Tải bản đầy đủ (.doc) (52 trang)

Th c tr ng ho t ng t n d ng c a ng n h ng ngo i th ng chi nh nh Ba nh i v i khu v c kinh t t nh n

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.36 MB, 52 trang )

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />
và là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ án,
báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án…..nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cả mọi
người. Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp của quý
khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách gửi về


Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng ngoại thương chi nhánh Ba Đình đối với khu
vực kinh tế tư nhân

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />LỜI MỞ ĐẦU
Trong hầu hết sự phát triển về kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện nay và trong
tương lai đều có sự tham gia của các khu vực kinh tế thuộc Nhà nước, Tư nhân, và nước
ngoài. và mỗi khu vực này này đều có những đóng góp nhất định đối với mỗi nền kinh tế cụ
thể, tuy nhiên theo kinh nghiệm của các quốc gia phát triển trên thế giới thì khu vực kinh tế
tư nhân là khu vực có đóng góp quan trong trong thúc đẩy qua trình phát triển của họ, mà
khu vực kinh tế tư nhân thường là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngay cả Mỹ một nước
có nền kinh tế hàng đầu thế giới, có các công ty xuyên quốc gia khổng lồ, thì việc đóng góp
cho nền kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của khu vực tư nhân. Đối với việt
nam thì khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp to lớn những cho kinh tế nước nhà.
Nhưng khu vực kinh tế này vẫn có những khó khăn trong đó khó khăn về vốn là vấn đề nan
giải hiện nay. Hiện nay tôi đang thực tập tại VIETCOMBANK _Ba Đình, nên tôi chọn đề tài:
"Mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân của ngân hàng ngoại thương
nội chi nhánh _ Ba Đình", với dung gồm:
Chương I : Tổng quan về tín dụng và khu vực kinh tế tư nhân.
Chương II : Thực trạng hoạt động tín dụng của NHNT- CN Ba Đình đối với

khu vực


kinh tế tư nhân.
Chương III : Một số ý kiến để mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân.

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG
VÀ KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
I.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là danh từ để chỉ một số hành vi như bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu
thương phiếu, kí thác, phát hành giấy bạ.
Ngày nay khi nói tới tín dụng người ta nghĩ ngay tới ngân hàng, tín dụng là quan hệ vay
mượn, gồm cả đi vay và cho vay.Tuy nhiên khi nói tới ngân hàng người ta chỉ nghĩ là ngân
hàng cho vay.
Theo luật các tổ choc tín dụng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam điều 49
thì : tín dụng được thể hiện dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các
hình thức khác theo quy định của ngân hàng nhà nước.
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />1.1.2.Tính chất pháp lý của các nghiệp vụ tín dụng.
xét về tính chất phát lý thì tín dụng được chia làm 3 loại như: cho vay tiền, cho vay, cho
vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền và tín dụng qua chữa kí.
Là nghiệp vụ tín dụng trong đó người cho vay cam kết hoàn trả một khoản tiền và người
đi vay cam kết trả một khoản tiền lớn hơn khoản ban đầu. Khoản chênh lệch này gọi là lãi.
lãi phụ thuộc vào thời gian và số lượng khoản vay.
Cho vay dựa trên phương án sản xuất kinh doanh của người đi vay và khoản vay còn
được bảo dảm bằng tài sản của người đi vay. Đây là loại hình tín dụng gặp rủi ro cao. Do
khách hàng có thể sử dụng tiền đúng mục đích như khế ước vay. Ngân hàng có thể chuyển
một lần hay nhiều lần.
Loại cho vay này dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:
+ Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi: đây là nguyên tắc quan trọng nhất

vì vốn của ngân hàng phần lớn là vốn huy động. Ngân hàng phải tri trả khi khách hàng đến
rút tiền. Nếu khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn điều này có thể làm cho ngân
hàng rơi vào tình trạng rủi ro thanh khoản.
để tránh điều nay ngân hàng phải quy định kỳ hạn nợ, khi đến hạn thì khác hàng phải trả
nếu không thì ngân hàng có thể tự động trích số dư tài khoản tiền gửi của người đi vay hay
phát mại tài sản đảm bảo.
+ Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: vì khi cho khách hàng vay thì ngân hàng
còn phải thẩm định phương án sản xuất từ đó mới có phương án giải ngân. Nếu trong quá
trình nếu phát hiện có vấn đề trong việc sử dụng tiền thì ngân hàng có quyền thu hồi nợ
trước thời hạn trong hợp đồng tín dụng, nếu thu không đủ khoản tiền đã cấp thì khoản tiền
còn lại chưa thu được sẽ được chuyển thành nợ quá hạn. nguyên tắc này rất quan trọng, khi
ngân hàng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu của nền
kinh tế trong những giai đoạn cụ thể. Còn khi cung ứng cho các đơn vị sản xuất kinh doanh
thì phải đáp ứng các mụch đích trong sản xuất kinh doanh để thúc đẩy các đơn vị hoàn thành
các mục tiêu của mình.
+ Vốn vay phải có tài sản đảm bảo: trong nền kinh tế thị trường các hoạt động nói chung
và các hoạt động kinh tế nói riêng diễn ra vô cùng đa dạng và phức tạp, không có nhà quản
trị ngân hàng nào có thể đự đoán chính xác những diễn biến có thễ xảy ra trên thị trường, do
đó rủi ro là không thể tránh khỏi, để giảm thiểu rủi ro thì các ngân hàng càng tao ra được
nhiều khoản thu càng tốt cho các khoản cho vay của mình và đảm bảo chình là nguồn thu
thứ hai sau nguồn thu thứ nhất như: vốn lưu động, khấu hao, lợi nhuận, thu nhập …
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />Đảm bảo tín dụng như là một phương tiện cho người chủ ngân hàng có thêm một nguồn
thu khác để thu hồi nợ nếu mục đích cho vay bị phá sản, tài sản đảm bảo có thể tồn tại dưới
hình thức sau:
- Tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay của ngân hàng
- Tài sản đảm bảo là tài sản của người đi vay
- Tài sản đảm bảo là tín chấp hay bảo lãnh của người thứ ba
Các loại đảm bảo tín dụng:

*Đảm bảo đối vật:
- Thế chấp tài sản: là việc bên vay vốn dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của
mình của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên cho vay, bên đi vay vẫn
được quyền sử dụng tài sản thế chấp và chỉ phải giao giấy chủ quyển tài sản đó cho bên cho
vay.
- Cầm cố tài sản: là việc bên đi vay có nghĩa vụ phải giao tài sản là động sản thuộc
quyền sở hữu của mình cho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình.
* Đảm bảo đối nhân:
-Là sự cam kết của một người hay nhiều người về việc phải trả nợ cho ngân hàng nếu
một khách hàng vay không trả được nợ cho ngân hàng, trong trường hợp này thì những
người bảo lảnh phải có được uy tín hay phải có khả năng về tài chính đủ mạnh đảm bảo
được sự tin tưởng của ngân hàng.
1.1.2.2. Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền.
Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền là hình thức cho vay dựa trên cơ sở mua
bán các cộng cụ tài chính như mua bán các hối phiếu lệnh phiếu … từ đó tạo ra nghiệp vụ
chiết khấu thương phiếu của ngân hàng, tức là mua nợ dựa trên khoảng thời gian còn lại của
cho đến lúc đáo hạn của thương phiếu.
Về mặt pháp lý ngân hàng không cho vay mà là mua một trái quyền, ngân hàng bỏ
tiền ra ứng trước giá trị của một thương phiếu chưa đến hạn thanh toán đổi lại ngân hàng
được nắm quyền sở hữu và có quyền truy đòi khi đến hạn thanh toán, thủ tục chiết khấu cũng
khác thủ tục vay va không có hợp đồng tín dụng.
+ Chiết khấu thương phiếu: Là một nghiệp vụ tín dụng, vì nó, vì nó đem lại ngay cho
khách hàng một số tiền bình thường mà chỉ được chi trả khi nó đến hạn thanh toán trong
thương phiếu.
Nhưng về mặt pháp lỳ thì không phải là một khoản cho vay, vì ngân hàng không cho
khách hàng vay số tiền mà khách hàng sẽ phải trả cho ngân hàng, mà ở đây ngân hàng ứng
trước giá trị của một thương phiếu chưa đến hạn đổi lại ngân hàng nắm quyền sở hữu thương

