Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

SKKN Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (231.97 KB, 23 trang )

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN LỆ THỦY
TRƯỜNG THCS KIẾN GIANG
-----------------* * * * *-----------------

Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận
cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

NGƯỜI THỰC HIỆN : NGƠ MẬU TÌNH

Năm học : 2010-2011


A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản mà việc tạo lập là vơ cùng khó đối với
học sinh THCS. Nó khơng chỉ địi hỏi phải có kiến thức chính xác sâu rộng, phong
phú; những suy nghĩ, quan điểm đúng đắn về văn chương, về đời sống xã hội, mà đòi
hỏi cả sự tư duy lơgíc, chặt chẽ, với những cách lập luận sắc sảo, thấu tình đạt lí thì
mới có thể hấp dẫn thuyết phục được người đọc người nghe.
Dạng bài mà học sinh phải tạo lập thì nhiều, mỗi dạng lại có những yêu cầu cách
thức nghị luận khác nhau. Nào là nghị luận văn chương, rồi nghị luận đời sống xã hội.
Trong đó, riêng nghị luận văn chương lại có những dạng cụ thể hơn nữa, kiến thức lại
phức tạp hơn.
Nghị luận văn chương gồm có nghị luận về một vấn đề văn học, một nhân vật
văn học, một tác phẩm hay đoạn trích văn học…Đó là chưa kể nhân vật thì có nhiều
kiểu, tác phẩm văn học thì có nhiều thể loại, với những đặc điểm khơng giống nhau.
Do vậy, nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi, tơi có
tham vọng đề cập đến vấn đề rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận văn học cho
học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn nghị luân văn học, góp phần


làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cấp huyện.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Điều tra khảo sát thực tế nhằm tìm hiểu thực trạng học sinh học tập làm văn phần
nghị luận văn học lớp THCS.
- Phân tích, tổng hợp và nghiên cứu lí luận để tìm hiểu cơ sở khoa học của đề
tài.
- Tổng kết kinh nghiệm dạy phân môn tập làm văn .
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Thời gian: Bắt đầu từ năm học 2010-2011
- Đề tài đề cập đến một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng làm bài văn nghị luận
văn học THCS.

Ngô Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

2


PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1. Cơ sở lý luận:
Trong nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7- tập II, Ngữ văn 8- tập II
và Ngữ văn 9- tập II, có đưa ra những bài học về cách thức tạo lập văn bản nghị luận,
nhưng chưa đầy đủ cụ thể hệ thống để đáp ứng được việc tạo lập các văn bản mà đề ra
quá phong phú, đa dạng. Thời lượng dành cho việc học tập thực hành các dạng bài
nghị luận cũng là q ít ỏi, khơng đầy đủ ở tất cả các dạng, nhất là ở lớp 9.
Lớp 7: Gồm 14 tiết, tìm hiểu chung về đặc điểm bài văn nghị luận, cách làm bài
văn lập luận chứng minh, cách làm bài văn lập luận giải thích ( khơng kể tiết làm bài
kiểm tra).
Lớp 8: Gồm có 6 tiết, ơn tập về luận điểm và hướng dẫn cách sử dụng yếu tố
miêu tả, tự sự và biểu cảm vào bài văn nghị luận ( không kể tiết kiểm tra).

