đánh giá và phân loại của từng
tổ. Có thể thảo luận, cân nhắc trước lớp những trường hợp đặc biệt rồi đi đến quyết
định cuối cùng và tiến hành báo cáo với GVCN.
GVCN nghiên cứu kết quả đánh giá của học sinh, còn những trường hợp nào băn
khoăn thì có thể tham khảo ý kiến của giáo viên bộ môn... hoặc nếu cần thiết có thể
triệu tập cuộc họp với đội ngũ cán bộ chi đoàn, cán bộ lớp để thảo luận
2.3.3. GVCN phải biết phối hợp và phối hợp tốt với các lực lượng giáo dục trong

nhà trường và ngoài nhà trường.
Với vai trò và nhiệm vụ của mình, GVCN cần có kế hoạch lựa chọn hình thức và nội
dung phối hợp hoạt động với các lực luợng giáo dục trong và ngoài nhà trường một
cách hợp lý, khoa học và có hiệu quả với tình hình cụ thể của lớp. Kế hoạch phối hợp
hoạt động của GVCN nên tập trung vào các lực lượng giáo dục có tính nòng cốt, chủ
đạo như:
a. Phối hợp với Ban giám hiệu (BGH) và hội đồng giáo dục (HĐGD ) nhà trường
- Nhận kế hoạch và triển khai hoạt động, đồng thời phản ảnh với BGH những thuận
lợi, khó khăn hoặc những vấn đề trong kế hoạch chưa thật phù hợp với tình hình, đặc
điểm của lớp mình giúp BGH kịp thời điều chỉnh cho phù hợp.
- GVCN thường xuyên báo cáo với BGH về kết quả giáo dục từng tuần, từng tháng để
giúp BGH thu thập được thông tin của từng lớp một cách kịp thời, chính xác.
- GVCN đề đạt với BGH về những nhu cầu, nguyện vọng của học sinh, của phụ
huynh về các lĩnh vực dạy học, giáo dục và các quyền lợi chính đáng khác.
b. Phối hợp với tổ chức Đoàn Thanh Niên
- Với chi đoàn lớp mình phụ trách: GVCN là cố vấn chi đoàn, thể hiện:
GVCN cần phải dự các buổi sinh hoạt, các cuộc họp của chi đoàn để góp ý cho các
em về nội dụng và phương pháp tổ chức. GVCN cần có sự tham mưu và định hướng
trong việc lựa chọn đội ngũ BCH chi đoàn và ban cán sự lớp. Khi tổ chức các hoạt

12


động giáo dục cho lớp cần lấy chi đoàn làm nòng cốt. Cần có ý kiến định hướng với
chi đoàn trong việc phát triển đoàn viên mới.
- Với Đoàn trường: GVCN cần nắm vững chủ trương, kế hoạch và nội dung công tác
đoàn của đoàn trường trong tháng, kỳ và từng năm học để phối hợp và theo dõi hoạt
động của chi đoàn mình.
c. Phối hợp với các giáo viên bộ môn (GVBM) trong lớp
Sự phối hợp công tác giữa GVCN và giáo viên bộ môn một cách đều, liên tục và