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />


Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />phiếu đó, vì vậy ngân hàng sẽ được đòi lại khoản ứng trước đây bằng cách truy đòi trái phiếu
khi đến hạn.
Như vậy chiết khấu là việc ngân hàng ứng trước cho giá trị một thương phiếu đổi lấy
việc chuyển giao quyền sở hữu thương phiếu.
+ Mua uỷ nhiệm thu hay bao thanh toán hay còn gọi là cho vay uỷ nhiêm thu: Đây là
trường hợp ngân hàng mua đứt các chứng quyền để đi đòi nợ, bao thanh toán có thể được xác
định là một hợp đồng, mà trong đó các ngân hàng mua đứt các trái quyền của người bán đối
với người mua là khách hàng của ngân hàng.
1.1.2.3. Tín dụng qua chữ ký.
Tín dụng qua chữ ký có thể là kết quả của chữ ký của ngân hàng, trong hình thức này
ngân hàng không phải bỏ tiền ra ngay mà ngân hàng cam kết sẽ trả một khoản nợ của khách
hàng của mình khi mà khách hàng của mình không thực hiện đúng cam kết trả nợ như đã
thoả thuận trước, do bảo lãnh bằng uy tín của mình nên bảo lãnh của ngân hàng còn gọi là
bảo lãnh qua chữa ký.
Về tính pháp lý thì loại tín dụng này dựa vào luật bảo lãnh cũng như các cam kết bảo
lãnh và tái bảo lãnh,
Bảo lãnh là đưa ra những cam kết dưới hình thức cấp chứng thư và hạch toán theo tài khoản
ngoại bảng, các ngân hàng chỉ đưa vào tài khoản nội bẳng khi mà ngân hàng thực hiện chi trả
cho khách hàng của mình ,bảo lãnh gồm:
+ Bảo lãnh ngân hàng : đây là hình thức rất quan trọng trong thực tế, nó giúp cho người
mua hàng không phải kí quỹ và được trả chậm tiền hàng, và người bán tin tưởng giao hàng
cho người mua.
+ Tín dụng chấp nhận : trong loại hình này ngân hàng chấp nhận một hối phiếu đòi tiền
chính mình, và khách hàng của ngân hàng phải nộp số tiền cần thiết ngay trước khi hối phiếu
đến hạn, lúc này chủ nợ có được sự đảm bảo thu được khoản nợ của mình do ngân hàng
đứng ra chấp nhận chi trả.
1.1.3. Phân loại tín dụng trong các ngân hàng thương mại.
1.1.3.1. Phân loại tín dụng chung.
+ Tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn: sự khác nhau giữa tín dụng ngắn hạn và tín dụng
trung và dài hạn chính là thời gian giao vốn cho khách hàng sử dụng, tuỳ theo luật của từng

quốc gia và trong từng thời kỳ mà thời gian ngắn hạn, trung và dài hạn được quy định khác
nhau, ở Việt Nam hiện nay ngắn hạn là nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng, còn trung và dài hạn là
lớn hơn 12 tháng.
+ Tín dụng cấp ra kèm theo hoặc không kèm theo cam kết của ngân hàng.

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />- Tín dụng không kèm theo cam kết của ngân hàng: trong hình thức cấp này thường áp
dụng cho ngắn hạn và ngăn hàng có thể chấm dứt hợp đồng cho vay bất cứ lúc nào.
- Tín dụng phát sinh từ cam kết của ngân hàng: là hình thức mà ngân hàng cam kết
một khoản tín dụng cụ thể hay một hạn mức tín dụng mà ngân hàng không thể tự do chấm
dứt cam kết của mình khi phía khách hàng không có những những vi phạm như đã thoả
thuận.
+ Tín dụng có thể huy động và không thể huy động.
- Tín dụng có thể huy động là những khoản tín dụng mà ngân hàng có thể chuyển
nhượng để thu hồi tiền trước kì hạn đã định.
- Tín dụng không thể huy động: là tín dụng mà khi ngân hàng cấp ra là không thể
chuyển nhượng để thu hồi vốn trước thời hạn định.
1.1.3.2.Tín dụng ngân quỹ.
Tín dụng ngân quỹ là để thoả mãn nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp.
+ Tín dụng huy động trái quyền: đây là việc huy động các trái quyền đối với khách hàng
trong nước và nước ngoài, khi đó khoản tín dụng này nhằm sử dụng ngay giá trị của các trái
quyền sau khi trừ đi khoản tiền chiết khấu mà lẽ ra đến hạn mới được nhận.
+ Tín dụng ngân quỹ: nhằm đảm bảo sự cân đối ngân quỹ của doanh nghiệp ngân quỹ
của doanh nghiệp, doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu này vì có sự chênh lệch về thời
gian các khoản chi phí và thu nhập của doanh nghiệp.
- Tạm ứng hay vượt chi tài khoản: hình thức này giúp cho doanh nghiệp đối phó với
thiếu vốn lưu động rất ngắn, trong hạn mức và thời gian quy định thì nó đảm bảo cho tài
khoản của doanh nghiệp dư nợ hay vượt chi, hình thức này không có sự đảm bảo nội tại nào
mà chỉ căn cứ vào tình hình tài chính, mức độ và điều kiện hoạt động của tài sản.

- Tín dụng ngân quỹ thuần tuý : khi khoản tín dụng có tính chất dài hơn thì ngân hàng
có thể cho vay theo hình thức có thể là vượt chi tài khoản với thời gian dài hơn và kèm theo
những điều kiện đảm bảo cho khoản vay đó hoặc có thể chiết khấu chứng từ có kỳ hạn cố
định, các chứng từ này có thể gọi là các chứng từ tài chính. Về thời hạn thì có thể là tín dụng
tuần hoàn để đáp ứng nhu cầu thường xuyên, hay thời vụ để đáp ứng nhu cầu có tính chất
thời vụ của doanh nghiệp.
1.1.1.3. Tín dụng thuê mua.
Hoạt động thuê mua bắt nguồn từ việc các doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp các
thiết bị, nhà cửa lớn, thời gian sử dụng lâu dài, mặt khác do người mua không đủ tiền hay họ
chỉ cần sử dụng trong thời gian chưa hết thời gian khấu hao của thiết bị, do đó dã nảy sinh
nhu cầu thu, để mở rộng tín dụng của mình các ngân hàng thương mại đã mua hoặc thuê các
tài sản theo yêu cầu của khách hàng rồi cho họ thuê lại.
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />Quá trình của nghiệp vụ cho thuê.
(1) khách hàng làm đơn gửi ngân
nêu yêu
cầu
về tài sản cần thuê sau khi phân tích dự
Ngân hàng (người
cho
thuê)
án và tình hình tài(2)
chính của khách hàng, ngân hàng kí hợp đồng(4)
với khách hàng.
(2) Ngân hàng tìm kiếm nhà cung cấp để ký hợp đồng hay
(1) người thuê chỉ định nhà cung cấp.
(3) Khác hàng có thể gặp nhà cung cấp để nêu yêu cầu về quy các, chất lượng tài sản thuê,
Nhànhà
cungcung

cấp cấp có thể phải
Kháchthuê.
hàng
nhận tài sản,
(3)cam kết bảo hành cho người
(4) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê hoặc thu hồi tài sản nếu

thấy người thuê vi phạm.
+ Ngân hàng có thể mua tài sản để cho thuê hay mua tài sản của người đi thuê sau đó
cho chính họ thuê lại hoặc thuê tài sản để cho thuê, trường hợp này được áp dụng khi mà
thời gian trong hợp đồng thuê nhỏ hơn thời gian khấu hao của tài sản, hay Ngân hàng có thể
mua trả góp để cho thuê trong trường hợp Ngân hàng thiếu vốn.
+ Đặc điểm của nghiệp vụ này là: Ngân hàng cho thuê thường là tài sản cố định do đó
nó là tín dụng trung và dài hạn, thời hạn thuê có 2 phần đó là thời hạn cơ bản là thời hạn mà
người đi thuê không được huỷ ngan hợp đồng do đó tiền mà ngân hàng thu được phải đủ cả
gốc và lãi và thời hạn gia hạn thêm là người đi thuê có thể trả lại, mua lại, thuê tiếp…, trong
nghiệp vụ thuê mua thì Ngân hang không cam kết bảo dưỡng tài sản, không chịu trách
nhiệm đối với những thiệt hại với tài sản.
1.1.3.4.Tín dụng tài trợ cho ngoại thương.
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay, hoạt động tài trợ ngoại thương
có vai trò rất quan trọng, nó thúc đẩy thương mại quốc tế, làm giảm rủi ro cho những nhà
xuất – nhập khẩu vì những khó khăn như:địa lý, tôn giáo, chính trị …các hoạt động ngoại
thương gồm:
+ Tài trợ xuất khẩu gồm có các hình thức:
- Tài trợ trong trường nhờ thu kèm chứng từ: là nhà xuất khẩu chuyển các chứng từ cho
Ngân hàng nhờ thu, ngân hàng sẽ chuyển các chứng từ này tới Ngân hàng cần giao dịch, khi
được chấp nhận thanh toán thì nhà xuất khẩu mới giao hàng.
- Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu: là chiết khấu các hối phiếu kỳ hạn không thể huỷ
ngang khi nó chưa đến hạn và hối phiếu này được bên xuất nhập khẩu không huỷ ngang.
-Tài trợ trong khuôn khổ chứng từ: là hình thức tín dụng Ngân hàng dựa trên khuôn