Lớp 9: Gồm có 14 tiết, hướng dẫn về về phép lập luận phân tích và tổng hợp,
cách làm bài nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống; về một vấn đề tư tưởng đạo lí;
về một bài thơ đoạn thơ và về một tác phậm truyện hoặc đoạn trích.
So lượng kiến thức bài học tập làm văn với lượng thời gian hướng dẫn học trên
lớp cho học sinh lớp 9 như vậy là quá ít. Mỗi dạng lớn chỉ được học chung chung
trong ba bốn tiết học.
Do vậy, học sinh rất khó hình thành cho mình những kỹ năng nghị luận văn học
cần thiết để đáp ứng với việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
2. Cơ sở thực tiễn:
- Sách giáo khoa khơng có những bài hướng dẫn cụ thể cho cách làm bài văn lập
luận như cảm nhận, phân tích, bình luận, chứng minh…hay cách làm các bài văn với
đề mở, đề có tính chất tổng hợp cho từng đối tượng nghị luận riêng. Đặc biệt, khơng
có bài hướng dẫn cụ thể cách làm bài lập luận phân tích hay cảm nhận về từng đối
tượng cụ thể như: về một nhân vật văn học, về tồn bộ tác phẩm (đoạn trích), về một
phương diện yếu tố nội dung, nghệ thuật…của tác phẩm (đoạn trích); khơng có bài
học hướng dẫn cách làm bài lập luận bình luận hay giải thích, chứng minh về một vấn
đề tư tưởng đạo lí, chỉ hướng dẫn chung theo phương pháp bình luận;….
- Có ba bài viết văn hồn chỉnh, thì cũng chỉ có thể lựa chọn được ba dạng bài ra
cho học sinh làm. Nếu làm nghị luận về hiện tượng đời sống thì khơng làm nghị luận
về vấn đề tư tưởng đạo lí. Cịn khi làm nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích,
bài thơ hoặc đoạn thơ thì chọn đối tượng này lại mất đối tượng kia (Đối tượng ở đây
là cả bài, cả đoạn hay chỉ một phượng diện khía cạnh nào đó).
Ngơ Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

3


Nhưng đề thi khảo sát chất lượng văn hoá, đề tuyển sinh lớp 10, nhất là đề thi
học sinh giỏi Ngữ văn các cấp thì lại phong phú đa dạng hơn những gì các em được
trang bị qua chương trình sách giáo khoa, đề ra lại còn ngày càng mới lạ, vì ai ra đề

cũng khơng muốn lặp lại đề người khác ra rồi, năm trước làm rồi… Viết một bài nghị
luận đã được học đã khó, viết một bài khơng được hướng dẫn cụ thể trong chương
trình lại càng khó hơn.
4. Học sinh hiện nay nói chung đa số không ham muốn học tập môn Ngữ văn,
nhất là ngại làm những bài văn. Thời gian các em chủ yếu đầu tư cho việc các môn
thuộc khoa học tự nhiên. Có lẽ ngồi ngun nhân khách quan từ xã hội, thì một phần
cũng do làm văn q khó, lại mất nhiều thời gian. “Công thức” làm văn cho các em
lại khơng được hình thành cụ thể. Các em khơng phân biệt rõ các thao tác nghị luận
chính mà mình sử dụng. Càng ngày, kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh càng kém
hơn, và rất hiếm có những bài văn nghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi
cách lập luận rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm luận cứ…Bài viết
của các em khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng với
nội dung nghị luận của đề bài. Ví dụ, đề bài yêu cầu cảm nhận các em lại làm như một
bài phân tích, thiếu cảm xúc, thái độ tình cảm; đề bài yêu cầu nghị luận về một nội
dung của tác phẩm các em lại nghị luận về tồn bộ tác phẩm đó; các em không không
phân biệt được viết như thế nào là bài bình giảng, viết như thế nào là bài phân tích
một đoạn thơ bài thơ; hoặc khi nghị luận kết hợp giải quyết một ý kiến nào đó liên
quan tới tác phẩm, các em lại quên mất việc giải quyết ý kiến đó (qn giải thích ý
kiến, qn xốy vào tác phẩm để làm rõ ý kiến) mà cứ sa vào nghị luận toàn bộ tác
phẩm…
Nguyên nhân mấu chốt là học sinh thiếu kĩ năng hoặc còn non kém về kĩ năng
làm bài văn nghị luận.
Vậy nên, việc nâng cao mở rộng, luyện tập thêm cho học sinh kĩ năng lm bi
vn ngh lun l rt cn thit.
II.Kĩ năng làm các dạng NGH LUN VN HC:
* K nng lm bi nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

1. Kĩ năng chung
- Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ để nắm được nội dung và nghệ thuật cơ bản
- Nắm được những thơng tin xuất xứ: tác giả, hồn cảnh ra đời bài thơ. Đặc biệt

phải thấy được sự chi phối của phong cách nghệ thuật của tác giả và hoàn cảnh ra đời
đến giá trị bài thơ, đoạn thơ.
- Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ thường phải bám vào các đặc điểm riêng của thơ
ca nhất là đặc trưng về nghệ thuật để khai thác làm rõ nội dung nghị luận. Đó là thể
Ngơ Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