đồng bộ sẽ vừa nâng cao được chất lượng học tập, vừa nâng cao được chất lượng giáo
dục của lớp mình phụ trách. Theo tôi, chúng ta cần phối hợp tốt với GV bộ môn một
số vấn đề sau đây:
- Phối hợp để nâng cao chất lượng học tập
+ GVCN thường xuyên trao đổi, thông báo cho các GVBM biết tình hình học tập
của lớp, một số đặc điểm đặc biệt của học sinh, những nhu cầu nguyện vọng và các
yêu cầu của các em về môn học của Thầy Cô giúp các GVBM kịp thời điều chỉnh, bổ
sung về nội dung, phương pháp cho phù hợp.
+ GVCN phản ánh với các GVBM về các học sinh yếu kém, cũng như các học sinh
khá giỏi để các thầy cô có phương pháp giảng dạy, kèm cặp và kiểm tra phù hợp cho
từng đối tượng trong quá trình giảng dạy.
+ Trong các hoạt động giáo dục có liên quan đến kiến thức (các buổi thi tìmhiểu, hỏi
đáp về kiến thức, các trò chơi trí tuệ, thăm quan bảo tàng di tích lịch sư...) GVCN có
thể mời các GVBM có liên quan đi cùng để các GVBM giúp các em học sinh trong
việc củng cố, bổ sung và mở mang thêm kiến thức đã học.
- Phối hợp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức.
+ GVCN luôn nhắc nhở các em về vai trò của các Thầy Cô giáo bộ môn, bảo ban các
em luôn biết kính trọng các Thầy Cô, biết chia sẻ những khó khăn trong học tập với
các Thầy Cô; Đồng thời phải biết quan tâm đến những khó khăn và hoàn cảnh của các
Thầy Cô tạo cho các em có được một sự đồng cảm, một tình cảm gắn bó với các Thầy
Cô giáo.

13


+ GVCN thường xuyên thông tin một cách hai chiều với GVBM về những học sinh
chậm tiến về đạo đức, những học sinh hay vi phạm trong giờ học và bàn phương pháp
giáo dục.
+ Có thể mời GVBM dự một số tiết sinh hoạt cuối tuần, các buổi sơ kết, tổng kết để
giúp GVBM hiểu thêm về lớp; đồng thời để các GVBM trao đổi góp ý về phương

pháp học tập của môn học.
- Trong quá trình đánh giá xếp loại học sinh, GVCN cần trao đổi thêm về quá trình
học tập và tu dưỡng của học sinh với GVBM để việc đánh giá và xếp loại thêm chính
xác, khách quan và công bằng.
d. Phối hợp với gia đình học sinh, với chi hội cha mẹ học sinh của lớp
Gia đình là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Vấn đề đặt
ra là GVCN phải phối hợp như thế nào với gia đình học sinh để đạt được hiệu quả cao.
Chúng ta cần tập trung vào những vấn đề sau:
- GVCN có kế hoạch định kỳ thông báo cho gia đình học sinh biết về kết quả học tập,
tu dưỡng, lao động ... của con em họ.
- Thông qua các cuộc họp phụ huynh học sinh để GVCN:
+ Triển khai cho phu huynh nắm được chủ trương, kế hoạch giáo dục của nhà
trường, chỉ tiêu phấn đấu của lớp của từng em học sinh trong học kỳ, trong năm học.
+ Đánh giá kết quả học tập, đạo đức, sự tiến bộ của lớp, của từng học sinh. Cho phụ
huynh biết những tồn tại và khó khăn trong quá trình giáo dục học sinh.
+ Nêu và thống nhất nội dung, kế hoạch và nhiệm vụ của nhà trường và gia đình
trong việc phối hợp giáo dục ( GVCN làm gì ? Gia đình làm gì ?).
+ Tư vấn, bồi dưỡng cho các bậc phụ huynh một số kiến thức tâm lí lứa tuổi học
sinh, một số phương pháp giáo dục. Đồng thời giúp phụ huynh nhận thức đầy đủ trách
nhiệm giáo dục con cái như: chủ động liên lạc với nhà trường, với GVCN; Tham gia
đầy đủ các cuộc họp phụ huynh; tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con em học tập ...