khổ chiết khấu bộ chứng từ khi chưa đến hạn thanh toán, tỷ lệ thanh toán dựa phương thức
chiết khấu. Thứ nhất là chiết khấu truy đòi nghĩa là Ngân hàng có quyền đòi lại nhà xuất
khẩu nếu đến hạn mà nhà xuất khẩu không thanh toán do đó lãi suất thấp. Thứ hai là chiết
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />khấu miễn truy đòi nghĩa là Ngân hàng chịu hoàn toàn rủi ro nếu phía đối tác không thanh
toán khi đao hạn do đó lãi suất cao.
- Tam ứng cho nhà xuất khẩu: Ngân hàng có thể tài trợ bằng cách tạm ứng một khoản
tín dụng cho nhà xuất khẩu trong khuôn khổ. Chủ yếu là trong ngắn hạn, nó phụ thuộc chủ
yếu vào khả năng thanh toán của nhà xuất khẩu và sự nhạy cảm và đảm bảo về giá cả của
hàng hoá.
- Bao thanh toán: về bản chất đây là chiết khấu các khoản phải thu của nhà xuất khẩu.
đối với nghiệp vụ này Ngân hàng mua lại các khoản nợ, thanh toán ngay cho nhà xuất khẩu,
cung cấp các dịch vụ như hạch toán sổ sách, uỷ nhiệm thu, các khoản sao kê định kỳ. Đây là
hình thức tài trợ trong ngắn hạn.
- Chiết khấu nợ dài hạn: đây là hình thức chiết khấu các khoản nợ dài hạn do xuất
khẩu máy móc thiết bị có giá trị lớn mà nhà xuất khẩu bán dưới hình thức trả góp và Ngân
hàng sẽ mua lại khoản nợ này.
+ Tài trợ nhập khẩu:
- Tín dụng dành cho người đạt hàng và hiệp định khung tài trợ nhập khẩu, đây là hình
thức mà Ngân hàng nước xuất khẩu ký hiệp định với Ngân hàng và Chính phủ nước khác về
việc tài trợ cho Ngân hàng và Chính phủ những khoản tín dụng tài trợ cho việc nhập khẩu
hàng hoá, thiết bị công nghệ từ nước tài trợ.
- Tín dụng thuê mua vượt qua biên giới: với hình thức này Ngân hàng cấp cho doanh
nghiệp một khoản tín dụng bằng cách mua hay thuê tài sản ở nước ngoài về cho thuê lại tài
sản tài tại nước mình, do đó người thuê không cần nhiều vốn ngay mà vẫn được sử dụng
những tài sản mình cần cho qua trình sản xuất.
- Cho vay mở L/C: đây là nghiệp vụ mà các nhà nhập khẩu yêu cầu Ngân hàng mở
thư tín dụng sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu theo yêu cầu
Của nhà nhập khẩu khi họ đã trình đủ các chứng từ quy định, như vậy khoản tín dụng này

được bảo đảm bằng bộ chứng từ hàng hoá, tuy nhiên ngân hàng có thể yêu cầu nhà nhập
khẩu phải ký quỹ hay không.
- Tạm ứng cho nhà nhập khẩu: Ngân hàng có thể tạm ứng cho nhà nhập khẩu khi họ
thiếu vốn để thanh toán. Tuy nhiên chỉ trong thời gian ngắn và được bảo đảm bằng bộ chứng
từ hàng hoá.
- Chấp nhận của Ngân hàng: với các hối phiếu có kì hạn sẽ được Ngân hàng phía người
nhập khẩu đóng dấu và chấp nhận thanh toán, khi người xuất khẩu có nhu cầu về tiền, Ngân
hàng nhập khẩu sẽ thanh toán ngay có triết khấu cho bên bán và giữa lại hối phiếu, hối phiếu
có thể được bán hay chiết khấu tại Ngân hàng nhập khẩu khi đến hạn.
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />- Tín dụng chấp nhận hối phiếu dành cho nhà nhập khẩu: theo hình thức này nhà nhập
khẩu ký hợp đồng với ngân hàng phục vụ mình trên cơ sở hối phiếu tự nhận nợ, hối phiếu
này do Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành và chuyển đến cho nhà nhập khẩu, và
nhà nhập khẩu dùng hối phiếu này để chiết khấu nhận tiền tại Ngân hàng phục vụ mình.

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />1.2. KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN:
Theo kinh nghiệm của các nước phát triển như Mỹ, Nhật thì khu vực kinh tế tư nhân
có đóng góp vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội cho những quốc gia này,
chẳng hạn như Mỹ là một nước mà nỗi tiếng có nhiều công ty đa quốc gia nổi tiếng toàn cầu,
nhưng đó chỉ là bề nỗi của nền kinh tế mỹ, còn khu vực kinh tế tư nhân mới là đóng góp lớn
cho nền kinh tế Mỹ, quay trở về Việt Nam thì khu vực kinh tế tư nhân đã hình thành và phát
triển khá sớm nhưng do nhiều hoàn cảnh của đất nước mà khu vực kinh tế này có những lúc
đã bị lãng quên trong một thời gian dài, nhưng do cũng như những nứơc khác trên thế giới,
khu vực này ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong nên kinh tế nước nhà, và
trong những năm gần đây đã được Đảng và Nhà nước quan tâm tạo nhiều điều kiện cho khu
vực kinh tế này phát triển.
1.2.1. Chủ trương của Đảng về kinh tế tư nhân.

Khu vực kinh tế tư nhân đã xuất hiện từ trước cách mạng tháng 8, nhưng khu vực
kinh tế này chỉ phát triển mạnh mẽ từ sau cách mạng tháng 8 và đã có những đóng góp rất
lớn cho miền bắc từ năm1955 – 1957 với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần
trong đó co kinh tế cá thể và tư bản tư nhân và thành phần kinh tế này đã có những đóng góp
rất lớn cụ thể như: năm 1955 có 51688 cơ sở công nghiệp tư nhân và tiểu thủ công nghiệp,
với số lượng công nhân làm việc trong các cơ sở đó là 128622 công nhân, và đã tăng 54985
cơ sở và 161241 công nhân trong năm 1957, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 81,9% giá trị
của toàn xã hội.
Từ năm 1958 chuyển sang thời kỳ xây dung chủ nghĩa xã hội, khu vực kinh tế tư nhân bị xoá
bỏ hoàn toàn, tuy nhiên khu vực kinh tế này vẫn tồn tại dưới hình thức ngầm, khi xây dựng
xã hội chủ nghĩa thì tư bản tư nhân bị quan niệm là thành phần bóc lột do đó bị liệt vào dạng
bị cải tạo tuy nhiên về thực tế thì thì thành phần này vẫn tồn tại ngầm dù họ vẫn tham gia vào
hợp tác xã, nhưng khi về nhà thì họ vẫn làm riêng tính về thu nhập của họ thì khi họ tham gia
vào hợp tác chỉ thu được 30 %– 40% thu nhập của họ. Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ
và mô hình kinh tế hợp tác không hiệu quả thì đến đại hội VI của đảng thì khu vực này
chính thức được công nhận trở lại và nó đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho đất nước
và hiện nay khu vực nay đang được sự quan tâm đặc biệt của đảng và nhà nước. Và điều này
được thể hiện qua đại hội đảng IX của Đảng, đại hội khẳng định:’’ Kinh tế cá thể , tiểu chủ
cả ở nông thôn và thành thị có vị tri quan trọng lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ
để phát triển … Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />nghề mà pháp luật không cấm, tạo môi trương kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để
kinh tế tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của nhà nước … xây dựng tốt quan
hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động” .
1.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam.
Trải qua nhiều thăng trầm cùng với những khó khăn của đất nước, khu vực kinh tế tư
nhân có những lúc được thừa nhận rồi không rồi lại được thưa nhận, nhưng với định hướng
của đảng được khẳng đinh trong đại hội IX của Đảng thì trong những năm ngần đây khu vực
kinh tế này đã có những bước phát triển về mọi mặt, khu vực kinh tế này đã, đang và sẽ có