4


thơ, là hình ảnh, ngơn từ, giọng điệu, các biện pháp tu từ…Vì vậy, có thể đặt các câu
hỏi sau để định hướng cho việc nghị luận
+ Nội dung chủ yếu của bài thơ, đoạn thơ là gì?
+ Có thể chia bố cục của bài thơ, đoạn thơ không?
+ Bài thơ, đoạn thơ sử dụng những từ ngữ nào hay, độc đáo? Giá trị biểu đạt là gì?
+ Biện pháp tu từ nào được sử dụng có hiệu quả và hiệu quả như thế nào?
+ Trong bài thơ, đoạn thơ có những hình ảnh nào cần phân tích? Phân tích ra sao?
+ Giọng điệu chủ đạo của bài thơ, đoạn thơ như thế nào?
+ Bài thơ, đoạn thơ gợi liên tưởng đến đoạn thơ, bài thơ nào?
+…
- Tuỳ theo yêu cầu về thao tác nghị luận và đối tượng nghị luận cụ thể để có cách
khai thác, lập luận và diễn đạt phù hợp. Khi làm bài có thể vận dụng phép so sánh đối
chiếu với những câu thơ, đoạn thơ khác của tác giả hoặc của tác giả khác. Nếu là đề
mở, cần vận dụng linh hoạt các thao tác nghị luận phù hợp, có hiệu quả, nhất là thao
tác giảng bình.
2. Kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn thơ
- Khi nghị luận cần đặt đoạn thơ trong mạch cảm xúc chung của tồn bài để có
những lí giải phù hợp.
- Sau khi phân tích, bình giá những khía cạnh nội dung và nghệ thuật, cần đánh
giá vẻ đẹp riêng của đoạn thơ đó và vai trị vị trí của đoạn thơ đối với cả bài. Thậm
chí từ một đoạn thơ, cần bước đầu thấy được phong cách nghệ thuật của tác giả.

- Dàn bài :
a. Mở bài:
+ Giới thiệu khái quát về tác giả (chỉ nên giới thiệu vị trí văn học của tác giả,
khơng đi sâu vào các phương diện khác)
+ Giới thiệu về bài thơ
+ Dẫn đoạn thơ cần nghị luận và nêu khái quát những ấn tượng chung về đoạn
thơ đó ( hoặc nên khái quát nội dung đoạn thơ)
b.Thân bài: Tiến hành nghị luận về các yếu tố nghệ thuật, các phương diện nội
dung của đoạn thơ. Chú ý làm nổi bật và nhấn mạnh hơn ở những đặc sắc về nội dung
và nghệ thuật. Mức độ phân tích, đánh giá, nhận xét, và bày tỏ cảm xúc, tình cảm của
mình về đoạn thơ cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu về thao tác nghị luận
cơ bản của từng đề ra.
Ngơ Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

5


c. Kết bài: Đánh giá vai trò ý nghĩa của đoạn thơ trong việc thể hiện chủ đề tư
tưởng của toàn bài. Nêu những cảm nghĩ, ấn tượng sâu đậm nhất về đoạn thơ.
3. Kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ
Các đối tượng của đề bài nghị luận về một bài thơ là rất phong phú đa dạng. Có
thể nghị luận về tồn bộ bài thơ, có thể nghị luận về một phương diện của bài thơ:
một nhân vật trữ tình, một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật tiêu biểu…Mỗi đối
tượng ấy cũng có một số kĩ năng riêng . Cụ thể:
Dạng 1: Nghị luận về toàn bộ bài thơ
- Cần phát hiện mạch cảm xúc của bài thơ và mạch cảm xúc ấy chi phối bố cục
bài thơ như thế nào? Nắm vững nội dung từng phần, từng đoạn một cách cụ thể.
- Vì là nghị luận cả bài nên ở nhiều câu, nhiều đoạn không bắt buộc phải khai
thác kĩ như nghị luận về một đoạn. Người viết cần biết lướt qua, tóm lược ở những
đoạn, những câu khơng góp phần nhiều vào việc thể hiện giá trị của bài thơ.