14


- GVCN cần quan tâm làm sao chọn được một ban chấp hành chi hội phụ huynh, các
tổ trưởng tổ phụ huynh có năng lực, có tinh thần trách nhiệm và thực sự những bậc
phụ huynh thật sự gương mẫu.
2.3.4. Một số phương pháp tôi đã triển khai và kinh nghiệm rút ra sau một số
năm làm chủ nhiệm vừa qua.

a. Đặc điểm của học sinh các lớp tôi chủ nhiệm: 12A3 và 12C4
Các lớp này là tôi nhận lại chủ nhiệm từ các thầy cô giáo khác theo sự phân công của
nhà trường vì chất lượng học tập và đặc biệt là nền nếp của học sinh rất yếu, có nhiều
học sinh thường xuyên vi phạm, thậm chí là học sinh cá biệt.
+ Lớp 12A3 có: Tổng số học sinh là 52, có 14 học sinh nữ
Có: 5 học sinh xếp học lực loại yếu, không có học sinh xếp học lực loại khá
Có: 7 học sinh xếp đạo đức loại yếu, 10 học sinh xếp đạo đức loại trung bình
Có nhiều học sinh cá biệt như: Em Hồng, em Hiệu, em Phượng...
+ Lớp 12C4 có: 54 em học sinh, có 8 học sinh nữ
Có: 12 em xếp học lực yếu, có 1 em xếp học lực khá
Có: 12 em xếp đạo đức loại yếu, 8 em xếp đạo đức loại trung bình
Có nhiều em học sinh cá biệt như: Em Cường, em Hà, em Trang, em Ngọc...
Đa số học sinh con gia đình thuần nông, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Có nhiều em
có Bố Mẹ phải đi làm ăn xa quê, phải sống ở nhà một mình hoặc với ông bà hay chú
cô nên thiếu thốn tình cảm, thiếu thốn cả sự giáo dục, quản lý...Vì vậy đa số các em
học sinh này có ý thức đạo đức và chất lượng học tập rất yếu, nhiều em cả nam và nữ
có cuộc sống buông thả, tự do.
b. Một số phương pháp tôi dùng vào công tác chủ nhiệm trong những năm qua.
- Điều tra, phân loại học sinh
Thứ nhất: Tôi tìm hiểu qua GVCN cũ, qua cán bộ lớp cũ, qua kết quả học tập và đạo
đức năm trước của các em hoặc tâm sự trực tiếp với các em.
Thứ hai: Tôi tìm hiểu, phân loại theo phiếu điều tra ( Ở phần phụ lục)
- Sau khi đã phân loại được các đối tượng học sinh, tôi tiến hành các công việc tiếp:

15


+ Lựa chọn ban cán sự lớp và ban chấp hành chi đoàn
Ban cán sự lớp, gồm: Lớp trưởng; lớp phó học tập; lớp phó lao động; lớp phó văn
thể; Thư ký lớp; bốn tổ trưởng và bốn tổ phó.

Ban chấp hành chi đoàn, gồm: Một bí thư chi đoàn, một phó bí thư (lớp trưởng) và
một UVBCH chi đoàn.
+ Họp với ban cán sự lớp và BCH chi đoàn để tiến hành một số công việc sau:
Thông báo cho ban cán sự và BCH chi đoàn về tình hình cụ thể của lớp, của từng
bạn học sinh, đặc biệt là các bạn học sinh cần quan tâm về: đạo đức yếu, học tập yếu,
sức khoẻ yếu, hoàn cảnh gai đình khó khăn...
Quy định chức năng, nhiệm vụ cho từng chức danh.
Phát sổ công tác cho từng chức danh, hướng dẫn các em cách làm việc, cách theo
dõi công việc của mình phụ trách và cách báo cáo kết quả trong từng tuần với lớp
trưởng.
Nghe ý kiến và các đề xuất của các em trong công việc.
Xây dựng các tiêu chí xếp loại đạo đức của học sinh từng tháng, từng kì
- Tôi tiến hành lập sơ đồ chỗ ngồi và giao luôn bàn ghế cho học sinh theo từng vị trí.
Khi lập sơ đồ chỗ ngồi tôi luôn chú ý một số điểm:
+ Đảm bảo vị trí chỗ ngồi của các em học sinh trong một tổ để tiện cho tổ trưởng dễ
quản lí và theo dõi.
+ Vị trí ngồi phải phù hợp với chiều cao và thị lực của một số em.
+ Các cán bộ lớp phải được bố trí thích hợp để theo dõi được toàn diện.
+ Các em học sinh học yếu, hay vi phạm được sắp xếp gần những em học khá, có ý
thức học tập và nghiêm túc trong giờ học.
- Cách tổ chức và nội dung của một tiết sinh hoạt cuối tuần
+ Lớp trưởng đọc báo cáo tổng hợp về việc thực hiện nhiệm vụ của tất cả các học
sinh trong tuần ( báo cáo này là tổng hợp của các báo cáo do các tổ trưởng gửi lại)
+ Lớp phó lao động báo cáo về các nội dung: Vệ sinh trực nhật, bảo quản tài sản, lao
động tập thể (nếu có).