những đóng góp không nhỏ vào các mặt kinh tế xã hội của Việt Nam. Và ngày càng khẳng
định được chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế của Việt Nam, và điều này được thể hiện
qua những mặt sau:
1.2.2.1. Phát triển về số lượng.
Với sự khuyến khích mạnh mẽ và tạo nhiều điều kiện thuân lợi của Nhà nước thì khu
vực kinh tế tư nhân đã có nhưng đáng kể về số lượng.
Về hộ kinh doanh cá thể: số hoạt động từ 1498611 hộ năm 1992 và tăng lên 2016259
hộ vào năm 1996, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 7, 68%/ năm, mỗi năm tăng 129412 hộ,
từ năm 1996 đến 2000 số lượng hộ kinh doanh các thể hoạt động tăng châm, từ 1996 là
2016259 lên 213731 hộ năm 2000, tăng bình quân 1,47% /năm, mỗi năm tăng30364 hộ và
đến cuối năm 2003 cả nước có khoảng 2,7 triệu hộ kinh doanh, 130000 trang trại và 10 triệu
hộ nông dân sản xuất hàng hoá, sở dĩ có sự giảm về số lượng hộ cá thể là vì nhiều hộ đã
chuyển lên thành lập công ty sau khi đã tích luỹ được trong một thời gian dài và những năm
gần đây lại gặp nhiều điều kiện thuận lợi trong thành lập doanh nghiệp.
Về doanh nghiệp: số lượng các doanh nghiệp tăng được thể hiện qua các năm như sau:
năm 1991 cả nước có khoảng 414 doanh nghiệp, đến năm 1992 là 5189 doanh nghiệp và đến
1995 là 15276 doanh nghiệp, năm 1999 là 28700 doanh nghiệp, từ khi luật doanh nghiệp đi
vào hoạt động 1/1/2000 thì đã tao ra một bước đột phá trong tăng số lượng các doanh nghiệp,
tính từ năm 2000 đến tháng 5- 2004 cả nước có khoảng 93208 doang nghiệp đang ký thành
lập mới,gấp hơn hai lần số doanh nghiếp được thành lập trong thời gian trước đó từ 19911999 chỉ có 45000 doanh nghiệp được thành lập, tính đến cuối 2004 cả nước có khoảng
138208 doanh nghiệp đang ký thành lập theo luật doanh nghiệp, trung bình hàng năm tăng
3,75 lần so với trung bình của những năm trước 2000, vể cơ cấu thì tỷ trọng doanh nghiệp tư
nhân trong tổng số doanh nghiệp đang ký giảm từ 64% trong giai đoạn 1991 – 1999 xuống
còn 34% giai đoạn 2000 – 2004. Trong khi đó cùng thời gian trên thì tỷ trong của công ty
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần tăng từ 36% đến 66%, trong 4 năm qua có khoảng
7165 công ty cổ phần thành lập gấp 10 lần so với giai đoạn 1991 -1999. tỷ trong doanh
nghiệp tư nhân giảm vì số lượng vố của đa số các doanh nghiệp thuộc khu vự này là nhỏ, do
đó loại hình này thường không được tin tưởng bằng các loại hình khác hơn nữa các loại hình

doanh nghiệp khác có thể hợp vốn của nhiều người có vốn nhỏ lại thành vốn lớn hơn và sẽ
có nhiều vốn hơn để hoạt động.
1.2.2.2. Phát triển về quy mô vốn, lao động, lĩnh vực và địa bàn.
Với sự ra đời của luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện rất nhiều trong việc đăng ký thành
lập mới doanh nghiệp, do đã giảm rất nhiều về giấy tờ cũng như thời gian. Do đó số lượng
doanh nghiệp không những đã tăng lên về số lượng mà số lượng vốn đang ký kinh doanh
cũng tăng lên. như thời kỳ 1991 – 1999 vốn đang ký bình quân/1 doanh nghiệp là gần 0.57 tỷ
đồng, năm 2000 là 0.96 tỷ đồng, năm 2001 là 1.3 tỷ đồng, năm 2002 là 1.8 tỷ đồng và đến
tháng 7 năm 2003 là 2.12 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn thấp nhất cũng là 5 triệu đồng và
nhiều nhất là 200 tỷ đồng, như vậy là số lượng vốn đang ký kinh doanh không ngừng tăng
lên qua các năm, số lượng vốn đang ký mới và mở rộng quy mô tăng mạnh mẽ, cụ thể như
sau: năm 2000 số vốn đăng ký mới và bổ sung là 1,3 tỷ đồng ,năm 2001 là 2,3 tỷ đồng, năm
2003 là 3,6 tỷ đồng, và đến hết tháng 5 – 2004 là khoảng 1.8 tỷ đồng.
Về lao động thì số lượng lao động trong khu vực kinh tế tư nhân liên tục tăng lên từ năm
1996 chỉ giảm vào năm 1997 còn lại đều tăng , so sánh với tổng lao động toàn xã hội thì khu
vực này chiếm tỷ lệ khoảng 11% qua các năm. năm 2000 số lượng lao động làm việc trong
khu vực kinh tế tư nhân là 4.643.844 người tăng so với năm 1996 được 778.681 người, từ
năm 1996 đến năm 2000 tố độ tăng trung bình là 24,5%/năm trong khi đó ở hộ kinh doanh cá
thể chỉ tăng bình quân là 2,01%/năm, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp tăng
487459 tăng 137,57%, trong khi đó các hộ kinh doanh cá thể tăng thêm được 291.222 người
tăng 8,29%. Trong khu vực kinh tế tư nhân thì lao động trong công nghiệp chiếm tỷ trọng
cao nhất 2.121.228 người chiếm 45,6%, lao động trong ngành thương mại và dịch vụ là
1753824 người, chiếm tỷ trọng 37,37%, lao động trong các ngành khác là 786.792 người
chiếm 16,94%. Trong những năm gần đây tốc độ tăng vế số lượng doanh nghiệp tăng nhanh
do đó số lượng trong các doanh nghiệp đã tăng, còn tốc độ tăng lao động trong các hộ kinh
doanh cá thể thấp hơn của các doanh nghiệp đó là do số lượng các hộ kinh doanh cá thể tăng
chậm so với các doanh nghiệp.

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />


Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />Về lĩnh vực và địa bàn: khu vực kinh tế tư nhân phần đông là các doanh nghiệp, đã và
đang hoạt động trong hầu hết các ngành nghề mà pháp luật không cấm, không chỉ hoạt động
trong nông nghiệp mà còn trong cả các ngành công nghiệp, dịch vụ cao cấp như công nghiệp
sản xuất tư liệu sản xuất, chế biến, công nghệ thông tin, ngân hàng tài chính, bảo hiểm , tư
vấn. Sở dĩ khu vực này có khả năng hoạt động rộng vì một mặt là có số lương đông và tiềm
lực về tài chính ngày càng được cải thiện do đã tích luỹ quay nhiều năm, một mặt là khu vực
này có mặt ở hầu hết trên lãnh thổ cả nước do đó có thể phát hiện rất nhanh các nhu cầu ở
các địa bàn trên cả nước.
1.2.3. Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân.
1.2.3.1. tạo công ăn việc làm.
Sự đóng góp lớn nhất của khu vực kinh tế tư nhân cho xã hội đó là giải quyết việc làm
cho người lao động, khu vực kinh tế này hàng năm thu hút lao động mới và từ các doanh
nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể chuyển sang, năm 2000 số lượng lao động làm việc trong
khu vực kinh tế tư nhân là 9,616733 triệu lao động, chiếm 79,89% tổng lao động, trong năm
2003 khu vực nhà nước có 3,858 triệu lao dộng chỉ chiếm gần 10% lực lượng lao động xã
hội và với xu hướng ngày càng giảm số lao động trong khu cực kinh tế này. Do đó có tới hơn
90% lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân, mặt khác hàng năm nước ta có
khoảng 1,4 -1,5 triệu người gia nhập thị trường lao động đó là một sức ép rất lớn đến thị
trường lao động của nước ta, hơn nữa để đầu tư cho một suất lao động ở khu vực tư nhân tốn
35 triệu đồng, còn ở doanh nghiệp nhà nước là 87,5 triệu đồng như vậy khu vực kinh tế tư
nhân có lợi thế tương đối so với khu vực nhà nước trong việc tao việc làm. Sự phát triển của
kinh tế tư nhân làm tăng sự lựa chọn cho người lao động và người sử dụng lao động do đó
làm tăng sự canh tranh cho thị trường lao động, vì có sự cạnh tranh nên mỗi một lao động
muốn tham gia vào thì trường mà được nhiều người thuê và có thể thực hiện được mục đích
của mình qua việc làm thì họ phải năng cao trình độ, còn đối với người sử dụng lao động
muốn chọn được những lao động như mong muốn của họ thì họ cũng phải đáp ứng được
những yêu cầu của ngươì lao động đặc biệt là những người lao động có tay nghề cao. Từ đây
cũng đặt ra vấn đề đối với quản lý Nhà nước đối với lao động cũng như đối với các doanh
nghiệp trong việc quản lý lao động ở doanh nghiệp mình, để năng cao năng xuất lao động và
tránh hiện tượng chảy máu chất xám đang xảy ra cả ở phương diện đất nước lẫn các doanh