- Cần thấy được vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp của tác giả, cũng như của cả
một giai đoạn văn học, một thời kì văn học, thậm chí là cả của nền văn học dân tộc.
- Có những bài thơ, nhất là những bài thơ dài, người viết có thể trình bày cách
cảm, cách hiểu của mình theo chiều dọc ( về từng phương diện nội dung của bài). Khi
khai thác từng phương diện cũng yêu cầu khai thác cả những tín hiệu nghệ thuật đặc
sắc góp phần diễn đạt nội dung ấy.
- Dàn bài chung:
a. Mở bài
+ Giới thiệu khái quát về tác giả ( vị trí văn học, phong cách nghệ thuật của tác
giả mà không đi sâu vào những phương diện khác).
+ Giới thiệu bài thơ, nội dung bao trùm bài thơ
+ Bước đầu đánh giá về bài thơ đó (tuỳ theo đề bài và nội dung cụ thể của bài thơ
mà đưa ra những đánh giá, nêu ấn tượng cho phù hợp…)
b.Thân bài
+ Có thể nêu sơ qua hoàn cảnh ra đời của bài thơ.
+ Tiến hành thuyết minh, phân tích, bình giảng, nêu cảm xúc về lần lượt từng
khổ thơ đoạn thơ (theo bố cục) các phương diện cụ thể của bài thơ. Chú ý, làm nổi bật
được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật. Trong khi trình bày, có thể liên hệ so
sánh với những bài thơ, đoạn thơ, câu thơ khác để ý được nổi bật, thuyết phục.
c.Kết bài:

Ngơ Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

6


+ Đánh giá vai trị vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp văn học của tác giả, đối với
văn học dân tộc nói chung
+ Khẳng định lại những cảm xúc, những suy nghĩ tâm đắc nhất về bài thơ.
Ví dụ: Cảm nhận về bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của

Nguyễn Khoa Điềm.
1. Mở bài: Giới thiệu bài thơ và nêu những ấn tượng chung về bài thơ
2. Thân bài:
- Cảm nhận chung về hình thức kết cấu bố cục của bài thơ: chia ba đoạn, với ba khúc ru,
ba khúc ru có sự đan xen lời ru của tác giả và lời ru của người mẹ dành cho em bé. Ba khúc
ru được lặp lại những câu đầu, được sắp xếp theo trình tự tăng tiến, với sự mở rộng về khơng
gian, về tính chất cơng việc người mẹ làm, đặc biệt về sự nâng cao phát triển trong tình cảm,
ước mơ của người mẹ…Nhờ thế vẻ đẹp của hình tượng người mẹ cũng như tình cảm của tá từng vế, vừa giải thích vừa chứng minh (hoặc giải thích chung trước, sau đó chia
ra từng vế mà chứng minh)
- Nếu ý kiến đưa ra là một vấn đề về lí luận văn học, cần phải có sự kết hợp cả kiến
thức lí luận văn học liên quan để giải thích, phân tích. Khi làm bài phải đặt nội dung phân
tích về tác phẩm, văn bản trong mối quan hệ chặt chẽ với kiến thức lí luận ấy.
c. Kết bài:
- Khẳng định lại ý kiến
- Đánh giá giá trị của tác phẩm thêm ở những phương diện khác, nâng cao thêm.
Ví dụ 1: “ Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta
sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Tất cả tâm hồn chúng ta đọc,
khơng phải chỉ có trí thức (…). Cho đến một câu thơ kia, người đọc nghe thì thầm mãi
trong lịng, mắt khơng rời trang giấy.”
( Tiếng nói của văn nghệ- Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9 tập II)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy chứng tỏ rằng bài thơ “Đồng chí” ( Chính
Hữu) là một bài thơ như thế.

2. Kĩ năng làm bài văn nghị luận tổng hợp, xâu chuỗi nhiều đối tượng
a. Cần hiểu đây là dạng bài nghị luận có tính chất tổng hợp và so sánh đối chiếu
giữa nhiều đối tượng văn học. Có thể đề bài yêu cầu nghị luận về toàn bộ nội dung và
nghệ thuật của hai hay nhiều tác phẩm; có thể yêu cầu nghị luận về một phượng diện
như đề tài, nhân vật, cốt truyện, tình huống, chi tiết nghệ thuật, hình ảnh…của các tác
phẩm cùng hoặc khơng cùng tác giả, trào lưu, thời đại văn học…
b. Khi làm bài cần chỉ ra chỗ giống và khác nhau giữa các đối tượng. Từ đó thấy