16


+ Bí thư chi đoàn báo cáo hoạt động của chi đoàn (nếu có).

+ GVCN thông báo những vi phạm của những học sinh do GVCN theo dõi.
+ Ý kiến trình bày trước tập thể của các em học sinh ( Có thể là của các học sinh
chăm ngoan, có thể là của các học sinh vi phạm ).
+ Thư ký lớp đọc biên bản tổng hợp của buổi sinh hoạt lớp.
- Cách đánh giá, xếp loại học sinh của tôi
+ Tôi xếp loại đạo đức của học sinh theo từng tháng, tiến hành vào tiết sinh hoạt
cuối tháng
+ Tôi tiến hành xếp loại đạo đức theo trình tự ba bước như trên đã trình bày: Học
sinh tự đánh giá, xếp loại → Lớp đánh giá, xếp loại → GVCN đánh giá, xếp loại
+ Mẫu đánh giá, xếp loại ( ở phần phụ lục )
- Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt
+ Trước hết, GVCN tạo được niềm tin và sự quý mến của học sinh.
Bản thân tôi luôn phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ nhà trường, các tổ chức
đoàn thể giao cho được nhà trường, được các cấp khen thưởng để xây dựng là hình
ảnh người Thầy gương mẫu trong mắt học sinh.
Bản thân luôn giữ và tạo ra sự thân thiện với học sinh và đặc biệt là với các em học
sinh, tôn trọng các em, luôn lắng nghe các em nói và chia sẻ với các em.
Phải luôn gương mẫu trước học sinh, cần thể hiện sự nghiêm túc, công bằng trong
công việc và luôn làm đúng “ Giờ nào việc nấy “ khi lên lớp.
Phải thường xuyên bám lớp trong thời gian đầu ( Một đến hai tháng, tùy vào tình
hình của lớp) để nắm bắt khả năng tự quản của lớp, sự điều hành công việc của các
cán bộ lớp , biểu hiện của từng em học sinh để nắm bắt cụ thể hơn từng đối tượnghọc
sinh ( em nào yếu về học tập, em nào có ý thức đạo đức chưa tốt, em nào thật sự cá
biệt).
Luôn lấy sự nhắc nhở, ngăn ngừa làm đầu. Coi trọng việc tìm hiểu nguyên nhân sự
việc, lấy sự phân tích, khuyên bảo, động viên làm đầu.