nghiệp, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân tạo nên sự thay đổi cơ cấu xã hội đó là việc
hình thành giới chủ doanh nghiệp, những người này nếu làm ăn có hiệu quả, thuê nhiều lao
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />động va không vi phạm pháp luật thì sẽ được nhà nước tôn trọng. Chính phủ cũng đã chọn
ngày 13 tháng 10 hàng năm là “Ngày doanh nhân Việt nam”, mặt khác khu vực kinh tế tư
nhân phát triển cũng làm thay đổi quan hệ lao động, trước kia quan hệ lao động chỉ chủ yếu
là quan hệ giữa nhà nước và người lao động mà đại diện cho nhà nước là những nhà lãnh đạo
do Nhà nước bỏ nhiệm các vấn đề về lương bổng do nhà nước quy định, khi kinh tế tư nhân
phát triển thì quan hệ lao động được xác lập là giữa người lao động và người sử dụng lao
động, xét về quanh hệ lao động thì trong khu vực kinh tế tư nhân mang tính chất thực tế hơn,
vì các quan hệ lao động đều phải tuân thủ theo luật lao động mà luật lao động lại do Nhà
nước quy định.
1.2.3.2. Đóng góp vào GDP và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Sự phát triển ngày càng lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân từ khi thực hiện luật
doanh nghiệp, kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, vốn đầu tư, quy mô
hoạt động, các ngành nghề, góp phần vào việc phục hồi và phát triển đất nước, tốc độ tăng
trưởng công nghiệp qua các năm từ 2000 – 2004 là 20%, như năm 2001 là 20,3%, năm 2002
là 19%, doanh nghiệp tư nhân đang chiếm một phần lớn trong các ngành công nghiệp, trong
nông nghiệp đã có những đóng góp nhất định trong trồng trọt và chăn nuôi, đặc biệt là chế
biến thuỷ sản, cơ cấu nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá góp phần
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tỷ trọng đóng
góp trong GDP năm 2001 là 47,85%, năm 2002 là 42% và năm 2004 là 38,5% tỷ trọng có xu
hướng giảm do năng suất lao động trong khu vực này giảm trong khi các khu vực khác tăng
lên.
1.2.3.3. Về xuất khẩu.
Khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp đáng kể vào xuất khẩu của việt nam,
số lượng đang ký tham gia xuất khẩu tăng mạnh năm 1995 có 156 doanh nghiệp đến 2002 la
13774 doanh nghiệp, khu vực tư nhân tham gia xuất khẩu nhiều mặt hàng như may mặc, cà
phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu … tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của khu vực tư nhân phân bố

không đồng đều, chỉ tập trung ở những thành phố lớn, thành phố trực thuộc Trung ương, điều
này đựơc cụ thể là thành phố hà nội xuất khẩu chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của hà
nội và chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, thành phố HồChí Minh là 12%, một số
tỉnh có tỷ trọng khá cao như Hà Giang là 60%, Bình Thuận là 45%, khu vực kinh tế tư nhân
đã làm tăng thêm sư đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và đã tìm kiếm được nhiều thị
trường để phát triển, năm 2002 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 48% tổng kim ngạch xuất
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />khẩu của Việt Nam, hiện nay thì khu vực kinh tế tư nhân đã vượt khu vực kinh tế nhà nước
về xuất khẩu.
1.2.3.4. Đóng góp vào ngân sách.
Đóng góp của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân vào ngân sách đang có
xu hướng tăng lên, từ khoảng 6,4% năm 2001 lên 7,4% năm 2002. tỷ lệ này tương đương với
đầu tư trực tiếp nước ngoài là 5,2% và 6% , khoản thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ
dân doanh là năm 2002 đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2001, doanh số thu từ
doanh nghiệp dân doanh chiếm 15% tổng số thu, tăng 29,5% so với các năm trước.
Đóng góp vào ngân sách của địa phương của các doanh nghiệp danh doanh lớn hơn
nhiều so vớ trung ương, như thành phố Hồ Chí Minh chiếm 15% tổng ngân sách, Bnh Định
là 33%, Thái Nguyên là 17%...
Ngoài ra hiệp hội các doanh nghiệp còn tham gia xây dựng các công trình phúc lợi xã
hội như trường học, đường nông thôn ở các địa phương.
1.2.3.5.Thu hút nguồn vốn đầu tư xã hội.
Với sự ra đời và đi vào hoạt động cảu luật doanh nghiệp thì số lượng các doang
nghiệp đăng ký mới và đang ký mở rộng quy mô sản xuất, từ đó đã huy động được lượng lớn
tiềm lực của nhân dân vào phát triển kinh tế, trong đó năm 2000 đạt 1,3 tỷ USD, năm 2001
là 2,3 tỷ USD, năm 2002 là 3 tỷ USD, năm 2003 là 3,6 tỷ USD, riêng giai đoạn từ 2000 –
2004 đã cao gấp 4 lần so với thời kỳ 1991- 1999, trong đó có những tỉnh tăng gấp 10 lần,
thậm chí có những tỉnh tăng cao đến 20 lần như tỉnh Hưng Yên, Quản Ninh…
Từ tốc độ tăng số vốn hoạt động thì tỷ trọng đầu tư của khu vực này cũng tăng dần qua
các năm, cụ thể như tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong tổng đầu tư của xa hội tăng từ

20% năm 2000 lên 23% năm 2001 và 25,3% năm 2002 và tỷ trọng này là 27% năm2003 và
năm 2004 là 32%, như vậy tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân đã ngày càng tăng và
đã vượt qua tỷ trọng của nhà nước.
Theo dự đoán của bộ trưởng bộ kế hoạch và đầu tư thì đến giai đoạn 2006 – 2010 tổng
nhu cầu đầu tư là 130-140 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế tư nhân gồm cả doanh nghiệp có
vốn nước ngoài là khoảng 53%, hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn của khư vực kinh tế tư nhân
cao hơn của khu vực Nhà nước, trong khi một đồng vốn của khu vực tư nhân tạo ra được
1,66 đồng doanh thu, thì một đồng vốn của các doanh nghiệp nhà nước chỉ tao ra được 0,71
đồng doanh thu. Mặt khác vốn của khu vực kinh tế tư nhân còn là vốn đầu tư chủ yếu của địa
phương chẳng hạn ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2002 chiếm 38% tổng số vốn toàn xã hội
trong khi đó vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 36,5%.
1.2.3.6. Tạo môi trường kinh doanh.
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />Sự phát triển ngày càng lớn và mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân, tham gia vào
hầu như tất cả các ngành nghề và moi lực vực, thì khu vực này đã và đang đóng góp rất lớn
trong việc tao ra môi trường kinh kinh doanh, thúc đẩy phát triển cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh quá trình hội nhập.
Sự tham gia ngày càng nhiều vào tất cả các ngang nghề đã tao ra sự cạnh tranh giữa các
thành phần kinh tế, phá bỏ dần tính độc quyền của một số doanh nghiệp Nhà nước, làm cho
các doanh nghiệp phải cải thiện môi trường làm việc, công nghệ… để nâng cao năng suất lao
động, cải tiến sản phẩm …, sự phát triển của kinh tế tư nhân thì các thị trường bắt đầu hình
thành và phát triển mạnh, như là thị trường hoá dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động,
thị trường bất động sả, thị trường hàng khoa học và công nghệ, thúc đẩy quá trình hội nhập
kinh tế của nước ta.
1.2.4. Hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân.
Tuy đã phát triển rất nhanh và phát triển ở mọi nơi và mọi ngành nghề nhưng do xuất
phát điểm thấp, từ các những khó khăn do lịch sử để lại, do điều kiện hoàn cảnh chung của
cả nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân cũng còn có nhiều hạn chế.
1.2.4.1. Quy mô vốn.

Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và các hộ kinh doanh cá thể có nhiều
khó khăn về vốn hoạt động, các loại hình doanh nghiệp cá thể có vốn rất nhỏ, 80,26% các
loại hình doanh nghiệp có mức vốn nhỏ hơn 5 tỷ đồng, trông khi đó đối với doanh nghiệp
Nhà nước là 23,03%. Do vốn nhỏ bé nên điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân có thể mở rộng sản xuất kinh doanh và có thể thực hiện
được kế hoạch sản xuất của mình, có rất nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực này có nhiều ý
tưởng sản xuất tốt nhưng một phần do thiếu vốn do đó họ không thể thực hiện được kế hoạch
của mình, do hạn chế về vốn nên họ chỉ tham gia vào các ngành không cần nhiều vốn như là
các hoạt động thương mại ít đầu tư vào sản xuất, vì kinh doanh các hoạt động thương mại
cần ít vốn hơn rất nhiều so với các ngành sản xuất, điều này cũng làm giảm sự phát triển của
các ngành sản xuất, cơ cấu vốn của các doanh nghiệp thuộc khu vực này là 25 – 30 % trong
tổng vốn là đàu tư vào tài sản cố định còn 70 – 75% là vốn lưu động. Để đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh của mình các chủ doanh nghiệp hay chủ hộ phải đi thuê tài sản từ các tổ
chức, cơ quan … do đo cơ sở vật chất của họ không ổn định, do thiếu vốn nên họ thường
không có được sự tin tưởng của các đối tác của mình, và làm ăn theo kiểu manh muốn chộp
giật, không có những chiến lược dài hơi vì thiêu vốn Chỉ có 1/3 doanh nghiệp là được vay
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />vốn ngân hàng, trong số những doanh nghiệp được vay vốn thì họ chỉ vay được 20 % trong
tổng số vốn của họ còn lại 80% là huy động từ bạn bè, gia đình, vốn bản thân và sử dụng tín
dụng thương mại đối với đối tác kinh doanh, thậm chí là nguồn vốn có mức lãi suất rất cao,
đối với nguồn vốn huy động do sử dụng thì thường các họ phải chi phí “ngầm” cao hơn chi
phí thực tế khi họ thoả thuận, làm tăng chi phí sản xuất.
1.2.4.2. Về chất lượng lao động.
Khu vực kinh tế tư nhân với chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, số lao động làm
việc trong các doanh nghiệp này là rất nhỏ, bình quân mỗi một doanh nghiệp 1 doanh nghiệp
có khoảng 19 lao động, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các doanh nghiệp
vừa và nhỏ không phát triển nhanh là do trình độ lao động của các doanh nghiệp này là thấp,
các doanh nghiệp này thiếu nhân lực giỏi, thường thì lao động không được đào tạo bài bản,
có chăng chỉ là các khoa ngắn hạn, do đó họ kho tiếp thu được những tiến bộ khoa học, cũng

như kỹ năng của họ không cao do đó năng xuất lao động không cao, còn đối với những nhân
lực giỏi thì học lại không mặn mà với những doanh nghiệp này do doanh nghiệp không đáp
ứng được những tham vọng của họ, có những doanh nghiệp mà lao động không qua đào tạo
chiếm tới 100%.
Đối với các hộ kinh doanh cá thể và tiểu chủ thì họ sử dụng lao động trong gia đình và
chỉ thuê rất ít công nhân, phần lớn là không qua đào tạo .
1.2.4.3. Trình độ khoa học công nghệ.
Trong thời đại hiện nay khoa học công nghệ vô cùng quan trọng đối vối mọi mặt đời
sống xã hội, các nước phát triển trên thế giới đã áp dụng thành công những công nghệ hiện
đại vào các hoạt động của mình và đã đạt được những thành quả rất lớn, xét về mặt băng
chung thì trình độ công nghệ của nước ta so với trên thế giới thì trình độ công nghệ của nước
ta có trình độ trung bình thấp, và khu vực kinh tế tư nhân cũng không là ngoại lệ. Hầu hết
các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đang sử dụng các trang thiết bị có
trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu so với thế giới, chẳng hạn như ở tỉnh Đồng Nai tỷ lệ
là 93%, thành phố Hồ Chí Minh là 37,7% đang sản xuất bằng thủ công , 43,2% đang sản
xuất bằng bán cơ khi, bán tự động. Trình độ khoa học lạc hậu một phần do mặt bằng chung
một phần do sự thiếu vốn của các doanh nghiệp thuộc khu vực này, họ không có đủ vốn để
mua những công nghệ tiến tiến, mà công nghệ không cao dẫn đến năng suất lao động không
cao dẫn đế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường là không lớn, kể cả thị
trường trong và ngoài nước, mà cạnh tranh là yếu tố cơ bản để đảm bảo tồn tại và phát triển
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />của một doanh nghiệp, và là yếu tố sống còn của các doanh nghiệp, sản phẩm họ sản xuất ra
có bán được thì họ mới có doanh thu để mà trang trải phí và có lợi nhuận, hơn nữa các doanh
nghiệp đang tồn tại trong một môi trường cạnh tranh rất khốc liệt như hiện nay.
1.2.4.4. Trình độ quản lý.
Trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp còn thấp. Đa số các chủ doanh nghiệp, trưởng
thành từ thực tiễn và học hỏi qua bạn hàng, ước tính khoảng trên 80% trưởng thành từ kinh
nghiệm thực tiễn chỉ có một số được đào tạo qua trường lớp chính quy về quản trị doanh
nghiệp hay quản lý về kinh tế chung. Khoảng 85% các doanh nghiệp tư nhân được phát triển

trên cơ sở hộ cá thể, 285 chủ doanh nghiệp là cán bộ nhà nước đã nghỉ theo chế độ.Chính vì
quản lý và điều hành dựa vào kinh nghiệm được tích luỹ, chưa qua đào tạo và không có bằng
cấp chuyên môn nên khó khăn trong việc cạnh tranh, hơn nữa trong điều kiện hội nhập như
hiện nay.kiểu kinh doanh trên sẽ không còn phù hợp do hiện nay nó là rào cản sự phát triển
của doanh nghiệp, chẳng hạn là làm ăn theo lối chộp giật, khó có khẳ năng tiếp thu những cái
mới.

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHNT_CN BA ĐÌNH ĐỐI VỚI KHU
VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH BA ĐÌNH.
2.1.1. Quá trình hình thành.
Ngân hàng ngoại thương việt nam được thành lập ngày 1/4/1963 được thành lập theo
quyết định 115/CP ngày 30/10/1962 trên cơ sở tách từ cục ngoại hối ngân hàng TW nay là
ngân hàng nhà nước, hoạt động dưới dự bảo lãnh của ngân hàng nhà nước là ngân hàng duy
nhất được phục vụ kinh tế đối ngoại và hoạt động xuất nhập khẩu của cả nước. Theo thời
gian cùng với sự phát triển về mọi mặt của đất nước nói chung và của kinh tế nói riêng, ngân
hàng ngoại thương việt nam đã có những chiến lược nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của
đất nước hiện tại và trong tương lai, và một trong những chiến lược ấy là mở rộng địa bàn
hoạt động của ngân hàng trên khắp cả nước để đáp ứng các dịch vụ ngân hàng cho nhân dân.
Với phương châm đó ngân hàng ngoại thương chi nhánh cấp I hà nội được thành lập năm
1985 hoạt động trên một địa bàn là trung tâm tài chính của cả nước, và để đáp nhu cầu sử
dụng các dịch vụ ngân hàng ngày càng tăng, do sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của cả
nước nói chung và của thủ đô nói riêng, cùng với xu hướng ngày càng nhiều các tổ chức tín
dụng quốc tế đã, đang và sẽ vào việt nam, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang chuẩn bị vào
WTO, thì việc mở rộng và phát triển mạng lưới là bước đi quan trọng cho sự phát triển của
ngân hàng, chính vì lẽ đó mà ngân hàng ngoại thương chi nhánh Ba Đình được thành lập
ngày 15/9/2004 theo quyết định số 480/QĐ NHNT – TCCB – DT ngày 23/8/2004 là chi

nhánh cấp II hạch toán phụ thuộc vào chi nhánh cấp I Hà Nội.
Địa bàn hoạt động của chi nhánh là trên địa bàn quận Ba Đình và các vùng lân cận, đây
là khu vực tập trung dân cư đông đúc, là một trong các quận trung tâm của Thủ Đô với các
hoạt động kinh tế sôi động là điều kiện thuận lới cho chi nhánh hoạt động và phát triển.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức.
Theo quyết định số 525/QĐ/ TCCB – DDT ngày 31/10/2001 của chủ tịch hội đồng
quản trị Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, ban phân cấp, uỷ quyền của chi nhánh cấp I đối
với chi nhánh cấp II ngày 19/12/2001 của giám đốc chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà
Nội, gồm có các phòng sau.
CN cấp II
Ba Đình
Ban