được sự kế thừa, sáng tạo cách tân của tác giả, tác phẩm; thấy được phong cách tác
giả, đặc điểm văn học một trào lưu, một giai đoạn, thời kì nào đó…Đặc biệt cần chỉ ra
được nguyên nhân, cơ sở của những đặc điểm đó là gì thì bài viết mới sâu sắc.
c. Dàn bài
- Mở bài: giới thiệu khái quát về các đối tượng và nêu ấn tượng nhạn xét chung
- Thân bài
Cách 1:

Ngô Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

17


+ Làm rõ đối tượng thứ nhất
+ Làm rõ đối tượng thứ hai

+ Nhận xét, đánh giá làm nổi bật điểm chung giữa các đối tượng và nếu có thể thì
khái quát thành đặc điểm phong cách sáng tác và sự kế thừa phát huy của tác giả ( nếu
đối tượng của cùng tác giả), đặc điểm của trào lưu, thời kì văn học ( khơng cùng tác
giả mà cùng trào lưu, cùng thời kì văn học)
+ Chỉ ra và làm rõ điểm riêng, khác biệt từ đó phân tích nguyên nhân của những
sự khác nhau ấy. Có thể làm nổi bật sự cách tân, sáng tạo của tác giả.
Cách 2 :
+ Nghị luận lần lượt những điểm chung giữa các đối tượng. Mỗi điểm chung lịa
phân tích từng đối tượng để làm rõ.
-> Khái quát thành đặc điểm phong cách sáng tác và sự kế thừa phát huy của tác
giả ( nếu đối tượng của cùng tác giả), đặc điểm của trào lưu, thời kì văn học ( khơng
cùng tác giả mà cùng trào lưu, cùng thời kì văn học)
+ Nghị luận làm rõ những điểm riêng giữa các đối tượng. Sau đó phân tích
ngun nhân của những sự khác nhau ấy, có thể làm nổi bật sự cách tân, sáng tạo của

tác giả.
- Kết bài: Khái quát khẳng định lại những điểm chung riêng nổi bật của các đối
tượng. Có thể nêu cảm nghĩ của bản thân.
Ví dụ:
Bài 1: Cảm nhận của em về cuộc đời số phận của Vũ Nương trong “Chuyện người
con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ) và Thuý Kiều trong những đoạn trích từ “Truyện
Kiều” (Nguyễn Du) mà em đã được học .
Làm cho khốc liệt chẳng qua vì tiền”
Bài 2: Trong bài Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải viết :
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa.
Kết thúc bài Viếng lăng Bác, Viễn Phương có viết :
Mai về Miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác.
Trình bày cảm nhận của em về những câu thơ trên.

Ngơ Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

18


3. Kĩ năng so sánh văn học
3.1. Mục đích: So sánh là một thao tác của tư duy.Trong quá trình nhận thức thế
giới khách quan, kĩ năng so sánh bao giờ cũng giúp phát hiện cái mới, cái khác biệt.
Đối với việc cảm thụ phân tích văn chương, so sánh thường hướng vào hai mục đích
chính:
- Chỉ ra những nét riêng, nét độc đáo, sáng tạo; phát hiện những vẻ đẹp văn
chương khơng lặp lại, những đóng góp cụ thể của nhà văn nhà thơ.Sự cảm thụ phân
tích được đầy đủ chu đáo.
- Phát hiện những quy luật chung giữa những tác phẩm, tác giả,hoặc giai đoạn

văn học…Việc rút ra những quy luật chung giúp cho nhận thức của người phân tích
một vấn đề trở nên sâu sắc hơn, vững vàng hơn và từ đó đặt nền móng cho những phát
hiện mới mẻ khác.
3.2. Những hình thức cấp độ so sánh:
Kĩ năng so sánh có hể thực hiện trên nhiều cấp độ. Nhỏ thì là ở cách dùng từ,
hình ảnh, hình tượng; lớn thì ở đề tài, tác phẩm, tư tưởng, phong cách …Thậm chí có
thể so sánh giữa các giai doạn văn học, thời kì văn học, những đặc điểm của các nền
văn học. Sau đây là một số hình thức cấp độ thường dùng:
a. Hình thức so sánh ở cấp độ hình ảnh:
Từ một hình ảnh này ta có thể so sánh với hình ảnh khác trên cơ sở tương đồng
hoặc tương phản có tác dụng làm nổi bật hình ảnh được so sánh, thể hiện rõ những nét
chung nào đó.
Ví dụ phân tích về hình ảnh trong hai câu thơ tả mùa xuân của Nguyễn Du có thể so
sánh với hai câu thơ cổ của Trung Quốc; phân tích hình ảnh “ Thương nắm tay năm lấy bàn
tay” trong thơ Chính Hữu với hình ảnh “ Bắt tay qua cửa kính võ rồi” của Phạm tiến Duật;