17



Tôi thường đi đến thăm gia đình một số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và
các học sinh đặc biệt khác.
+ Phương pháp giáo dục cụ thể cho từng đối tượng học sinh:
++. Đối với học sinh có học lực yếu, lười học và hay trốn học đi chơi
Kiểm tra toàn bộ sách vở, đồ dùng và dụng cụ học tập của các học sinh này mỗi
tháng 2 lần.
Kết hợp để GVBM ra thêm bài tập và thường xuyên kiểm tra việc học tâp trên lớp
và ở nhà của các em, báo cáo với giáo viên chủ nhiệm.
Tôi nhờ những học sinh có học lực khá giúp đỡ các em trong học tập. Đồng thời tôi
dành thời gian nói chuyện với các em, đến thăm gia đình và góc học tập của các em, tư
vấn thêm cho các em cách học trên lớp, ở nhà phù hợp.
++. Đối với học sinh hay nghỉ học: một trong các nguyên nhân làm các em nghỉ học
là em rất yếu về học tập, hổng kiến thức, không hiểu gì khi nghe giảng nên
các em chán đến lớp, cộng thêm bị các thầy cô giáo kiểm tra nghiêm ngặt. Vì vậy, Tôi
dùng các biện pháp trên để giúp các em hiểu thêm về kiến thức, say mê học tập hơn.
Đồng thời tôi điều tra giấy phép của học sinh dựa vào chữ ký của phụ huynh ( Khi họp
phụ huynh đầu năm, GVCN và phụ huynh đã thống nhất là giấy phép nghỉ học phải có
chữ ký của bố mẹ và tôi tiến hành lấy mẫu chữ ký của phụ huynh luôn) để nắm bắt
tình hình xem các em có khó khăn gì không, rồi khuyên bảo các em.
Tôi thông báo tình hình của các em về gia đình trong từng tuần thông qua điện thoại,
từng tháng thông qua sổ liên lạc. Tiến hành tuyên dương, khen các em vào các giờ sinh
hoạt lớp khi các em có tiến bộ dù rất ít.
++. Đối với các học sinh có ý thức đạo đức yếu, vi phạm nhiều, cãi lại thầy cô
giáo...: là những học sinh này thường có bố mẹ đi vắng hoặc bố mẹ ở nhà thì cũng
không có vai trò gì nữa.
Tôi dành thời gian nói chuyện tâm sự với các em để hiểu thêm về bản thân các em,
về tình hình gia đình các em, về các khó khăn các em đang gặp phải để tạo thêm sự
gần gũi, thân thiện hơn với các em.

18



Sau đó, tôi phân tích cho các em hiểu đúng sai của các vấn đề các em đang làm, tác
hại của nó đối với bản thân các em (về học tập và tu dưỡng đạo đức), khuyên bảo các
em cần chăm chỉ học tập hơn.
Có thể dùng sự tác động của các em học sinh là bạn tốt của các đối tượng này và trao
đổi với các thầy cô giáo bộ môn để các thầy cô động viên, giúp đỡ các em trong học
tập
Cuối cùng, Tôi thường xuyên theo dõi mọi hành động, cử chỉ, việc làm...của các em
để kịp thời chấn chỉnh, khuyên răn, nếu sự tiến bộ thì phải tuyên dương khen thưởng
ngay.
- Phương pháp phối hợp với gia đình: Đối với học sinh trường tôi thì việc phối hợp
với gia đình để giáo dục các em là rất cần thiết, tôi thường làm theo cách sau:
+ Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm, tôi cần làm:
Lấy mẫu chữ ký của phụ huynh để đối chiếu trong giấy xin phép nghỉ học.
Thảo luận và đi đến thống nhất cách thức, thời gian trao đổi thông tin.
Tại những xã có số học học sinh sinh sống đông, tối cử ra một đến hai phụ huynh
có uy tín, có trách nhiệm đảm nhận vai trò liên lạc, thông tin chính ở đây.
+ Đối với tất cả các học sinh, tôi thông báo kết quả về học tập và rèn luyện đạo đức,
số ngày nghỉ học mỗi tháng một lần bằng sổ liên lạc điện tử.
+ Đối với học sinh vi phạm, nghỉ học nhiều tôi còn liên hệ và thông báo kết quả của
các em mỗi tuần một lần bằng điện thoại, có trường hợp phải mời phụ huynh đến
trường để làm việc hoặc đến tận nhà để trao đổi.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
2.4.1. Đối với bản thân
Qua những năm công tác ít ỏi, tôi tự tìm tòi học hỏi và vận dụng vào thực tiễn công
tác chủ nhiệm lớp và đã thu được một số kết quả sau:
- Lớp 12A3: Có 100% học sinh lên lớp, không có học sinh xếp học lực yếu, Có 10 học
sinh dạt danh hiệu học sinh tiên tiến, không có học sinh xếp loại đạo đức TB và Yếu,