Tài liệu này được tải miễn phí từ website
và />Giám />Đốc


Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />
Phòng quan hệ
Phòng kế toán dịch
Phòng hành
khách
hàng
vụphòng
ngân hàng
chínhhành
ngân và
quỹgiúp việc. đối
Mỗi phòng đều do một trưởng
và một phó phòng điều


với mỗi trưởng phòng có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
-Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm trước giám đốc chi nhánh Ba Đình về mọi mặt
hoạt động của phòng mình
- Xây dựng chương trình kế hoạch và biện pháp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
phòng mình.
- Có nhiệm vụ tham mưu giúp cho giám đốc trong việc thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của chi nhánh. Đề xuất những kiến nghị với chi nhánh ngân hàng ngoại thương Hà Nội,
Ngân hàng ngoại thương trung ương, Ngân hàng Nhà Nước thành phố,chính quyền địa
phương trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách có liên quan đến phòng mình chiệu
trách nhiệm.
- Có trách nhiệm phối hợp với các phòng ban khác của chi nhánh khi sử lý các vấn đề
nghiệp vụ có liên quan.
- Ký trên các giấy tờ, chứng từ , văn bản giao dịch.
- Phối hợp với các tổ chức Đảng, đoàn thể của cơ quan trong việc thự hiện các chế độ,
chính sách quản lý đối với công chức, viên chức. Động viên công chức viên chức tích cực
hưởng ứng các phong trào thi đua của cơ quan, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên
môn.
- Bố trí và sắp xếp cán bộ của phòng mình cho phù hợp, xây dựng nội quy làm việc và
phương thứ điều hành, có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
- Phân công trách nhiệm cho các phó trưởng phòng và các thành viên trong phòng.
-Bảo quản các tài liệu và tài liệu mật theo quy định hiện hành.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi ban giám đốc chi nhánh giao.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của phó trưởng phòng .
- Giúp trưởng phòng điều hành, chỉ đạo một số công việc do Trưởng phòng giao và chịu
trách nhiệm trước trưởng phòng và ban giám đốc chi nhánh về công việc được phân công.
- Ký thay trưởng phòng trên các giấy tờ, chứng từ, văn bản giao dịch thuộc trách nhiệm
phụ trách, trình ban giám đốc theo sự uỷ quyền của trưởng phòng và theo đúng sự phân cấp
uỷ quyền của giám đốc chi nhánh.
- Khi trưởng phòng đi vắng được thay mặt trưởng phòng giải quyết các cộng việc chung

của phòng và chịu trách nhiệm về các công việc mà mình đã giải quyết.
- Tham gia ý kiến với trưởng phòng trong việc thực hiện các mặt công tác của phòng
theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />* Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
+ Phòng quan hệ khách hàng.
- Tham gia giúp ban giám đốc để thực hiện các chính sách, chủ trương của Ngân hàng
ngoại thương Việt Nam về tiền tệ, tín dụng, thanh toán xuất nhập khẩu, ngân hàng…
- Nghiêm cứu, phân tích kinh tế địa phương, giúp ban giám đốc xây dựng chương trình
KH- KT-XH của thành phố, chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội và Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam.
- Dự thảo các báo cáo sơ kết tổng kết quý, sáu tháng và năm của chi nhánh Ba Đình để
báo cáo chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội, giúp ban giám đốc xây dựng chương
trình công tác quý, sáu tháng và năm của chi nhánh.
- Giúp giám đốc về công tác pháp chế cảu chi nhánh Ba Đình và thực hiện thông tin tín
dụng và thanh toán quốc tế.
-Thực hiện nghiệp vụ cho vay và nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch
vụ với các thành phần kinh tế theo luật của Ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng, mở tài
khoản cho vay, theo dõi hợp đồng tín dụng, hồ sơ thanh toán xuất nhập khẩu và tính lãi theo
định kỳ, thanh toán với nước ngoài theo đúng quy định của Ngân hàng ngoại thương Việt
Nam.
- Thẩm định và xem xét bảo lãnh đối với những dự án có mức ký quỹ dưới 100%, phát
hành thư bảo lãnh đối với nước ngoài kể cả việc mở L/C và thanh toán L/C trả chậm với mức
ký quỷ 100%.
- Quản lý và kiểm tra mẫu dấu đối với các ngân hàng nước ngoài.
- Phối hợp với các phòng xây dựng kế hoạch vốn theo quý, năm.
- Thông báo và lưu giữ tỷ giá mua bán hàng ngày, tỷ giá thống kê tháng, lãi suất huy
động, cho vay bằng VND và bằng ngoại tệ.
- Mua bán ngoại tệ cho các tổ chức kinh tế và cá nhân được phép mua bán ngoại tệ.

- Thực hiện các báo cáo của phòng do chi nhánh cấp I quy định.
- Thực hiện một số nghiệp vụ khác do ban giám đốc giao.
+ Phòng kế toán nghiệp vụ ngân hàng.
++ Bộ phận thông tin khách hàng.
- Tiếp nhận và mở các hồ sơ khách hàng mới
- Tiếp nhận quản lý và giải quyết các yêu cầu thay đổi về: chủ tài khoản, địa chỉ, kế toán
trưởng, mẫu dấu, chữ ký…
- Tiếp nhận và trả lời các thông tin tài khoản khách hàng: số dư tài khoản, hoạt động và
ra chi tiết liên quan đến tài khoản thông qua nhiều hình thức bao gồm giao dịch trực tiếp và
thông qua các phương tiện thông tin liên lạc.
- In, chấm và trả sao kê, sổ phụ bảng phiếu tính lãi, cấp ấn chỉ cho khách hàng .

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />- Giải đáp thắc mắc hướng dẫn quy trình nghiệp vụ cho khách hàng, phản ánh tình hình
giao dịch và đề xuất chính sách thu hút khách hàng.
++ Bộ phận dịch vụ khác hàng.
- Xử lý toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản tiền gửi cả bằng ngoại tệ và nội tệ
của mọi đối tượng khách hàng với các loại tiền và băng mọi hình thức: tiền mặt, chuyển
khoản, séc.
- Xử lý các nghiệp vụ liên quan đến các tài khoản tiền gửi, tiết kiệm,hỳ phiếu, trái phiếu
cả bằng nội tệ và bằng ngoại tệ.
-Xử lý các nghiệp vụ thanh toán thẻ và phát hành séc Vietcombank.
- Xử lý nghiệp vụ mua, chuyển đổi ngoại tệ, séc du lịch bằng mọi hình thức và bán ngoại
tệ theo hộ chiếu.
- Chi trả kiều hối chuyển tiền nhanh
- Quản lý các đại lý uỷ nhiệm thu hồi.
- Tiếp nhận và kiểm tra tính pháp lý các chứng từ nhờ thu trong nước, nước ngoài, séc
đích danh.
- Trực tiếp thu chi tiền mặt, séc du lịch liên quan đến các nghiệp vụ trên theo hạn mức

giám đốc giao cho.
- Phát hành thư bảo lãnh ( dự thầu hay đấu thầu ) cho khách hàng trong nước ký quỹ
100% và các hồ sơ bảo lãnh của phòng tín dụng – tổng hợp thẩm định chuyển tiền đến.
++ Nghiệp vụ chuyển tiền và quản lý tài sản .
- Tạo các bảng sao kê trả lương tự động, thực hiện các giao dịch chuyển tiền tự
động(AFT), các giao dịch đầu tư tự động.
- Hạch toán và quản lý hồ sơ tiền vay do phòng tín dụng chuyển xuống .
- Sau khi kiểm tra, đối chiếu và tính lãi theo định kỳ cho khách hàng trên các tài khoản
tiền gửi, tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, tài khoản tiền vay, chuyển kết quả đến cho bộ phận
quản lý thông tin khách hàng để thông báo cho khách hàng.
- Quản lý toàn bộ tài sản khách hàng ( các tài khoản nội bảng và tài khoản ngoại bảng liên
quan, banrg kê tiết kiệm trái phiếu, kỳ phiếu).
- Tạo diện, bảng kê, tạo file đi nước ngoài, đi liên hàng bù trừ.
- Tạo thư nhờ thu, thanh toán báo cáo nhờ thu.
- Đóng và lưu nhật ký chứng từ.
- Thực hiện báo cáo thống kê theo quy định của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội.
++ Bộ phận quản lý chi tiêu nội bộ.
- Quản lý thu nhập chi phí của khách hàng.
- Thực hiện chế độ chi tiêu hành chính có hạn mức tối đa do chi nhánh quay định
- Thực hiện một số nhiệm vụ do ban giám đốc giao cho.
* Phòng hành chính – ngân quỹ.
++ Công tác hành chính.