b. Hình thức so sánh ở cấp độ tác phẩm:
Khi phân tích một tác phẩm ta có thể so sánh với:
- Những tác phẩm trước nó để thấy được sự kế thừa và cách tân.
- Những tác phẩm sau nó để thấy đặc điểm của văn học thời đại và sự phát triển
của văn học nói chung.
- Những tác phẩm cùng thời để thấy sự độc đáo.
- Những tác phẩm của chính nhà văn để thấy vẻ riêng hoặc một quy luật chung
nào đấy.

Ngơ Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

19



VD: Nói về tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao có thể so sánh với “Chí Phèo”, với “Tắt
đèn”…

c. Hình thức so sánh ở cấp độ đề tài:
Để nhận ra giá trị nghệ thuật của tác phẩm, kĩ năng so sánh ở cấp độ này cũng tỏ
ra rất đắc dụng. Và điều quan trọng trong văn chương không phải là đề tài mà là
cách xử lí đề tài của tác giả.
Cùng viết về đề tài người nông dân trước cách mạng nhưng Ngô Tất Tố, Nguyễn Công
Hoan, Nam Cao, Kim Lân…lại có những khám phá rất khác nhau; cùng lấy mùa thu làm cảm
hứng nhưng Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng Lư…lại có những cảm nhận riêng; thậm
chí ở cùng một tác gỉa, mùa thu cũng được phat hiện với bao vẻ đẹp phong phú ( VD cảm
hứng về thiên nhiên vũ trụ trong thơ Huy Cận trước và sau cách mạng có những nét riêng do
sự thay đổi trong tư tưởng, thế giới quan nhân sinh quan của tác giả).

So sánh những cách diễn tả, thể hiện đề tài, cảm hứng của tác giả, tác phẩm như
thế sẽ thấy được những nét mới mẻ, phát triển…
d. Hình thức so sánh về khuynh hướng tư tưởng: So sánh về tư tưởng, tình cảm,
cách nhìn đời nhìn người…
VD: Cùng tư tưởng nhân đạo nhưng giữa những tác giả Ngô Tất Tố và Nam Cao lại có
những biểu hiện khác nhau. Tư tưởng nhân đạo tuy là cái nền của mỗi tác phẩm, là cái chân
giá trị, là mẫu số chung của mọi tác phẩm, là điểm gặp gỡ giữa những nhà văn chân chính
nhưng với mỗi tác giả cụ thể ta có thể gặp những nét đặc sắc riêng.

3.3. Yêu cầu:
- Phải có vốn kiến thức phong phú, có tư duy sắc sảo, sự lien tưởng nhạy bén..
phải biến so sánh trở thành một phản xạ thường trực trong tư duy.
- So sánh phải hợp lí, phỉ cùng cấp độ phương diện
- So sánh phải có tính phat hiện, phải tìm ra được nét mới, nghĩa là phải có mục đích.
- So sánh phải có mức độ, chừng mực, phù hợp phạm vi, đối tượng.

3.4. Cách sử dụng:
- Dẫn câu thơ, hình ảnh, tên tác phẩm… mà khơng cần phân tích, chỉ dùng
như một sự liên tưởng hoặc sự vay mượn để diễn đạt.
Ví dụ 1: Trong những kỉ niệm cái thời quân ngũ ấy, có rất nhiều điều đáng nhớ. Nhớ
nhất là tình đồng chí đồng đội sẻ chia nhau những ngọt bùi, gian khổ.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.