19


có 100% học sinh đậu tốt nghiệp lớp 12, Có 2 học sinh đậu đại học và 12 học sinh đậu
cao đẳng
- Lớp 12C4: Có 100% học sinh lên lớp, không có học sinh xếp học lực yếu, Có 5 học
sinh dạt danh hiệu học sinh tiên tiến, không có học sinh xếp loại đạo đức TB và Yếu,
có 53/54 học sinh đậu tốt nghiệp lớp 12, có 1 học sinh đậu đại học và 6 học sinh đậu
cao đẳng.
Cũng trên các kết quả đạt được này, đã giúp tôi tự tin hơn trong các phương pháp,
biện pháp mà mình đã nêu ra trong công tác chủ nhiệm và giáo dục học sinh.
2.4.2. Đối với đồng nghiệp và nhà trường.
- Những kinh nghiệm, các giải pháp…này đã được tôi trao đổi với đồng nghiệp trong
tổ chuyên môn và đồng nghiệp trong toàn trường thông qua các buổi trao đổi về công
tác chủ nhiệm và đã được đồng nghiệp tiếp thu, lựa chọn một số giải pháp phù hợp và
vận dụng vào các lớp do mình làm chủ nhiệm. Kết quả là có nhiều lớp đã có được nền
nếp ổn định hơn, giảm được số học sinh vi phạm và nghỉ học.
- Trong những năm gần đây: Cấp ủy, Chính quyền nhà trường đã thấy được tầm quan
trọng của đội ngũ GVCN đối với việc giáo dục học sinh trường tôi nên đã rất chăm lo
bồi dưỡng dội ngũ GVCN. Đồng thời đã lựa chọn được nhiều GVCN có kinh nghiệm,
có phương pháp tốt làm công tác chủ nhiệm lớp và đã tổ chức nhiều buổi trao đổi về
kinh nghiệm chủ nhiệm để chúng tôi chia sẻ với nhau.
Đến nay, trường THPT Đinh Chương Dương đã có nền nếp học sinh rất ổn định, đa
số học sinh ngoan, chăm lo cho việc học tập, niếm tin của phụ huynh và nhân dân vào
nhà trường ngày càng cao. Điều đó đã thúc đẩy chất lượng học tập đi lên, đặc biệt là
chất lượng học sinh giỏi trên toàn Tỉnh Thanh hóa.
Năm học 2015-2016: Trường THPT Đinh Chương Dương đã đạt được các kết quả:
+ Xếp loại học lực Yếu: 4,73%; Xếp loại học lực Kém: 0%
+ Xếp loại đạo đức Yếu: 2,51%
+ HSG Casio cấp Tỉnh: 1 nhất, 3 ba và 1 KK

HSG văn hóa cấp Tỉnh: 4 nhì, 8 ba và 7 KK. Xếp thứ 43/104 trường trong Tỉnh

20


3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Kính thưa tất cả các thầy cô giáo, mặc dù tuổi nghề còn ít nhưng được làm công
tác chủ nhiệm lớp nhiều năm trong một trường bán công tối cũng tích luỹ được một số
kinh nghiệm ít ỏi. Và tôi xin được đưa ra ở đây nhằm trao đổi, học hỏi và cũng mong
giúp được phần nào cho các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo còn trẻ ,mới ra
trường lần đầu làm công tác chủ nhiệm. Kính mong được sự góp ý chân thành của các
thầy cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm !
3.2. Kiến nghị.

- Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa nên tổ chức các lớp tập huấn công tác chủ
nhiệm cho các trường thường xuyên hơn để các trường cử GV tham gia trao đổi,
tiếp thu rồi về tập huấn lại cho giáo viên trường.
- Trường nên tổ chức hội thảo công tác chủ nhiệm hàng kỳ, hàng năm (qua hội thi
hoặc trao đổi kinh nghiệm), trong các hội thảo đó cần đặc biệt nêu gương, khen
thưởng những giáo viên chủ nhiệm xuất sắc.
- Đối với đồng nghiệp: Cần tiếp tục làm tốt công tác tự học tự bồi dưỡng để dần
hoàn thiện bản thân về cả chuyên môn nghiệp vụ lẫn phương pháp giáo dục để đạt
được các yêu cầu cần thiết của một người GVCN giỏi.
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2016
XÁCN NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người

khác.
Người viết

Mai Văn Hóa

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT
Hà Nhật Thăng (chủ biên). Nguyễn Dục Quang; Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ
2. Các SKKN về công tác chủ nhiệm lớp của các đồng nghiệp trên mạng Internet và
trên trường học kết nối.
3. Các bài viết về công tác giáo dục học sinh trên tập chí giáo dục, báo giáo dục thời
đại mà nhà trường đặt hàng quý.
4. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết
số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
5. Một số quan điểm về giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh ( Hồ Chí Minh: Toàn
tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội )

22


PHỤ LỤC
PHIẾU ĐIỀU TRA HỌC SINH
Họ tên học sinh: .......................Nam, nữ:............Ngày tháng năm sinh:........
Địa chỉ gia đình:..............................................Số điện thoại:.......................
Bố: .................................Tuổi:.............................Nghề nghiệp:........................
Mẹ: .......................................Tuổi:.............................Nghề nghiệp:..............

HIện nay em ở với ai ?....................................Lý do: ...................................
Điều kiện kinh tế gia đình em (Giàu có, đủ ăn hay nghèo) ?
Tình trạng sức khoẻ của em hiện nay ?
Xếp loại đạo đức và học lực năm học trước ?
Em giữ chức vụ gì trong lớp ?
Em có năng khiếu gì ?
Em có thích đọc sách báo không ? thích đọc những loại sách báo gì ?
Chỉ tiêu phấn đấu về đạo đức và học tập của em trong năm học này ?
Em có dự định về nghề nghiệp cho tương lai như thế nào ? Thích nghề gì ?
Em có những đề nghị gì với GVCN ?
Điều kiện học tập của em ở nhà như thế nào ?
Trong gia đình ai hay tâm sự với em nhiều nhất và ai là người quan tâm đến việc
học tập của em nhiều nhất ?
Lúc rảnh rỗi em thích làm những việc gì ?
Em có nhận xét gì tập thể lớp lúc này và em có mong muốn xây dựng một tập thể
lớp như thế nào ?
Em thích những đức tính nào nhất ? em ghét những đức tính nào ?

23


PHIẾU ĐÁNH GIÁ ĐẠO ĐỨC HỌC SINH.
Năm học:................... Tháng:...........
Họ và tên học sinh:.................................................Tổ:.............Lớp:................
Lực lượng đánh giá
Tiêu chỉ
Đi học, bỏ tiết, đi chậm
Học bài ở nhà, trên lớp và làm bài

HS tự đánh giá

T K TB Y

Lớp đánh giá
T K TB Y

GVCN
đánh giá

tập về nhà
ý thức trong giờ học
Quay cóp trong giờ kiểm tra
Các loại sách vở, đồ dùng học tập
có đầy đủ không
Tham gia đầy đủ các buổi sinh
hoạt, các buổi lao động tập thể
Không nói tực, chửi bậy không
Không hút thuốc, uống rượu bia,
chơi cờ bạc
Không gây gỗ và tham gia đánh
nhau
Thực hiện trang phục, đầu tóc
đúng quy định.
Không phá tài sản và giữ gìn tốt
vệ sinh chung
Luôn giữ đoàn kết, biết quan tâm
và giúp đỡ bạn
Kính trong thầy cô giáo, cán bộ
công nhân viên trong nhà trường
Biết vâng lời cha mẹ và kính
trọng người lớn tuổi

Có ý thức, trách nhiệm với cộng
đồng và tham gia giao thông đúng
quy định

24


Chữ ký của học sinh

Chữ ký của lớp trưởng

Chữ ký của GVCN

25


×