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />- Tham mưu cho ban giám đốc về những vấn đề chung của công tác hành chính, quản trị,
sửu chữa nhỏ, mua sắm tài sản, vật liệu, thực hiện các hợp đồng về điện nước, điện thoại.
- Trực tiếp quản lý con dấu của chi nhánh, thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu
trữ, in ấn, telex, fax, quản lý tài liệu mật và bảo quản tài liệu tại kho chi nhánh.
- Quản lý, bảo quản tài sản của chi nhán, ô tô, kho vật liệu dự trữ của chi nhánh theo

đúng chế độ quy định.
- Thực hiện công tác lễ tân, công tác phục vụ các hợp đồng của chi nhánh.
- Thực hiện bảo vệ cơ quan bằng cách phối hợp với các phường có liên quan.
- Tham mưu cho ban giám đốc về chế độ chính sách đối với cán bộ công nhân viên
trong cơ qua, tổng hợp công tác thi đua trong cơ quan.
++ Công tác ngân quỹ.
- Thu chi đồng Việt Nam và ngân phiếu.
- Thu chi các loại ngoại tệ: tiền mặt, séc du lịch, giám định tiền thật, tiền giả.
- Quản lý kho tiền, tài sản thế chấp,chứng từ có giá .
- Thực hiện điều chuyển tiền mặt, đảm bảo định mức tồn quỹ VND, ngoại tệ, ngân
phiếu, séc.
- Thực hiện các báo cáo của phòng theo quy định của chi nhánh cấp I.
++ Thực hiện một số công việc khác do giám đốc giao.
2.1.3.Nhiệm vụ và phương hướng phát triển.
Chi nhánh được thành lập và đi vào hoạt động nhằm mở rộng lượng khách hàng giao
dịch, cung cấp các dịch vụ ngân hàng theo các yêu cầu của Ngân hàng ngoại thương chi
nhánh cấp I hà nội và của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam như: Cho vay, thanh toán xuất
nhập khẩu, mở tài khoản giao dịch cho khách hàng, phát hành và thanh toán thẻ, mua bán
các loại ngoại tệ… để phục vục các khách hàng trong và ngoài nước hoạt động trên địa bàn
Ba Đình và các vùng lân cận. Đối với hoạt đông tín dụng chi nhánh tập trung vào khách hàng
là khu vực kinh tế tư nhân. Chi nhánh chỉ tập trung vào việc phát triển khách hàng là các
doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và các khách hàng là thể nhân với các hình thức
cho vay cầm cố, thế chấp tài sản là chứng từ có giá, các hoạt động tín dụng của chi nhánh
đảm bảo tăng trưởng thận trọng, và ngày càng nâng cao chất lượng tín dụng.
Sang năm 2006 thực hiện chủ chương tăng cường hoạt động cho vay bán lẽ của Ngân hàng
ngoại thương Việt Nam nhằm đa dạng hoá khách hàng và các sản phẩm tín dụng, chi nhánh
Ba Đình sẽ chú trọng hơn nữa vào mảng khách hàng là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế tư nhân và đối tượng khách hàng là thể nhân trên địa bàn quận và các vùng lân cận trên cơ
sở an toàn, bền vững, góp phần vào sự phát triển hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động
kinh doanh nói riêng.

2.2. KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN HÀ NỘI.
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />Cùng với sự phát triển của kinh tế tư nhân nói chung. Khu vực kinh tế tư nhân hà nội
cũng có sự phát triển rất nhanh chóng và mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng, nhất là từ
khi có luật doanh nghiệp ra đời và đi vào đời sống từ 1/1/2000. Và Nhà nước đã tạo điều
kiện dễ dàng cho việc thành lập doanh nghiệp do đó đã có sự tăng đột biến.
Số lượng giai đoạn 2000-2002 bình quân mỗi năm có 3320 doanh nghiệp thành lập mơi.
gần 276doanh nghiêp/tháng, trong năm 2003 bình quân mỗi tháng có khoảng gồm 500 doanh
nghiệp được thành lập.
Về vốn cùng với tốc độ tăng của các doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đang ký
cũng tăng mạnh mẽ. Từ năm 2000 – 2003 số doanh nghiệp mới đang ký với tổng số vốn là
24000632 triệu đồng. Bình quân vốn đang ký kinh doanh của mỗi doanh nhgiệp giai đoạn
2000 – 2003 là 1,66 tỷ đồng.
Loại hình doanh nghiệp được lựa chọn nhiều nhất là công ty trách nhiệm hữu hạn, tính từ
năm 2000 đến nay, tiếp đó là công ty cổ phần cũng trong giai đoạn này số lượng doanh
nghiệp thay đổi nội dung là tương đối lớn và cũng làm tăng đáng kể lượng vốn đang ký bổ
sung. Giai đoạn từ 2000 – 2003 có 3244 lượt đang ký bổ sung với tổng số vốn tăng đang ký
tăng là 7236 tỷ bằng 1/3 số vốn của đang ký mới, số doanh nghiệp đang ký giảm vốn và giải
thể không còn hoạt động là rất thấp.
Đối với hộ kinh doanh cá thể và tiểu chủ thì chủ yếu tham gia vào hoạt động trong lĩnh
vực thương mại – dịch vụ là hệ buôn bán nhỏ, nhận hàng của doanh nghiệp bán buôn bán lẻ
hoặc làm đại lý. Do đó đã tạo thành một hệ thống bán lẽ và dịch vụ phục vụ tiêu dùng rộng
kháp trên địa bàn.
Với sự phát triển ngày một mạnh mẽ, khu vực kinh tế tư nhân Hà Nội đã và đang có sự
đóng góp rất tích cực vào kinh tế hà nội nói riêng và cả nước nói chung.
2.2.1. Những đóng góp.
2.2.1.1. Vào GDP.
Khư vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định được vai trò trong phát triển xã hội của
thủ đô, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp trên 20% tổng sản

phẩm quốc nội của thành phố và đang phát triển khá tốt trong các ngành kinh tế, khu vực
kinh tế tư nhân hà nội cũng có sự đóng góp quan trọng vào ngân sách của thành phố. Và sự
đóng góp ngày càng tăng theo thời gian, cụ thể trong 5 năm từ 1996 – 2000 tổng số nộng gân
sách 24683 tỷ đồng chiếm 4,3% ngân sách thành phố. Năm 2001 đóng góp 528,2 tỷ đồng
chiếm 3,35 ngân sách thành phố, năm 2002 là 650 tỷ đồng chiếm 3,6%.
2.2.1.2.phát triển công nghiệp.

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />Khu vực kinh tế tư nhân hà nội có những đóng góp to lớn trong phát triển công nghiệp,
giai đoạn 1996 – 2002 giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15,53% /năm, năm 20012005 giá trị công nghiệp tăng bình quân là19,67%, khư vực kinh tế tư nhân tăng cao hơn khu
vực kinh tế nha nước: giai đoạn 1991 đến 2000 là 10,05%, giai đoạn 2001 đến 2002 là
17,46%.
Công nghiệp thuộc khư vực kinh tế tư nhân phát triên rất đa dạng và phong phú và tham
gia vaò hầu hết các ngành. Tập trung nhiều cào các ngành như chế biến lương thực thực
phẩm, đồ uống dệt may …qua các số liêu trên ta thấy rằng giá trị công nghiệp của khu vực
kinh tế tư nhân hà nội tăng qua các năm và hầu như chỉ tập trung vào các ngành công nghiệp
có trình độ công nghệ không cao do đó giá trí trị sản phẩm không cao.
Trong đó đóng góp trong các ngành công nghiệp chủ lực của thành phố hà nôị như sau:
ngành cơ khí và kim khí tỷ trọng giá trị sản xuất cơ khí khu vực tư nhân năm 1995 chiếm
10,35%, năm 2002 là 10,08%, tốc độ tăng giai đoạn năm 1991 – 2000 là 21% và từ 20012002 là 10%.
+ ngành dệt may khu vực kinh tế tư nhân có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình
của toàn thành phố. Giai đoạn 1986 – 2000 là khoảng 20%/năm, năm 2001 – 2002 là
15,6%/năm, tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong các ngành nay tăng từ 7,4% năm
1995 lên 10,4% năm 2002.
+ về điện tử tốc độ phát triển giai đoạn 1996 – 2000 là 76%/ năm, giai đoạn 2001 –
2002 là 25,3% trên/năm, trong khi đó khu vực kinh tế nhà nước có tốc độ tăng tương ứng là
12,4%/năm và 18,9%/năm. nhưng tỷ trọng còn thấp năm 1995 chiếm 5,84%, năm2002
chiếm 3,85%.
+ngành chế biế lương thực thực phẩm giai đoạn 1996 - 2000 khu vực kinh tế tư nhân

tăng 9,11%/ năm, giai đoạn 2001- 2002 là 24,93%/năm trong khi đó tốc độ tăng trung bình
của thành phố là 9,87%/ năm giai đoạn 1996 – 2000, là 13,48%/năm giai đoạn 2001- 2002.
Tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân tăng 15,1% năm 1995 lên 17,67% năm 2002.
+ về vật liệu xây dựng số lượng doanh nghiệp trong ngành này giảm mạnh giá trị sản
suất khu vực kinh tế tư nhân tăng trung bình là 2,44%/năm giai đoạn 1996 – 2000, trong giai
đoạn 2001 – 2002 là 11,5% thấp hơn nhiều so với khu vực kinh tế nhà nước.
+ về xây dựng các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân gặp nhiều khó khăn.
trong đó lớn nhất là vốn đầu tư để nâng cấp, cải tạo, đổi mới trang thiết bị, áp dụng công
nghệ hiện đại… đa số các doanh nghiệp kinh tế tư nhân hà nội có quy mô vốn bình quân là
2,5 tỷ đồng trong đó các doanh nghiệp có mức vốn dưới một tỷ xấp xĩ 80% tổng số.
Tài liệu này được tải miễn phí từ website và />

×