Ngô Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

20


Đây là những cơn sốt rét rừng thường gặp, một căn bênh rất nguy hiểm, hay dẫn đến tử
vong, nếu khơng thì cũng làm cho người lính có những biểu hiện khác lạ về ngoại hình như
trong thơ Quang Dũng “Tây Tiến đồn binh khơng mọc tóc” ( Tây Tiến). Và ở đây, những
người lính đã phải trải qua những cơn “sốt run người vừng trán ướt mồ hơi”. Vì hiểu nhau
hiểu đến mức “ Hiểu nhau rồi hiểu lắm bạn, đời ơi” ( Tố Hữu) mà họ sẻ chia những đau ốm
bệnh tật để có thể vẫn “ miệng cười buốt giá” nhìn nhau. Một nụ cười vừa tươi vui, vừa xuýt
xoa vì rét, vì lạnh. Vượt qua những cơn lạnh thấu xương ấy chỉ có thể bằng nghị lực, bằng sự
nâng đỡ của tình đồng chí đồng đội. Bởi thế nụ cười tuy thấm thía gian khổ thiếu thốn mà vẫn
hồn nhiên, yêu đời”.
Ví dụ 2: Trở lại với phong cách thơ của Phạm Tiến Duật, đọc “ Bài thơ về tiểu đội xe
khơng kính”, cũng như một và tác phẩm khác của ông- “Lửa đèn”, “Trường Sơn Đông
Trường Sơn Tây”, “Nhớ”…chúng ta thật thú vị khi nhận ra chất giọng rất trẻ, rất lính của bài
thơ. Chất giọng ấy bắt nguồn từ sức trẻ, từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam mà
chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Qua đó mà làm nổi bật được niềm vui sôi nổi, tâm hồn
trẻ trung tinh nghịch, tếu táo cuả những người lính trong cuộc kháng chiến chống Mĩ đầy gian
khổ, hiểm nguy.


- Dẫn câu thơ, hình ảnh, …có sự phân tích, đánh giá làm nổi bật vấn đề
Ví dụ 1:
“ Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
( Truỵên Kiều)
Hai câu thơ thực là một bức tranh xuân tuyệt mĩ. Khơng gian khống đạt, trong trẻo,
thảm cỏ non trải rộng tận chân trời. Trên nền xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa trắng.
Thơ cổ Trung Hoa có câu “ Phương thảo liên thiên bích/ Lê chi sổ điểm hoa”( Cỏ non liền với
trời xanh/ Trên cành lê có mấy bơng hoa). Nguyễn Du đã sáng tạo câu thơ ấy, dùng cỏ non
thay vì cỏ thơm để tô đậm màu sắc- màu xanh nhạt pha lẫn vàng chanh, hợp với màu lam
trong sáng của chân trời ngày xuân, trên đó điểm xuyết sắc trắng thanh khiết, tinh khơi của
hoa lê, làm thành bức tranh dung hồ những sắc độ lạnh mà vẫn rạo rực sức sống bên trong.
Chữ trắng đảo lên trước gây ấn tượng mạnh, chữ điểm gợi bàn tay hoạ sĩ- thi sĩ vẽ nên thơ
nên hoạ, như bàn tay tạo hoá tạo cảnh xuân tươi, khiến cảnh có hồn và sống động. ( Lê Trí
Viễn)
Ví dụ 2: Trời vừa sáng, thấy người bị nạn, ông Ngư nhanh nhẹn “ Vớt ngay lên bờ” rồi:
“ Hối con vầy lửa một giờ
Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày”
Cả gia đình ơng Ngư, mỗi người mỗi việc, ai cũng gấp gáp khẩn trương, phối hợp nhịp nhàng
hết lòng hết sức cứu Vân Tiên.Chưa biết nạn nhân là ai, nguyên cớ như thế nào, cứ thấy việc nghĩa
Ngơ Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

21


là làm, thấy người là cứu bằng cả tấm lòng chân tình, chu đáo của mình. Đó là bản tính của những
con người lương thiện, những người lao động bình thường đáng ngưọi ca trân trọng. Thậm chí khi
biết sự tình hồn cảnh của Vân Tiên, ơng Ngư cịn mời Vân Tiên ở lại để “ hôm mai hẩm hút với già
cho vui” nhằm cưu mang, giúp đỡ Vân Tiên. Tấm lịng nhân nghĩa của ơng Ngư khiến ta nhớ đến
ông Quán, ông Tiều cũng cứu giúp Vân Tiên bằng tình thương người như thế. Ơng Qn khi thấy

Vân Tiên phải bỏ thi trở về, lại khóc mẹ mà mù đơi mắt, xuất phát từ tình cảm “thương đấng anh
hùng” mà chaỵ theo đưa cho Vân Tiên ba hườn thuốc phịng khi đường đi q khó “ thuốc thần
cũng no”; ông Tiều thì tuy tuổi già sức yếu vẫn “ lão ra sức lão cõng Tiên về nhà” khi gặp Vân Tiên
trong núi Thương Tịng. Ơng Qn, ơng Tiều hay ông Ngư đều là những người nhân nghĩa. Tấm
lòng nhân nghĩa nhân dân của họ cũng chính là tấm lịng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu gửi
gắm thể hiện trong tỏc phm ca mỡnh.).

C. Kết luận và khuyến nghị
Ai ú đã từng nói: “Dạy nhiều, kiểm tra ít- học ít phải làm nhiều”. Theo tơi đó là
một cách tốt để đánh giá lực học của học sinh. Nó buộc học sinh phải cải tiến cách
học và biết phương pháp thể hiện kiến thức. Những loại bài nghị luận trên đây đòi hỏi
học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của mình từ bài học hiện tại, từ những năm
trước và thể hiện kĩ năng viết được rèn luyện qua nhiều năm mới mong có thành cơng
tốt. Kinh nghiệm mà tơi đã trình bày là rút ra từ thực tế hướng dẫn học sinh qua nhiều
năm giảng dạy, nhiều kháo học sinh đã học tập, thi cử đạt kết quả khá cao trong các kì
thi, từ kiểm định chất lượng, đến thi chuyển cấp, nhất là thi học sinh giỏi các cấp
huyện và tỉnh. Hi vọng nó cũng có thể gỡ bí cho một số học sinh hiện nay và gợi ý
thêm một cách học Văn lâu dài.
Để việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn chương như đã trình bày ở trên
một cách hiểu quả, người giáo viên cần biết chọn thời gian, phân chia nội dung kiến
thức hướng dẫn rèn luyện cho cụ thể, phù hợp với các đối tượng học sinh. Ở đây vừa
có kiến thức ơn luyện, vừa có kiến thức mở rộng, nâng cao, bài tập nghị luận lại rải
đều ở nhiều văn bản học tập từ đầu năm đến cuối năm lớp 9, nên càng khơng thể vận
dụng máy móc.
- Khi dạy học, cần hướng dẫn kĩ cho học sinh cả kĩ năng diễn đạt luận điểm, kĩ
năng chuyển tiếp, liên kết các luận điểm, các phần, các đoạn.
- Cần thiết rèn luyện kĩ năng bình giảng, kĩ năng so sánh văn học, kĩ năng giải
quyết các đề bài lí luận văn học, kĩ năng nghị luận về một chi tiết nghệ thuật đối
tượng học sinh dự thi học sinh giỏi các cấp, cịn các kĩ năng khác thì rèn luyện cho
mọi đối tượng.

- Kiến thức các kĩ năng có thể cung cấp, củng cố vào các buổi học thêm, song
song với chương trình học tập buổi sáng.

Ngơ Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

22


- Đặc biệt, vào giai đoạn ôn luyện cho học sinh thi chuyển cấp đạt kết quả, giáo
viên nên có thao tác hệ thống lại tất cả các kĩ năng, và ra hệ thống bài tập rèn luyện
theo từng dạng bài nghị luận cụ thể sao cho học sinh rèn luyện thành thạo kĩ năng và
nắm vững kiến thức về tác phẩm văn chương để có thể tự tin khi tạo lập một văn bản
nghị luận văn học bất kì.
Báo cáo này chỉ là do bản thân học hỏi, đúc rút kinh nghiệm qua nhiều năm
giảng dạy, nên chắc chắn khơng có nhiều mới lạ, cũng khơng tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong các đồng nghiệp tham khảo và góp ý chân thành để việc dạy học của
chúng ta có hiệu quả tốt hơn.
Đánh giá của HĐKH trường

Người thực hiện
Ngô Mậu Tình

Đánh giá của HĐKH phịng GD&ĐT

Ngơ Mậu Tình : Rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn THCS

23




×